1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tieu luan KT vĩ mô “Phân tích chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.

27 107 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 427,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa của nước ta, có nhiều yêu cầu cần giải quyết cùng lúc như: vừa ổn định vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở rộng giao lưu, quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng ngày càng lớn dẫn đến sự xác lập quan hệ cung cầu mới về tiền, trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung. Điều chỉnh tiền tệ cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế, là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ chức quản lý các hệ thống tiền tệ phải tuân thủ và chính sách tiền tệ phải theo đuổi; sự bùng phát của lạm phát năm 2008 làm cho nhiều người giật mình về vai trò của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế. Lý thuyết được thực tiễn làm sáng tỏ; rõ ràng với chính sách tiền tệ không thể xem thường hay thờ ơ với nó. Qua quá trình học tập, nghiên cứu môn kinh tế vĩ mô, tôi xin trình bày tiểu luận môn học với nội dung “Phân tích chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa của nước ta, có nhiều yêu cầucần giải quyết cùng lúc như: vừa ổn định vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa

mở rộng giao lưu, quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhu cầu mởrộng lượng tiền cung ứng ngày càng lớn dẫn đến sự xác lập quan hệ cung - cầumới về tiền, trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là

ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung

Điều chỉnh tiền tệ cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế, là một trongnhững vấn đề thiết yếu mà tổ chức quản lý các hệ thống tiền tệ phải tuân thủ vàchính sách tiền tệ phải theo đuổi; sự bùng phát của lạm phát năm 2008 làm chonhiều người giật mình về vai trò của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Lýthuyết được thực tiễn làm sáng tỏ; rõ ràng với chính sách tiền tệ không thể xemthường hay thờ ơ với nó

Qua quá trình học tập, nghiên cứu môn kinh tế vĩ mô, tôi xin trình bàytiểu luận môn học với nội dung “Phân tích chính sách tiền tệ ở Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay”

Tiểu luận bao gồm các phần:

Phần I: Lý luận chung về chính sách tiền tệ

Phần II: Thực trạng điều hành Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

PhầnIII: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chính sáchtiền tệ

Vì điều kiện thời gian và kiến thức hạn chế, rất mong được sự đóng gópcủa thầy cô để tiểu luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

- Cung ứng cho nền kinh tế phương tiện thanh toán cần thiết

- Tạo ra khuôn khổ tiền tệ cho mối quan hệ kinh tế trong và ngoài nước Tại mỗi một quốc gia, với tư cách là thiết chế đầu não của toàn bộ hệthống tài chính, ngân hàng, Ngân hàng nhà nước (NHNN) là cơ quan chủ chốt,thiết kế và quyết định chính sách tiền tệ Dù với tên gọi khác nhau (NHTW,NHNN, Hệ thống dự trữ lên bang ), nhưng tất cả chúng đều có chung một tínhchất là cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước, độc quyền phát hành tiền, thựchiện nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ, thiết lập trật tự, bảo đảm sự hoạtđộng an toàn, ổn định và hiệu quả của toàn bộ hệ thống ngân hàng nhằm thựchiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của mỗi đất nước

Hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trung tâm, là “linhhồn” của NHNN trong lĩnh vực tiền tệ Điều hành chính sách tiền tệ của NHNNtrong nền kinh tế thị trường mang tính chất điều tiết vĩ mô, hướng các tổ chứctín dụng vào thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời vẫn đảmbảo tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng NHNNthường không can thiệp và không ra lệnh trực tiếp vào các quyết định tác nghiệpcủa các tổ chức tín dụng mà chủ yếu sử dụng các biện pháp tác động gián tiếp đểđiều chỉnh môi trường và các điều kiện kinh doanh của các tổ chức tín dụngnhư: khả năng thanh toán, lãi suất chiết khấu, dự trữ, khối lượng tiền cung ứng,

tỷ giá để thông qua đó đạt mục tiêu của chính sách tiền tệ

Để điều hành chính sách tiền tệ, NHNN phải hình thành và sử dụng hệthống công cụ của nó Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo choNHNN khả năng tác động có hiệu lực đến các yếu tố tiền đề buộc các tổ chức tíndụng phải tự điều chỉnh hoạt động của mình theo hướng chỉ đạo của NHNNnhưng vẫn phải đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh cũng như sự bình đẳngtrong môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng

Trang 3

II- MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà NHNN thông qua cáchoat động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm phục

vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định

Trong từng hoàn cảnh cụ thể, đồi với từng quốc gia thì việc đề ra chínhsách tiền tệ cũng có những điểm khác biệt Xét về mặt tổng thể chính sách tiền

tệ của các quốc gia trên thế giới hướng vào các mục tiêu chủ yếu là:

1- Tạo ra việc làm

Mục tiêu của việc làm cao không phải là không có thất nghiệp mà làmột mức phù hợp với việc làm đầy đủ mà tại đó cầu lao động bằng với cunglao động Người ta gọi đó là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Việc làm nhiều hay

ít, tăng hay giảm phụ thuộc chủ yếu vào tình hình tăng trưởng kinh tế Tuỳtheo tình hình đó mà NHNN phải vận dụng các công cụ của mình góp phầntăng cường mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh, đồng thời tham gia tích cựcvào sự tăng trưởng liên tục và ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp khôngtăng quá mức tự nhiên

2- Tăng trưởng kinh tế

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làm cao.Các chính sách có thể tập trung kích thích đầu tư vào sản xuất kinh doanh

Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chínhsách tiền tệ Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng và thanh toán trong nềnkinh tế quốc dân, NHNN có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêunày NHNN Việt Nam sử dụng các phương thức để có thể huy động được hầuhết các nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước để phục vụ cho mục tiêu này.Mục tiêu từ năm 2000 trở đi tốc độ tăng trưởng hàng năm phải đạt từ 9-10% Đó

là mức tăng trưởng cao đòi hỏi sự gia tăng đầu tư hàng năm hàng chục tỷ USD

3- Ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát

Khi giá cả ổn định, lạm phát ở mức thấp, thu nhập thực tế của người dânđược nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện, đầu tư cho nền kinh tế cũngđược đảm bảo, tăng trưởng kinh tế thực dương Ngược lại, khi lạm phát ở mứccao, thu nhập của người dân bấp bênh, nguy cơ khủng hoảng kinh tế cao Vì vậy

mà mục tiêu này được xem là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong

Trang 4

chính sách tiền tệ Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn luôn gắn liền với mục tiêu

ổn định giá cả kiềm chế lạm phát

4- Mục tiêu ổn định lãi suất

Lãi suất có ảnh hưởng lớn đến đầu tư và tăng trưởng, ảnh hưởng đến cácluồng vốn, ngoại tệ Vì vậy, các quốc gia đều mong muốn ổn định về lãi suất; ổnđịnh lãi suất tạo ra thế ổn định cho các lĩnh vực như tín dụng, đầu tư, sự dichuyển vốn dẫn đến ổn định chung cho nền kinh tế

Để cho nền kinh tế được ổn định đòi hỏi chính sách tiền tệ phải đưa ramột hệ thống lãi suất mềm dẻo đúng đắn, phù hợp với sự vận động của cơ chếthị trường

5- Ổn định thị trường tài chính

Việc tạo ra một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống ngân hàng và các

tổ chức tín dụng có thể hoạt động một cách có hiệu quả và hỗ trợ một cách tốtnhất cho tăng trưởng kinh tế cao, lạm phát thấp, cũng như hạn chế những khuyếttật của hệ thống tài chính là mục tiêu chủ đạo của chính sách tiền tệ NHNN phảiđiều hoà hoạt động của hệ thống tài chính trong nước một cách gián tiếp, tăngcường hiệu quả cho nó

Bản thân hệ thống tài chính cũng có những mục tiêu riêng và nhiều khinhững mục tiêu này lại không đồng nhất với các mục tiêu chung của nền kinh tế

Do đó vai trò của chính sách tiền tệ là làm hài hoà một cách tối ưu giữa các mụctiêu trên, để phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung của nền kinh tế mà không làmtổn hại hay hạn chế sự phát triển của hệ thống tài chính

6- Ổn định thị trường ngoại hối

Nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia, NHNN thực hiệncác nhiệm vụ giao dịch về tài chính và tiền tệ đối ngoại bằng các phương diện:quản lý ngoại hối, lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, thựchiện các nghiệp vụ hối đoái Tổ chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước,xây dựng và thống nhất quản lý dự trữ ngoại hối của đất nước, tiến hành kinhdoanh ngoại hối trên thị trường ngoại hối quốc tế Cần thiết lập mối quan hệ vớicác tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nhằm tìm kiếm các nguồn vốn có thể huyđộng (viện trợ, vay nợ, vay ưu đãi, thu hút đầu tư, thu hút kiều hối)

Tóm tại, chính sách tiền tệ góp phần nhiều vào việc thực hiện các mụctiêu trên, tuy nhiên khi thực hiện lại mâu thuẫn nhau Cụ thể chỉ có thể đạt được

Trang 5

một mục tiêu khi chấp nhận sự cắt giảm nhất định đối với mục tiêu khác (chẳng hạn muốn kiềm chế lạm phát thì sẽ phải chấp nhận nạn thất nghiệp tăng lên ).

