“Vấn đề phát triển sản xuất hàng hóa ở xã phường, thị trấn hiện nay. Thực trạng và giải pháp” là thực sự cần thiết, nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hoá của địa phương phát triển.
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, thực hiệnNghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, nước ta đã vàđang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn với phát triển kinh
tế tri thức, đẩy mạnh phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xãhội chủ nghĩa
Đó là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng ta, phù hợp với xu thế của cácnước trên thế giới và phù hợp với điều kiện nước ta
Đi lên từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ sản xuất thấp lại trảiqua nhiều năm chiến tranh nên việc đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóacàng cần thiết hơn bao giờ hết để nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệuquả, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, của mỗi doanh nghiệp và cả nềnkinh tế
Thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nướctrong những năm qua cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân xã Phụ Khánh,huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã đoàn kết thống nhất phát huy thuận lợi, khắcphục khó khăn để phát triển kinh tế và đã đạt được những thành tựu quantrọng: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, sản xuất nôngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp có nhiều chuyển biến rõ nét; dịch vụ được mởmang; giá trị sản xuất của có sự gia tăng rõ rệt qua các năm, đời sống nhândân được cải thiện, một số sản phẩm thế mạnh của địa phương được đầu tư,khai thác và phát huy, cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cấp Diện mạonông thôn được đổi mới từng ngày
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được còn bộc lộ không ít những yếukém, hạn chế: Kinh tế đã có bước phát triển nhưng chưa thực sự bứt phá, chưakhai tốt tiềm năng lợi thế, sản phẩm hàng hoá còn đơn điệu, sức cạnh tranh
chưa cao Do vậy việc nghiên cứu đề tài “Vấn đề phát triển sản xuất hàng hóa ở xã Phụ Khánh, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ từ 2008 đến nay Thực trạng và giải pháp” là thực sự cần thiết, nhằm đưa ra những giải pháp hữu
hiệu góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hoá của địa phương phát triển
2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 2Đề tài tập trung đánh giá thực trạng phát triển sản xuất hàng hóa ở xãPhụ Khánh, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc pháttriển sản xuất hàng hóa
3 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu vấn đề phát triển sản xuất hàng hóa tại xã Phụ Khánh,huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ từ năm 2008 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phỏng vấn, hỏi chuyên gia, điều tra, phân tích, so sánh,tổng hợp, thống kê số liệu
5 Thời gian nghiên cứu:
Tiểu luận nghiên cứu vấn đề phát triển sản xuất hàng hóa ở xã Phụ Khánh,huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ từ năm 2008 đến nay
Thời gian: Từ ngày 10/10/2014 đến ngày 05/11/2014
6 Tài liệu tham khảo:
- GT Kinh tế chính trị Mac-Lênin, NXB chính trị - hành chính, HN - 2009
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc từ Đại hội VI đến Đại hội XI
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXVI nhiệm kỳ 2010-2015
- Các báo cáo tổng kết về tình hình KT- XH của xã từ 2008 - 2013
- Tài liệu thống kê của xã Phụ Khánh từ 2008 đến năm 2014
7 Kết cấu tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất hàng hóa
Chương II: Thực trạng phát triển sản xuất hàng hóa ở xã Phụ Khánh,huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Chương III: Giải Pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh sản xuất hàng hóa ở
xã Phụ Khánh, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Trang 3B NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ SẢN XUẤT
HÀNG HÓA
1 Những cơ sở lý luận của Kinh tế - chính trị Mác - Lênin về sản xuất hàng hóa.
1.1 Khái niệm hàng hóa, sản xuất hàng hóa.
Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó củacon người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán Hàng hóa có thể ởdạng hữu hình như: Lương thực, thực phẩm, …hoặc ở dạng vô hình nhưnhững dịch vụ, vận tải, thương mại hay sự phục vụ của giáo viên, nghệ sỹ…
Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán Hay nói cách khácsản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm làm rakhông phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất trực tiếp
ra nó mà để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc traođổi, mua bán
1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa và nó có thể
thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định.Chính công dụng đó làm cho nó có giá trị sử dụng Cơ sở của giá trị sử dụngcủa mỗi hàng hóa là do những thuộc tính tự nhiên của thực thể hàng hóa đóquyết định Xã hội càng tiến bộ, khoa học kỹ thuật, phân công lao động nóichung, lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng sử dụng ngày càngnhiều, chủng loại giá trị càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càngcao.Vì sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán nên giá trị sử dụngcủa hàng hóa không phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp màcho người khác, cho xã hội Chính vì vậy giá trị sử dụng của hàng hóa là giátrị sử dụng xã hội.Giá trị sử dụng của hàng hóa là phạm trù vĩnh viễn và là vậtmang giá trị trao đổi
Giá trị của hàng hóa: Muốn tìm hiểu được giá trị của hàng hóa phải đi
từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi của hàng hóa là quan hệ về số lượng là một
tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị traođổi loại khác Hao phí lao động tạo ra giá trị hàng hoá Vậy giá trị là lao động
xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
Trang 4Hai thuộc tính của hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vừathống nhất, vừa mẫu thuẫn với nhau.
Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tạitrong một hàng hóa, một vật phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới là hànghóa Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải là hànghóa Mẫu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: Với tư cách là giá trị sử dụng thì hàng hóa không đồng nhất
về chất Nhưng ngược lại, với tư cách là là giá trị các hàng hóa lại đồng nhất
về chất, đều là kết tinh động nhất về chất, đều là “ Kết tinh của lao động màthôi”, hay là lao động đã được vật hóa
Thứ hai, Tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một hàng hóa,
nhưng quá trình thực hiện chúng lại tách rời nhau cả về mặt không gian vàthời gian: Giá trị được thực hiện trước - trong lĩnh vực lưu thông còn giá trị sửdụng dược thể hiện sau trong lĩnh vực tiêu dùng Do đó nếu giá trị của hànghóa không thực hiện được, tức hàng hóa không bán được, thì giá trị sử dụngcủa nó không được thực hiện
1.3 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
Thứ nhất: Có sự phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội
là sự chuyên môn hoa sản xuất, phân chia lao động xã hội vào các ngành, cáclĩnh vực sản xuất khác nhau
Phân công lao động xã hội làm cho mỗi người, mỗi cơ sở chỉ sản xuấtmột hoặc một vài sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống lại đòihỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó họ cần đến sản phẩm củanhau bằng cách trao đổi với nhau Mặt khác nhờ có phân công lao động xãhội, chuyên môn hóa sản xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩmđược sản xuất ra ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày cùng phổ biến
Như vậy phân công lao động xã hội là cơ sở là tiền đề của sản xuấthàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất trao đổihàng hóa ngày càng mở rộng hơn, đa dạng hơn
Thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản
xuất Sự tách biệt này do quan hệ sở hữu khác nhau và sự phát triển ở mức độ
xã hội hóa ở mức độ khác nhau của sở hữu về tư liệu sản xuất nhất định Do
đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hứu hoặc chi phối của họ, người nàymuốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao
Trang 5đổi, mua bán hàng hóa.Trong chế độ hiện đại thì sự tách biệt này diễn ra vớinhiều hình thức khác nhau
Sự tác biệt gữa quyền sở hữu và quyền sử dụng về tư liệu sản xuất cũngquy định sự tách biệt tương đối Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuấthàng hóa Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
1.4 Những ưu thế của sản xuất hàng hóa
Thứ nhất: Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động
xã hội, chuyên môn hoá sản xuất, do đó nó khai thác được những lợi thế tựnhiên, xã hội kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như của từng vùng,từng địa phương của các quốc gia khác nhau
Thứ hai: Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị
giới hạn mà nó còn được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và ngồn lực xãhội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựucủa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ ba: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác dộng của những quy luật
vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa như quy luật giá trị, cung – cầu,cạnh tranh…buộc người sản xuất phải luôn luôn năng động, nhạy bén tínhtoán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng vàhiệu quả kinh tế
Thứ tư: Sản xuất hàng hóa phát triển làm cho đời sống vật chất văn
hóa, tinh thần cũng được nâng cao phong phú đa dạng
Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặttrái của nó như phân hóa những người ản xuất thành kẻ giầu, người nghèo,tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội…
1.5 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.
Lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: vừa mạngtính chất là lao động cụ thể, vừa mạng tính chất là lao động trừu tượng
Thứ nhất: Lao động cụ thể: Lao động cụ thể là lao động có ích dưới
một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định
Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động vàkết quả lao động riêng Chính những cái riêng đó phân biệt các loại lao động
cụ thể khác nhau Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa
Trang 6Thứ hai: Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa
khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó hay chính là sự tiêu phí sức laođộng nói chung của người sản xuất hàng hóa
Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa Giá trị của hàng hóa làlao động xã hội trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hànghóa Đó chính là mặt chất của giá trị hàng hóa
Lao động cụ thể và lao động trừu tượng vừa thống nhất vừa mâu thuẫnvới nhau Mặt thống nhất biểu hiện ở chỗ chúng là hai mặt của cùng một laođộng sản xuất hàng hóa Mặt mâu thuẫn thể hiện với tư cách là lao động cụthể, lao động sản xuất của một người sản xuất hàng hóa đã tạo ra một giá trị
sử dụng với số lượng và chất lượng nhất định cho xã hội Nhưng với tư cách
là lao động trừu tượng sự hao phí sức lao động của người sản xuất hàng hóa
có thể không phù hợp so với mức phí lao động của xã hội
Mâu thuẫn có bản của nền sản xuất hàng hóa - mâu thuẫn giữa lao động
tư nhân và lao động xã hội còn được thể hiện ở mâu thuẫn giữa lao động cụthể và lao động trừu tượng Những mâu thuẫn đó thúc đẩy sản xuất hàng hóavừa vận động phát triển và tiềm ẩn khả năng khủng hoảng kinh tế
1.6 Lượng giá trị của hàng hóa, những yếu tố ảnh hưởng
Thời gian lao động cần thiết: Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội,trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Lượng giá trịcủa hàng hóa phải được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết
“Thời gian lao động cần thiết là thời gian lao động đòi hỏi để sản xuất
ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của
xã hội, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao độngtrung bình trong xã hội đó” Thông thường thời gian lao động xã hội gần sátvới thời gian lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa nào, mà cung cấpđại bộ phận hàng hóa đó trên thị trường
Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa Một là: Năng suất lao động là năng lực của người lao động Nó được đo
bằng số lượng sản phẩm đã sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc sốlượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sảnxuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống hoặc cũng trong thời gian lao động
Trang 7như vậy, nhưng khối lượng hàng hóa tăng lên Do đó khi tăng năng suất laođộng thì lượng giá trị của một hàng hóa giảm
Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ khéoléo, trung bình của người lao động, mức độ phát triển khoa học công nghệ vàứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất
Hai là: Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương
lao động trong một đơn vị thời gian Nó cho thấy mức độ nặng nhọc hay căngthẳng của lao động Cường độ lao động tăng lên là mức độ hao phí lao độngtrong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng số lượng hàng hóa sản xuất ra tănglên Do đó lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm không thay đổi
Ba là: Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng khác nhau đến số
lượng giá trị hàng hóa Theo mức độ phức tap của lao động có thể chia laođộng thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là bất cứ người lao động bình thường nào không cầntrải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp đòi hỏi phảiđược đào tạo huấn luyện thành chuyên môn lành nghề nhất định mới có thểtiến hành được
Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao độngphức tạp đều được quythành lao động đơn giản trung bình Tỷ lệ quy đỏi được tiến hành một cách tựphát sau lưng những người sản xuất hàng hóa, thông qua cạnh tranh, quan hệcung cầu mà tự xác định trên thị trường
Như vậy chúng ta có thể hiểu rằng: Giá trị của hàng hóa là lao động xãhội, trừu tượng, giản đơn trung bình của người sản xuất hàng hóa kết tinhtrong hàng hóa, giá trị là quan hệ xã hội ẩn chứa, kết tinh trong hàng hóa Cònlượng giá trị của một hàng hóa là thời gian lao động cần thiết của người sảnxuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó
Những kiến thức lý luận về sản xuất hàng hoá trên đây là cơ sở, căn cứquan trọng để Đảng ta đề ra chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
2 Quan điểm của Đảng ta về phát triển sản xuất hàng hóa, kinh tế hàng hóa
2.1 Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI:
Nhiều văn kiện của Đảng của Đảng đã nêu vấn đề phát triển đúng đắnquan hệ hàng hóa tiền tệ, nhưng thực tế mới là phát triển một nền kinh tế hiện
Trang 8vật có trao đổi sản phẩm Quan hệ hàng- tiền chưa thực sự được tạo điều kiệnthuận lợi để phát triển; thị trường chưa được mở rộng.
2.2 Từ đại hội Đảng VI đến nay:
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Đảng ta đã phê phán cơ chế baocấp tập trung quan liêu bao cấp chưa chú ý đến quan hệ hàng hóa- tiền tệ vàhiệu quả kinh tế Chưa tạo được động lực cho nền kinh tế, do vậy đã làm chonền kinh tế tăng trưởng chậm, sản xuất đình trệ, suy thoái
Đến hội nghị trung ương sáu khóa VI (năm 1989) tư duy kinh tế hànghóa thực sự được hình thành
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta đã khẳng định: Sản xuấthàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển củanền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã khẳng định nền kinh tếnước ta trong thười kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là nền “kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa” Thực chất vẫn là nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhànước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định rõ hơn mô hình kinh
tế thị trường, thực chất là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao ởnước ta, đồng thời tiếp tục khẳng định rõ chủ trương phát triển kinh tế hànghóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Đại hội lần thứ XI của Đảng: Ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hìnhtăng trưởng và cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững; huy động và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực; Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, sản xuất hàng hoá trên cơ sởcạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế Phát triển đồng bộ các yếu
tố thị trường và các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Những chủ trương, đường lối phát triển kinh tế hàng hoá của Đảng ta làcăn cứ quan trọng để nước ta, các địa phương đề ra mục tiêu, kế hoạch pháttriển kinh tế hàng hoá đảm bảo hiệu quả và đúng định hướng xã hội chủnghĩa
Trang 9CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở XÃ PHỤ KHÁNH
HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2008 ĐẾN NAY
1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ở xã Phụ Khánh huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ.
1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên:
Phụ Khánh lã xã miền núi nằm ở Phía bắc huyện Hạ Hòa, Phía tây giáp
xã Lệnh Khanh, Phía đông giáp với xã Gia Điền, phía Nam giáp với xã YSơn, phía Bắc giáp với xã Đại Phạm
Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên 1.407,8 ha, trong đó đất nôngnghiệp là 1.217,27 ha, đất phi nông nghiệp là 172,93 ha, đất chưa sử dụng17,6 ha Địa hình chủ yếu là đồi núi cao trung bình từ 80 - 100m, xen kẽ giữađồi núi là đất bằng nhưng độ phì nhiêu thấp, hay bị ngập úng Đất thích hợpcho các loại cây lâm nghiệp
Khí hậu: Chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng đồi trung du miền núi Nằmtrong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè thời tiết nóng nực, mưa nhiều
và ẩm ướt từ tháng 4 đến tháng 9 Mùa đông thời tiết ít mưa và lạnh thườngkéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gây ra các đợt rét đậm rét hại và hạnhán Có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất hàng hóa của địa phương
1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội
B1.Bảng thống kê tổng giá trị sản xuất từng năm
Năm Tổng giá trị sản xuất (triệu đồng) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%)
Trang 10Riêng 6 tháng đầu năm 2014 tổng giá trị sản xuất có mức tăng trưởngđáng kể 37.232 triệu đồng tăng 21 % so với cùng kỳ năm 2013 Tốc độ tăngtrưởng kinh tế năm sau tăng hơn năm trước, đảm bảo mức thu nhập trung bìnhcho người dân khoảng 20,5 triệu đồng/người/năm
- Cơ cấu kinh tế:
B2 Bảng tỷ trọng cơ cấu ngành các năm 2008 - 2013
Sáu tháng đầu năm 2014 ngành CN - TTCN có tỷ trọng tăng lên đáng
kể chiếm khoảng 7,3%, nông lâm nghiệp khoảng 75, 04, còn dịch vụ thươngmại là: 17,66%
Cơ cấu kinh tế theo vùng: Do địa hình xã được phân bố làm 3 vùng rõrệt do vậy cơ cấu kinh tế cũng được chia ra làm ba vùng phù hợp với điềukiện tự nhiên của xã Vùng một là khu vực giáp ven sông đất đai màu mỡ phùhợp với phát triển cây lúa, cây hoa màu; vùng hai: khu vực giữa trung tâmcủa xã phù hợp với việc sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; vùng ba
là vùng đồi núi tiếp giáp xã Hà lương, Đại Phạm phù hợp với việc phát triểnkinh tế đồi rừng
Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế: Tồn tại bốn thành phần kinh tế
đó là: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài Trong những năm qua bốn thành phần kinh tế luôn phát triển mộtcách tích cực, hiệu quả, đóng góp to lớn trong việc phát triển kinh tế địaphương; trong đó thành phần kinh tế tư nhân có tốc độ phát triển mạnh mẽ.Thu nhập bình quân đầu người tăng lên nhanh: Năm 2008 là 6,75 triệuđồng /người/năm Năm 2013 là 18,7 triệu đồng/người/năm Năm 2014 ướctính khoảng 20,5 triệu đồng/người/ năm
Dân số hiện nay có 927 hộ với 3507 nhân khẩu, trong đó nam là 1845người, nữ là 1662 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,01% Số lao động
Trang 11trong độ tuổi là 2006 người, chiếm tỷ lệ 57,2% Số lao động được giải quyếtviệc làm mới là 69 lao động Trong đó xuất khẩu lao động là 21 lao động Tỷ
lệ lao động qua đào tạo là: 18,15%, Cơ cấu lao động: Nông – lâm nghiệp:64,8%, Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp 24,93%, Dịch vụ: 10,27% Dân
số phân bố không đồng đều ở 10 khu dân cư, trong đó có 3 khu đặc biệt khókhăn Nghề nghiệp của người dân trong xã chủ yếu là làm nông nghiệp vớithế mạnh là đất trồng rừng, đất trồng chè và chăn nuôi gia súc, gia cầm
Đảng bộ xã có 14 chi bộ với 200 đảng viên, trong đó có 10 chi bộ cơ sở
và 4 chi bộ cơ quan Cán bộ công chức xã được biên chế 21 chức danh
Về y tế, văn hóa, giáo dục: Trong những năm qua hoạt động y tế, vănhoá giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếptục được duy trì và phát triển Trong xã có 3 trường học (1 trường Mầm non,
1 trường Tiểu học và 1 trường Trung học cơ sở) Trong đó trường Tiểu họcđạt trường chuẩn Quốc gia mức độ 2, trường Trung học cơ sở và trường Mầmnon được xây dựng kiên cố, đủ phòng học và trang thiết bị phục vụ công tácgiảng dạy, đặc biệt là công tác phổ cập giáo dục cho trẻ Mầm non 5 tuổi.Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được thực hiện
có hiệu quả, toàn xã có 1 trạm y tế được xây dựng kiên cố, được đầu tư đầy
đủ trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh ban đầu cho người dân
1.3 Những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sản xuất hàng hóa ở xã Phụ Khánh huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ.
* Thuận lợi: - Địa bàn xã nằm trong khu vực có giao thông đường sắt,đường sông, đường bộ thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa giữa các vùng
- Diện tích đất tự nhiên rộng, địa hình phù hợp cho việc phát triển kinh
tế theo vùng Dân số trẻ, dân số trong độ tuổi lao động cao thuận lợi cho việcphát triển kinh tế hàng hoá của địa phương
- Đảng ủy, chính quyền xã Phụ Khánh luôn nhận được sự quan tâmlãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Huyện ủy - HĐND - UBND huyện Hạ Hòa trongphát triển kinh tế hàng hoá Mặt khác Đảng ủy, chính quyền xã luôn quan tâmsâu sát tới việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, và quan tâm đặc biệt đếnviệc phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống chonhân dân
* Khó khăn
Trang 12- Giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất trên thịtrường biến đổi không ngừng, nhiều khi gây bất lợi cho sản xuất hàng hoá.Nguồn điện năng thiếu hụt không đáp ứng đủ nhu cầu vận hành máy mócphục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
- Hậu quả thiên tai: Hạn hán, lũ lụt, ngập úng làm ảnh hưởng đến năngsuất cây trồng
- Dân số phân bố không đồng đều, chưa tập trung Còn nhiều hộ ở cách
xa trung tâm, chủ yếu tập trung ở những khu 135, giao thông đi lại khó khăn,trình độ nhận thức của người dân hạn chế, khó khăn cho việc tuyên truyền,vận động, phổ biến về khoa học kỹ thuật mới Mặc dù dân số trong độ tuổi laođộng cao song trình độ, tay nghề thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, khôngđược đào tạo bài bản đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
2 Thực trạng sản xuất hàng hóa của địa phương:
2.1: Những kết quả đạt được
2.1.1 Sản xuất nông nghiệp:
Dưới sự lãnh chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền địa phương, nhân dântrong xã đã tập trung đẩy mạnh sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, tích cực thâm canh để chuyển đổi cơ cấu sản xuất, kết hợp với cácbiện pháp kỹ thuật canh tác nhằm giảm giá thành, tăng năng suất cây trồng,vật nuôi Chú trọng chăn nuôi gia súc, gia cầm, các mô hình chăn nuôi theoquy mô lớn, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, cung ứng, hỗ trợ về congiống đảm bảo chất lượng đã thúc đẩy chăn nuôi phát triển, sản lượng chănnuôi được nâng lên rõ rệt
B3 Bảng thống kê giá trị sản xuất nông ngiệp Năm Tổng giá trị sản xuất (triệu đồng) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%)
Nguồn: BC Thống kê của xã
Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong các năm có tăng nhưng chưa cao, Tuynhiên năm 2012 do tình hình thời tiết không thuận lợi, gây rất nhiều khó khăncho sản xuất nông nghiệp: Đầu năm hạn hán, tình hình sâu bệnh phát triển
Trang 13mạnh, giữa năm ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 5 gây sạt lở đất, ngập lụt diệnrộng, ảnh hưởng nhiều đến năng suất, sản lượng cây trồng Năm 2013 tốc độtăng trưởng có bước đột phá do có thuận lợi về thời tiết và sự chỉ đạo sát saocủa chính quyền địa phương.
* Trồng trọt: Trồng trọt được xác định vẫn là một trong những lĩnh vực
sản xuất quan trọng của địa phương trong những năm qua Kết quả đạt được
B3.1 Bảng thống kê sản lượng cây trồng (từ 2008 – 2013)
Nguồn: Báo cáo thống kê của xã Phụ Khánh
Ủy ban nhân dân xã tăng cường chỉ đạo các hoạt động phục vụ sản xuấtnông nghiệp: Cung ứng giống, vật tư, tiến hành các biện pháp phòng trừ sâu