1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO TỔNG HỢP DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN VIỆT NAM 2006

77 487 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo tổng hợp diễn biến thị trường nông sản Việt Nam 2006
Trường học Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong năm 2006, thị trường nông sản thế giới có nhiều biến động do tình trạng tăng giá của dầu mỏ và tình trạng hạn hán nặng nề ở các nước Châu Phi hồi đầu năm.

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG HỢP DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG NÔNG

SẢN VIỆT NAM 2006

Trong năm 2006, thị trường nông sản thế giới có nhiều biến động do tình trạng tăng giá của dầu mỏ và tình trạng hạn hán nặng nề ở các nước Châu Phi hồi đầu năm Tình hình thị trường nông sản tại Việt Nam cũng bị ảnh hưởng của các diễn biến bất thường nói trên, cũng như các diễn biến lên xuống về cung cầu khác Diễn biến cụ thể của từng mặt hàng trong năm 2006 vừa qua có thể được tóm tắt như sau:

1 Ngành hàng Hồ tiêu

1.1 Tình hình chung

Tình hình thị trường hồ tiêu thế giới năm 2006 có nhiều chuyển biến tích cực và đánh dấu

sự hồi phục của thị trường so với các năm trước đây Diễn biến quan trọng nhất là giá hồ tiêu giao dịch sau nhiều năm trầm lắng ở mức thấp, từ 1.200 – 1.800 USD/tấn đối với tiêuđen và 1.800 – 2.000 US/tấn đối với tiêu trắng; đã gia tăng mạnh mẽ từ tháng 7 cho đến cuối năm 2006

Nguyên nhân chủ yếu đẩy giá tiêu lên cao là sự sụt giảm về sản lượng hồ tiêu sản xuấttrong năm 2006 so với năm 2005 Theo Cộng đồng Hồ tiêu thế giới (IPC), sản lượng tiêuthế giới năm 2005 là 314.270 tấn, tổng lượng xuất khẩu trên thị trường thế giới là212.479 tấn Trong khi đó, các dự báo về sản lượng tiêu năm 2006 chỉ ở mức 269.900 tấn

do tình hình sâu bệnh hại, khô hạn và giảm năng suất tiêu ở các nước và lượng xuất khẩuchỉ đạt 197.600 tấn (Hội nghị các nước xuất khẩu tiêu lần thứ 37 diễn ra tại Kandy, SriLanka, ngày 4/9/2006) Các dự báo từ đầu năm đều cho là sản lượng tiêu ở các nước sảnxuất chính như Ấn Độ, Việt Nam đều giảm

So với cầu (theo thống kê của IPC, lượng hồ tiêu xuất khẩu các năm 2002-2004 dao động

từ 227 đến 232 ngàn tấn/năm), nếu sản lượng tiêu giảm thấp hơn 300 ngàn tấn/năm; tổnglượng xuất khẩu giảm xuống mức khoảng 200 ngàn tấn/năm thì khả năng thiếu cung sẽxảy ra, và đẩy giá tiêu thế giới lên cao

Nhìn chung, thị trường giao dịch hạt tiêu tăng diễn ra mạnh trong giai đoạn từ thu hoạchtiêu trở đi Khi các đánh giá về sản lượng và lượng cung trên thị trường trong năm đã rõràng, và lo ngại về giảm cung ở các nước xuất khẩu chính, các nhà thu mua đã tích cựchoạt động và đẩy giá lên cao, nhất là vào giai đoạn từ tháng 6-7 trở đi Vào đến cuối năm,giao dịch giảm vì các nhà nhập khẩu đã thu mua được hầu hết khối lượng hàng hóa kinhdoanh Đồng thời, các nhà nhập khẩu cũng trông chờ diễn biến về sản lượng và giá cả của

Trang 2

mùa vụ hồ tiêu mới Vì các lý do này, mặc dù không còn nguồn cung nhưng giá tiêu vẫngiảm nhẹ

Theo VPA, tổng cung thị trường hồ tiêu thế giới năm 2006 vào khoảng 200 ngàn tấn,trong đó Việt Nam xuất khẩu khoảng 116 ngàn tấn (58%) Theo Bộ Thương mại ViệtNam, lượng tiêu Việt Nam xuất khẩu đến hết tháng 11/2006 là 113.362 tấn

Bảng 1 Sản lượng và số lượng xuất khẩu tiêu trong năm 2005, dự kiến của 2006 và kếhoạch cho năm 2007 (tấn)

Sản lượng Xuất khẩu Sản lượng Xuất khẩu Sản lượng Xuất khẩu

Nguồn: (IPC, trích từ bản tin số 36/2006 của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam VPA).

1.2 Chỉ số giá và giá tổng hợp của IPC

Diễn biến giá thị trường hồ tiêu thế giới năm 2006 phản ánh rõ nét sự mất cân đối cung cầu Từ tháng 1 đến tháng 6, khi hầu hết các nước đang thu hoạch hồ tiêu (ngoại trừ Braxin), giá tiêu vẫn duy trì ở mức thấp và tương đương với giá năm 2004 và 2005 Bắt đầu vào tháng 7, khi khả năng xuất khẩu tiêu của các nước xuất khẩu chủ yếu đã rõ ràng,

và dự đoán về dự trữ không còn nhiều, giá hồ tiêu lập tức tăng vọt, do có nhiều đơn hàng mua tiêu Tốc độ tăng giá tổng hợp luân chuyển đối với tiêu đen (so với tháng trước) của tháng 7/06 là 17,6%; tháng 8 là 23,4%; tháng 9 là 30,5%; tháng 10 là 3,6% Tương tự, tốc

độ tăng giá tổng hợp tiêu trắng là 11,2%; 21,9%; 14,1% và 6,0% Mức giá tổng hợp đạt đỉnh cao vào tháng 10/2006 So với cùng kỳ năm trước, giá tổng hợp tiêu đen tăng 2,03 lần, giá tiêu trắng tăng 1,77 lần (bảng 2)

Phân tích biến động giá dựa trên chỉ số giá của IPC cũng cho thấy trong giai đoạn tháng 7-9/06, giá tiêu tăng rất mạnh Chỉ số giá IPC đối với tiêu đen tăng đến 11,2 điềm trong tháng 7; 19,2 điểm trong tháng 8 và 30,5 điểm trong tháng 9 Giá tiêu trắng tăng tương ứng là 10,7; 21,3 và 16,7 điểm

Trang 3

Trong suốt tháng 10/06, giá ở tất cả các thị trường đã đạt đỉnh và bắt đầu giảm nhẹ Tuy nhiên, tốc độ giảm giá chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng giá Chỉ số giá trung bình của tháng 10 vẫn cao hơn tháng 9 đôi chút Chỉ số IPC đối với tiêu đen tăng 4,7 điểm; tiêu trắng tăng 8,2 điểm Giá tiêu đen tăng chủ yếu do giá tiêu đen Sarawak và Lampung còn tăng trong tháng 10 so với tháng 9 Trong trường hợp tiêu trắng, giá tăng chủ yếu do giá tiêu trắng Sarawak tăng

Qua tháng 11/06, chỉ số giá giảm 11,9 điểm đối với tiêu đen và 8,5 điểm đối với tiêu trắng Giá FOB trung bình ở tất cả các thị trường nguồn đều giảm Giá tổng hợp tiêu đen giảm 9%; tiêu trắng giảm 6% Như vậy, kể từ tháng 11/06 trở đi, giá tiêu có xu hướng giảm nhẹ vì các nguồn cung và dự trữ đã cạn, các nhà thu mua đã mua được số lượng tiêucần thiết, khối lượng giao dịch giảm nhiều Ngoài ra, vẫn có tâm lý chờ đợi tình hình sản lượng, khả năng cung và dự đoán giá tiêu của vụ thu hoạch mới từ quý 1/2007

Bảng 2 Giá tổng hợp tiêu đen và tiêu trắng (USD/tấn)

1.3 Thị trường tiêu đen

Trong suốt tháng 1 và tháng 2/2006, thị trường tiêu khá tĩnh lặng do ảnh hưởng của nghỉTết Dương lịch và Tết Nguyên đán (ở Việt Nam) vào thời gian đầu năm Một lý do khác

là chưa đến vụ thu hoạch tiêu mới ở hầu hết các nước trồng tiêu Giá địa phương ở

Trang 4

Cochin, Ấn Độ; Sri Lanka và Lampung, Indonesia tăng vững chắc, trong khi giá tiêu ViệtNam và Sarawak giảm Ở Cochin, giá tiêu xô tăng từ 1.450 USD/tấn lên 1.540 USD GiáFOB tiêu Malabar Garbled 1 tăng từ 1.678 lên 1.758 USD/tấn Hoạt động mua bán cũngdiễn ra khá mạnh so với tháng trước, khi mà các nhà xuất khẩu ở Cochin đã xuất được1.600 tấn so với 1.450 tấn trong tháng 1/06 Điều này xảy ra do các hoạt động xuất khẩu

ở Việt Nam giảm đi do nghỉ ăn Tết nguyên đán Giá tiêu Việt Nam giảm từ 1.212USD/tấn còn 1.192 USD/tấn

Bắt đầu tháng 3/2006, thị trường bắt đầu có nhiều giao dịch Ở Việt Nam, nguồn cungchủ yếu của thế giới, thị trường sôi động khi một lượng lớn tiêu được thu hoạch Tuynhiên, giá lại giảm so tháng trước Giá địa phương tại TP Hồ Chí Minh vào cuối tháng3/06 là 1.170 USD/tấn và 1.197 USD/tấn đối với tiêu loại 500g/l, so với mức giá 1.192 và1.220 USD/tấn ở cuối tháng 2, mức giảm gần 2% Trong suốt tháng 3, Việt Nam xuất16.000 tấn tiêu

Trong tháng 4/2006, thị trường tiêu đen tập trung vào Việt Nam khi vụ thu hoạch ở đâyđang chiếm lượng chủ yếu của thị trường Hoạt động mua bán khá nhộn nhịp nhưng giálại khá ổn định suốt trong tháng So với tháng trước, giá giảm khoảng 1%

Thị trường tiêu đen khá biến động trong tháng 5/2006 Thị trường tiêu đen tại TP Hồ ChíMinh, Việt Nam khá sôi động Giá tiêu nội địa tăng từ 18.300 đồng/kg lên 19.400đồng/kg; giá FOB tiêu đen 500g/l tăng từ 1.1180 lên 1.240 USD/tấn So tháng trước, giátăng 3% Việt Nam đã xuất khoảng 13.820 tấn tiêu đen trong tháng 5 và tổng lượng xuấtđến tháng 5 là 49.503 tấn

Tại thị trường tiêu Sarawak, thị trường không giao dịch nhiều do nguồn dự trữ đã cạntrong khi mùa thu hoạch mới sẽ bắt đầu vào cuối tháng 6 So với tháng 4, giá tiêu tháng 5tăng 2% Các thị trường khác cũng không có nhiều giao dịch

Vào tháng 6, giá tiêu đen trên thị trường có xu hướng tăng do Việt Nam đã bán ra nhiều,

và dự trữ bắt đầu giảm Đến hết tháng 6, Việt Nam đã xuất khoảng 66.200 tấn Lượngxuất trong tháng 6 chỉ đạt khoảng 9.650 tấn, giảm 30% so với tháng 5 Giá địa phương tại

TP Hồ Chí Minh bắt đầu tăng từ 19.600 đồng/kg lên đến 22.500 đồng/kg vào cuốittháng Giá FOB tiêu đen 500g/l tăng từ 1.260 USD/tấn lên 1.440 USD/tấn; giá FOB tiêuđen 550g/l tăng từ 1.330 USD/tấn lên 1.520 USD/tấn So tháng trước, giá trung bình tiêuđen Việt Nam tăng 9%

Cũng trong tháng 6/2006, thị trường tiêu đen Sarawak, Kuching và Lampung cũng không

có nhiều giao dịch, chủ yếu do nông dân ghìm giữ nguồn hàng, không bán ra thị trường

Trang 5

để chờ giá cao Giá FOB tiêu Malaysia tăng 200 USD/tấn so với tháng trước (từ 1.750 lên1.950 USD/tấn) Giá tiêu nội địa tăng 10% và giá FOB tăng 9%

Bắt đầu quý 2/2006, thị trường tiêu đen rất biến động sau đó rõ dần tình hình nguồn cung

có hạn chế và nguồn dự trữ không còn nhiều Sản lượng cung thế giới được dự đoán thấp.Tổng sản lượng tiêu đen năm 2006 chỉ vào khoảng 220 ngàn tấn, giảm 17% so với năm

2005 Sản lượng tiêu Ấn Độ dự kiến giảm 29% Việt Nam đã bán ra gần hết hạt tiêu trongkhi sản lượng cũng được dự đoán giảm Tiêu Indonesia thu hoạch vào tháng 8 có thể bùđắp mức cung hạn chế ở các nước sản xuất khác, nhưng sản lượng cũng chỉ bằng 75%năm trước Ngay cả sản lượng tiêu của Brazil cũng giảm Chính vì vậy, các nhà kinhdoanh tập trung thu mua tiêu trong quý 3/2006, đẩy giá tiêu tăng vọt so với cùng kỳ nămtrước Mức giá đạt đỉnh trong tháng 10/2006, cao gấp 2,03 lần giá cùng kỳ năm 2005 đốivới tiêu đen

Ấn Độ đã xuất khẩu khoảng 13.710 tấn tiêu đen trong 8 tháng đầu năm 2006, so với11.130 tấn cùng kỳ năm 2005 So sánh về nguồn dự trữ và sản lượng tiêu trong năm vàlượng bán ra, lượng tiêu của Ấn Độ bắt đầu cạn

Việt Nam đã bán ra đến 105.380 tấn tiêu trong 9 tháng đầu năm 2006, so với sản lượngtrong năm chỉ ở mức 92.000 tấn (77.000 tấn tiêu đen và 15.000 tấn tiêu trắng) Điều nàycũng cho thấy nguồn hàng tiêu Việt Nam cũng bắt đầu cạn kiệt

Ở Sarawak, sản lượng tiêu có giảm đôi chút so với năm trước nhưng nông dân vẫn chưabán tiêu vì có nguồn thu từ cao su, đang được giá cao Ngược lại, ở Lamphung, mặc dùgiá quý 3 có tăng lên nhưng nông dân đã bán tiêu từ trước đó và nguồn cung đã cạn vìsản lượng quá ít