Vì vậy tuỳ theo việc hướng vào mục tiêu nào là chính mà người ta có thể coichính sách tiền tệ là chính sách ổn định giá cả, chính sách tạo việc làm, chínhsách cân bằng cán cân thanh toán hay chính sách tăng trưởng kinh tế

Để đạt được những mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ NHNN phảixác định các mục tiêu trung gian Bởi lẽ NHNN sử dụng các mục tiêu trung gian

để có thể xem xét nhanh chóng tình hình hoạt động của mình phục vụ cho cácmục tiêu cuối cùng, hơn là chờ cho đến khi thấy được kết quả cuối cùng của cácmục tiêu đó Mục tiêu trung gian là điều tiết cung tiền thông qua chi phối dòngtiền chu chuyển và khối lượng tiền Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước màcác khối tiền tệ có thể là M1, M2, M3

III- NỘI DUNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Xét cho cùng NHNN có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ phù hợpvới tình hình thực tiễn của nền kinh tế:

Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ bao gồm 4 thành phần cơbản gắn liền với 4 kênh dẫn nhập tiền vào lưu thông Đó là:

+ Chính sách cung ứng tiền và điều hoà lưu thông tiền tệ

+ Chính sách tín dụng

Trang 6

+ Chính sách ngoại hối

+ Chính sách đối với ngân sách nhà nước

2- Nội dung

2.1- Chính sách cung ứng tiền và điều hoà lưu thông tiền tệ

Việc vạch ra và thực thi chính sách tiền tệ phải khống chế sao cho khốilượng tiền tệ cung ứng trong một thời kỳ nhất định phải cân với mức tăng tổngsản phẩm quốc dân danh nghĩa và vòng quay tiền tệ trong thời kỳ đó

2.2- Chính sách tín dụng

Thực chất chính sách tín dụng là cung ứng phương tiện thanh toán chonền kinh tế quốc dân, thông qua các nghiệp vụ ngân hàng, dựa trên các quỹ chovay được tạo lập từ các nguồn tiền gửi của xã hội và với một hệ thống lãi suấtmềm dẻo, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường

2.3- Chính sách ngoại hối

Nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản có giá trị thanh toánđối ngoại phục vụ cho việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bềnvững và gia tăng việc làm trong xã hội

2.4- Chính sách đối với ngân sách nhà nước

Nhằm đảm bảo phương tiện thanh toán cho chính phủ trong trường hợpNgân sách nhà nước bị thiếu hụt Phương thức tối ưu là NHNN cho ngân sáchnhà nước vay theo kỳ hạn nhất định, tiến tới loại bỏ hoàn toàn phát hành tiền để

bù đắp thiếu hụt ngân sách

2.5- Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là khoản tiền gửi của các ngân hàng thương mại (NHTM) ởNHNN, mức tiền gửi này do pháp luật quy định bằng một tỷ lệ nhất định so với cáckhoản nợ của ngân hàng Thông qua việc thay đổi mức dự trữ bắt buộc NHNN tácđộng tới việc cung cấp tiện tệ cho nền kinh tế quốc dân Nếu NHNN tăng tỷ lệ dựtrữ bắt buộc lên thì khả năng tín dụng của NHTM sẽ giảm xuống Mặt khác, để bùlại phần lãi suất đó (do quỹ tiền gửi NHNN không được tính lãi) các ngân hàngphải tăng lãi suất tín dụng do vậy mức tín dụng cung ứng cho nền kinh tế sẽ giảmxuống Việc tăng lên hay giảm xuống quỹ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hoặc tănglượng tiền cung ứng cho nền kinh tế qua cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng Vì

Trang 7

vậy đó là một công cụ tiềm tàng của chính sách tiền tệ Ngoài ra dự trữ bắt buộccòn đảm bảo việc thanh toán thường xuyên của các NHTM.

