Định nghĩa Suy tuy xương là một tình trạng bệnh lý được đặc trưng bởi sự giảm sản hoặc bất sản tế bào tủy, dẫn đến giảm một, hai hoặc ba dòng máu ngoại vi.. Ông miêu tả một bệnh nhân là
Trang 1Giảm sinh tủy - Suy tủy xương (Aplastic anemia).
(Hãy luôn luôn tìm kiếm sự tư vấn của bác sĩ có trình độ với bất kỳ vấn đề y tế Không bao giờ bỏ qua lời khuyên chuyên môn hoặc chậm trễ trong việc tìm kiếm
nó Nếu nghĩ rằng có thể có vấn đề khẩn cấp, hãy gặp bác sỹ ngay lập tức).
Phần lớn bệnh nhân Fanconi không đáp ứng với ATG hay cyclosporin A, nhưng có đáp ứng tốt vối androgen Bệnh nhân tủ vong ở tuổi 10 - 20 tuổi khi suy tủy ngày càng nặng hoặc 10 % chuyển thành lơ xê mi
Định nghĩa
Suy tuy xương là một tình trạng bệnh lý được đặc trưng bởi sự giảm sản hoặc bất sản
tế bào tủy, dẫn đến giảm một, hai hoặc ba dòng máu ngoại vi
Lịch sử bệnh
Bệnh suy tủy xương được Paul Ehrlich mô tả đầu tiên vào năm 1888 Ông miêu tả một bệnh nhân là phụ nữ trẻ: sôt, thiếu máu đã chết vì thiếu máu, xét nghiệm máu cho thấy giảm hồng cầu và bạch cầu hạt trầm trọng
Việc khám nghiệm tử thi cho thấy tủy xương rất nhiều mỡ và rất nghèo tế bào, sau đó cái tên Alastic anemia đã được đặt cho căn bệnh này vào năm 1904 Trong suốt 30 năm tiếp theo đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh này Từ 1930 khi lấy được mẫu tủy lúc bệnh nhân còn sống vấn đề chẩn đoán không còn khó khăn Tuy nhiên, cơ chế bệnh sinh còn chưa rõ ràng
Tỷ lệ mắc bệnh
Tỷ lệ mắc giữa nam và nữ là 1, bệnh gặp ở tất cả các lứa tuổi nhưng chủ yếu ở tuổi từ
16 - 45, chiếm 76 % Một số nghiên cứu ở các nước phát triển đã cho thấy ở Thuỵ
Trang 2Điển 13/1 triệu dân trong 1 năm Pháp 1,5/1 triệu dân/năm Israel 8/1 triệu dân/năm
Mỹ 5 - 2/1 triệu dân/năm Tỷ lệ chung cho thấy tỷ lệ mắc bệnh suy tủy xương 0 các nưóc công nghiệp phát triển là 5 - 10/1 triệu dân/năm
Ở Việt Nam bệnh suy tủy xương đứng hàng thứ 3 trong các bệnh về máu và cơ quan tạo máu Sau lơ xê mi cấp và xuất huyết giảm tiểu cầu
Nguyên nhân sinh bệnh
Suy tủy xương bẩm sinh
Bệnh ít gặp, đại diện cho nhóm này là:
Bệnh Fanconi, do Fanconi miêu tả năm 1927 từ 3 anh em trong 1 gia đình Đây là bệnh di truyền lặn liên quan đến bất thường sắc tố da, người thấp, ngón cái bất thường, suy thận Gần đây các tác giả đã phát hiện đột biến gen đặc hiệu trong thiếu máu Fanconi nằm trên nhiễm sắc thể số 9
Tế bào tủy và số lượng hồng cầu bình thường cho đến 5 - 10 tuổi, sau đó tủy trở nên suy giảm
Phần lớn bệnh nhân Fanconi không đáp ứng với ATG hay cyclosporin A, nhưng có đáp ứng tốt vối androgen Bệnh nhân tủ vong ở tuổi 10 - 20 tuổi khi suy tủy ngày càng nặng hoặc 10 % chuyển thành lơ xê mi
Hội chứng Black Fan Diamond thường gặp ở trẻ có rối loạn dinh dưỡng
Suy tủy xương thứ phát
Do thuốc:
Trang 3Nhiều loại thuốc gây suy tủy xương nhưng nguyên nhân do dùng chloramphenicol là hay gặp nhất
Chloramphenicol là một nitrobenzen nó được giới thiệu vào năm 1948 và được sử dụng rộng rãi trong những năm 50 và 60
Nguy cơ bệnh suy tủy xương ở người được điều trị bằng chloramphenicol là 1/200000 dân cao hơn 10 - 50 lần ở người dân bình thường
Thuốc phòng sốt rét: quinacrin (Atbrine) đã được dùng cho binh lính Mỹ ở chiến trường Nam Thái Bình Dương và châu Á từ năm 1943 - 1994 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh của binh lính Mỹ ở vùng này là rất cao 7-28 ngưòi/1 triệu dân/năm
Thuốc chống ung thư như cyclophosphamid, vincristin, 6MP, methotrexat v.v Đều gây giảm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu, gây suy tủy