Đến cuối quý 3/2006, giới kinh doanh hồ tiêu trông chờ vào nguồn cung từ Brazil hiện đang vào vụ thu hoạch Do các nguồn cung khác đã cạn, tiêu Brazil sẽ quyết định giá thị trường Tuy nhiên, các dự đoán vẫn cho rằng sản lượng tiêu Brazil cũng giảm so năm trước

Tình hình cho thấy sau giai đoạn trì trệ suốt hơn 4 năm, giá tiêu bắt đầu hồi phục và khởiđầu cho một xu hướng tăng giá do giảm cung cho đến năm 2007, cơ bản do giảm cung.Bắt đầu từ tháng 10/2006, thị trường tiêu bắt bắt đầu suy giảm, nhất là ở Ấn Độ Bướcqua tháng 11 và 12/2006, thị trường tiếp tục có xu hướng giảm Giá tiêu ở các thị trườngnguồn giảm đáng kể so các tháng trước Lý do chủ yếu là các nhà kinh doanh thu muatiêu hạt chờ đợi mức giá cạnh tranh hơn vào đầu năm 2007, khi mà Việt Nam và Ấn Độbắt đầu thu hoạch tiêu

Trang 6

Ở Ấn Độ, khối lượng hạt tiêu giao dịch trên thị trường Cochin giảm liên tục từ khi vàotháng 10 Giá FOB hạt tiêu đen rơi từ đỉnh cao 3.043 USD/tấn vào tuần thứ 3 tháng9/2006 xuống còn 2.760 USD/tấn vào cuối tháng 10; và xuống còn 2.330 USD/tấn vàogiữa tháng 12 Tình hình này xảy ra do các doanh nghiệp đã tích trữ hồ tiêu phải bán ragấp để chuẩn chị cho vụ thu hoạch mới vào tháng 12 và tháng 1/07

Tình hình giao dịch ở TP Hồ Chí Minh, Việt Nam cũng trầm lắng tương tự như ởCochin Lý do chính là nguồn hàng cạn kiệt và nhu cầu của các quốc gia theo đạo Hồigiảm suốt tháng Ramadhan và lễ Eidel Fitri Các nhà thu mua cũng chờ đợi mùa vụ mới

sẽ thu hoạch vào quý 1/2007 Giá FOB HCMC tiêu đen 500g/l giảm từ đỉnh 2.800USD/tấn vào cuối tháng 9 xuống còn 2.660 USD/tấn vào cuối tháng 10 và 2.150 USD/tấnvào cuối tháng 11 Vào gần cuối tháng 12, giá ổn định ở mức 2.220 USD/tấn

Ở Lampung, Indonesia thị trường cũng khá tĩnh lặng Nông dân trồng hồ tiêu đã bán rahết lượng dự trữ trong khi chỉ còn một số doanh nghiệp lớn hồ tiêu dự trữ hàng nhưng cógiới hạn Mặc dù nguồn hàng không còn bao nhiêu nhưng giá vẫn giảm do thị trường thếgiới giảm nhu cầu Giá thị trường địa phương giảm từ 2.604 USD/tấn/kg vào cuối tháng 9xuống còn 2.199 USD/tấn vào giữa tháng 12 Giá FOB tiêu đen Lampung giảm tươngứng từ 3.000 USD/tấn còn 2.670 USD/tấn

Ở Sarawak, giá địa phương giảm từ đỉnh 2.453 USD/tấn vào cuối tháng 9 xuống còn2.167 USD/tấn vào gần cuối tháng 12 Trong khi đó, giá FOB tiêu đen Sarawak giảmtương ứng từ 3.400 USD/tấn xuống còn 3.100 USD/tấn

Theo tin IPC ngày 7/12/2006, từ tháng 1-10/2006, sản lượng xuất khẩu của Braxin tăngđáng kể đến 30% Theo thống kê của ABPE (Hiệp hội các nhà xuất khẩu và sản xuất tiêuBraxin), từ tháng 1-10/2006, Braxin xuất khẩu tổng cộng 31.095 tấn tiêu, đạt trị giá 58,9triệu USD, tăng 30% về lượng và 77,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2005 Theo báocáo thì sản lượng xuất khẩu tiêu của Braxin từ tháng 01-10/2005 là 23.912 tấn, trị giá 33triệu USD

Mỹ là nước nhập khẩu lớn nhất tiêu của Braxin với số lượng nhập khẩu là 12.152 tấntiêu, đạt trị giá 21,06 triệu USD, tiếp theo là Đức với số lượng nhập khẩu là 3.736 tấn,Tây Ban Nha (2.869 tấn), Hà Lan (2.007 tấn) và Mêxicô (1.942 tấn) Ngoài ra cũng đángchú ý rằng, số lượng xuất khẩu của Braxin cho Ấn Độ đã tăng đáng kể Từ tháng 01-10/2006, sản lượng xuất khẩu tiêu của Braxin cho Ấn Độ là 338 tấn, tăng hơn 5500%tương đương 332 tấn so với cùng kỳ năm ngoái chỉ có 6 tấn Sản lượng xuất khẩu củaBraxin cho Ukraine/Nga ngoài ra cũng tăng đáng kể Từ tháng 01-10/2006, Braxin xuấtkhẩu tổng cộng 1.245 tấn tiêu cho Ukraine/Nga, tăng đáng kể đến 2.390% tương đương

Trang 7

1.195 tấn so với cùng kỳ năm ngoái là 50 tấn Giá hạt tiêu ở Braxin đầu năm 2006 rấtthấp đã kích thích ngành sản xuất và xuất khẩu gia vị trị giá gia tăng tăng nhập khẩu hạttiêu Các nhà chế biến và xuất khẩu gia vị đã mua hạt tiêu Braxin với giá chỉ khoảng1.500-1.800 USD/tấn, khi mà giá ở các nơi khác đều cao hơn, kể cả Ấn Độ Ngành nhựadầu cũng đã nhập khẩu một khối lượng khá lớn

Diễn biến giá FOB tiêu đen ở các thị trường tiêu chủ yếu trên thế giới suốt năm 2006phản ánh hoạt động giao dịch xuất nhập khẩu tiêu (hình 1) Tất cả các thị trường đều cómức giá thấp tương đương với mức giá 2005 cho đến tuần 09/6 và tuần 16/6 Giá tiêu caonhất (loại Malabar MGI) cũng chỉ dao động trong khoảng 1.600-1.800 USD/tấn Giá thấpnhất là tiêu đen Việt Nam 500g/l dao động trong khoảng trên dưới 1.200 USD/tấn Bắtđầu tuần 16/6 trở đi, giá tiêu ở tất cả các nguồn cung tăng vọt và đều đạt đỉnh trong giaiđoạn cuối tháng 9 và đầu tháng 10, dao động từ khoảng 2.700 đến 3.400 USD/tấn tùytheo thị trường Sau đó giá tiêu giảm dần cho đến cuối tháng 12/2006, nhưng vẫn ở mứckhá cao so với mức giá trước tháng 6/2006

Hình 1 Giá FOB tiêu đen theo tuần ở một số nguồn cung chính từ tháng 1 – 12/2006 (Nguồn: IPC, VPA)

FOB HCMC Vietnam 500g/L Vietnam 550g/L

Trang 8

1.4 Thị trường tiêu trắng

Diễn biến thị trường tiêu trắng cũng có xu hướng tương tự như tiêu đen Như thể hiện ởhình 2, trong quý 1 và đầu quý 2/2006, giao dịch có vẻ ổn định khi giá cả không có biếnđộng so năm 2005 Tuy biến động giá hàng tuần có xảy ra, nhưng nhìn tổng thể, mặtbằng giá tiêu trắng vẫn ổn định

Đến đầu quý 3, giá tiêu trắng cũng có xu hướng tăng mạnh do nguồn cung giảm nhiều,lượng dự trữ không còn bao nhiêu Ở Bangka, nông dân trữ lại hạt tiêu thu hoạch trongtháng 7/8 để chờ giá cao khi đã có một số nguồn thu khác Ở Sarawak, giá tiêu trắng tăngvững chắc do thiếu cung Giá tiêu trắng ở Kuching và Hải Nam cũng tăng đáng kể Giá tiêu trắng cũng có xu hướng giảm trong quý 4/2006 sau đợt tăng giá mạnh trong quý3/2006 Ở Sarawak, giá địa phương giảm từ đỉnh 3.485 USD/tấn vào cuối tháng 9/2006xuống còn 2.972 US/tấn vào gần cuối tháng 12 Lý do chính là nguồn hàng không cònbao nhiêu trong khi nông dân bán ra hàng dự trữ để có tiền đón lễ Eidel Fitri và cầu giảm

Ở Bangka, giao dịch cũng rất hạn chế từ tháng 11 Giá địa phương giảm từ 3.460USD/tấn còn 3.115 USD/tấn vào cuối tháng 11 Giá FOB giảm từ 3.790 USD xuống3.749 USD/tấn Trung bình, giá địa phương giảm 7% và giá FOB giảm 8% Cũng cóthông tin cho rằng nông dân ở Bangka đang chuyển đổi vườn tiêu sang cao su vì lợinhuận cao hơn

Ở Hải Nam, giá tiêu trắng cũng giảm nhẹ từ tháng 10/2006 qua đến hết tháng 11/2006.Mức giảm giá FOB từ 3.200 USD còn 3.000 USD/tấn Giá địa phương giảm từ 3.000USD xuống 2.800 USD/tấn Tại TP Hồ Chí Minh, giá FOB tiêu trắng tháng 10 giảm nhẹ1% so với tháng 9 Qua tháng 11, giá giảm mạnh từ 3.700 USD xuống 3.200 USD/tấn

Trang 9

Hình 2 Giá FOB tiêu trắng theo tuần ở một số nguồn cung chính từ tháng 11/2005 – 12/2006, (Nguồn: IPC, VPA)

1.5 Tình hình xuất khẩu tiêu Việt Nam

Mặc dù cho đến thời điểm này, vẫn chưa có con số chính thức về xuất khẩu tiêu của ViệtNam, nhưng đối chiếu từ các nguồn tin cậy, có thể xác định trong năm 2006 Việt Nam đãxuất khẩu khoảng 116.000 tấn tiêu, đạt kim ngạch hơn 190 triệu USD Trong đó, tiêutrắng khoảng 12 ngàn tấn, chiếm 10,3% cơ cấu So với năm 2005, tổng lượng tiêu xuấtkhẩu tăng khoảng 20 ngàn tấn nhưng tiêu trắng giảm về cả lượng (giảm khoảng 2.400tấn) và cả tỷ trọng (10,3% so với 15%)

Với các số liệu trên, giá xuất khẩu tiêu Việt Nam (cả tiêu đen lẫn tiêu trắng) đạt trungbình 1.638 USD/tấn So với giá tiêu đen xuất khẩu trung bình chỉ đạt 1.166 USD/tấn năm

2005 và 1.092 USD/tấn năm 2004

Diễn biến giá FOB tiêu đen Việt Nam (nguồn IPC) và giá nội địa (nguồn VPA) cho thấy

có sự tương đồng về xu hướng Nhìn chung, giá tăng rất nhanh từ đầu tháng 7/2006 vàđạt đỉnh cao vào khoảng giữa tháng 9/2006 (từ 23 ngàn đồng/kg đến 47 ngàn đồng/kg đốivới giá nội địa; từ 1.500 USD đến 2.800 USD/tấn đối với giá FOB HCMC) Mức giá đỉnhnày được duy trì trong 2-3 tuần rồi bắt đầu giảm từ giữa tháng 10/2006 Đến gần cuốitháng 12/2006, mức giá nội địa ở vào khoảng 34 ngàn đồng/kg; mức giá FOB HCMC ởvào khoảng 2.200 USD/tấn (hình 3) Diễn biến giá FOB tiêu Việt Nam và giá nội địacũng rất phù hợp với diễn biến giá thị trường hồ tiêu thế giới (hình 1, 2)

Trang 10

Đánh giá chung tình hình xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam năm 2006, có thể thấy các mặtmạnh, yếu như sau:

Thứ nhất, Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là nhà sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu sốmột trên thế giới Mặc dù trong những năm gần đây diện tích canh tác hồ tiêu ở Việt Nam

đã ổn định vào khoảng trên dưới 52 ngàn ha, nhưng nhờ năng suất cao nên vẫn đạt sảnlượng hàng năm trên dưới 100 ngàn tấn, cao nhất thế giới và chiếm khoảng 1/3 tổng sảnlượng tiêu trên thế giới Về xuất khẩu, Việt Nam đứng số một và chiếm khoảng trên dưới50% lượng cung hạt tiêu trên thế giới Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA, vị trí này là

cơ hội rất tốt cho ngành tiêu Việt Nam tạo ra ưu thế chi phối và quyết định giá trên thịtrường hạt tiêu thế giới

Ưu thế thứ hai của ngành hồ tiêu Việt nam là sự ổn định về chất lượng và sản lượng Mặc

dù một số nước sản xuất tiêu đã giảm lượng sản xuất do giá cả thấp trong vài năm gầnđây, Việt Nam vẫn duy trì được diện tích và sản lượng Đồng thời, chất lượng hạt tiêungày càng cao nhờ quan tâm và đầu tư nhiều hơn đến chế biến sau thu hoạch

Cũng theo VPA, thế mạnh thứ ba của ngành hồ tiêu Việt Nam là khả năng giảm thiểuxuất khẩu thông qua các nhà buôn trung gian, mà tăng cường xuất khẩu trực tiếp chonhững nhà cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gia vị ở các nước

Tuy nhiên, mặt yếu của ngành hồ tiêu Việt Nam là chưa đạt được sự thống nhất vàchuyên nghiệp trong hoạt động xuất khẩu Tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn diễn ramặc dù đã có nhiều dự báo về giảm cung trên thế giới và đẩy giá lên cao ngay từ cuốinăm 2005 Tình trạng này đã làm cho giá tiêu xuất khẩu trung bình đạt không cao như cóthể Theo VPA, có đến hơn 60% lượng hồ tiêu Việt Nam được xuất khi giá chỉ ở mức1.200 USD/tấn Khi giá tăng từ 2.000 USD/tấn trở lên, lượng hàng của Việt nam chỉ cònkhoảng 40% Chính vì thế, giá xuất khẩu trung bình chỉ đạt hơn 1.600 USD/tấn một ít.Theo số liệu ghi nhận lượng tiêu xuất khẩu qua cảng TP Hồ Chí Minh (bảng 3), lượngtiêu xuất khẩu chủ yếu tập trung từ tháng 3-8/2006, lượng xuất mỗi tháng từ 10 đến 16ngàn tấn So với diễn biến giá FOB tại cảng TP Hồ Chí Minh (nguồn IPC) và giá nội địatại thị trường TP Hồ Chí Minh (nguồn VPA) trình bày ở hình 3, đến hết tuần 23/6, giáxuất tiêu chỉ vào khoảng 1.300 USD/tấn, đến 30/6 đạt 1.440 USD/tấn nhưng đến cuốitháng 6/06, lượng tiêu đã xuất là 67 ngàn tấn; đến cuối tháng 9/2006, đã xuất qua cảng

TP Hồ Chí Minh 95.303 tấn Bắt đầu từ 1/9, giá xuất tiêu đen bắt đầu vượt qua mức2.200 USD/tấn thì lượng tiêu xuất trong tháng 9 chỉ là 6,1 ngàn tấn, tháng 10 là 4,5 ngàntấn, tháng 11 là 2,7 ngàn tấn

Trang 11

Hình 4 cũng cho thấy khối lượng xuất khẩu hạt tiêu hàng tuần của Việt Nam cũng chủyếu tập trung từ tháng 2 đến tháng 5, mặc dù ngay từ đầu tháng 3/2006 (bản tin 9-10/06ngày 12/3/06), VPA đã khuyến cáo các doanh nghiệp không nên chào bán một cách ồ ạt.Đến cuối tháng 5, lại xảy ra một đợt bán hàng ồ ạt nữa Hậu quả là qua đầu tháng 6/2006,dấu hiệu thiếu hàng xuất khẩu bắt đầu xảy ra và qua tháng 7, tiêu nguyên liệu do nôngdân dự trữ hầu như đã cạn kiệt mặc dù giá lên rất cao.

