Để phân tích thêm về lợi thế so sánh trong sản xuất, hệ số sử dụng nội nguồn –DRC, hệ số của lúagạo Việt Nam là 0,52 xấp xỉ so với Ấn độ, Thái Lan, chỉ ra rằng Việt Nam sử dụnghiệu quả t
Trang 19 Lúa gạo
Theo thống kê FAOSTAT, Việt Nam là một trong 10 nước có sản xuất lúagạo lớn của thế giới, năm 2014, đã đạt sản lượng 44,9 triệu tấn thóc, đứng thứ 5 vềchỉ tiêu này, sau các quốc gia khác là Trung Quốc (208 triệu tấn), Ấn độ (165 triệutấn), Indonesia (73 triệu tấn) và Bangladesh (52 triệu tấn) Là quốc gia có nghềtrồng lúa truyền thống, và lâu đời, với diện tích gieo trồng lúa đạt 7,8 triệu ha, tậptrung chủ yếu ở 2 vùng sản xuất lúa chính là Đồng bằng sông Hồng, và Đồng bằngsông Cửu Long, và với diện tích này, Việt Nam xếp sau Trung Quốc, Ấn độ,Indonesia, Thái Lan, Bangladesh, tuy nhiên, năng suất lúa của Việt Nam (57,5tạ/ha) cao hơn nhiều so với các nước trồng lúa khác, như Ấn độ (37 tạ/ha),Indonesia (51 tạ/ha), Thái Lan (29 tạ/ha), mặc dù xếp sau Trung Quốc, Nhật Bản làhai nước có bộ giống tốt, và xu hướng trồng lúa lai nhiều hơn Để phân tích thêm
về lợi thế so sánh trong sản xuất, hệ số sử dụng nội nguồn –DRC, hệ số của lúagạo Việt Nam là 0,52 xấp xỉ so với Ấn độ, Thái Lan, chỉ ra rằng Việt Nam sử dụnghiệu quả tài nguyên tương đương với các nước sản xuất lúa này; điều này cũng chỉ
ra sự cải thiện của hệ thống tưới và tăng vụ trong sản xuất của Việt Nam trongnhững năm gần đây, tuy nhiên, không bằng so với Trung Quốc và Indonesia,nguyên nhân có thể là do sử dụng phân bón, vật tư nông nghiệp, chưa hợp lý chosản xuất lúa Về giá thành sản xuất lúa, có thể nói, Việt Nam có giá thành thấpnhất (316 USD/tấn), trong khi nước có giá thành cao là Indonesia (1137USD/tấn),Philipines (1183 USD/tấn), điều này cũng chỉ ra tác động nhất định của các môhình sản xuất lúa, “ba giảm-ba tăng”, “cánh đồng mẫu lớn” của Việt Nam trong 10năm trở lại đây
BẢNG: Lợi thế so sánh và cạnh tranh : lúa gạo
Năng suất(Tạ/h a)
Xuất khẩu(1000tấ n)
Giá trị xuất khẩu(1000 USD)
Giá thành(USD/
tấn)
Hệ số DRC
Chỉ số RC A
Chỉ số BC
Tỷ lệ qua chế biến thô(%
)
Tỷ lệ qu a chế biế n tin h (%)
Chỉ số score chun g
Xếp hạng chun g
Trang 2và có khối lượng gạo đặc sản, thương hiệu như Basmati, Jasmine, …và xuất vớigiá cao hơn khá nhiều, cũng như lợi thế cạnh tranh về chất lượng, thương hiệu gạo
so với Việt Nam Điều này cũng được phản ánh phần nào, mặc dù về chỉ số RCA,gần như tương đương với Thái Lan (về giá trị xuất khẩu gạo trên tổng giá trị XK,thị phần ở thị trường Philipines), gạo Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp hơn về bao bì,thương hiệu, và phẩm cấp gạo