Thuốc chống viêm non steroid cũng gây suy tủy xương đặc biệt là muối vàng
Một số thuốc chống lao
Thuốc đái tháo đường
Thuốc chống động kinh, co giật
Do hoá chất:
Benzen là chất đầu tiên có liên quan đên bệnh suy tủy xương, mặc dù biết đây là chất độc nhưng benzen vẫn được sử dụng rộng rãi như là một dung môi Đây là hoá chất không thể thiếu được trong sản xuất hàng da, cao su và được sử dụng rộng rãi trong ngành đóng giầy, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh suy tủy xương của công nhân ngành công nghiệp này là rất cao ở Trung Quốíc nơi mà benzen vẫn được sử dụng rộng rãi trong
Trang 4công nghiệp Tỷ lệ nhiễm độc benzen ở các công nhân là 0,5 %, tỷ lệ công nhân bị suy tủy xương cao hơn 6 lần so với dân số toàn quốc
Thuốc trừ sâu DDT cũng có liên quan tối bệnh suy tủy xương
TNT một loại chất nổ được sử dụng trong chiến tranh Một số công nhân tải đạn trong chiến tranh thế giới thứ I và II cũng bị nhiễm qua da và đường hô hấp, đã chết vì bệnh suy tủy xương
Thuốc bảo vệ gỗ ( Lindame) được hòa với PCP (pentachlorophenol) một chất
hydrocarbon bị oxy hoá được sản xuất để bảo vệ gỗ: thuốc này cũng gây ra bệnh suy tủy xương
Thạch tín vô cơ
Chì
Phóng xạ:
Nhiễm xạ liên tục với liều lượng lón sẽ dẫn đến bệnh nhân bị suy tủy xương hoặc lơ xê mi
Tổng số nhiễm vào cơ thể từ 100 - 250 rad (1 - 2,56 GY ) sẽ dẫn đến hội chứng dạ dày ruột non nhưng phần lốn đều hồi phục Với liều lượng 4,5 GY sẽ gây nên suy tủy xương
Do nhiễm trùng:
Một số nhiễm trùng nặng hoặc nhiễm trùng huyết cũng có thể gây suy tủy xương cấp, bệnh nhân thường rất nặng có thể tử vong trong vài tuần đầu
Trang 5Lao, suy thận cũng gây nên suy tủy thứ phát.
Do nhiễm virus:
Một mối quan hệ nổi bật giữa bệnh viêm gan và sự phát triển tiếp theo của bệnh suy tủy xương đang là chủ đề của một số nghiên cứu Trong nhiều trường hợp bệnh nhân
bị viêm gan đã ổn định thì sau 4-12 tuần người ta phát hiện ra bệnh suy tủy xương Khoảng 10% các ca suy tủy xương xảy ra sau 1 năm bị viêm gan Trên thực nghiệm virus viêm gan có thể gây hoạt hoá các tế bào T độc đế giải phóng các cytokin có tác dụng ức chế quá trình tạo máu ở tủy xương
Virus Epstein - Barr đã bị coi là nguyên nhân gây bệnh suy tủy xương Bệnh thường xuất hiện ngay sau 4 - 6 tuần bị nhiễm virus Virus E-B được phát hiện trong tế bào tủy nhưng chưa biết chắc chắn có phải suy tủy là do ảnh hưởng trực tiếp hay chỉ là phản ứng miễn dịch của chủ Một số bệnh nhân đã phục hồi sau khi điều trị vối ATG (Anti thymocyte globumin)
B 19 parvovirus gây suy dòng hồng cầu, giảm hồng cầu lưới Bệnh sinh của parvovirus
B 19: Trong nhiễm virus các biểu hiện của bệnh phụ thuộc vào cân bằng giữa virus và
tế bào đích ở tủy xương Parvovirus B 19 xâm nhập vào tế bào hồng cầu và nhân lên trong tế bào gây phá vỡ hồng cầu Điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch bệnh ổn định
Bệnh nhân nhiễm HIV một số cũng thấy bị suy tủy xương, ở những bệnh nhân này tế bào tủy nghèo có thể là do sự ngăn chặn tạo máu của virus và do sử dụng nhiều loại thuốc để kiểm soát sự nhân đôi của virus
Các nguyên nhân khác:
Do viêm khớp: bình thường bệnh nhân viêm khớp không liên quan đến suy tủy xương, một nghiên cứu gần đây ở Pháp cho thấy tỷ lệ mắc bệnh suy tủy xương ở bệnh nhân viêm khớp cao gấp 7 lần bình thường Điều không chắc chắn là bệnh suy tủy xương có
Trang 6liên quan trực tiếp đến viêm khớp hay liên quan đến những thuốc sử dụng điều trị viêm khớp