Vấn đề này cho thấy ngành tiêu Việt Nam đã bỏ qua cơ hội nâng cao giá bán và kimngạch xuất khẩu vì sự cạnh tranh lẫn nhau, thiếu thống nhất và thiếu sự điều phối nhịpnhàng trong thu mua nguyên liệu và xuất khẩu Theo VPA, có hai nguyên nhân chính làthiếu thông tin dự báo cung cầu trên thị trường và phương thức buôn bán theo kiểu muađứt bán đoạn, thiếu kế hoạch thu mua, dự trữ và xuất hàng Ngoài ra, một nguyên nhâncác tác động lớn nữa là thiếu vốn, các doanh nghiệp khó có thể chủ động mua tiêunguyên liệu và dự trữ chờ giá bán cao

Sự yếu kém trên đã làm cho kim ngạch xuất khẩu không đạt cao như đã có cơ hội, phầnlớn nông dân và doanh nghiệp đã phải bán tiêu lúc giá còn thấp, làm cho lợi nhuận chungcủa ngành không đạt cao

Bảng 3 Sản lượng hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2006 qua Cảng TP

Trang 12

Hình 3 Giá nội địa và giá FOB HCM của tiêu đen Việt Nam 500g/L từ tháng 01– 12/2006

(Nguồn: IPC, VPA)

Hình 4 Diễn biến khối lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2006 (Nguồn: tổng hợp số liệu các bản tin tuần của VPA)

Trang 13

Theo thông tin từ Bộ Thương mại, thị trường xuất khẩu chính của hạt tiêu Việt Nam là

Mỹ, CHLB Đức, Hà Lan, Ấn Độ Trong đó, xuất sang Mỹ với số lượng lớn nhất 17.515tấn, đạt 29.436.572 USD (chiếm 15,45% tổng lượng xuất khẩu và chiếm 16,12% tổngkim ngạch xuất khẩu) Tiếp đó là các thị trường CHLB Đức (8,5% lượng xuất và 9,9%tổng kim ngạch); Hà Lan (7,7% lượng xuất và 8,1% tổng kim ngạch) Xuất khẩu đến Ấn

Độ và Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng khá quan trọng

1.6 Nhận định chung và dự báo năm 2007

Sản lượng tiêu niên vụ 2006 ở các nước xuất khẩu chủ yếu giảm nhiều so năm 2005, mứccung toàn thế giới giảm, và nguồn dự trữ rất hạn hẹp Các nguồn cung chủ yếu đã xuấtgần hết nguồn hàng dự trữ hoặc mới thu hoạch Do đó, giá tiêu bị đẩy cao đến mức kỷ lụctrong vài năm qua vào cuối quý 3/2006 Bước vào quý 4/2006, nhu cầu giao dịch giảmdần và giá cũng giảm theo Đến cuối tháng 12/2006, mặc dù nhu cầu mua hạt tiêu đãngưng, các giao dịch tại các thị trường tiêu chủ yếu đã tạm lắng đọng, giá tiêu vẫn cònđược duy trì ở mức khác cao so với cùng kỳ năm 2005 Theo dự báo của Hiệp hội Hồ tiêu

VN, giá hạt tiêu xuất khẩu trong năm 2007 sẽ tiếp tục ổn định ở mức cao, khoảng 2.200 2.500 USD/tấn

-Mức giá cao hiện nay có thể khuyến khích nông dân Việt Nam tăng đầu tư và đẩy sảnlượng năm 2007 lên so với 2006, nếu không có các biến động bất ngờ về thời tiết và sâubệnh hại Tuy nhiên, vẫn chưa có những đánh giá tin cậy về sản lượng tiêu Việt Nam năm

2007 dù có những lo ngại về hạn hán do El Nino quay lại và thiệt hại do dịch bệnh xảy ra.Cũng có nguồn tin cho rằng vụ thu hoạch 2007 có thể sẽ giảm sản lượng 20% do bệnhhại

Nhìn chung, các dự báo đều cho rằng sản lượng hạt tiêu thế giới năm 2007 dự kiến sẽgiảm xuống thấp hơn so với năm 2005 và cả 2006 Vì thế, giá hồ tiêu trên thị trường thếgiói và thị trường Việt Nam năm 2007 vẫn sẽ ở mức cao so với giá năm 2005 và xoayquanh trục giá năm 2006 Tuy nhiên, mức giá này sẽ còn biến động tùy thuộc vào độ tincậy của các dự báo về sản lượng tiêu dự báo và sản lượng thu hoạch thực tế của các nướcsản xuất và xuất khẩu tiêu chủ yếu trên thế giới như Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia vàMalaysia

1.7 Khuyến cáo chính sách

Trong tình hình giảm cung và giá phục hồi như hiện nay, ngành hồ tiêu Việt Nam nên tậptrung (1) giữ ổn định diện tích canh tác hồ tiêu, giúp nông dân giải quyết dịch hại để giữ

Trang 14

ổn định năng suất và sản lượng; (2) tiếp tục nâng cao công nghệ chế biến để đạt chấtlượng hạt tiêu xuất khẩu cao hơn; (3) có những hoạt động nhằm điều phối, thống nhấtviệc xuất khẩu tiêu giữa các doanh nghiệp để đạt được lợi ích chung cao nhất dựa trên các

dự báo, thông tin thị trường chính xác và (4) liên kết với hệ thống ngân hàng để có đủvốn thu mua và dự trữ nguyên liệu ngay từ đầu vụ tđể nâng cao hiệu quả sản xuất, kinhdoanh của toàn ngành

2 Ngành hàng Hạt điều nhân

2.1 Tình hình chung

Sản lượng hạt điều thế giới mấy năm qua liên tục tăng, phản ánh xu hướng sản lượng củachâu Phi và Việt Nam, mà nguyên nhân chính là tăng diện tích trồng điều Theo số liệucủa FAO, diện tích điều cho thu hoạch năm 2004 của 20 nước có diện tích điều lớn nhấtvào khoảng 3,1 triệu ha so với 2,1 triệu ha trong năm 1993 Trong đó, năm nước có diệntích điều đang thu hoạch lớn nhất là Ấn Độ (730 ngàn ha, 23,8%); Brazil (691 ngàn ha,22,5%); Nigeria (324 ngàn ha, 10,6%; Việt Nam (282 ngàn ha, 9,2%) và Indonesia (260ngàn ha, 8,5%)

Trong vòng 10 năm qua, sản lượng điều thế giới tăng gấp hơn 2 lần, đạt gần 2 triệu tấn.Trong đó, hai nước có sản lượng lớn nhất là Ấn Độ và Việt Nam Việt Nam đang tiến sát

Ấn Độ về sản xuất điều Sản lượng điều thô Ấn Độ tài khoá 2005/06 đạt 573.000 tấn, sovới 544.000 tấn tài khoá 2004/05 và 535.000 tấn tài khoá trước đó Xuất khẩu nhân điều

Ấn Độ năm 2005/06 đạt 114.143 tấn, so với 126.667 tấn năm 2004/05 Trong khi đó, ViệtNam bắt đầu vượt qua mức 100.000 tấn nhân điều xuất khẩu từ năm 2004 và đạt khoảng109.000 tấn nhân điều xuất khẩu năm 2005 Khác biệt cơ bản là Việt Nam xuất khẩu hầuhết nhân hạt điều sản xuất được trong khi Ấn Độ tự tiêu thụ gần một nửa sản lượng

Trang 15

Chính vì sự gia tăng liên tục của diện tích trồng và sản lượng nhân điều, cạnh tranh giatăng làm cho giá điều hạt và nhân hạt điều có xu hướng giảm Đồng thời, diễn biến giáđiều trên thị trường thế giới còn phụ thuộc vào sản lượng hàng năm và cạnh tranh từnhững loại hạt khác.

Đặc trưng của thị trường điều xuất khẩu điều thế giới năm 2006 là gia tăng cạnh tranhtrên thị trường đẩy giá mặt hàng này liên tục giảm từ đầu năm Trong khi nguồn cungnhân hạt điều từ các nước sản xuất đều tăng lên thì nhu cầu liên tục giảm từ đầu năm tớinay, đặc biệt là Mỹ - thị trường tiêu thụ điều lớn nhất thế giới Giá quả hạnh trên thịtrường thế giới giảm, và tiêu thụ những loại hạt khác tăng lên trên những thị trường tiêuthụ lớn cạnh tranh trực tiếp với hạt điều

Nhu cầu giảm trên thị trường thế giới và sự cạnh tranh tăng từ các nước sản xuất khác đãlàm giảm xuất khẩu điều của Ấn Độ trong quý đầu tiên của tài khoá 2006/07 (tháng 4-6)

Do cung tăng vượt cầu, giá điều trên thị trường thế giới đã giảm Thị trường càng về cuốinăm càng yếu ớt Diễn biến thị trường điều thế giới quý 4/2006 có trầm lắng đi so vớiquý 2 và 3, chủ yếu do các giao dịch mới giảm Các doanh nghiệp xuất khẩu tập trunggiao hàng cho các hợp đồng đã ký

Thị trường Ấn Độ có nhu cầu nhập nhân hạt điều để bù vào số hàng bị trả lại do khôngđạt chất lượng để đáp ứng các hợp đồng đã ký, tỷ lệ trả lại khoảng 10%

Hình 1 Phân bố diện tích điều đang thu hoạch trên thế giới năm

Côte d'Ivoire Tanzania Mozambique Khác

Trang 16

Vào đầu tháng 10, nhu cầu nhập nhân hạt điều của thị trường Trung Quốc tăng do đã hếtnguyên liệu chế biến Do đó giá tăng nhẹ Nhiều doanh nhân Trung Quốc tìm đến thịtrường Việt Nam nhưng không còn nhiều nguồn hàng

Giá hạt điều nhân trung bình trong 5 tháng đầu năm 2006 là 4,1 USD/kg, giảm 15% sovới cùng kỳ năm ngoái Vào quý 3 và 4/2006, giá điều nhân khá ổn định Giá FOBCochin, Ấn Độ tháng 12 của loại rất tốt dao động trong khoảng 3,9-4,0 USD/lb (loạiW180); 3,3-3,4 USD/lb (loại W210) Loại nhân chất lượng tốt có giá 2,25 USD/lb (loạiW240); 2,05 USD/lb (loại W320) Vào đầu quý 4/2006, Indonesia bán điều thô làmnguyên liệu cho Việt Nam và Ấn Độ, mức giá từ 790 – 800 USD/ tấn CNF TP HCM, vàtăng lên tới 830 – 835 USD/tấn cho loại có tỷ lệ thu hồi điều nhân 29-30% (53 – 54 Lbstrên 80 Kg), cỡ hạt 205, độ ẩm 10%

Vào cuối năm 2006, các nhà xuất khẩu chủ yếu chờ đợi giá của thị trường năm 2007 và

vì vậy, không tha thiết với các hợp đồng giao sau (forward market) Một yếu tố khác làcác hợp đồng giao ngay (spot market) có giá cao hơn, nếu các nhà xuất khẩu có hàng

2.2 Tình hình sản xuất hạt điều và xuất khẩu nhân hạt điều Việt Nam

Tình hình sản xuất, chế biến hạt điều

Nối tiếp năm 2005, một năm thua lỗ kỷ lục của ngành chế biến và xuất khẩu điều ViệtNam, tình hình năm 2006 đã được cải thiện đôi chút, mặc dù còn nhiều khó khăn Theođánh giá của Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), trong 6 tháng đầu năm, tình hình thumua, chế biến và xuất khẩu gặp một số khó khăn do mùa vụ tới trễ, mưa sớm, sâu bệnhnhiều, chất lượng hạt kém, tỷ lệ thu hồi nhân thấp, tỷ lệ hạt trắng thấp Yếu kém chungcủa các doanh nghiệp là vẫn thu mua tự phát, không áp dụng tiêu chuẩn thu mua chung,chưa xây dựng vùng nguyên liệu, chưa có đại lý thu mua riêng Tình trạng gian lậnthương mại còn phổ biến (trộn bã trái, ngâm ủ hạt, độn tạp chất…) do một số doanhnghiệp tranh mua nguyên liệu, không chú trọng tiêu chuẩn hạt và khuyến cáo áp giá thumua chung của Vinacas (bình quân 8.000 đồng/kg hạt điều nguyên liệu cho năm 2006)

Về chế biến, khó khăn chung của ngành là thiếu lao động, chi phí chế biến tăng khoảng20% do nhiều loại chi phí đầu vào tăng (nhân công, bao bì, vận chuyển, điện nước, công

cụ sản xuất)

Ngoài ra, vẫn chưa có các tiến bộ về công nghệ chế biến Các công đoạn cắt, tách vỏ hạt,bóc vỏ lụa, phân loại vẫn chủ yếu sử dụng lao động thủ công, năng suất thấp Sản phẩmchính vẫn là nhân hạt điều thô, chưa đa dạng hoá được

Tình hình chung là năng suất thấp, giá thấp, cả nông dân và nhà máy đều không có lãi

Trang 17

Tình hình nổi bật trong quý 4/2006 là Hội thảo Ngành Điều Việt Nam, do Bộ Nôngnghiệp & Phát triển nông thôn tổ chức Hội thảo đã nghe báo cáo tóm tắt một số nội dungchính rà soát quy hoạch phát triển ngành điều Việt Nam đến năm 2010 và định hướngđến năm 2020 Từ các kết quả nghiên cứu, có thể thấy hạn chế lớn nhất của ngành điềuViệt Nam là phát triển quá nóng, thiếu định hướng thị trường, kể cả về diện tích canh táclẫn năng lực chế biến; gây ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận chung và sự phát triển bền vữngcủa ngành

Theo báo cáo của Viện Quy hoạch Thiết kế nông nghiệp, diện tích canh tác điều năm

2005 của Việt Nam là 433.546 ha, phân bố chủ yếu ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.Diện tích đang cho thu hoạch là 223.918 ha, năng suất bình quân 1,06 tấn/ha, sản lượngđiều thô 238.368 tấn (theo số liệu của ngành Thống kê) Các vùng sinh thái được đánhgiá là phù hợp cho trồng cây điều là Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Về xây dựng vùng nguyên liệu, một điểm yếu của ngành điều trong các năm qua là chưaxác định đúng vùng nguyên liệu phù hợp về sinh thái ở một số địa phương cụ thể, từ đógây ra lãng phí đầu tư; giá thành sản xuất cao, hiệu quả kém ở những vùng không phùhợp Theo kết quả nghiên cứu trên, giá thành hạt điều nguyên liệu tại nông trại biến thiêntrong khoảng từ 3.200 đồng đến 5.000 đồng/kg Ở các vùng sinh thái phù hợp, hoặc điềutrồng thâm canh, giá thành thường từ 3.200 – 3.400 đồng/kg so với mức giá bán ổn địnhtrong 6 tháng đầu năm 2006 là khoảng 10.700 đồng/kg Ở những vùng sinh thái ít phùhợp, năng suất điều hạt thấp, giá thành cao, sản xuất kém hiệu quả

Điểm yếu thứ hai của ngành điều là có sự chênh lệch quá lớn giữa năng lực chế biến vàsản lượng thu hoạch Hiện nay, với 219 cơ sở chế biến, tổng công suất thiết kế của ngànhchế biến điều đã đạt 674.200 tấn điều nguyên liệu/năm Trong khi đó sản lượng trongnước chỉ có trên dưới 350 ngàn tấn (sản lượng điều theo báo cáo của Hiệp hội Điều) vàkhả năng nhập khẩu chỉ là 100 ngàn tấn/ năm

Điều này có nghĩa sẽ cạnh tranh nguyên liệu giữa các doanh nghiệp, nhà máy sẽ rất khốcliệt trong thời gian tới Trong thời gian qua, mặc dù Hiệp Hội Điều Việt Nam đã có nhiều

cố gắng để thống nhất mua điều nguyên liệu từ nông dân với một mức giá phù hợp, bảođảm lợi nhuận cho nông dân và ngành chế biến, xuất khẩu, nhưng trên thực tế vẫn tồn tạihiện tượng tranh mua điều nguyên liệu khi vào vụ thu hoạch, đẩy giá điều nguyên liệu lênmức cao bất hợp lý Với số lượng cơ sở chế biến quá lớn như hiện nay, và đầu tư dư thừacông suất chế biến so khả năng cung nguyên liệu trong nước và nguồn nhập khẩu, chắcchắn ngành điều sẽ khó bình ổn giá điều nguyên liệu, bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các

Trang 18

thành phần trong ngành hàng điều và nâng cao chất lượng sản phẩm Có khả năng một sốnhà máy chế biến kém hiệu quả sẽ bị đào thải trong cuộc cạnh tranh này

Điểm yếu thứ ba là chi phí chế biến điều đang tăng do giá lao động tăng, không chủ độngđược nguồn lao động và bị các ngành khác cạnh tranh lao động Hiệu quả chế biến cũngthấp một phần do thiếu đa dạng hóa sản phẩm và tận dụng các sản phẩm chế biến khác từ

vỏ hạt điều

Với mức giá điều hạt nguyên liệu nhập khẩu (790 – 800 USD/tấn), các nhà máy chế biếnxuất khẩu sẽ gặp khó khăn vì chi phí chế biến hiện khá cao Theo số liệu nghiên cứu củaViện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam và Viện Quy hoạch Thiết kế nôngnghiệp, chi phí chế biến hạt điều (gồm nhân công và các loại phí khác) đã vào khoảng1,01 USD/kg nhân hạt điều Nếu cộng cả chi phí nguyên liệu (giá nhập nguyên liệu 800USD/tấn hạt thô, tương đương 2,67 USD/kg nhân hạt điều), giá thành tối thiểu đã là 3,68USD/kg nhân hạt điều Thông tin điều tra của Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp chothấy trong năm 2005, giá thành 1kg nhân điều thô của một số cơ sở chế biến khẩu đã là77,9 ngàn đồng/kg Trong khi đó, giá xuất khẩu bình quân của các doanh nghiệp cũng chỉvào khoảng 4 USD/kg nhân hạt điều

Điểm yếu thứ tư là thiếu vốn Nhiều doanh nghiệp chế biến xuất khẩu điều đang thiếuvốn lưu động Có khả năng trong mùa vụ thu mua điều năm 2007, nhiều nhà máy sẽkhông được ngân hàng đầu tư do đã 2 năm liền sản xuất kinh doanh kém hiệu quả Cũng theo thông tin Hiệp Hội Điều, có nhiều nhà máy nhỏ đang thiếu nguyên liệu trầmtrọng, và đang thua lỗ trong chế biến xuất khẩu do thiếu vốn mua hàng tồn trữ sản xuấtngay từ đầu vụ, lại chưa có điều kiện nhập khẩu hạt điều thô, nên phải phải mua lại điềuthô để sản xuất do nguồn trong nước cung cấp Phần lớn họ đều bị lỗ khi sản xuất các lôhàng này do định mức chế biến rất cao và do chi phí chế biến tăng cao

Tình hình xuất khẩu năm 2006

Theo ước tính của Bộ Thương mại, năm 2006 ngành điều sẽ xuất khẩu được khoảng 130ngàn tấn nhân điều các loại và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 520 triệu USD Như vậy

so với năm 2005 thì xuất khẩu nhân điều tăng trên 20% về lượng nhưng chỉ tăng trên 3%

về trị giá So với kế hoạch xuất khẩu năm 2006 chỉ đạt 87% chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu

Về giá bình quân xuất khẩu năm nay dự kiến sẽ giảm hơn giá bình quân xuất khẩu năm

2005 khoảng 13 – 14%

Trang 19

Theo số liệu thống kê của Bộ Thương mại đến 10/12/2006, toàn ngành đã xuất khẩu được118.269 tấn nhân hạt điều các loại và đạt kim ngạch 471.222.730 USD Giá xuất khẩubình quân là 3.984 USD/tấn

Bảng 1 Thống kê xuất khẩu nhân hạt điều Việt Nam 2000-2006

(1.000 tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Giá xuất khẩu bình quân (USD/tấn)

- số liệu 2006: theo số liệu thống kê xuất nhập khẩu của Bộ Thương mại, website vinanet.com.vn

Về tiến độ xuất khẩu, lượng xuất tương đối ổn định qua từng tháng và kéo dài trong suốtnăm và dao động ở mức 10.000 – 11.000 tấn/tháng Đến cuối năm 2006, lượng giao dịchmới giảm dần Theo Hiệp Hội Điều Việt Nam, lượng giao dịch mới trong quý 4/2006 rất

ít do các doanh nghiệp chế biến đã hết nguyên liệu và chủ yếu tập trung giao hàng chonhững hợp đồng đã ký

Vào cuối quý 4/2006, do đã cạn nguồn điều hạt nguyên liệu, nhiều doanh nghiệp phảinhập nguyên liệu từ các nước khác về để duy trì hoạt động của nhà máy và hoàn tất cáchợp đồng xuất khẩu đã ký Hạt điều thô nhập về chủ yếu qua cảng TP Hồ Chí Minh vớinguồn nhập khẩu là từ Châu Phi và một số lô nhập khẩu từ Indonesia Theo đánh giáchung của cơ quan giám định thì các lô điều thô nhập khẩu về Việt Nam năm nay đa sốchất lượng phù hợp, hợp đồng nhập khẩu ít có tranh chấp xảy ra

Về thị trường xuất khẩu

Hạt điều Việt Nam đã xuất sang hơn 30 thị trường; trong đó, xuất sang Mỹ đạt cao nhất

Kế đó là các thị trường Trung Quốc, Hà Lan, Úc, Hà lan, Anh, Canada Các thị trườngTrung Quốc, Hà Lan, Australia đều có tốc độ tăng trưởng cao

Nguồn: số liệu xuất khẩu nhân hạt điều 11 tháng đầu năm 2006, Bộ Thương mại

Trang 20

Tính đến cuối tháng 11/2006, bốn nước chiếm thị phần cao nhất đối với nhân hạt điềuViệt Nam là Mỹ (35%); Trung Quốc (20%); Australia (11%); Hà Lan (10%) Các nướccòn lại chiếm khoảng 25% khối lượng xuất khẩu.

Đánh giá so năm 2005, các thị trường có mức tăng trưởng cao là Mỹ, Italia, Pháp,Australia, Ả rập Xê Út, Hồng Kông, Nauy Tuy nhiên xuất khẩu sang một số thị trườngnhư Tây Ban Nha, Canada và New Zealand giảm

Nguồn: số liệu xuất khẩu nhân hạt điều 11 tháng đầu năm 2006, Bộ Thương mại

Giá cả thu mua nội địa và xuất khẩu

Theo số liệu bảng 1, mức giá bình quân năm 2006 thấp hơn giá năm 2005 là 625USD/tấn Về giá trị tương đối, chỉ bằng 86,4% giá năm 2005 (giảm 13,6%), nhưng chưaphải là năm có giá xuất khẩu thấp nhất vì năm 2002, 2003, 2004 giá xuất khẩu còn thấphơn nữa

Hình 2 Thị phần xuất khẩu nhân điều thô Việt

Nam năm 2006 theo khối lượng

Hình 3 Thị phần xuất khẩu nhân điều thô Việt

Nam năm 2006 theo giá trị

Trang 21

Diễn biến giá xuất khẩu bình quân theo tháng cho thấy giá năm 2006 tương đối ổn định.Các tháng đầu năm mức giá nhích hơn 4.000 USD/tấn một chút, sau đó giữ ở mứckhoảng trên dưới 3.950 USD/tấn

Trên thị trường Việt Nam, giá điều thô cũng giảm mạnh, từ mức 16.000-17.000 đồng/kgđầu năm 2005 xuống chỉ còn 8.000 đồng/kg trong năm 2006 (giá thu mua do Hiệp hộiĐiều Việt Nam đề xuất) Trên thực tế, các doanh nghiệp đã mua ở mức trên dưới 10.000đồng/kg trong thời gian vào vụ thu hoạch (quý 1 và quý 2) Từ quý 3 trở đi, giá điềunguyên liệu ổn định ở mức 8.000 đồng/kg

Tình hình hoạt động của Hiệp hội Điều Việt Nam

Trong năm 2006, Hiệp hội Điều Việt Nam đã có nhiều hoạt động tích cực nhằm củng cố

hệ thống các doanh nghiệp và hoạt động chung của ngành

Các hoạt động quan trọng là xúc tiến thương mại và liên kết với các ngân hàng để bảođảm nguồn vốn thu mua và dự trữ nguyên liệu cho năm 2007

Trong tháng 10, Hiệp Hội Điều Việt Nam đã cử 25 thành viên đến dự Hội nghị ngànhđiều do Hiệp hội các ngành công nghiệp thực phẩm (AFI) tổ chức tại Hoa Kỳ từ ngày8/10 Tham dự hội nghị lần này có mặt hầu hết các nhà thu mau lớn ở Mỹ và đề tài hạtđiều VN được hội nghị nhấn mạnh như một chủ đề quan trọng Một số khách hàng quốc

tế lớn còn cho rằng chất lượng hạt điều VN có thể đứng hàng đầu thế giới và nếu giá thumua các nước bằng nhau thì họ vẫn ưu tiên mua hàng của VN Lưu ý rằng Hoa Kỳ hiện

là thị trường chủ yếu của sản phẩm điều Việt Nam, chiếm khoảng 40 ngàn tấn nhân điềuxuất khẩu, tương đương khoảng 40% sản lượng xuất

Các vấn đề được các khách hàng Hoa Kỳ đặt ra chủ yếu là chất lượng, bao gồm tỷ lệ tạpchất, vết sâu bệnh trên bề mặt hạt, độ đồng nhất của sản phẩm về mùi vị và màu sắc, cácphương pháp chế biến và bảo quản

Ngoài ra, Hiệp hội cũng có kế hoạch tiếp tục tổ chức xúc tiến thương mại ở các thị trường

Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập, khảo sát thị trường Australia và châu Âu

Vào cuối năm 2006, Hiệp hội đã vận động các ngân hàng lớn ở Việt Nam tạo điều kiệnvay vốn phát triển sản xuất – kinh doanh Bộ Thương mại cũng có động thái ủng hộ, đềnghị khoanh nợ, dãn nợ và tiếp tục cho vay đối với các doanh nghiệp chế biến hạt điều

2.3 Nhận định chung và dự báo năm 2007

Có thể đánh giá chung là trong năm 2006, mặc dù có khó khăn nhưng sản lượng xuấtkhẩu nhân điều Việt Nam vẫn tăng 10% so với năm 2005 Tuy nhiên, về trị giá lại giảm

Trang 22

đôi chút do giá xuất khẩu bình quân giảm khoảng 13,6% Thị phần xuất khẩu chủ yếu vẫn

là các thị trường lớn, quan trọng và thị phần tăng khá, đặc biệt là Mỹ và Úc

Điều đáng nói là chất lượng phát triển của ngành điều thiếu tính bền vững, luôn tiềm ẩnnhững bất ổn có thể bùng phát bất cứ lúc nào và không thể khắc phục được ngay, đó là:

- Tình hình cơ giới hoá, tự động hoá diễn ra chậm chạp, năng suất lao động rấtthấp Nhà nước ít hỗ trợ đầu tư, doanh nghiệp thiếu vốn và thiếu liên kết với hệthống ngân hàng tín dụng

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, kể cả ở khu vực nông nghiệp lẫn khu vực chếbiến và xuất khẩu

- Nhân điều Việt Nam vẫn được đánh giá có chất lượng hàng đầu thế giới, nhưngviệc tổ chức sản xuất và xuất khẩu hiện nay đang có vấn đề khó kiểm soát đượcchất lượng sản phẩm và vệ sinh - an toàn thực phẩm

- Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng gặp nhiều khó khăn về vốn thumua và dự trữ nguyên liệu

- Mất cân đối nghiêm trọng giữa năng lực chế biến và sản lượng sản xuất nội địatạo ra nguy cơ lãng phí đầu tư, kém hiệu quả trong khai thác chế biến, tăng cạnhtranh không làm mạnh giữa các doanh nghiệp và dẫn đến tình trạng phá sản củacác doanh nghiệp yếu

Về sản xuất, dự báo về El Nino đã gây ra các lo lắng về dự báo sản lượng điều nguyênliệu 2007 Một số thông tin cho rằng mùa vụ sẽ tới sớm khoảng 01 tháng so với niên vụ

2006 Hiện nay các vùng điều lớn đã có tới 50 – 60% số cây ra nụ và bông, số còn lạiđang thay lá và đã ra chồi Dự kiến thời gian thu hoạch sẽ bắt đầu từ sau Tết Nguyên đán.Một số diện tích điều có thể được thu hoạch từ trước Tết

Tuy nhiên, cần phải có kiểm chứng thực tế về tình hình sản xuất, sâu bệnh hại, sản lượng

và thời gian thu hoạch ở các vùng nguyên liệu chính để dự báo cho năm 2007 chắc chắnhơn

Theo những thông tin địa phương, một số hộ nông dân do thiếu vốn sản xuất nên đangbán “điều non”, tức là bán sớm với giá 10.000 đồng/kg, tương đương 625 USD/tấn hạtnguyên liệu Đây là tín hiệu xác định mức giá thị trường mà nông dân cảm thấy đủ bù đắpchi phí sản xuất và tạo lợi nhuận hợp lý cho nông dân

Năm 2007, thuế xuất hạt điều thô là 0%, thời điểm này là 5% và 7,5% Thuế xuất nhânđiều thô sẽ là 25%, thay bằng 40% như hiện nay Đây là lộ trình miễn giảm thuế do Việt

Trang 23

Nam cam kết khi gia nhập WTO Thông tin này được trích dẫn từ báo cáo của Viện Quyhoạch Thiết kế nông nghiệp, tại Hội thảo ngành điều Việt Nam được tổ chức tại TP.HCM vào ngày 14/11/2006 Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng cho ngành chế biếnxuất khẩu điều, vì mức thuế xuất khẩu giảm sẽ thúc đẩy kinh doanh, tăng khả năng cạnhtranh của ngành điều Việt Nam.

2.4 Đề xuất chính sách

Do diện tích trồng điều đã tới hạn, và cây điều đang bị một số cây trồng khác như cao sucạnh tranh mạnh nên trong tương lai, khó phát triển thêm diện tích điều Để bảo đảm cânđối giữa năng lực chế biến và cung nguyên liệu, cải thiện hiệu quả sản xuất hạt điều vàtăng thu nhập cho nông dân, cần tiếp tục ổn định diện tích, nâng cao năng suất điều thôngqua sử dụng các biện pháp thâm canh, phòng trừ sâu bệnh hại và công tác giống

Nhà nước cũng cần có các hỗ trợ nghiên cứu chế tạo và ứng dụng các công nghệ chếbiến, máy móc cơ khí để tăng cường cơ giới hóa trong chế biến nhân hạt điều, nhằm giảm

áp lực thiếu lao động thủ công trong các công đoạn bóc, tách vỏ, bóc vỏ lụa và phân loạihạt

Về phía doanh nghiệp, việc tiếp tục củng cố và phát huy vai trò của Hiệp hội Điều là hếtsức cần thiết, nhằm điều phối, thống nhất việc thu mua nguyên liệu và xuất khẩu điềugiữa các doanh nghiệp để đạt được lợi ích chung cao nhất dựa trên các dự báo, thông tinthị trường chính xác Đồng thời, có biện pháp liên kết với hệ thống ngân hàng để có đủvốn thu mua và dự trữ nguyên liệu ngay từ đầu vụ để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinhdoanh của toàn ngành Tăng khả năng điều phối của Hiệp hội cũng đồng nghĩa với việctạo ra môi trường sản xuất kinh doanh minh bạch, đoàn kết, cạnh tranh lành mạnh, tăng

uy tín, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất chung của toàn ngành

3 Ngành hàng Mía đường

13.1 Biến động sản xuất và thị trường

3.1.1 Sản xuất và thị trường trong nước

Có thể nói, năm 2006 giá đường trong nước đã có sự biến động mạnh, đạt mức cao trongnửa đầu năm nhưng sau đó tụt giảm xuống mức rất thấp trong 3 tháng cuối cùng

Tiếp tục xu hướng tăng giá từ cuối năm 2005, trong nửa đầu năm 2006, giá đường liêntục tăng mạnh, đạt mức trung bình 13.000 đồng/kg đối với giá đường trắng bán lẻ (thậmchí có nơi lên tới 14.000 đồng/kg) trong thời gian từ tháng 4 – 5 Mức giá trung bình củađường bán buôn cũng đạt khoảng 11.000 đồng/kg Mặc dù đây là thời điểm vào vụ sản

Trang 24

xuất và nhu cầu tiêu thụ đường không tăng, song do giá nguyên liệu mía trong nước vàgiá đường thế giới tăng cao, thị trường đường nội địa không tránh khỏi cơn sốt giá

Nguồn: Icard, Vinanet và Bộ Thương mại

Tuy nhiên, đến tháng 6, giá đường bán buôn và bán lẻ trên thị trường bắt đầu có xuhướng hạ nhiệt Điều này hoàn toàn trái ngược với diễn biến trên thị trường trong 5 thángtrước đó Mặc dù thời tiết nắng nóng, nhu cầu tiêu thụ đường tăng cao nhưng do nguồncung trên thị trường dồi dào hơn, giá đường trong nước diễn biến theo chiều hướng đixuống Đến tháng 10, do nguồn cung đường được bổ sung từ vụ sản xuất mới cùng vớilượng đường tồn kho, giá đường tiếp tục giảm mạnh hơn Và đến cuối tháng 12, giáđường bán buôn (đã bao gồm VAT) đã tụt xuống còn 6.800 - 7.100 đ/kg đối với đườngkính trắng; 7.400 - 7.600 đ/kg đối với đường tinh luyện và 6.400 - 6.600 đ/kg đối vớiđường vàng Giá bán lẻ đường kính giảm 100 - 200 đồng so với tháng trước, phổ biến ởmức 8.500 - 11.000 đ/kg

Trong cả năm 2006, chênh lệch giá giữa đường bán buôn và bán lẻ liên tục ở mức khácao, luôn dao động trong khoảng trên dưới 2.000 đồng/kg Điều này là do có nhiều tácnhân trung gian trong quá trình chuyển đường ở nhà máy đến tay người tiêu dùng cuốicùng

Hình 1 - So sánh giá đường nội địa và giá đường trắng kỳ hạn London (VNĐ/kg)

Đường trắng bán lẻ Đường trắng bán buôn Đường tinh luyện bán buôn Giá đường trắng kỳ hạn London

Trang 25

Giá đường trên thị trường nội địa trong năm 2006 biến động tương đối cùng chiều vớidiễn biến giá đường thế giới, tuy nhiên khoảng cách chênh lệch giá vẫn giữ ở mức cao.Nếu so sánh với giá đường trắng kỳ hạn trên thị trường London chỉ vào khoảng trên dưới6.000 đồng/kg, đường bán lẻ nội địa có giá cao hơn gần gấp đôi, còn giá bán buôn caohơn gấp rưỡi (hình 1) Đây là kết quả của năng suất chế biến thấp và chi phí sản xuất caocủa ngành đường trong nước so với thế giới Hơn nữa, do nhà nước bảo hộ ngành đườngbằng thuế suất nhập cao và hạn ngạch nhập khẩu nên đường nhập vào Việt Nam phần nào

bị hạn chế

Tính đến cuối vụ, cả nước chỉ còn 37 nhà máy đường hoạt động và tổng lượng míanguyên liệu thu mua mới chỉ đạt khoảng 7,1 triệu tấn (giảm 2,5 triệu tấn so với niên vụtrước) Theo dự tính của Hiệp hội Mía đường Việt Nam, sản lượng đường chế biến vụ

2005 – 2006 chỉ đạt khoảng 970.000 tấn Nhu cầu tiêu thụ đường trong nước sẽ ở mứctrên dưới 1,35 triệu tấn Như vậy, khối lượng đường nội địa thiếu hụt ước tính vàokhoảng 380.000 tấn

Đến trung tuần tháng 11/06, tất cả các nhà máy đường ở đồng bằng sông Cửu Long đãbước vào vụ sản xuất 2006/07 Theo báo cáo của Hiệp hội mía đường Việt Nam, sảnlượng mía niên vụ 2006/07 của cả nước dự đoán sẽ đạt 15,7 triệu tấn, sản lượng đườngvào khoảng 1,25 triệu tấn, tiêu dùng khoảng hơn 1 triệu tấn Do đó khả năng cân đốiđược cung cầu tiêu thụ đường trong nước có thể được đảm bảo

3.1.2 Sản xuất và thị trường thế giới

Trang 26

Giá đường trắng và đường thô trên các thị trường thế giới trong năm 2006 cũng có sựbiến động mạnh

Sau khi tăng lên mức kỷ lục trong 25 năm qua vào đầu tháng 2 và tiếp tục duy trì ở mứccao đến đầu tháng 5 - thời điểm giá đường thô đứng ở mức cao nhất trong năm 2006 là409,8 USD/tấn và giá đường trắng đạt mức cao nhất là 476 USD/tấn, sau đó giá đường kỳhạn trên 2 thị trường bắt đầu diễn biến theo chiều hướng đi xuống Đến cuối tháng 6, giáphục hồi nhưng cũng chỉ duy trì ở thế vững trong khoảng nửa tháng trước khi tụt giảmhoàn toàn vào đầu tháng 7 Đến ngày 25/9, cả 2 loại đường đều tụt xuống mức giá thấpnhất trong năm 2006 là 328,5 USD/tấn đối với đường trắng và 241,6 USD/tấn đối vớiđường thô Như vậy, biến động giá đường là rất lớn trong năm 2006, với biên độ daođộng đạt khoảng gần 150 USD/tấn đối với đường trắng và lên tới gần 170 USD/tấn đốivới đường thô

Càng về cuối năm, chênh lệch giá hai loại đường có xu hướng mở rộng Nếu như chênhlệch giá giữa đường trắng và đường thô trong 5 tháng đầu năm chỉ ở mức trên dưới 60USD/tấn, thì đến khoảng giữa tháng 6, đã tăng lên khoảng 80 USD/tấn Đến ngày 10/10,chênh lệch giữa giá đường trắng và đường thô đã vượt mức 100 USD/tấn Như vậy, cóthể nói rằng, giá đường thô dường như chịu áp lực nhiều hơn so với đường trắng

Nguyên nhân của sự đi xuống trên cả 2 thị trường đường kỳ hạn vào cuối năm 2006, đặcbiệt là sự tụt giảm mạnh trong quý cuối cùng, đó là sự chi phối của các quỹ hàng hoá khiđẩy mạnh bán ra trong bối cảnh nhiều tổ chức quốc tế điều chỉnh tăng mức dự đoán dưthừa cung đường trong niên vụ 2006/07 Nguồn cung đường tăng cao từ các nước sảnxuất như Braxin, Ấn Độ và Thái Lan trong khi nhu cầu nhập khẩu giảm từ các nước nhưTrung Quốc, Nga, Pakistan, Indonesia là nhân tố gây sức ép mạnh lên thị trường trongnhững tháng cuối cùng của năm 2006

3.2 Giải thích và nhận định

3.2.1 Sản xuất và thị trường trong nước

Theo số liệu của Hiệp hội mía đường, trong niên vụ 2005/06, cả nước có tổng cộng 37nhà máy đường hoạt động, sản xuất được 905.400 tấn đường, thấp hơn năm trước170.000 tấn Theo tổng kết của Bộ nông nghiệp & PTNT, sản lượng đường thủ công cũngchỉ đạt 150.000 tấn, giảm 30.000 tấn so với năm trước Quả là một nghịch lý khó tin khiViệt Nam đang trở thành một nước nhập khẩu đường và xu hướng này ngày càng rõ rệtmặc dù ta có điều kiện hết sức thuận lợi cho trồng mía

Trang 27

Năng suất thấp và chất lượng mía giảm sút là hai yếu tố quan trọng khiến cho sản lượngđường của Việt Nam trong niên vụ 2005/06 không đủ đáp ứng nhu cầu Ngoài nhân tốkhách quan là thời tiết bất lợi, chất lượng mía giảm còn do các nhà máy thấy giá đườngcao đã vào sản xuất sớm và kéo dài, ép mía non với chữ đường thấp, lượng mía phải tiêuhao nhiều hơn, lên đến 10,7 mía/1 đường trong khi năm trước chỉ tốn 10,3 mía/1 đường.