So sánh với năng lực chế biến qua 2 chỉ tiêu 1) chế biến thô, và 2) chế biếnsâu, có thể thấy, hầu như các nước sản xuất lúa, mức chế biến sâu với các sảnphẩm như bún, bánh đa, bún khô, bánh đa nem, bột gạo nếp, tẻ, bánh bich quy gạo,miến gạo,…đều ở mức 4-5% sản lượng tuy nhiên, sự khác nhau, nếu so sánh giữaViệt Nam và Thái lan, sản phẩm của Việt Nam chủ yếu tiêu dùng nội địa, còn TháiLan tỷ lệ xuất khẩu cao hơn, hàng năm xuất được 150 nghìn tấn sản phẩm chế biến
từ gạo đạt 100 triệu USD (tương đương với 0,5 triệu tấn gạo nguyên liệu) Điềunày chỉ ra rằng chất lượng sản phẩm sau gạo của Việt Nam thấp hơn, do một sốnguyên nhân, do chế biến bằng phương pháp thủ công, bán thủ công là chủ yếu,cùng với yêu cầu về sản phẩm của khách hàng nội địa không cao, trong khi theothống kê của Cục chế biến nông sản Thái Lan, thì nước này có tới 855 nhà máychế biến sản phẩm từ gạo, trong đó 91% có quy mô lớn, để sản xuất ra các sảnphẩm sau gạo như bột nếp, tẻ, bánh gạo, bún khô, miến gạo, …phục vụ cho nhu
Trang 3cầu của khách du lịch và xuất khẩu Cuối cùng, để đánh giá chung tổng hợp MCE,chỉ số này của Việt Nam là 59 điểm, xếp hạng thứ 2, thấp hơn so với Ấn độ (63điểm), và cao hơn so với Thái Lan (56 điểm) Điều này cũng phản ánh phần nào về
sự vươn lên là nhà xuất khẩu gạo số 1 của Ấn độ trong những năm gần đây, đặcbiệt về mở rộng diện tích, và đầu tư mạnh cho sản xuất lúa
Năng suất(Tạ/ha )
Xuất khẩu(1000tấn )
Giá trị xuất khẩu(1000USD )
Giá thành(USD/tấn )
Hệ
số DR C
Chỉ
số RC A
Chỉ
số BC
Tỷ lệ qua chế biến thô(%
)
Tỷ lệ qua chế biến tinh (%)
Chỉ số score chung
Xếp hạng chung
Cà phê là một trong những cây có thế mạnh của Việt Nam, bao gồm chủ yếu
là cà phê vối (Arabica), là nước có vị trí thứ 2 trên thế giới về sản lượng, chỉ sauBrazil, nước này năm 2014, có sản lượng là 2,98 triệu tấn Tiếp sau Việt Nam, làcác nước có sản lượng thấp hơn, như Indonesia, Columbia, Ấn Độ Về diện tích,bảng trên cho thấy, Việt Nam không phải là nước có diện tích cà phê lớn (có 590nghìn ha), chủ yếu tập trung ở Tây Nguyên, các nước có diện tích lớn nằm trongtop 10 là Brazil (2,061 triệu ha), Indonesia (1,23 triệu ha), Columbia (749 nghìnha), Việt Nam đứng thứ 6, sau Mexico (686 nghìn ha); Nếu tính năng suất cà phêxanh, Việt Nam là nước có năng suất cao nhất (23,65 tạ/ha) cao hơn so với Brazil(14,4 tạ/ha), sở dĩ như vậy, vì Brazil sản xuất chủ yếu là cà phê chè, nên năng suấtbình quân thấp hơn Trong sản xuất, ngoài diện tích, năng suất, sản lượng, nước ta
có lợi thế so sánh so với các quốc gia sản xuất cà phê khác, thì 2 chỉ tiêu, là (1) giáthành sản xuất và (2) hệ số chi phí nội nguồn DRC, có thế chứng minh thêm có lợi
Trang 4thế sử dụng tài nguyên trong nước tốt hơn, Việt Nam và Indonesia tương đối bằngnhau, và khá hơn so với Brazil, một quốc gia sản xuất cà phê khác, và giá thànhcủa Việt Nam là thấp nhất, cũng chỉ ra một điều là ngoài chi phí nhân công rẻ (chiphí tăng thêm), thì còn nữa giá thuê đất, hoặc thuế quyền sử dụng đât chi phối điềunày Nếu so sánh về điều này, Etiopia có vẻ sử dụng tài nguyên (đầu vào) tốt nhấtthể hiện ở chỉ số DRC thấp nhất, (0,33 khi so sánh với Việt Nam là 0,85, và Brazil
là 0,90), nó cũng chỉ ra rằng, trồng cà phê mang tính quảng canh, đầu tư đầu vàothấp ở quốc gia này Thông qua chỉ số lợi ích/chi phí, thì hầu như các nước lớn vềsản xuất cà phê này đều có lợi thế so sánh, và đem về lợi nhuận, sự chênh lệchcũng không đáng kể, và đều lớn hơn 1, đã chứng minh điều đó
Lợi thế về xuất khẩu thể hiện ở các chỉ tiêu khối lượng, và giá trị xuất khẩu,
và hệ số RCA, tính toán cho mỗi nước trên chỉ tiêu này, Việt Nam được coi làxuất khẩu với khối lượng lớn nhất, so với 10 nước này (2,46 triệu tấn) khi so sánhvới Brazil (1,26 triệu tấn, chỉ bằng ½ so với Việt Nam), Indonesia (461,8 nghìntấn) và Columbia (382 nghìn tấn), tuy nhiên, nó lại không tương xứng về giá trịxuất khẩu, mặc dù như trên phân tích khối lượng Brazil chỉ xuất khẩu bằng ½ sovới Việt Nam, nhưng giá trị xuất khẩu lại gần bằng nhau (6,31 tỷ USD so với 7,23
tỷ USD), chỉ ra hiệu quả xuất khẩu của Brazil khá hơn so với Việt Nam, ngoàinguyên do cà phê chè, cà phê có chất lượng chiếm tỷ lệ lớn trong xuất khẩu, khiếnviệc chênh lệch về giá cà phê bình quân của Brazil là cao hơn nhiều so với ViệtNam Theo thống kê của ICO, giá xuất khẩu cà phê bình quân của Brazil là 3.800USD/tấn so với giá 3.200 USD/tấn của Việt Nam Thêm vào nữa, hệ số cạnh tranhtiết lộ RCA, các nghiên cứu chỉ ra, ở thị trường xuất khẩu cà phê chính của ViệtNam là Mỹ, thì nó có lợi thế so sánh hơn so với Indonesia, nhưng thua so vớiBrazil, Columbia, nguyên do, chi phối ngoài chi phí vận chuyển đã đẩy giá bánlên, khiến sức cạnh tranh về giá không mạnh mẽ, bên cạnh đó, ngoài yếu tố vănhóa, và mô típ tiêu dùng cà phê sạch, trồng quảng canh (ít đầu tư hóa chất, thuốcsâu,), được coi là cà phê an toàn của người tiêu dùng ở Mỹ cũng gây bất lợi choViệt Nam
Năng lực chế biến có thể nói là Brazil vẫn là khá hơn cả, khi so sánh qua 2chỉ tiêu (1) tỷ lệ qua sơ chế với các sản phẩm hạt, và (2) qua chế biến tinh với cácsản phẩm như cà phê bột, cà phê hòa tan, cà phê lỏng, làm thành phần thêm vàobánh, kẹo, kem, …tỷ lệ qua chế biến sâu của Brazil lên đến 38%, tiếp theo làGuatemala (32%), Ấn Độ (31%), Việt Nam (24%) Điều này, cũng chỉ ra Việt
Trang 5Nam còn chưa quan tâm nhiều đến chế biến sâu, đối với cà phê, ngoài yếu tố nhucầu nội địa cà phê rất thấp, còn cà phê chế biến tinh thì các quốc gia khác đã chiếmthị phần các sản phẩm này (đó là Thụy Sỹ, Đức) Do đó, để thúc đẩy tăng tỷ lệ chếbiến tinh, tăng các sản phẩm giá trị gia tăng, thì điều đầu tiên, phải kích cầu đượctrong nước, và sau đó, tìm kiếm thị trường “ngách”, trước khi liên kết liên doanhvới các nhà sản xuất cà phê lớn của nước ngoài, có tên tuổi như Nestle, Tchibo,Starbuck …Lợi thế cạnh tranh so sánh, còn được tính toán thể hiện qua phân tích
đa chỉ tiêu, MCE, nếu xếp hạng theo chỉ tiêu tổng hợp này, Việt Nam đứng thứhạng 2 (53 điểm), sau Brazil (67 điểm), và hơn Indonesia (41 điểm) và các nướccòn lại
su đang trong thời kỳ đỉnh điểm năng suất và áp dụng khoa học công nghệ kỹ thuật
ở 2 quốc gia này Như việc trồng xen ghép chè và cao su ở Ấn Độ, đã góp phần cảithiện năng suất cao su từ 7-12%
Bảng 2: Chỉ tiêu lợi thế cạnh tranh và so sánh Cao Su
0 Ha)
Năng suất(Tạ /ha)
Khối lượng xuất khẩu(1000 tấn)
Giá trị xuất khẩu(1000 USD)
Giá thành(U SD/tấn)
Hệ số DRC Chỉ số RCA Chỉ số BC
Tỷ lệ qua chế biế n thô (%)
Tỷ lệ chế biế n tin h
Chỉ số sco re chu ng
Xếp hạn g chu ng
Trang 69 Myanmar 162 218 7,44 27,0 82000 2673 0,70 5,30 1,14 69 31 39 6 1
có lợi thế cạnh tranh về năng suất và sử dụng tài nguyên, tuy nhiên, sự khác biệt làdiện tích thu hoạch cao su chỉ bằng 1/6 so với Indonesia (3,59 triệu ha), và bằng ¼
so với Thái lan (2,61 triệu ha) Thêm nữa, về giá thành sản xuất, có thể nói ViệtNam có chỉ số này thấp nhất (2.328 USD/tấn) khi so với Thái lan (2.964USD/tấn)
là 2,3 triệu tấn, Indonesia 2,53 triệu tấn, Việt Nam là 1,33 triệu tấn, qua đây, có thểthấy Việt Nam xuất ít nhất Nhưng theo cơ cấu xuất khẩu thì chiếm tới 46,2% choTrung Quốc, sau đó là các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, đây cũng là nước nhậpkhẩu cao su của Thái Lan, Indonesia, theo một nghiên cứu, thì Việt Nam chủ yếuxuất mủ (mủ khô, mủ tờ, latex) tới 80%, trong khi chủng loại SVR 10, SVR 20chiểm tỷ lệ thấp, cho thấy do chưa có quy chuẩn cho ngành cao su, kiểm soát chấtlượng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra của các cơ sở chế biến mủ, do đó,giá xuất khẩu thấp hơn Malaysia, Indonesia từ 100-200 USD/tấn Mặt khác, chưa
có cơ chế bắt buộc kiểm tra chất lượng và có giấy chứng nhận chất lượng cho tất
cả lô hàng cao su xuất khẩu, nên không tạo động lực cho doanh nghiệp Việt Namquan tâm đảm bảo chất lượng Trong khi các nước Thái Lan, In-đô-nê-xi-a Ma-lai-xi-a có quy định bắt buộc tất cả lô hàng cao su xuất khẩu phải có giấy chứngnhận chất lượng Do vậy, người nhập khẩu cao su có xu hướng ưu tiên mua từ TháiLan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a Trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt như hiện nay,đây là một bất lợi lớn đối với cao su xuất khẩu Việt Nam.Về chỉ số RCA, qua 10nước so sánh trên, Việt Nam, Myanmar, Bờ biển Ngà có chỉ số này cao hơn cả
Trang 7(đều từ 4-5,30) chỉ ra các nước này có lợi thế so sánh về xuất khẩu cao hơn cácnước còn lại Do có biên giới với Trung Quốc, thuận lợi cho vận chuyển, chi phícước giảm, Việt Nam đã tăng cường tạm nhập- tái xuất, ta nhập cao su thiên nhiênchủ yếu từ Thái lan, và Malaysia, xuất sang Trung Quốc để hưởng chênh lệch
Chế biến sâu ngành cao su nếu so sánh với các nước khác, Việt Nam vẫncòn ở mức thấp đến trung bình, như trên đã phân tích, nước ta chủ yếu chú ý đếnxuất khẩu, mà chưa coi trọng thị trường nội địa, do đó cơ cấu xuất khẩu chủ yếu
mủ khô, trong khi các doanh nghiệp trong nước phải nhập chủng loại sản phẩmnhư SVL 10, SVL 20 cho chế biến săm lốp, găng tay, …Tỷ lệ chế biến sâu cònthua kém so với Thái lan (33%) Kết quả đánh giá chung MCE, trên tất cả các khíacạnh sản xuất, chế biến, và xuất khẩu; chỉ ra Việt Nam xếp hạng thứ 3 với số điểm
là 47, sau các quốc gia sản xuất cao su Thái Lan (66 điểm), Indonesia (65 điểm),
3 Điều
Qua bảng số liệu cho thấy, Việt Nam là nước sản xuất điều lớn trên thế giới,sản lượng đạt 345 nghìn tấn, thấp hơn so với Nigeria (993 nghìn tấn), Ấn Độ (806nghìn tấn), trong khi diện tích thu hoạch của nước ta thấp hơn so với Nigeria (386nghìn ha) và Ấn độ (1,01 triệu ha) Do có chiến lược phát triển ngành điều, đãchuyển từ trồng điều quảng canh, sang trồng điều có chăm sóc, áp dụng khoa họccông nghệ, triển khai các mô hình điều ghép, thực hiện chăm sóc thu hoạch IPM,điều này đã khiến nâng cao năng suất, chất lượng điều Chất lượng điều Việt Namhơn hẳn các nước châu Phi Năng suất điều đạt 11,9 tạ/ha, cao hơn Ấn độ, Bờ biểnNgà và nếu so sánh với những năm 2000, năng suất điều đã tăng hơn 20-30%
Bảng 3: Chỉ tiêu lợi thế cạnh tranh và so sánh Điều
Diện tích thu hoạch(100
0 Ha)
Năng suất(T ạ/ha)
Xuất khẩu(10
00 tấn)
Giá trị xuất khẩu(1000 USD)
Giá thành(U SD/tấn)
Hệ số DRC Chỉ số RCA Chỉ số BC
Tỷ lệ qu a chế biế n thô (%
)
T ỷ lệ q u a ch ế bi ến ti n h (
% )
C hỉ số sc or e ch u n g
Xé p hạ ng ch un g
Trang 8có lợi thế trong sản xuất, ngoài việc có các vùng sinh thái thích nghi cho sản xuấtđiều, đã trồng mới nhiều diện tích trong những năm gần đây, còn áp dụng giốngđiều ghép, năng suất chất lượng tốt
Theo FAOSTAT, năm 2014, Việt Nam xuất khẩu 252 nghìn tấn điều nhân,cao hơn so với Ấn độ (112 nghìn tấn), và Nigeria (85,6 nghìn tấn), với giá trị xuấtkhẩu xấp xỉ 2 tỷ USD Sở dĩ có sự xuất khẩu cao như vậy, nước ta vẫn nhập khốilượng lớn điều thô từ Ấn độ, các nước châu Phi, Campuchia về để chế biến sau đótái xuất Theo Hiệp hội điều việt Nam Vinacas, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lanvẫn là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm lần lượt 35,39%,13,38% và 12,85% tổng giá trị xuất khẩu Các thị trường có giá trị tăng mạnh làĐức (63,18%), Thái Lan (40,12%), Anh (37,82%), Hà Lan (37,59%), và Hoa Kỳ(28,92%) Việt Nam xuất khoảng 90 nghìn tấn nhân điều tới Hoa Kỳ, 55 nghìn tấntới Trung Quốc, 50 nghìn tấn tới EU, 50 nghìn tấn tới Trung Đông, và 14 nghìn tấntới Úc Hiện tại Việt Nam xuất nhân điều tới 90 quốc gia và vùng lãnh thổ Nhìnchung, nếu đánh giá theo chỉ tiêu RCA, 10 quốc gia này đều có lợi thế so sánh vềxuất khẩu tại thị trường EU, chỉ số giao động từ 2,25 thấp nhấp (Burkina Faso) tới3,99 cao nhất (Indonesia), trong khi Việt Nam (là 3,63)
Theo VINACAS, ngành công nghiệp chế biến điều hình thành từ nhữngnăm 1990, trải qua 3 thập kỷ, Việt Nam đã là nhà chế biến lớn thứ hai điều thô, vànhà xuất khẩu thứ nhất điều nhân Công suất chế biến vượt 1,2 triệu tấn Cókhoảng 500 cơ sở chế biến vừa và lớn, 500 cơ sở chế biến nhỏ, ở các cơ sở lớn,đều có chứng chỉ GMP, ISO và HACCP, để phát triển các sản sản phẩm giá trị giatăng, như điều rang muối, điều bọc sô cô la, mật ong, … Tuy nhiên, có thể nói 10nước sản xuất điều lớn, đều xuất khẩu điều thô, nhân điều là chính, tỷ lệ chế biếnsâu đều thấp 4-5%; kể cả Việt Nam được coi là cường quốc xuất khẩu và có công
Trang 9nghiệp chế biến, cho thấy sự phân chia về công đoạn sản xuất sản phẩm điều trênthế giới Các nước nhập khẩu điều sẽ là nước chế biến tinh các sản phẩm điều (Mỹ,
Hà Lan) với các sản phẩm như điều rang muối, bơ điều, dầu điều, nước quả, dầu
vỏ điều, …Kết quả đánh giá MCE, tổng hợp các mặt sản xuất, chế biến, xuất khẩu,chỉ ra Việt Nam đứng thứ hạng 1 với 55 điểm, tiếp theo là Ấn độ (53 điểm),Nigeria (52 điểm) Nhìn chung, ngoài trừ Nigeria, phần lớn các nước sản xuất điều
ở châu Phi (Tanzania, Burkino faso, Ghinee bissau) chỉ số này thấp, chỉ ra rằng cácnước này chủ yếu xuất khẩu hạt điều thô có vỏ là chính
0 Ha)
Năng suất(Tạ /ha)
Xuất khẩu(1000 tấn)
Giá trị xuất khẩu(100 0USD)
Giá thành(U SD/tấn)
Hệ số DRC Chỉ số RCA số BC Chỉ
Tỷ lệ qua chế biến thô(%
)
Tỷ lệ qu a chế biế n tin h (%
)
Chỉ số scor e chun g
Xếp hạng chun g
Trang 10này Năng suất hiện tại là 26 tạ/ha, thuộc vào cao nhất thế giới, trong khi các quốcgia khác, Malaysia (25,1 tạ/ha), Brazil (23 tạ/ha) Với việc chú ý tăng năng suất, sửdụng tài nguyên trong nước trong sản xuất tiêu cũng được đánh giá là hiệu quả sovới một số nước, hệ số này của Việt Nam là 0,66 được coi là thấp hơn so vớiIndonesia (0,72), Trung Quốc (0,81), song cao hơn so với Ấn độ và Brazil lần lượt
là 0,53 và 0,57 Để đánh giá lợi thế so sánh về mặt giá thành sản xuất, thì có thểthấy, Việt Nam thuộc nhóm các nước có giá thành trung bình từ 10-11.000USD/tấn, bao gồm: Việt nam, Sri lanka, Etiopia, Malaysia, nếu xét trên khía cạnhnày, Việt Nam kém lợi thế so với Indonesia, Ấn Độ, và Trung Quốc
Về khía cạnh lợi thế thương mại, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối, trong vòng 2năm trở lại đây luôn là quốc gia có khối lượng xuất khẩu lớn Theo FAOSTAT,năm 2014, khối lượng xuất khẩu của Việt Nam là 116,7 nghìn tấn, đạt giá trị 1,5 tỷUSD, cao hơn so với nước đứng thứ hai là Indonesia (62,6 nghìn tấn), Ấn độ (33nghìn tấn), Brazil (27,5 nghìn tấn) Theo hiệp hội hồ tiêu Việt Nam (VPA), theovùng lãnh thổ nhập khẩu, thị phần nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam vào châu Âu hiệnchiếm 34%, châu Á 36%, châu Mỹ 20% và châu Phi là 10% Đánh giá về lợi thếcạnh tranh xuất khẩu tiết lộ RCA, cho thấy, 10 nước đều có lợi thế so sánh về xuấtkhẩu thô, trong đó, Việt Nam là cao nhất (2,18) và Malaysia là thấp nhất (1,18)
Các doanh nghiệp trong ngành đã tập trung đẩy mạnh chế biến sâu, giảmdần xuất khẩu thô, đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu thị trường, cho giá trị giatăng cao hơn như sản phẩm tiêu trắng, tiêu bột, tiêu đỏ phục vụ thị trường caocấp Hiện tại, có 18 doanh nghiệp hồ tiêu đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tiêuvới công nghệ hiện đại, có công suất 60.000-70.000 MT/năm, trong đó có 14 nhàmáy chế biến hồ tiêu đạt tiêu chuẩn châu Âu, Mỹ…Tỷ lệ chế biến sâu với các loạisản phẩm tiêu bột, tiêu đỏ, vàng, …của Việt Nam đã đạt 11%, tương đương vớicác nước Indonesia, Malaysia, là các nước có thế mạnh về sản xuất, chế biến gia
vị Kết quả đánh giá bởi MCE cũng chỉ ra rằng Việt Nam có lợi thế so sánh caonhất so với các nước sản xuất, tiêu thụ tiêu, chỉ số tổng hợp của Việt Nam là 67, sosánh với các quốc gia cạnh tranh mạnh gần kề như Indonesia (51 điểm), Ấn Độ (50điểm), Malaysia (28 điểm) thì vẫn cao hơn
5 Chè
Trang 110 Ha)
Năng suất(Tạ /ha)
Xuất khẩu(1000 tấn)
Giá trị xuất khẩu(100 0USD)
Giá thành (USD /tấn)
Hệ số DRC
Chỉ số RCA
Chỉ số BC
qua chế biến thô(%
)
qua chế biến tinh (%)
số scor e chu ng
hạng chun g
1 China
2.128
1.886,5 11,28
331,4
216,0
324,0
131,3
56,4
132,5
và diện tích thu hoạch chè, Việt Nam xấp xỉ với Indonesia Về chủng loại sảnphẩm, là nước chuyên sản xuất chè xanh, Việt Nam đang trên con đường xây dựngthương hiệu, nâng cao chất lượng chè, vệ sinh an toàn thực phẩm Trong vòng 10năm trở lại đây, năng suất chè của Việt Nam là 16,5 tạ/ha đã cải thiện đáng kể, tuynhiên vẫn còn thấp hơn so với Ấn độ (23,1 tạ/ha), Sri Lanka (20 tạ/ha), nhưng caohơn so với Trung Quốc (11,3 tạ/ha) Trong sản xuất chè, có thể thấy Việt Nam cólợi thế so sánh khi đánh giá qua chỉ tiêu giá thành sản xuất, và là một trong 2 nướcsản xuất chè có giá thành thấp nhất (1.296 USD/tấn), khi so sánh với các nước cònlại, Trung Quốc (3.619 USD/tấn), Ấn độ (2.440 USD/tấn), Sri Lanka (3.470USD/tấn) Chỉ số DRC tính toán và tham khảo ILO “Nghiên cứu lợi thế so sánhchè Ấn độ và Sri Lanka”, cho biết chỉ số DRC của Việt Nam là 0,27 bằng Ấn độ,thấp hơn Sri Lanka, và cao hơn so với Trung Quốc (0,25)