Suy tủy ở người có thai: Thường gặp ở phụ nữ đang mang thai tháng thứ 4 hoặc tháng sắp đẻ, cơ chế chưa rõ ràng, thường bệnh nhân lặp lại trong những lần mang thai sau
Phá thai có thể cải thiện được chức năng sinh máu của tủy Phương pháp điều trị bao gồm lựa chọn phá thai sớm, chăm sóc hỗ trợ, điều trị ức chế miễn dịch hoặc ghép tủy sau sinh
Suy tủy ở người có tuyến ức to
Suy tủy ở người có tuyến giáp to, sau khi cắt bướu tuyến giáp thì hết suy tủy Bệnh thường gặp ở nữ giới tuổi trung niên
Đái huyết sắc tố niệu ban đêm: do màng hồng cầu rất nhậy với bổ thể dễ gây nên tan huyết, bệnh xếp vào tan máu nhưng hiện nay người ta cũng tìm thấy tổn thương tế bào gốc và có biến chứng suy tủy xương
Cơ chế bệnh sinh
Cho đến nay, cơ chế bệnh sinh còn chưa rõ ràng, khó có thể xác định cơ chế sinh thiếu máu bất sản cho từng bệnh nhân Tuy nhiên, bằng thực nghiệm người ta đã đưa ra một
số giả thuyêt như sau:
Bất thường về số lượng hoặc chất lượng tế bào gốc vạn năng
Số lượng tế bào gốc rất hạn chế ( 9,8 X 106 - 2,6 x 107 trên 1 người nặng 70kg)
Tổn thương tế bào gốc do virus độc tố, hoá chất hoặc các rối loạn di truyền có thể dẫn tới giảm số lượng tế bào gốc hoặc đột biến tạo các clon tế bào gốc kém phát triển
Trang 7Bất thường vi môi trường tạo máu và các yếu tố tăng trưởng
Các thực nghiệm trên động vật cho thấy vi môi trường tạo máu có vai trò quan trọng trong sinh máu Các yếu tố tạo nên vi môi trường tạo máu ở tủy xương thường do các
tế bào đệm giúp phát triển điều hòa sinh máu
Tia phóng xạ có thể gây tổn thương các tế bào đệm, hậu quả sẽ dẫn đến giảm hoặc mất các yếu tốtăng trưởng
Thiếu các chất kích thích sinh máu như IL3, GM - CFS, erythropoietin sẽ dẫn đến giảm số lượng tế bào máu
Ức chế tạo máu do cơ chế miễn dịch
Hiện nay nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này
Năm 1970 Mathé.G là người đầu tiên đưa ra giả thuyết về miễn dịch trong suy tủy xương
Trên môi trường nuôi cấy tế bào, các tác giả thấy quá trình tạo máu chỉ diễn ra khi tách các tế bào lympho ra khỏi môi trường nuôi cấy, nếu thểm huyết thanh kháng lympho vào thì quá trình tạo máu được cải thiện rõ ràng Bằng thực nghiệm các tác giả đã chứng minh được tế bào lympho T độc có vai trò ức chế quá trình tạo máu ở bệnh nhân suy tủy xương IFNy và TCD8 hoạt hoá tăng ở bệnh nhân suy tủy xương IFNy
do TCD8 hoạt hoá tiết ra cũng được coi là chất ức chế tế bào tạo cụm IFNy có thể tác động trực tiếp đến tế bào tạo máu hoặc thông qua hệ thông miễn dịch
Chẩn đoán xác định
Triệu chứng lâm sàng
Trang 8Giai đoạn khởi phát:
Bệnh nhân thường có biểu hiện mệt, hoa mắt chóng mặt Da xanh, niêm mạc nhợt Các biểu hiện thiếu máu diễn ra từ từ, bệnh nhân thường thích nghi vối tình trạng thiếu máu
Giai đoạn toàn phát:
100% bệnh nhân có hội chứng thiếu máu:
+ Da xanh
+ Niêm mạc nhợt
+ Lòng bàn tay trắng bệch
+ Móng tay nhợt có khía, dễ gãy
+ Hồi hộp, đánh trông ngực, hoa mắt chóng mặt
+ Nhịp tim nhanh, có tiếng thổi tâm thu cơ năng
+ Nếu tình trạng thiếu máu nặng bệnh nhân có thể ngã ngất xỉu khi gắng sức
Hội chứng xuất huyết:
34,74% bệnh nhân đến viện có hội chứng xuất huyết Đặc điểm xuất huyết giống như trong xuất huyết do giảm tiểu cầu nhưng không rầm rộ như trong xuất huyết giảm tiểu cầu Tuỳ theo mức độ tiểu cầu giảm mà bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết dưới da, niêm mạc, có thể xuất huyết đường tiêu hoá, xuất huyết não, màng não v.v Đôi khi
Trang 9tiểu cầu giảm dưới 10 X 109/lít, bệnh nhân vẫn không có xuất huyết.