Điểm lợi chính của công cụ này là nó tác động đến tất cả các ngân hàngnhư nhau và có tác dụng đầy quyền lực đến cung ứng tiền tệ Tuy nhiên khi dựtrữ bắt buộc không được trả lại, chúng tương đương với một khoản thuế và cóthể dẫn đến hiện tượng phi trung gian hoá Mặt khác dự trữ bắt buộc thiếu tínhmềm dẻo bởi sẽ rất vất vả để thực hiện được những thay đổi nhỏ trong cung ứngtiền tệ bằng cách thay đổi dự trữ bắt buộc Một điểm bất lợi khác nữa của việc

sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát việc cung ứng tiền tệ là việc tăng dự trữbắt buộc có thể gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh khoản của các NHTM,gây ra tình trạng không ổn định cho các ngân hành Vì vậy công cụ dự trữ bắtbuộc thường không được khuyến khích và ít được sử dụng

2.6- Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua và bán các giấy tờ có giá (như

cổ phiếu, trái phiếu, công trái ) trên thị trường tiền tệ và trong chừng mực hạnchế nhất định cả trên thị trường vốn Đây là một trong những công cụ rất quantrọng được nhiều NHNN của các nước sử dụng có hiệu quả chính sách tiền tệ

Ở nhiều nước kinh tế phát triển, nghiệp vụ thị trường mở đóng vai tròquan trọng làm thay đổi cơ số tiền tệ, chi phối những thay đổi trong cung ứngtiền tệ Khi NHNN quyết định mua một loại giấy tờ có giá trị trên thị trường sẽlàm tăng cung ứng tiền tệ Ngược lại, khi NHNN bán một lượng chứng khoántrên thị trường tiền tệ sẽ giảm bớt cung ứng tiền tệ Công cụ nghiệp vụ thịtrường mở có ưu điểm là trực tiếp tác động ngay đến dự trữ của các ngân hàngthương mại, bắt buộc các ngân hàng này phải tăng tín dụng hoặc giảm bớt tíndụng đối với nền kinh tế

Muốn sử dụng tốt các công cụ trên, phải có sự phát triên cao của cơ chếthanh toán không dùng tiền mặt vì vậy, công cụ này rất phù hợp với nước cónền kinh tế phát triển, có thị trường tài chính hoàn chỉnh Còn ở Việt Nam hiệnnay, thị trường mở chưa thực sự trở thành công cụ đóng vai trò quan trọng đểNHNN điều tiết mức cung ứng tiền tệ

Trang 8

Phần II CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY I- CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở NƯỚC TA TRƯỚC NĂM 2011

1- Những kết quả đạt được

Trong thời gian qua, việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN đãkhông ngừng được hoàn thiện Điều hành chính sách tiền tệ được từng bước đổimới trong việc xác định mục tiêu chính sách tiền tệ, việc quản lý, vận hành cơchế cung ứng tiền, điều tiết tiền tệ thông qua việc lựa chọn sử dụng đồng bộ cáccông cụ chính sách tiền tệ Mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ hướng vào việc

ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, tạo môi trường ổn định để thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống NHNN Việt Nam đã chuyển dần từ

công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp để nâng cao hiệu quả của chính sáchtiền tệ, các công cụ chính sách tiền tệ đã được thiết lập và đang dần hoàn thiệntheo thông lệ quốc tế

Công tác huy động vốn của hệ thống Ngân hàng không ngừng được đẩymạnh, đáp ứng nguồn vốn cho mục tiêu đầu tư phát triển đất nước Hoạt độngkinh doanh của các tổ chức tín dụng tiếp tục tăng trưởng góp phần tích cực thựchiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội

và tăng trưởng bền vững

2- Những hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được như đã đề cập ở trên, trong thời gianqua, điều hành chính sách tiền tệ còn một số hạn chế sau:

2.1- Mục tiêu cuối cùng chưa rõ ràng, chưa có lựa chọn ưu tiên

Từ khi thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước đến nay, về cơ bản, có thểthấy rằng chính sách tiền tệ luôn theo đuổi mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền,kiềm chế lạm phát và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên, LuậtNgân hàng Nhà nước không quy định rõ mục tiêu hàng đầu, mục tiêu cuốicùng của chính sách tiền tệ Do vậy, trên thực tế, việc điều hành chính sáchtiền tệ có khó khăn nhất định nhất là khi cần có sự đánh đổi giữa các mục tiêukiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế Chính vì việc chưa xác định rõ cácmục tiêu điều hành, nên trong một số thời điểm đã tác động đến việc hoạch định

và điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, chính sách tiền tệ đôikhi còn bị động và chậm phản ứng với những thay đổi của thị trường

Trang 9

2.2- Quá nhiều mục tiêu trung gian

NHNN chưa xác định rõ ràng mục tiêu trung gian nên trong thực tế, bêncạnh tổng phương tiện thanh toán (M2) đóng vai trò là mục tiêu trung gian, việcđiều hành các công cụ chính sách tiền tệ nhiều lúc hướng vào kiểm soát tíndụng, lãi suất thị trường và tỷ giá Với việc chính sách tiền tệ hướng vào nhiềumục tiêu trung gian như vậy, nhiều khi việc điều hành chính sách tiền tệ còn bịđộng, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ chưa cao, điều tiết thị trường khôngđạt được mục tiêu mong muốn

2.3- Ngân hàng Nhà nước chưa xác định rõ được cơ chế truyền dẫn các tác động của chính sách tiền tệ

Việc xác định rõ cơ chế truyền dẫn có ý nghĩa quan trọng trong quá trìnhđiều hành chính sách tiền tệ Cơ chế truyền dẫn rõ ràng cho phép NHNN có cácquyết sách đúng trong điều hành các công cụ chính sách tiền tệ để hướng tớimục tiêu mong muốn Trên thực tế, hiện nay NHNN chưa có những phân tíchlượng hóa cụ thể mức độ tác động của sự thay đổi cung tiền của NHNN đếnmục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ; và sự thay đổi cung tiền này có tácđộng ở mức độ nào đến tín dụng nền kinh tế, đến tổng phương tiện thanh toán,đến lãi suất hay tỷ giá Việc chưa xác định được cơ chế truyền dẫn đã hạn chếphần nào đến các quyết định của NHNN khi thị trường có những biến động

2.4- Hệ thống các tiêu chí tiền tệ của NHNN chưa thực sự rõ ràng

Tiêu chí chưa rõ ràng để truyền tải tác động của các quyết định chínhsách đến mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng củachính sách tiền tệ Cụ thể:

- Tác động của tổng phương tiện thanh toán (M2) đến các biến số củanền kinh tế chưa rõ ràng Diễn biến của tổng phương tiện thanh toán M2 với ýnghĩa là mục tiêu trung gian không phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế vàmức lạm phát NHNN không hoàn toàn chủ động trong việc kiểm soát M2, cũngnhư tốc độ tăng M2 thực tế;

- Tương quan giữa lượng tiền cung ứng và lạm phát ở Việt Nam cũngkhông rõ ràng Trên thực tế, chúng ta muốn kiểm soát lạm phát nhưng ngay cảviệc kiểm soát đối với lượng tiền cung ứng cũng khó khăn;

- Trong dự báo lượng tiền tác động đến tổng cung ứng tiền tệ (MS) và tíndụng nền kinh tế, NHNN coi tổng khối lượng tiền cơ bản (MB) là mục tiêu hoạt

Trang 10

động, song trong quá trình điều hành chỉ thực hiện điều tiết một số nhân tố tácđộng đến MB, chưa điều tiết toàn bộ MB Thực chất chỉ điều hành khối lượngtiền Chính phủ cho phép cung ứng trong năm, chưa điều hành mức tăng MB –lượng tiền thực sự cung ứng ra cho nền kinh tế (là lượng tiền tác động đến tăngtrưởng kinh tế, lạm phát và ổn định hệ thống).

2.5- Khả năng điều tiết các điều kiện thị trường như cung tiền, lãi suất còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, do NHNN chưa kiểm soát được toàn bộ các

luồng tiền tệ trong nền kinh tế như luồng ngoại tệ ra, vào đất nước, hoạt độngcho vay của các tổ chức tài chính khác, các khoản thu chi ngân sách và hoạtđộng ngân hàng của các tổ chức khác

2.6- Điều hành các công cụ chính sách tiền tệ chưa đạt hiệu quả cao do

việc lựa chọn, sử dụng, xác định chức năng cơ bản của từng công cụ chínhsách tiền tệ để điều hành phù hợp với mục tiêu hoạt động còn hạn chế Điềuhành cung ứng tiền còn bị động bởi việc cung ứng tiền cho các mục tiêu chỉđịnh của Chính phủ Việc lựa chọn lãi suất chủ đạo và xây dựng cơ chế điềuhành lãi suất còn đang ở giai đoạn tìm tòi, thử nghiệm

2.7- Việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN còn mang dấu ấn hành chính

Điều này được minh chứng rõ nhất thông qua các xử lý thắt chặt tiền tệ đểchống lạm phát trong những tháng đầu năm 2008, những tháng cuối năm 2010

và từ năm 2011 đến nay thông qua việc áp dụng các mức trần lãi suất huy động

và cho vay

2.8- Chính sách tiền tệ chủ yếu còn mang tính ngắn hạn

Mặc dù cũng có các kế hoạch hoạt động ngân hàng 5 năm, Chiến lượcphát triển ngân hàng tầm nhìn 10 năm, nhưng các định hướng dài hạn có tínhchiến lược thực sự về điều hành chính sách tiền tệ vẫn chưa được xây dựng mộtcách rõ ràng, khoa học trên cơ sở các phân tích định lượng do hệ thống thôngtin, cơ sở dữ liệu chưa hoàn thiện

3- Nguyên nhân của những hạn chế trong điều hành chính sách tiền tệ

3.1- Tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước với vai trò là Ngân hàng

Trung ương còn hạn chế

3.2- Thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu phát triển ở mức độ thấp, thiếu năng động, thiếu tính linh hoạt, chưa phản ánh được cung, cầu vốn, các

Trang 11

công cụ thị trường còn rất ít và sử dụng không hiệu quả nên hạn chế khả năngđiều tiết tiền tệ của NHNN thông qua các công cụ chính sách tiền tệ Thị trườngtiền tệ còn có sự phân tách, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngân hàng.Đồng thời, thái độ và khả năng liên kết hệ thống của các tổ chức tín dụng để

hỗ trợ nhau đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu, thậm chí một số ngân hànglợi dụng lúc khó khăn để cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao Vìvậy, vào một số thời điểm, vốn khả dụng xét trên toàn hệ thống dư thừa, vềnguyên tắc, NHNN cần thu hút tiền về, nhưng trên thực tế, NHNN vẫn phải hỗtrợ vốn cho một số tổ chức tín dụng để đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ Điều này

đã làm cho NHNN gặp khó khăn khi thực hiện vai trò điều tiết cuối cùng trênthị trường Nói cách khác, thị trường tiền tệ chưa đảm nhiệm có hiệu quả làphương tiện để NHNN điều chỉnh tổng lượng tiền tệ trong nền kinh tế, chưatạo ra khả năng thanh toán cho các doanh nghiệp, lãi suất trên thị trường tiền tệchưa thể sử dụng làm lãi suất tham khảo để định giá các tài sản nợ khác

Nguyên nhân của thực trạng trên là do hệ thống thông tin giữa các cơ quanquản lý nhà nước với nhau, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanhnghiệp còn nhiều bất cập, qua đó ảnh hưởng nhiều đến các quyết định chínhsách, đến điều tiết thị trường tiền tệ Cơ sở pháp lý cho các công cụ thị trườnghoạt động còn chưa được ban hành đầy đủ Thiếu các quy định để tăng cườngtính thanh khoản của các giấy tờ có giá và hạn chế các ngân hàng thương mạiphát hành các công cụ mới Trình độ quản trị của một số NHTM còn hạn chế.Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn thiếu các công cụ và những công cụ hiện

có cũng chưa hoàn chỉnh Thị trường trái phiếu Chính phủ chưa tạo được đườngcong lãi suất chuẩn để làm cơ sở xác định các mức lãi suất cho các tài sản tàichính khác

3.3- Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bước vào hội nhập còn hạn chế về khả năng quản trị rủi ro, quản lý tài sản có - tài sản nợ Các

NHTM đang trong giai đoạn cơ cấu lại, có sự chênh lệch lớn về qui mô, chấtlượng tài sản, năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh; khả năng thích ứngvới sự biến động của thị trường còn yếu, đã làm hạn chế hiệu quả điều hànhchính sách tiền tệ Các tổ chức tín dụng chưa thực sự quan tâm đến công tácquản lý thanh khoản, chưa sở hữu hoặc sở hữu không nhiều các giấy tờ có giálàm dự trữ thanh khoản, một số tổ chức tín dụng sử dụng vốn ngắn hạn thậm chívay vốn trên thị trường liên ngân hàng để cho vay nền kinh tế Vì vậy, khi thịtrường có biến động, các tổ chức tín dụng này dễ gặp khó khăn về thanh khoản

Trang 12

Trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa có sự luân chuyển vốn thông suốt, thựctrạng trên cũng làm hạn chế nhất định đến khả năng điều tiết tiền tệ của NHNNthông qua công cụ chính sách tiền tệ.

3.4- Năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng còn hạn chế, các tổ chức tín dung vẫn đang trong quá trình cơ cấu lại và triển khai dự án hiện đại hoá hệ thống thanh toán Việc quản lý vốn tập trung trực tuyến trong hệ

thống còn khó khăn Nhiều tổ chức tín dụng chưa thực hiện được việc theodõi, phân tích luồng luân chuyển vốn theo từng kỳ hạn, nên năng lực quản lývốn còn hạn chế Quản trị kinh doanh, khả năng thích ứng với sự biến động củathị trường còn nhiều bất cập; mục tiêu kinh doanh quá chú trọng về quy mô vàlợi nhuận, coi nhẹ và chưa chấp hành nghiêm túc các quy định đảm bảo cho antoàn thanh toán Các tổ chức tín dụng cổ phần mới chuyển từ địa bàn nông thônlên, có quy mô nhỏ, đội ngũ cán bộ chưa chuyên nghiệp, nhưng đặt mục tiêutăng trưởng kinh doanh vượt quá khả năng quản trị kinh doanh và chất lượngnguồn nhân lực, có nguy cơ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro về thanh khoản, gâybiến động trên thị trường tiền tệ

3.5- Nền kinh tế còn tình trạng đô la hóa, vàng hóa đã hạn chế tính hiệu quả của việc can thiệp vô hiệu của NHNN Khi luồng vốn nước ngoài

vào nhiều, vượt quá nhu cầu tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai, tạo một lượng lớn

dư cung ngoại tệ trên thị trường, NHNN đã tăng cường mua ngoại tệ để tăng dựtrữ ngoại hối nhà nước, điều này đồng nghĩa với việc đưa đồng nội tệ ra Năm

2007, khi dự trữ ngoại hối được tích lũy gấp hai lần so với mức dự trữ ngoại hốivào cuối năm 2006, NHNN đã thực hiện can thiệp vô hiệu thông qua thị trường

mở và đã trung hòa khoảng 90% lượng tiền đưa ra Tuy nhiên, số liệu tiền tệcho thấy, năm 2007, M2 vẫn tăng tới 46% và tín dụng tăng trên 50% so với cuốinăm 2006, điều này chứng tỏ khi nền kinh tế còn tình trạng đô la hóa thì khảnăng kiểm soát tiền tệ khó khăn hơn nhiều (hình 1)

Trang 13

Hình 1 Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát, 2000-2012

3.6- Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác chưa chặt chẽ, còn thiếu một hệ thống thông tin kết nối giữa bộ phận dự báo thị

trường và các Bộ, ngành khác Sự phối hợp với các Bộ, ngành để dự báo vềkinh tế vĩ mô, luồng vốn đầu tư nước ngoài làm chưa tốt Hệ thống thông tinphục vụ việc hoạch định chính sách còn yếu và chưa kịp thời Trong thời giangần đây, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành đã được cải thiện hơn nhưng vẫnchưa thực sự đồng bộ Sự hạn chế trong trao đổi thông tin giữa các Bộ, ngànhquản lý kinh tế vĩ mô như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Côngthương với NHNN có ảnh hưởng nhất định đến tính nhất quán giữa chínhsách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô, qua đó làm giảm hiệu quả điềuhành chính sách tiền tệ Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tại Việt Nam chưa đầy

đủ, chất lượng chưa đồng nhất

Tóm lại, cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tếthế giới, các luồng ngoại tệ chảy vào, ra khỏi Việt Nam từ hoạt động xuất, nhậpkhẩu, đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp biến động tương đối mạnh đãlàm cho việc điều hành chính sách tiền tệ trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi việc điềuhành chính sách phải ngày càng linh hoạt, phản ứng nhanh nhạy với sự biếnđộng của thị trường trong nước và quốc tế, đảm bảo ổn định tiền tệ, góp phầnkiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Ngày đăng: 16/10/2020, 16:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát, 2000-2012 - Tieu luan KT vĩ mô “Phân tích chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
Hình 1. Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát, 2000-2012 (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w