Vụ sản xuất đường 2006-2007 vẫn với 37 nhà máy đường với tổng công suất thiết kế82.150 tấn mía/ngày Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, vớilượng mía dồi dào, công suất phát huy đạt 90,7%, lượng đường sản xuất dự kiến đạt1.087.200 tấn Cùng với 150.000 tấn đường thủ công, cả nước sẽ có tổng cộng 1.237.200tấn đường thì cân đối cung cầu vẫn còn thiếu hơn 100.000 tấn đường

Trong khi đó, theo dự báo cách đây 3 năm, đến năm 2010, năng lực sản xuất đường trongnước (bao gồm cả đường công nghiệp và thủ công) là 1.500.000 tấn, nhu cầu tiêu thụ cầnđến 1.605.708 tấn

Những số liệu thực tế và dự báo trên cho thấy ngành mía đường đang thực sự cần một sựchuyển đổi mạnh mẽ để có thể đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập khi thuế suất nhậpkhẩu đường sẽ phải giảm dần từ 40% trong năm 2006 xuống còn 0-5% đến năm 2010 Hướng cơ bản và lâu dài của ngành mía đường là phải giảm chi phí sản xuất, giảm giáthành sản phẩm để nâng cao hiệu quả sản xuất của cả mía lẫn đường Công việc trướctiên là phải hình thành và củng cố các vùng nguyên liệu chất lượng cao, không để kéo dàitình trạng trồng mía tự phát như hiện nay

Để có được điều này, theo Cục nông nghiệp (Bộ NN & PTNT), chương trình mía đườngphải gắn với quy hoạch chung về phát triển hạ tầng trên địa bàn Các trục giao thôngchính giữa vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến phải được nâng cấp Các tuyến giaothông nội đồng mía phải được tu bổ xây dựng để giảm thời gian và chi phí vận chuyển.Việc cải tạo, nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu mía phải đi đôi với nâng cấp và củng

cố các nhà máy đường

Trong đàm phán để đi đến cam kết với WTO, Việt Nam đã thành công trong việc tiếp tụcduy trì các biện pháp bảo hộ ngành mía đường Tuy nhiên, trong những năm tới ngườitiêu dùng sẽ không còn phải ăn đường giá cao và sẽ có nhiều khó khăn cho nhà sản xuấtmía đường Theo các nhà sản xuất và kinh doanh đường, trong những năm tới sẽ khôngcòn xảy ra những cơn “sốt giá” như thời gian qua, bởi lẽ nguồn cung đường trong nướcrất dồi dào cộng với lượng đường nhập khẩu Trong cam kết gia nhập WTO của ViệtNam, đến năm 2012 Việt Nam sẽ cắt giảm 85% mức thuế nhập khẩu đường, cao nhất chỉ

Trang 28

còn 6% Tuy nhiên, trước mắt giá đường sẽ bị tác động bởi lộ trình giảm thuế của Khuvực Tự do mậu dịch ASEAN (AFTA) Theo đó, từ năm 2007 Việt Nam giảm thuế nhậpkhẩu đường còn 30%, sau đó giảm thêm và chỉ còn 5% vào năm 2010

Hiện nhiều nước là thành viên WTO vẫn áp dụng chính sách bảo hộ ngành mía đường.Trong khi đó, theo nhiều doanh nghiệp, người nông dân và các doanh nghiệp mía đườngViệt Nam vẫn phải tự xoay xở, các địa phương chưa có chính sách gì hỗ trợ nông dântrong việc xây dựng hệ thống thủy lợi, giao thông để nâng cao năng suất mía và thuận lợicho vận chuyển nguyên liệu Đây là một bất lợi lớn cho ngành mía đường Việt Namtrong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO

Theo các chuyên gia, việc hỗ trợ nông dân sau khi Việt Nam gia nhập WTO là có thểthực hiện được Trong cam kết với WTO, Việt Nam được phép duy trì hỗ trợ không quá10% giá trị sản lượng, chưa kể một khoản hỗ trợ khác khoảng 4.000 tỉ đồng/năm

Hơn nữa, xu hướng tìm nguồn nhiên liệu sinh phẩm để thay thế nhiên liệu từ dầu mỏ sẽ làtất yếu và lâu dài Có nghĩa rằng cơ hội phát triển của ngành công nghiệp đường thế giớinói chung cũng như ngành mía đường Việt Nam nói riêng sẽ khác với cơ hội của sốt giávàng hay sốt giá dầu mỏ mấy năm gần đây Điều này cũng đồng nghĩa với việc, nhữngnăm vừa qua, nền nông nghiệp Việt Nam và cụ thể là ngành mía - đường nước ta đã đểtuột mất “cơ hội vàng” này Chẳng những thế, Việt Nam phải nhập khẩu đường, với sốlượng lớn và mỗi năm một tăng Những hy vọng Việt Nam về khả năng tự túc đượcđường và dần chuyển hướng xuất khẩu xem ra rất khó có thể thực hiện được trong tươnglai gần

3.2.2 Sản xuất và thị trường thế giới

Có thể nói giá đường trên các thị trường kỳ hạn thế giới trong năm 2006 diễn biến hết sứcphức tạp Sau khi liên tục duy trì ở mức cao trong 5 tháng đầu năm, thị trường đã suy yếurất mạnh trong quý cuối cùng và điều này dường như là một tất yếu khi một loạt các dựđoán cuối năm đưa ra cho rằng thị trường đường thế giới niên vụ 2006/07 sẽ ở trong tìnhtrạng dư thừa cung

Theo Tổ chức Nông – Lương Liên Hiệp Quốc (FAO), dự báo tiêu thụ đường thế giới vụ2006/07 sẽ đạt 152,1 triệu tấn, tăng 1,5% so với mức 149,9 triệu tấn vụ 2005/06, songthấp hơn so với mức tăng trưởng bình quân 2,4% của 10 năm qua Sản lượng đường thếgiới vụ 2006/07 có thể đạt 155,5 triệu tấn, tăng 4,3% so với vụ 2005/06 nhờ sự gia tăngsản lượng của Braxin, Nga, Mỹ, vùng Viễn đông Châu Á và Đông Âu, trong đó riêng sảnlượng của các nước đang phát triển dự báo đạt 116,5 triệu tấn, tăng 9,7%

Trang 29

Tiêu thụ đường của các nước đang phát triển vụ 2006/07 có thể đạt 104,3 triệu tấn, tăng1,8% so với vụ trước, nhưng vẫn thấp hơn so với mức bình quân của các năm qua Điềunày đã phản ánh sự tác động tiêu cực của việc giá đường tăng cao trên thị trường quốc tế(đặc biệt là tại châu Phi và châu Á) trong khi cầu tiêu thụ các viên ngọt tinh bột thay thếtại một số nước tiêu thụ lớn như Trung Quốc và Mêxicô lại tăng lên Tuy nhiên, sự tăngtrưởng của nền kinh tế sẽ tiếp tục đóng vai trò là động lực thúc đẩy nhu cầu tiêu thụđường tăng lên tại các nước đang phát triển, đặc biệt là tại Ấn Độ và vùng Viễn Đôngchâu Á Đối với các nước phát triển, tiêu thụ đường bình quân đầu người vụ 2006/07được dự đoán sẽ tiếp tục suy giảm trước những lo ngại về vấn đều sức khoẻ và sự pháttriển của thị trường viên ngọt thay thế Vụ 2006/07, tiêu thụ đường của các nước pháttriển dự đoán tăng dưới 1% so với vụ 2005/06, lên đạt 47,9 triệu tấn

Tiêu thụ đường vụ 2006/07 của khu vực Mỹ la tinh và Caribê dự đoán đạt 27,8 triệu tấn,tăng trên 1% so với vụ 2005/06, trong đó riêng mức tiêu thụ của Braxin và Mêxicô có thểtăng đạt lần lượt 11,3 triệu tấn và 5,6 triệu tấn

Nhu cầu tiêu thụ đường tại các nước đang phát triển thuộc khu vực Viễn Đông châu Á vụ2006/07 có thể đạt 54,9 triệu tấn, tăng 2,1% so với vụ trước, song vẫn thấp hơn mức tăngtrưởng bình quân 3,4% của 10 năm qua Vụ 2006/07, tiêu thụ đường của Trung Quốc và

Ấn Độ dự đoán đều tăng lên so với vụ trước, lần lượt đạt 12,9 triệu tấn và 21 triệu tấn Tiêu thụ đường của vùng Cận Đông và châu Phi vụ 2006/07 dự đoán cũng đều tăng sovới vụ trước, lần lượt đạt 11,9 triệu tấn (tăng 240.000 tấn) và 9,5 triệu tấn Theo nhậnđịnh của FAO, tiêu thụ đường tại các nước phát triển vụ 2006/07 nhìn chung khá ổn định

và dự đoán tăng 350.000 tấn (0,8%) so với vụ trước, lên đạt 47,9 triệu tấn, trong đó tiêuthụ đường của EU có thể đạt 17,8 triệu tấn Vụ 2006/07, nhu cầu tiêu thụ đường của Bắc

Mỹ và Nga dự đoán đều tăng nhẹ so với vụ trước, lần lượt đạt 10,7 triệu tấn và 6,6 triệutấn

Về sản xuất, giá đường tăng cao trong 2 năm qua đã tạo động lực thúc đẩy các nhà sảnxuất mở rộng diện tích canh tác, đặc biệt là tại các nước đang phát triển Bên cạnh đó,nhu cầu về ethanol cũng như nhiên liệu sinh học tăng lên đã tạo ra xu thế toàn cầu về việcđẩy mạnh sản xuất đường cũng như tiến trình đổi mới và xây dựng các nhà máy chế biếnđường

Sản lượng đường của khu vực Mỹ la tinh và vùng Caribê vụ 2006/07 dự đoán đạt 51,4triệu tấn, trong đó sản lượng của Braxin có thể đạt mức kỷ lục 31 triệu tấn, tăng 2 triệutấn so với vụ 2005/06 Năm 2007, sản lượng mía đường của Mỹ la tinh và vùng Caribê

dự đoán đạt 420 triệu tấn

Trang 30

Sản lượng đường của các nước đang phát triển thuộc châu Phi vụ 2006/07 có thể tăng nhẹ

so với vụ trước, đạt 10,6 triệu tấn, nhờ sự gia tăng sản xuất mặt hàng này tại Ai Cập,Kenya, Mauritius, Mozambique và Sudan Hiện nay, Ai Cập đang tiếp tục đầu tư vàongành củ cải đường và có kế hoạch thành lập 5 nhà máy chế biến đường mới, trong đónhà máy đầu tiên sẽ được đưa vào hoạt động trong năm 2007 Nhờ tiến hành đầu tư vàocác nhà máy chế biến đường xuất khẩu trong thời gian gần đây, sản lượng đường củaMozambique dự đoán sẽ đạt gần 300.000 tấn trong vụ 2006/07, tăng mạnh so với mức40.000 tấn vào cuối những năm 1990

Theo FAO, sản lượng đường của khu vực Viễn Đông Châu Á vụ 2006/07 dự báo sẽ đạt52,7 triệu tấn, tăng 6,9 triệu tấn (15,1%) so với vụ trước do các nhà sản xuất phản ứngtích cực với giá đường tăng cao và sự gia tăng nhu cầu về ethanol Sản lượng đường vụ2006/07 của tất cả các nước sản xuất chính trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn

Độ, Indonesia, Pakistan và Thái Lan, được dự báo đều tăng lên, trong đó riêng sản lượngđường của Ấn Độ có thể đạt mức kỷ lục 24 triệu tấn nhờ hàng loạt các yếu tố hỗ trợ nhưdiện tích trồng mía được nâng lên, giá đường nội địa tăng cao và thời tiết diễn biến thuậnlợi tại miền nam và trung nước này

Nhờ giá đường nội địa tăng cao cùng năng suất thu hoạch mía cao, sản lượng đường vụ2006/07 của Trung Quốc được dự đoán tăng 15% so với vụ 2005/06, lên đạt 11,3 triệutấn Sản lượng đường của Thái Lan có thể đạt 6,9 triệu tấn, tăng 30% so với vụ 2005/06,trong khi Indonesia đạt 2,5 triệu tấn, tăng 200.000 tấn Năm 2007, thị trường Philippinesđược dự báo cũng sẽ dư thừa đường cho xuất khẩu

Sản lượng đường của các nước phát triển vụ 2006/07 dự đoán giảm 9,1% so với vụ trước,xuống còn 39,1 triệu tấn, trong đó sản lượng của Liên minh Châu Âu (EU) có thể giảm23% (từ 21,4 triệu tấn vụ 2005/06, xuống còn 16,5 triệu tấn vụ 2006/07) do ảnh hưởngcủa chính sách cải cách đường Vụ 2006/07, sản lượng đường của Nga, Mỹ dự báo lầnlượt đạt 3,1 triệu tấn và 7,6 triệu tấn, tăng tương ứng 15% và 14% so với vụ trước, trongkhi Nam Phi và Australia có thể giảm xuống còn các mức tương ứng 2,4 triệu tấn và 4,9triệu tấn do thời tiết diễn biến khắc nghiệt như khô hạn và mưa lớn

Trang 31

Nguồn: Global Trade Information Services (GTIS)

Trên thị trường xuất khẩu thế giới, Braxin vẫn là nước chiếm ưu thế với 71,39% thị phầntrong tổng khối lượng xuất khẩu đường mía thô 18.193.798 tấn của thế giới trong năm

2006, tiếp sau là Guatemala và Thái Lan với tỷ lệ tương ứng 7,32% và 6,84% Đối vớiđường củ cải, Nam Phi là nước dẫn đầu, với thị phần 65,18% trong tổng số 479.037 tấnđường thô xuất khẩu, tiếp theo là Mỹ và Anh, các nước còn lại chỉ chiếm 13,8% trongtổng khối lượng xuất khẩu đường củ cải của thế giới

3.3 Kết luận

Vấn đề nan giải bấy lâu nay của ngành đường Việt Nam tiếp tục lặp lại trong năm 2006,

đó là sự tự phát trong quy hoạch vùng nguyên liệu và thiếu thống nhất hợp tác trong quátrình thu mua mía của các nhà máy đường Chính điều này đã dẫn tới sự biến động lênxuống thất thường trong giá thu mua mía và giá đường trên thị trường Cuối cùng không

ai khác, nông dân là những người chịu thiệt thòi nhiều nhất

Vai trò của các cơ quan chức năng và các nhà máy đường dường như vẫn chưa phát huyđược nhiều trong việc ổn định cung cầu, sắp xếp quy hoạch hợp lý các vùng nguyên liệucũng như đưa ra mức giá thu mua thống nhất cho nông dân Vì vậy, các cơ quan này cần

có sự đổi mới, thống nhất trong cách điều hành sản xuất và thị trường để ổn định giá,giúp nông dân yên tâm sản xuất lâu dài

Trong cam kết gia nhập WTO, đến năm 2012, Việt Nam sẽ phải cắt giảm 85% mức thuếnhập khẩu đường, cao nhất chỉ còn 6% Trước mắt, giá đường trong nước sẽ chịu tácđộng bởi lộ trình giảm thuế của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Tuy nhiên, cómột thực tế là, trong khi nhiều nước thành viên WTO vẫn áp dụng chính sách bảo hộngành mía đường, thì nông dân và các doanh nghiệp mía đường Việt Nam hầu như vẫn

Hình 3 - Khối lượng đường mía thô

xuất khẩu thế giới năm 2006 (ĐVT: tấn)

12806930, 70.39%

Braxin Guatemala Thái Lan Còn lại

Hình 4 - Khối lượng đường củ cải thô xuất khẩu thế giới năm 2006 (ĐVT: tấn)

312259, 65%

54736, 11%

45915, 10%

66127, 14%

Nam Phi Mỹ Anh Còn lại

Trang 32

phải tự xoay sở, thiếu sự hỗ trợ của nhà nước và địa phương Đây là một bất lợi lớn màngành mía đường Việt Nam đã và đang trải qua khi gia nhập WTO và hy vọng chúng ta

có thể khắc phục được trong tương lai gần

4 Ngành hàng Chè

4.1 Tình hình thị trường thế giới:

Năm 2006 là năm đầu tiên sản lượng chè thế giới sút giảm sau 7 năm tăng trưởng liêntục, chủ yếu do ảnh hưởng của đợt hạn hán nặng nề ở các nước Châu phi hồi đầu năm và

sự tăng giá của dầu mỏ Do việc giảm sản lượng, giá chè trung bình trên thế giới năm

2006 tăng cao hơn so với năm trước từ 10 đến hơn 30% tuỳ loại chè

Trong quý I, giá chè tương đối ổn định Chỉ có chè của Ấn Độ có tăng cao hơn so vớicùng kỳ 2005 Sang đến quý II, giá chè biến động thất thường hơn trên cả hai sàn giaodịch chè lớn tại Kenia và Bangladesh, nhưng đều có xu hướng tăng mạnh vào những tuầncuối quý II, đặc biệt là tại Bangladesh Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng hạn hạn kéodài trong suốt vài tháng đầu năm 2006 tại Bangladesh và các nước Châu Phi Tới quý III,

do điều kiện thuận lợi, sản lượng chè của các nước xuất khẩu chính đều tăng mạnh Tuynhiên, do hậu quả dai dẳng của đợt hạn hán hồi quý I, sản lượng chè toàn cầu trong 8tháng đầu năm 2006 vẫn chỉ đạt 1050,3 nghìn tấn, thấp hơn so với 1069,3 nghìn tấn cùng

kỳ năm 2005 Ngoài ra, việc tăng giá dầu thế giới cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới sảnlượng chè thế giới do giá dầu tăng cao không những làm tăng chi phí nhiên liệu đốt trongquá trình chế biến chè mà còn làm tăng chi phí của phân bón - sản phẩm mà đầu vàochính là dầu mỏ Hạn hán tại các nước châu Phi, đặc biệt là Kenya, một trong nhữngnước xuất khẩu chè hàng đầu thế giới, đã mang lại cơ hội cho ngành chè của các nướcxuất khẩu lớn khác như Ấn Độ và Srilanka Xét riêng trong quý III, diễn biến giá chè trênmột số thị trường đấu giá lớn như Kenya và Bangladesh biến đổi thất thường, phụ thuộcvào nhu cầu mua của khách hàng Tuy nhiên, có thể thấy sau xu hướng tăng giá trong quý

II, đến quý III, giá chè trên cả hai thị trường trên có dao động nhưng không lớn Saunhững diễn biến ổn định trong quý III, sang đến quý IV/2006, nhìn chung giá chè trên thịtrường đấu giá Kenya có xu hướng tăng Khác với diễn biến trên thị trường Kenya, trênthị trường Bangladesh, giá chè các loại (Brokens, Fannings và Dust) đều có xu hướnggiảm xuống trong Quý IV/2006

Tuy trong năm 2006, giá chè thế giới có cải thiện đôi chút so với vài năm trước đó, trênthực tế, sản lượng chè tiếp tục vượt xa so với nhu cầu tiêu thụ Sản lượng chè đã và đangtăng tương đối vì vậy thị trường chè hiện đang trong tình trạng thiếu ổn định, đặc biệt lànhững bất ổn về phương diện giá

Trang 33

Ngày 27/11, trong ngày họp đầu tiên của Hội nghị Kinh doanh Chè Quốc tế (IGG) ởNairôbi (Kênia), với sự tham gia của 53 quốc gia, trong đó có các nước sản xuất và tiêuthụ chè lớn như Ấn Độ, Kenya, Sri Lanka, Việt Nam, Mỹ, Canada, Ruwanda và Nepal,các chuyên gia trong ngành chè thế giới đã kêu gọi việc đặt ra tiêu chuẩn chất lượng tốithiểu một cách nghiêm ngặt cho những sản phẩm chè giao dịch trên thị trường, nhằm cảithiện chất lượng chè và giải quyết tình trạng chè chất lượng thấp tràn lan trên thị trườngtoàn cầu Trong cuộc họp này, FAO đã đưa ra dự đoán rằng đòi hỏi gần đây về lượng tồn

dư hoá chất tối đa (MRLs) của một số thị trường chè lớn, trong đó có Liên minh châu Âu(EU) dự đoán sẽ làm giảm nguồn cung chè thế giới ít nhất 2,5% Điều này sẽ giúp tănggiá chè thế giới thêm 4% trong thời gian từ năm 2005 đến 2015 Tác động của việc ápdụng MRLs sẽ là lớn nhất trong 3 năm đầu tiên thực hiện, khi những đòi hỏi ngày càngtăng trong nhu cầu nhập khẩu được đặt ra trong bối cảnh nguồn cung xuất khẩu giảm sút Biện pháp khác có thể để đẩy giá chè lên là việc tuân thủ bộ tiêu chuẩn chất lượng tốithiểu ISO 3720 trong giao dịch chè toàn cầu Bộ tiêu chuẩn này sẽ giúp loại bỏ chè chấtlượng thấp – nguyên nhân gây dư thừa cung ra khỏi thị trường Theo dự đoán, với bộ tiêuchuẩn này, khối lượng chè giao dịch trên thị trường thế giới sẽ giảm từ 200 – 350 tấn.Theo FAO, chi phí để tuân thủ bộ ISO 3720 – trong đó chi phí chứng chỉ là thành phầnchính, là vấn đề chính của các thương nhân nhỏ Các chuyên gia cho rằng, việc tôn trọngcác tiêu chuẩn an toàn chặt chẽ sẽ thúc đẩy lòng tin của người tiêu dùng và tăng nhu cầuthế giới đối với mặt hàng chè

Cũng trong hội nghị nói trên, các nước sản xuất chè trên thế giới đã nhất trí sử dụng mộtlogo chung, với mục đích bảo vệ giá trị thực của chè cả ở nước sản xuất lẫn nước tiêudùng Các nước sản xuất chè cũng sẽ sử dụng logo này trong những chiến dịch quảng cáonhằm để quảng bá chè Việc tiêu chuẩn hoá đã được chấp nhận đối với cả nước sản xuất

và tiêu thụ chè IGG đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc thúc đẩy cắt giảm mức tồn

dư hoá chất tối đa trong chè

FAO cũng đã đưa ra một dự đoán về sản lượng chè toàn cầu trong thập kỷ tới Theo dựđoán trung hạn, sản lượng chè đen của thế giới dự đoán sẽ tăng với tỷ lệ 1,8% trong giaiđoạn từ 2005-2016, thời điểm sản lượng chè ước đạt 2.927 triệu kg, thấp hơn so với tốc

độ tăng trưởng hàng năm 2,3% trong thập kỷ trước Sản lượng chè Ấn Độ năm 2016 dựđoán đạt khoảng 1.095 triệu kg, so với 928 triệu kg năm 2005 Tại các quốc gia châu Phi,sản lượng chè hàng năm dự đoán sẽ giảm dần, trong đó Kenya dự đoán sẽ có 395 triệu kgchè vào năm 2016

Trang 34

Tuy nhiên, theo ông Micheal Bunston - Chủ tịch Uỷ ban chè quốc tế (ITC), các nhà sảnxuất chè nên tăng cường nỗ lực thúc đẩy tiêu thụ chè, thay vì quá tập trung vào những kếhoạch đạt được tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu Ngành chè thế giới cũng nên xúc tiếnquảng bá chè như một loại đồ uống có lợi cho sức khoẻ, đồng thời thúc đẩy việc đăng kýchè trồng tại các khu vực cụ thể để có được quyền thương hiệu và nguồn gốc xuất xứ.Đây cũng là giải pháp để hạn chế lượng cung dư thừa trên thị trường hiện nay TheoBunston, không phải dễ dàng để yêu cầu các nước sản xuất chủ yếu là các loại chè chấtlượng thấp từ bỏ các thị trường sẵn có, vì vậy điều sống còn là nâng cao nhu cầu tiêu thụchè

4.2 Tình hình thị trường trong nước:

Tính đến hết tháng 9/2006, chè hiện đang đứng thứ 7 về kim ngạch xuất khẩu trong cácmặt hàng nông sản, sau gạo, cao su, cà phê, hạt điều, rau quả và hạt tiêu Tính đến hếttháng 9/2006, kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam đạt 77,5 triệu đô la Mỹ, chiếm khoảng2% tổng giá trị nông sản xuất khẩu

Tính đến hết tháng 9/2006, tổng lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 74 nghìn tấn,tương đương với 77,5 triệu USD, tăng 30,7% về lượng và 28,2% về giá trị so với cùng kỳnăm ngoái Dự báo năm 2006 sẽ là năm đầu tiên tổng kim ngạch xuất khẩu chè của ViệtNam vượt ngưỡng 100 triệu USD Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam có thểđược kể tới là Đài Loan, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Irắc, Đức, Hà Lan, Ba Lan, Thổ Nhĩ

Kỳ và Anh

Tuy nhiên, hiện nay chè của Việt Nam vẫn chủ yếu được xuất khẩu dưới dạng nguyênliệu thô, khâu chế biến lại thiếu tiêu chuẩn, ăn bớt công đoạn nên giá trị xuất khẩu thấp.Ngay cả trên những thị trường truyền thống như Trung Quốc, Đài Loan, Nga, chè ViệtNam vẫn ít được người tiêu dùng biết đến do chủ yếu được nhập khẩu dưới dạng nguyênliệu thô Thương hiệu chè “Vinatea” của Tổng Công ty chè Việt Nam vẫn chưa thực sựkhẳng định được uy tín cho chè đen xuất khẩu

Tại thị trường Trung Quốc, chè của Việt Nam chưa có được thị phần và thương hiệu, chủyếu là xuất khẩu nguyên liệu thô nên giá trị xuất khẩu thấp Về chất lượng thì mặt hàngchè của Việt Nam rất có uy tín, tuy nhiên do mới chỉ xuất khẩu nguyên liệu nên chưađược người tiêu dùng Trung Quốc biết đến nhiều Các doanh nghiệp Trung Quốc nhậpkhẩu nguyên liệu về chế biến và bán với giá cao hơn nhiều

Hơn nữa, theo nhân đinh của Hiệp hội Chè Việt Nam, hiên nay có quá nhiều doanhnghiệp xuất khẩu chè sang cùng một thị trường Đây là một trong những lý do làm giá

Trang 35

chè của ta luôn thấp hơn so với các nước khác và chất lượng chè không được ổn định.Hiện bắt đầu có sự mất cân đối về khả năng cung cấp nguyên liệu chè và sự bùng nổ củacác nhà máy chế biến chè Tổng công suất chế biến của tất cả các cơ sở sản xuất đạt gấphai lần tổng sản lượng nguyên liệu, thậm chí có địa phương nguyên liệu chỉ đáp ứng 30%năng lực chế biến, dẫn đến tình trạng tranh mua nguyên liệu gay gắt

Xuất khẩu chè của Việt Nam vẫn chỉ tập trung vào một số thị trường truyền thống nhưĐài Loan, Pakistan, Malaysia, Nga Điều này có nghĩa là công tác đa dạng hóa thị trường,

mở rộng thị trường của ngành chè chưa tiến triển Một số thị trường từ chối không nhậpkhẩu chè Việt Nam như Ailen, Bỉ, Campuchia, Đan Mạch, Hàn Quốc, Hồng Kông, Pháp,Thái Lan và Thụy Điển Số thị trường coi là tiềm năng trong năm nay rất ít ỏi

Xét về cơ cấu sản phẩm, chè xanh hiện chiếm khoảng 20%, chè đen 79% và 1% là chècác loại khác Tuy nhiên, giá trị xuât khẩu chè lại tăng chưa tương ứng, một mặt do giáchè chung trên thị trường thế giới giảm, mặt khác do phẩm cấp chè Việt Nam chưa cao,chủ yếu dùng để làm nguyên liệu chế biến chè các loại Hơn nữa, thị trường chè xuấtkhẩu của Việt Nam chưa thật sự ổn định Nguyên nhân hiện nay là sản phẩm chè cấp thấpchiếm tỷ trọng lớn, chất lượng chè không cao, chè được bán dưới dạng nguyên liệu làchính

Tuy nhiên, xét về mặt giá xuất khẩu, hiện giá chè của Việt Nam vẫn ở mức thấp so vớisản phẩm cùng loại của các nước trên thế giới Đơn giá xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng55-70% so với giá của nhiều nước tuỳ theo mặt hàng chè Giá chè bình quân 9 tháng đầunăm nay đạt 1.051 USD/tấn, giảm so cùng kỳ năm trước khoảng 2%

4.3 Nhận định chuyên gia và đề xuất:

Được biết, ngành chè đặt ra mục tiêu phát triển chung đến năm 2010-2015 sẽ trồng mới

và thay thế diện tích chè cũ đạt mức độ ổn định khoảng 150.000ha, năng suất bình quânđạt 8-9 tấn búp/ha, giá trị thu nhập bình quân đạt 35-40 triệu đồng/ha và kim ngạch xuấtkhẩu đạt 200 triệu USD, giải quyết việc làm cho khoảng 1,5 triệu lao động trên cả nước

Về thị trường sẽ phấn đấu xuất khẩu khoảng 70% tổng sản lượng chè, tiêu thụ nội địa30% Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu gồm 50% chè đen, 20% sản phẩm chè mới có giá trịcao và 30% chè xanh chất lượng cao

Tuy nhiên, Hiệp hội chè cho biết, thời gian qua, việc ký hợp đồng mua bán chè của doanhnghiệp với nông dân được triển khai tốt, nhưng việc thực hiện hợp đồng lại có nhiều điềubất cập Không ít hợp đồng đã bị phá vỡ vì một bên (chủ yếu là do bên bán chè tươi)không thực hiện đúng cam kết Nguyên nhân chính của tình trạng này là cơ sở chế biến

Trang 36

chè quá đông, công suất chế biến vượt xa khả năng cung cấp nguyên liệu Giá chè khôlên xuống thất thường làm cho giá chè tươi biến động theo Tình trạng tranh mua nguyênliệu diễn ra gay gắt, đẩy giá chè tươi lên cao hơn nhiều so với giá ghi trong hợp đồngkhiến nhiều người sản xuất chè tươi đã chạy theo lợi trước mắt, bán sản phẩm cho ngườitrả giá cao hơn

Để đảm bảo vùng nguyên liệu chè, người trồng chè không nên chạy theo lợi trước mắt chỉ

lo khai thác vườn chè, thậm chí sai quy trình kỹ thuật, làm giảm chất lượng nguyên liệu.Bên cạnh đó, các địa phương cần có biện pháp hạn chế các lò chè mini sản xuất chè kémchất lượng, tranh mua chè của các nhà máy Một vấn đề khác là giá búp tươi biến động cólợi cho nông dân, song lại xuất hiện tình trạng khai thác quá mức khiến cây chè bị kiệtquệ

Tháng 10 vừa qua, Hội nghị thâm canh chè an toàn các tỉnh miền núi phía Bắc đã đượcnhóm họp tại tỉnh Phú Thọ Tại cuộc họp này, nhiều ý kiến của lãnh đạo Bộ, Ngành cácđịa phương, doanh nghiệp và người trồng chè đưa ra đều hướng tới mục tiêu của ngànhchè trong những năm tới: Mở rộng diện tích chè bằng những giống mới có năng suất chấtlượng cao Trên diện tích chè đang đưa vào kinh doanh, đẩy mạnh thâm canh tăng năngsuất bằng các phương pháp kỹ thuật tiên tiến, tưới nước vụ đông, đốn chè, hái dãn lứa 30-

45 ngày/lứa thay cho kỹ thuật hái san trật (7-10 ngày) trước đây Chất lượng chè thấp còn

do 70% diện tích chè là giống cũ, giống có chất lượng cao mới chiếm 30% Kỹ thuật canhtác chè cũng còn nhiều bất cập, mới có 30% diện tích làm đất bằng cơ giới hóa, 2% diệntích được tưới nước, mức đầu tư phân bón thấp, lượng phân hữu cơ, phân vô cơ sử dụngkhông cân đối, chủ yếu bón đạm để khai thác bóc màu cây chè, nên năng suất chất lượngthấp, nương chè chóng xuống cấp Việc sử dụng thuốc trừ sâu ở nhiều nơi còn khá tùytiện, lạm dụng trong sử dụng thuốc, không đảm bảo thời gian cách ly Hiện trạng này kháphổ biến ở vùng chè và là vấn đề bức xúc trong sản xuất cần phải sớm khắc phục Mộtvấn đề rất quan trọng được đưa ra tại hội nghị đó là, trong khi cả nước có chương trìnhrau an toàn, thực phẩm an toàn, thì chè - một loại thực phẩm đồ uống lại chưa có chươngtrình này Bàn về sản xuất an toàn cho cây chè, nhưng lại chưa có những quy định, quychế về tiêu chuẩn cho vùng sản xuất nguyên liệu sạch Để giải quyết vấn đề này, Bộ NN -PTNT đã giao cho Vụ Khoa học - công nghệ của Bộ xúc tiến xây dựng ngay những tiêuchuẩn an toàn cho vùng sản xuất chè Trên cơ sở đó, Cục Trồng trọt và Trung tâmKhuyến nông chỉ đạo, hướng dẫn nông dân thực hiện các tiêu chuẩn này

Cũng trong tháng 11 vừa qua, UBND tỉnh Thái Nguyên đã phê duyệt logo chính thức vàgiao cho Hội Nông dân tỉnh đứng tên và quản lý, sử dụng nhãn hiệu tập thể chè Thái

Trang 37

Nguyên sau khi được bảo hộ Hiện tại, trên thị trường có quá nhiều loại chè không xuất

xứ từ Thái Nguyên nhưng vẫn mang nhãn hiệu "Chè Thái Nguyên" làm thiệt hại đến lợiích của người sản xuất và tiêu dùng Việc xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên sẽ bảo

vệ lợi ích hợp pháp của người sản xuất, kinh doanh mặt hàng này và làm tăng giá trị kinh

tế của sản phẩm chè Theo Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên, thương hiệu chèThái Nguyên sẽ được công bố chính thức vào tháng 1 năm 2007

Một sự kiện không thể không nhắc tới trong quý Quý IV vừa qua là Lễ hội Văn hoá Tràlần đầu tiên được tổ chức tại Đà Lạt, Lâm Đồng từ 16 đến 24 tháng 12 Lễ hội lần nàykhông chỉ là dịp để quảng bá du lịch, giới thiệu văn hoá trà Việt Nam ra thế giới, mà còn

là một dịp để các tác nhân trong chuỗi sản xuất trà Việt Nam có dịp gặp gỡ, trao đổinhằm tìm ra phương hướng giải quyết cho các vấn đề còn tồn tại của ngành trà Tại lễ hộiTrà, 8 kỷ lục Việt Nam đã được lập và rất nhiều bài tham luận có giá trị đã được đưa rahội nghị để cùng thảo luận

Theo dự kiến, đến giai đoạn 2010-2015, diện tích chè được trồng mới và thay thế đạt mức

độ ổn định khoảng 140.000 ha, năng suất bình quân đạt 9-10 tấn búp/ha, cho tổng sảnlượng 1,2-1,4 triệu tấn búp tươi, tương đương 240.000- 280.000 tấn chè thành phẩm.Trong đó khối lượng xuất khẩu khoảng 200.000 tấn với cơ cấu 50% chè đen, 20% sảnphẩm chè mới có giá trị cao và 30% chè xanh chất lượng cao đạt giá trị xấp xỉ 300 triệuUSD

Trong xu thế hội nhập, không chỉ cạnh tranh về năng suất, chất lượng, giá trị xuất khẩu

mà đòi hỏi phải an toàn vệ sinh từ vùng sản xuất nguyên liệu tới chế biến, tạo ra sảnphẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới Do đó, ngành Chè ViệtNam phải giải quyết tận gốc của vấn đề - sản xuất, thâm canh, chế biến chè an toàn

5 Ngành hàng Cao su

5.1 Tình hình sản xuất trong nước

Năm 2006, năng xuất bình quân đạt kỷ lục 1.83 tấn/ha, tổng sản lượng đạt 325.9 triệu tấntăng 7.35% so với năm 2005 Năm 2006 cũng đánh dấu mức kỷ lục về năng xuất caonhất Các Công ty vùng Đông Nam Bộ đạt năng xuất 1.96 tấn/ha, trong đó có 7 công tyđạt từ 2-2.38 tấn/ha Mức năng xuất cao nhất đạt 2.5-2.68 tấn/ha tại 4 nông trường cao suvùng Đông Nam Bộ

Cơn bão số 9 tháng 12 vừa qua gây ra thiệt hại khá lớn cho các công ty cao su ở tỉnh BàRịa Vũng Tàu Theo Hiệp hội cao su Việt Nam, ước tính khoảng 426800 cây cao su bịgãy đổ, gây thiệt hại khoảng 160 tỷ đồng cho năm 2007 Vì vậy dự đoán sản lượng cao su

Trang 38

năm tới có thể bị ảnh hưởng, nhưng với dự án trồng cây cao su tại Lào thì sản lượng cao

su năm tới sẽ không bị ảnh hưởng nhiều, đồng thời các công ty cao su bị ảnh hưởng dobão số 9 cũng đang tiến hành trồng mới lại số cây bị gãy đổ

Trong định hướng phát triển từ nay đến 2010 của tổng Công ty Cao su Việt Nam, dự ántrồng mới 100.000ha ở khu vực Tây Nguyên và vùng duyên hải miền Trung sẽ sớm triểnkhai Bên cạnh đó, dự án trồng 100.000ha cao su ở Lào và Campuchia cũng đang đượcthực hiện Sau khi hoàn thành các dự án này, sản lượng mủ khai thác của Việt Nam sẽtăng đáng kể phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng thế giới

Năm 2006, năng suất bình quân của toàn tổng Công ty Cao su Việt Nam đạt 1,83 tấn/ha,

là mức cao nhất từ trước đến nay, đưa sản lượng lên mức 325.900 tấn, vượt hơn năm

2005 à 7.35% Các công ty Đông Nam Bộ đạt năng suất 1.96 tấn/ha trên diện tích khaithác 143.570 ha, tăng 8% so với năm 2005, trong đó có 7 công ty đạt từ 2-2.38 tấn/ha

5.2 Tình hình thị trường trong nước và thế giới

Giá cao su trong nước và xuất khẩu

Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, trong năm 2006 cao su xuất khẩu đứng vị trí thứ 7 trong

số các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và được đánh giá là mặt hàng cómức tăng trưởng cao nhất Xuất khẩu cao su đứng vị trí thứ hai sau gạo trong số các mặthàng nông sản Trong năm 2006, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 236.000 tấn cao su vớitrị giá đạt 419 triệu USD, nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Thái Lan, Cambodia và Indonesia.Tuy nhiên, phần lớn cao su chỉ tạm nhập khẩu vào Việt Nam rồi tái xuất sang TrungQuốc và theo dự đoán Việt Nam sẽ là điểm giao dịch cao su tạm nhập tái xuất trongtương lai gần khi các vườn trồng cao su tại Lào và Campuchia đi vào thu hoạch

Năm 2006, giá cao su trong nước đánh dấu sự biến động mạnh mẽ Năm đạt kỷ lục về giácao su tăng cao Các nguyên nhân tác động đến sự tăng giảm giá cao su trong nước baogồm sự tăng giá dầu thô làm tăng giá cao su tổng hợp, nhu cầu tiêu dùng cao su ngàycàng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất săm lốp ô tô cho thị trường sản xuất ô tô, vàmột nhân tố quan trọng khác là tình hình biến động của giá vàng trên toàn thế giới Chuỗigiá cao su nội địa tại thị trường Gia Lai cho thấy, giai đoạn sáu tháng đầu năm đánh dấu

sự tăng giá cao su một cách mạnh mẽ đối với cả ba sản phẩm SVR3L, SVR5 và SVR10.giá cao kỷ lục đạt 40 triệu đồng/1 tấn trong tháng 6 Trong sáu tháng cuối năm, giá cao sugiảm mạnh và trở lại giá xuất phát điểm như hồi đầu năm Nguyên nhân chính gây ra sựbiến động giá cả trong nước là nhu cầu nhập khẩu cao su của Trung Quốc tăng mạnh giaiđoạn đầu năm phục vụ nhu cầu săm lốp ô tô Bên cạnh đó, thời tiết mưa to làm giảm sản

Ngày đăng: 10/04/2013, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Báo cáo “Rà soát quy hoạch phát triển ngành điều Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” của Viện Quy hoạch Thiết kế nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rà soát quy hoạch phát triển ngành điều Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
1. Trung tâm Tin học Nông nghiệp và thống kê (ICARD), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, http://www.agroviet.gov.vn Link
2. Cổng thông tin điện tử của Bộ thương mại: www.mot.gov.vn Link
3. Trang web của Trung tâm thông tin (Viện chính sách chiến lược nông nghiệp và Phát triển nông thôn): www.agro.gov.vn Link
6. Trang web của Trung tâm thông tin thương mại, Bộ Thương Mại www.vinanet.gov.vn Link
4. Trang thông tin thương mại xuất nhập khẩu www.tinthuongmai.vn 5. Bản tin Sản xuất và Thị trường, ICARD Khác
7. Trang tin tức Việt Nam www.vnexpress.net 8. Các hãng thông tấn quốc tế: Reuter, Countryside 9. Trang web của Báo tuổi trẻ www. tuoitre.com.vn 10. Các bản tin Vinacas tháng tháng 7-12/2006 Khác
12. Các bản tin của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) 13. Các bản tin của Cộng đồng Hồ tiêu quốc tế (IPC) Khác
14. Bản tin Thị trường cây ăn quả. Viện NC cây ăn quả Miền Nam, từ số 86 đến 98 Khác
15. Hệ thống quan trắc thu thập thông tin thị trường rau quả Nam bộ - Cơ sở Phía Nam- Viện Chính sách Chiến lược PTNN NT Khác
16. Số liệu xuất khẩu thanh long , Vụ kế họach – Bộ NN-PTNT Khác
17. Trang web rau hoa quả Việt Nam của Bộ Thương Mại www.rauhoaquavn.vn 18. Cổng thông tin điện tử của tỉnh Lào Cai www.laocai.com.vn Khác
19. Cổng thông tin điện tử của tỉnh Vĩnh Long http://210.245.64.232/vinhlong.nn/ Khác
21. Các nguồn báo, tạp chí Trung ương và các địa phương khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Sản lượng và số lượng xuất khẩu tiêu trong năm 2005, dự kiến của 2006 và   kế hoạch cho năm 2007 (tấn) - BÁO CÁO TỔNG HỢP DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN VIỆT NAM 2006
Bảng 1. Sản lượng và số lượng xuất khẩu tiêu trong năm 2005, dự kiến của 2006 và kế hoạch cho năm 2007 (tấn) (Trang 2)
Hình 4 cũng cho thấy khối lượng xuất khẩu hạt tiêu hàng tuần của Việt Nam cũng chủ yếu  tập trung từ tháng 2 đến tháng 5, mặc dù ngay từ đầu tháng 3/2006 (bản tin 9-10/06 ngày  12/3/06), VPA đã khuyến cáo các doanh nghiệp không nên chào bán một cách ồ ạt - BÁO CÁO TỔNG HỢP DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN VIỆT NAM 2006
Hình 4 cũng cho thấy khối lượng xuất khẩu hạt tiêu hàng tuần của Việt Nam cũng chủ yếu tập trung từ tháng 2 đến tháng 5, mặc dù ngay từ đầu tháng 3/2006 (bản tin 9-10/06 ngày 12/3/06), VPA đã khuyến cáo các doanh nghiệp không nên chào bán một cách ồ ạt (Trang 11)
Hình 4 - Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả qua các năm (ĐVT: 1000 USD) - BÁO CÁO TỔNG HỢP DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN VIỆT NAM 2006
Hình 4 Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả qua các năm (ĐVT: 1000 USD) (Trang 45)
Bảng 1 - Thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong tháng 12/2006 và năm 2006 - BÁO CÁO TỔNG HỢP DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN VIỆT NAM 2006
Bảng 1 Thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong tháng 12/2006 và năm 2006 (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w