Hội chứng nhiễm khuẩn:
17,7% bệnh nhân đến viện có hội chứng nhiễm trùng: bệnh nhân thường sốt cao 39° - 40°c, thường gặp nhất là viêm lợi, viêm mũi họng, viêm phê quản, viêm da Trong một
số trường hợp có nhiễm trùng máu
Trong suy tủy xương gan không to, lách không to, hạch không to
Xét nghiệm
Công thức máu
Số lượng hồng cầu giảm, thường giảm nặng
Dưới: 1 x 10 12/ lít có 40% bệnh nhân
1 - 2 x 10 12/ lít có 48,8% bệnh nhân
2 – 3 x 10 12/ lít có 11% bệnh nhân
Số lượng bạch cầu giảm, đặc biệt công thức bạch cầu đảo ngược, bạch cầu đoạn trung tính giảm, tỷ lệ lymphocyt tăng
Dưới 4 x 10 9/ lít có 78,89% bệnh nhân
4 - 5 x 10 9/ lít có 26,67% bệnh nhân
Trên 5 x 10 9/lít có 4,44% bệnh nhân
Trang 10Số lượng tiểu cầu giảm nặng.
Dưới 80 x 10 9/lít có 75,55%
80 - 150 x 10 9/lít có 22,22%
Trên 150 x 10 9/lit có 4,44%
Hồng cầu lưới ở máu ngoại vi giảm dưới 1 % có 91,15 % bệnh nhân
Trên 1% có 8,85% bệnh nhân
Nhận định công thức máu ngoại vi chúng ta thấy số lượng hồng cầu giảm nặng, số lượng bạch cầu giảm, đặc biệt là số lượng bạch cầu hạt trung tính giảm rất nặng Số lượng tiểu cầu giảm nặng, có trường hợp tiểu cầu giảm dưới 10 X 109/lít Tuy nhiên
có một số bệnh nhân đến viện trong tình trạng chỉ giảm một dòng hồng cầu, dòng bạch cầu và tiểu cầu bình thường Điều đó nói lên suy tủy một dòng, hay suy tủy xương toàn bộ
Xét nghiệm tủy đồ
Tủy nghèo tế bào, còn lại rất thưa thớt tế bào và chủ yếu là lymphocyt, rất ít các tế bào trung gian
Số lượng tế bào tủy giảm, nhiều trường hợp giảm dưỏi 10 x 10 9/ lít
Dưới 30 x 10 9/ lít có 96,55% bệnh nhân
Hồng cầu lưới trong tủy giảm
Xét nghiệm sinh thiết tủy xương
Trang 11Đây là xét nghiệm quyết định cho chẩn đoán.
Tủy mỡ hoá 85 - 90% số bệnh nhân
Tủy xơ hoá 5% số bệnh nhân
Tủy xơ phôi hợp mỡ hoá 5 %
Chủ yếu là suy tủy xương mỡ hoá
Định lượng sắt huyết thanh
Trong suy tủy xương tốc độ sắt 59 (Fe++ 59) ròi huyết tương chậm và hệ số sử dụng sắt của hồng cầu thấp
Sắt huyết thanh tăng trong máu, có hai lý do:
+ Do không sử dụng sắt để tạo hồng cầu
+ Do truyền máu nhiều lần
Tỷ lệ TCD4 / TCD8 < 1
Làm các chức năng gan, thận v.v Để tìm nguyên nhân có liên quan
Chẩn đoán phân biệt
Thiếu máu do giun móc
Thường gặp ở phụ nữ làm ruộng hoặc trồng cây có sử dụng phân tươi
Trang 12Bệ/ih nhân có hội chứng thiếu máu, không có hội chứng chảy máu, không nhiễm trùng
Xét nghiệm giảm một dòng hồng cầu, thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ Bạch cầu và tiểu cầu bình thường
Công thức bạch cầu bình thường
Xét nghiệm phân có trứng giun móc trong phân
Sắt huyết thanh giảm
Cường lách trong hội chứng Banti
Bệnh nhân có hội chứng thiếu máu
Có lách to
Có thể có cổ chướng, có tuần hoàn bàng hệ
Xét nghiệm: giảm nhẹ 3 dòng máu ngoại vi
Tủy đồ bình thưòng hoặc giảm sinh nhẹ
Lơxêmi cấp thể giảm bạch cầu
Bệnh thường diễn biến cấp tính trong một đến vài tuần.Có hội chứng thiếu máu, sốt, gầy sút nhanh, đau xương Có thể có hạch to, gan lách to
Xét nghiệm máu ngoại vi giảm cả 3 dòng, nhưng khi làm xét nghiệm tủy đồ tủy giàu tế
Trang 13bào, có tế bào non ác tính tăng ở trong tủy xương.
Xuất huyết giảm tiểu cẩu
Thường trên lâm sàng dễ nhầm với suy tủy xương khi bệnh nhân bị chảy máu nhiều nơi, mất nhiều máu
Xét nghiệm máu ngoại vi giảm dòng hồng cầu và tiểu cầu
Bạch cầu bình thường hoặc tăng, công thức bạch cầu bình thường
Xét nghiệm tủy đồ: tủy tế bào, giàu mẫu tiểu cầu
Chẩn đoán thể bệnh
Thể bệnh theo lâm sàng
Thể cấp tính:
Bệnh diễn biến nhanh tiến triển nặng và có thể tử vong trong 1 vài tuần đến 2 tháng kể
từ khi phát hiện bệnh
Nguyên nhân tử vong do chảy máu não, màng não hoặc nhiễm trùng
Thể mạn tính:
Bệnh diễn biến từ từ kéo dài nhiều năm Điều trị liên tục bệnh có thể kéo dài 5 - 7 năm
và có nhiều bệnh nhân phục hồi hoàn toàn
Thể bệnh theo tế bào học
Suy tủy xương toàn bộ:
Trang 14Giảm cả 3 dòng máu ngoại vi.
Thể này chiếm 93,35%
Suy tủy xuơng một dòng:
Có tỷ lệ 2,22%
Suy tủy xuơng hai dòng:
Có tỷ lệ 4,44%
Thể bệnh theo tổ chức học
Theo tổ chức học trong tủy xương chủ yếu là mỡ hoá Thực tế ở Viện Huyết học - Truyền máu gặp:
Tủy mỡ hoá chiếm 85 - 90%
Tủy xơ hoá chiếm 5%
Tủy xơ + mỡ hoá chiếm 5 %
Theo nguyên nhân
Do bẩm sinh
Do mắc phải
Trang 15+ Có nguyên nhân chiếm 5 - 10 %.
+ Không rõ nguyên nhân chiếm 90%
Tiên lượng bệnh
Trước năm 80 bệnh có tỷ lệ tử vong cao, tiên lượng nặng Trong nhiều năm gần đây việc điều trị suy tủy xương có nhiều tiên bộ và nhiều bệnh nhân đã được kéo dài cuộc sống trên 5 năm và có một số bệnh nhân phục hồi hoàn toàn
Bệnh nhân thường diễn biến nặng, có nguy cơ tử vong vì chảy máu não, màng não hoặc nhiễm trùng khi:
Hồng cầu dưới 1 x 10 12 / lít
Bạch cầu dưới 1 x 10 9 / lít
Tiểu cầu dưới 10 x 10 9 / lít
Tế bào tủy dưối 10 x 10 9 / lít
Điều trị
Suy tủy xương là một bệnh cơ chế bệnh sinh chưa rõ ràng, do vậy còn có nhiều
phương pháp điều trị khác nhau Ngày nay, bằng nhiều hiểu biết mới về suy tủy xương người ta điều trị đạt kết quả tốt ở một số bệnh nhân
Điều trị bằng ức chế miễn dịch
Cổ điển dùng corticoid: