1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

tài liệu về SUY TIM

28 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 315,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cung lượng tim phụ thuộc vào 4 yếu tố chính: tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp của cơ tim và tần số tim Đứng về mặt sinh lý bệnh, trong suy tim có 2 hậu quả chính về phương diện huyết động

Trang 1

Cung lượng tim thường bị giảm trong suy tim Khi cung lượng tim bị giảm xuống thì

cơ thể phản ứng lại bằng các cơ chế bù trừ của tim và của các hệ thống ngoài tim, để

cố duy trì cung lượng này Nhưng khi các cơ chế bù trừ này bị vượt quá sẽ xảy ra suy tim với nhiều hậu quả của nó

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới cung lượng tim

Cung lượng tim phụ thuộc vào 4 yếu tố chính: tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp của cơ tim và tần số tim

Đứng về mặt sinh lý bệnh, trong suy tim có 2 hậu quả chính về phương diện huyết động:

É Cung lượng tim bị giảm: máu ra các cơ quan ngoại biên giảm

É Áp lực tĩnh mạch ngoại biên tăng cao: máu ứ trệ nhiều ở các phủ tạng

Tiền gánh (Preload)

Tiền gánh được đánh giá bằng thể tích hoặc áp lực cuối tâm trương của tâm thất

Tiền gánh là yếu tố quyết định mức độ kéo dài sợi cơ tim trong thời kỳ tâm trương, trước lúc tâm thất co bóp Tiền gánh phụ thuộc vào:

É Áp lực đổ đầy thất, tức là lượng máu tĩnh mạch trở về tâm thất

É Độ giãn của tâm thất, nhưng ở mức độ ít quan trọng hơn

Sức co bóp của cơ tim

Trang 2

Trước đây bằng thực nghiệm nổi tiếng của mình, Starling đã cho ta hiểu rõ được mối tương quan giữa áp lực hoặc thể tích cuối tâm trương trong tâm thất với thể tích nhát bóp Cụ thể là:

É Khi áp lực hoặc thể tích cuối tâm trương trong tâm thất tăng, thì sẽ làm tăng sức co bóp của cơ tim và thể tích nhát bóp sẽ tăng lên

É Nhưng đến một mức nào đó, thì dù áp lực hoặc thể tích cuối tâm trương của tâm thất có tiếp tục tăng lên đi nữa, thì thể tích nhát bóp sẽ không tăng tương ứng mà thậm chí còn bị giảm đi

Qua đây ta có thể hiểu được một vấn đề quan trọng trong suy tim là: áp lực hoặc thể tích cuối tâm trương trong tâm thất tăng do các nguyên nhân khác nhau, sẽ làm thể tích nhát bóp tăng, nhưng sau một thời gian sẽ dẫn đến suy tim vì sức co bóp của cơ tim kém dần và khi đó thể tích nhát bóp sẽ giảm đi Tim càng suy thì thể tích nhát bóp càng giảm

Tần số tim

Trong suy tim, lúc đầu nhịp tim tăng lên, sẽ có tác dụng bù trừ tốt cho tình trạng giảm thể tích nhát bóp và qua đó sẽ duy trì được cung lượng tim Nhưng nếu nhịp tim tăng quá nhiều thì nhu cầu oxy của cơ tim sẽ lại tăng lên, công của cơ tim cũng phải tăng cao và hậu quả là tim sẽ càng bị suy yếu đi một cách nhanh chóng

2.2 Các cơ chế bù trừ trong suy tim

Cơ chế bù trừ tại tim

Giãn tâm thất: Giãn tâm thất chính là cơ chế thích ứng đầu tiên để tránh quá tăng áp lực cuối tâm trương của tâm thất Khi tâm thất giãn ra, sẽ làm kéo dài các sợi cơ tim và theo luật Starling, sẽ làm tăng sức co bóp của các sợi cơ tim nếu dự trữ co cơ vẫn còn

Trang 3

Phì đại tâm thất: Tim cũng có thể thích ứng bằng cách tăng bề dày các thành tim, nhất

là trong trường hợp tăng áp lực ở các buồng tim Việc tăng bề dày của các thành tim chủ yếu là để đối phó với tình trạng tăng hậu gánh Ta biết rằng khi hậu gánh tăng sẽ làm giảm thể tích tống máu, do đó để bù lại cơ tim phải tăng bề dày lên

Hệ thần kinh giao cảm được kích thích: Khi có suy tim, hệ thần kinh giao cảm được kích thích, lượng Catecholamin từ đầu tận cùng của các sợi giao cảm hậu hạch được tiết ra nhiều làm tăng sức co bóp của cơ tim và tăng tần số tim

Bằng ba cơ chế thích ứng này cung lượng tim sẽ được điều chỉnh lại gần với mức bình thường Tuy nhiên các cơ chế này cũng chỉ có thể giải quyết trong một chừng mực nào

đó mà thôi Thực vậy, nếu tâm thất đã giãn đến mức tối đa và dự trữ co cơ bị giảm thì luật Starling sẽ trở nên rất ít hiệu lực Cũng tương tự như vậy, phì đại các thành tim sẽ làm tăng công của tim Hệ thần kinh giao cảm bị kích thích lâu ngày cũng sẽ dẫn đến giảm mật độ cảm thụ beta trong các sợi cơ tim và giảm dần đáp ứng với Catecholamin

Cơ chế bù trừ ngoài tim

Trong suy tim, để đối phó với việc giảm cung lượng tim, hệ thống mạch máu ở ngoại

vi được co lại để tăng cường thể tích tuần hoàn hữu ích Cụ thể có ba hệ thống co mạch ngoại vi được huy động

É Hệ thống thần kinh giao cảm: Cường giao cảm sẽ làm co mạch ngoại vi ở da, thận

và về sau ở khu vực các tạng trong ổ bụng và ở các cơ

É Hệ Renin-Angiotensin-Aldosteron: Việc tăng cường hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm và giảm tưới máu thận (do co mạch) sẽ làm tăng nồng độ Renin trong máu Renin sẽ hoạt hóa Angiotensinogen và các phản ứng tiếp theo để tăng tổng hợp Angiotensin II Chính Angiotensin II là một chất gây co mạch rất mạnh, đóng thời

nó lại tham gia vào kích thích sinh tổng hợp và giải phóng Nor-adrenalin ở đầu tận cùng các sợi thần kinh giao cảm hậu hạch và Adrenalin từ tủy thượng thận Cũng chính Angiotensin II còn kích thích vỏ thượng thận tiết ra Aldosteron, từ đó làm tăng tái hấp thu Natri và nước ở ống thận

É Hệ Arginin-Vasopressin: Trong suy tim ở giai đoạn muộn hơn, vùng dưới đồi - tuyến yên được kích thích để tiết ra Arginin - Vasopressin, làm tăng thêm tác dụng

co mạch ngoại vi của Angiotensin II, đồng thời làm tăng tái hấp thu nước ở ống thận

Trang 4

Cả 3 hệ thống co mạch này đều nhằm mục đích duy trì cung lượng tim, nhưng lâu ngày chúng lại làm tăng tiền gánh và hậu gánh, tăng ứ nước và Natri, tăng công và mức tiêu thụ oxy của cơ tim, tạo nên một "vòng luẩn quẩn" bệnh lý và làm cho suy tim ngày một nặng hơn

Ngoài ra, trong suy tim, nhằm cố gắng bù đắp lại việc co mạch khu trú hay toàn bộ nói trên, các hệ thống giãn mạch với Bradykinin, các Prostaglandin (PGI2 , PGE2) và Yếu

tố peptid tăng đào thải Natri (Natriuretic Peptid, viết tắt là các NP) Các yếu tố này đóng vai trò khiêm tốn trong quá trình suy tim Trong số các peptid tăng thải natri có hai loại quan trọng được biết đến trong lâm sàng đó là ANP (yếu tố thải natri có nguồn gốc từ nhĩ) và BNP (yếu tố tăng thải natri có nguồn gốc từ não) Thực tế là BNP lại chủ yếu được tiết ra từ tâm thất của tim và xuất hiện khá sớm khi tim bị suy Hiện nay, xét nghiệm đánh giá BNP và các dẫn xuất của nó có giá trị quan trọng trong sàng lọc bệnh nhân suy tim cũng như tiên lượng bệnh và theo dõi kết quả điều trị

2.3 Hậu quả của suy tim

Khi các cơ chế bù trừ (cơ chế thích ứng) nói trên bị vượt quá thì sẽ xảy ra suy tim với các hậu quả như sau:

Giảm cung lượng tim

Cung lượng tim giảm sẽ gây:

É Giảm vận chuyển oxy trong máu và giảm cung cấp oxy cho các tổ chức ngoại vi

É Có sự phân phối lại lưu lượng máu đến các cơ quan trong cơ thể: lưu lượng máu giảm bớt ở da, ở các cơ, ở thận và cuối cùng ở một số tạng khác để ưu tiên máu cho não và động mạch vành

É Nếu cung lượng tim rất thấp thì lưu lượng nước tiểu được lọc ra khỏi ống thận cũng sẽ rất ít

Tăng áp lực tĩnh mạch ngoại vi

Suy tim phải: Tăng áp lực cuối tâm trương ở thất phải sẽ làm tăng áp lực ở nhĩ phải rồi

từ đó làm tăng áp lực ở các tĩnh mạch ngoại vi và làm cho tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phù, tím tái

Suy tim trái: Tăng áp lực cuối tâm trương ở thất trái sẽ làm tăng áp lực nhĩ trái, rồi tiếp đến làm tăng áp lực ở tĩnh mạch phổi và mao mạch phổi Khi máu ứ căng ở các mao

Trang 5

mạch phổi sẽ làm thể tích khí ở các phế nang bị giảm xuống, sự trao đổi oxy ở phổi sẽ kém đi làm bệnh nhân khó thở Đặc biệt khi áp lực mao mạch phổi tăng đến một mức nào đó sẽ phá vỡ hàng rào phế nang - mao mạch phổi và huyết tương sẽ có thể tràn vào các phế nang, gây ra hiện tượng phù phổi

3 Phân loại và nguyên nhân

3.1 Phân loại

Có thể có nhiều cách phân loại suy tim khác nhau, dựa trên cơ sở:

É Hình thái định khu: Suy tim phải, suy tim trái và suy tim toàn bộ

É Tình trạng tiến triển: Suy tim cấp và suy tim mạn tính

É Lưu lượng tim: Suy tim giảm lưu lượng và suy tim tăng lưu lượng

É Suy tim tâm thu và suy tim tâm trương

Trang 6

Tuy nhiên, trên lâm sàng người ta thường hay chia ra ba loại: suy tim trái, suy tim phải

và suy tim toàn bộ

3.2 Nguyên nhân suy tim

Suy tim trái

Tăng huyết áp động mạch: là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra suy tim trái Chính tăng huyết áp đã làm cản trở sự tống máu của thất trái tức là làm tăng hậu gánh

Các bệnh van tim

É Hở hay hẹp van động mạch chủ đơn thuần hoặc phối hợp với nhau

É Hở van hai lá

Các tổn thương cơ tim

É Nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim cục bộ

É Viêm cơ tim do thấp tim, nhiễm độc hay nhiễm khuẩn

Suy tim phải

Trang 7

Suy tim trái lâu ngày sẽ dẫn đến suy tim phải, đây có lẽ là nguyên nhân khá thường gặp

Các nguyên nhân về phổi và dị dạng lồng ngực, cột sống

É Các bệnh phổi mạn tính: Hen phế quản, viêm phế quản mạn, giãn phế nang, giãn phế quản, xơ phổi, bệnh bụi phổi dần dần đưa đến bệnh cảnh của tâm phế mạn

É Nhồi máu phổi gây ra bệnh cảnh tâm phế cấp

É Tăng áp lực động mạch phổi tiên phát

É Gù vẹo cột sống, các dị dạng lồng ngực khác

Các nguyên nhân tim mạch

É Hẹp van hai lá là nguyên nhân thường gặp nhất ở các nước đang phát triển

É Một số bệnh tim bẩm sinh: hẹp động mạch phổi, tam chứng Fallot Một số bệnh tim bẩm sinh khác có luồng shunt trái phải (thông liên nhĩ, thông liên thất vv ) đến giai đoạn muộn sẽ có biến chứng của tăng áp động mạch phổi và gây suy tim phải

É Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn gây tổn thương nặng ở van ba lá

É Một số nguyên nhân ít gặp: u nhầy nhĩ trái, vỡ túi phình xoang Valsalva vào các buồng tim bên phải, tăng áp lực động mạch phổi tiên phát vv

Trường hợp tràn dịch màng ngoài tim hoặc viêm màng ngoài tim co thắt sẽ có biểu hiện giống như suy tim phải, nhưng thực chất đó chỉ là những trường hợp thiểu năng tâm trương chứ không phải suy tim phải theo đúng nghĩa của nó

Suy tim toàn bộ

Thường gặp nhất là các trường hợp suy tim trái tiến triển thành suy tim toàn bộ

Các bệnh cơ tim giãn

Viêm tim toàn bộ do thấp tim, viêm cơ tim

Cuối cùng cần phải nhắc đến một số nguyên nhân đặc biệt gây suy tim toàn bộ với

"lưu lượng tăng":

É Cường giáp trạng: gây loạn nhịp nhanh và rung nhĩ (10% các BN)

É Nhược giáp nặng gây giảm cung lượng tim và suy tim

É Thiếu Vitamin B1 (gặp ở người suy DD, nghiện rượu): gây giảm cung lượng tim gây phù, giãn mạch ngoại biên, sung huyết phổi

É Thiếu máu nặng: thiếu máu cấp gây suy tim cung lượng giảm, thiếu máu mạn lâu ngày gây suy tim cung lượng tăng (các thiều máu mạn mức độ TB ít gây suy tim

Trang 8

É Dò động - tĩnh mạch (thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch)

4 Triệu chứng

4.1 Suy tim trái

4.1.1 Triệu chứng cơ năng

Khó thở: Là triệu chứng hay gặp nhất Lúc đầu chỉ khó thở khi gắng sức, về sau khó thở xảy ra thường xuyên, bệnh nhân nằm cũng khó thở nên thường phải ngồi dậy để thở Diễn biến và mức độ khó thở cũng rất khác nhau: có khi khó thở một cách dần dần, nhưng nhiều khi đến đột ngột, dữ dội như trong cơn hen tim hay phù phổi cấp Ho: Hay xảy ra vào ban đêm hoặc khi bệnh nhân gắng sức Thường là ho khan nhưng cũng có khi ho ra đờm lẫn ít máu

Đánh giá mức độ suy tim dựa vào triệu chứng cơ năng của NYHA (New York Heart Association):

É GĐ1: BN có bệnh tim nhưng không có triệu chứng cơ năng nào cả, vẫn sinh hoạt

và hoạt động thể lực gần như bình thường

É GĐ2: Các triệu chứng cơ năng chỉ xuất hiện khi gắng sức BN có giảm nhẹ các hoạt động về thể lực

É GĐ3: Các triệu chứng cơ năng xuất hiện cả khi gắng sức rất ít làm hạn chế nhiều các hoạt động thể lực

É GĐ4: Các triệu chứng cơ năng tồn tại một cách thường xuyên, kể cả khi BN hoàn toàn nghỉ ngơi

É Có thể nghe thấy tiếng ngựa phi

É Cũng thường nghe thấy một tiếng thổi tâm thu nhẹ ở mỏm, dấu hiệu của hở van hai lá cơ năng vì buồng thất trái giãn to

Khám phổi: thường thấy ran ẩm rải rác hai bên đáy phổi Trong trường hợp cơn hen tim có thể nghe được nhiều ran rít và ran ẩm ở hai phổi, còn trong trường hợp phù phổi

Trang 9

cấp sẽ nghe thấy rất nhiều ran ẩm to, nhỏ hạt dâng nhanh từ hai đáy phổi lên khắp hai phế trường như "thủy triều dâng"

Huyết áp: trong đa số các trường hợp HA tối đa thường bị giảm, HA tối thiểu bình thường nên số HA chênh lệch thường bị thu ngắn lại

4.1.3 Các xét nghiệm chẩn đoán

Xét nghiệm Pro BNP (B-type natriuretic peptide)

Xét nghiệm BNP và các dẫn xuất: trong thực tế, khi suy tim, sẽ tiết ra pro-BNP và chuyến hóa ra NT-proBNP và BNP (BNP được tạo ra bởi các tế bào cơ tim, để đáp ứng với tình trạng quá tải của tâm thất về thể tích hoặc áp lực (tăng áp lực đổ đầy)) Xét nghiệm cả hai chất BNP hoặc NT-pro BNP đều có giá trị trong suy tim Tuy vậy, NT-proBNP có độ bền vững hơn BNP Trong suy tim, các dẫn xuất này xuất hiện khá sớm, đôi khi trước cả triệu chứng lâm sàng và khá nhạy Giá trị của BNP thay đổi theo tuổi, nếu BNP > 100 pg/ml; NT-proBNP > 125 pg/ml ở bệnh nhân nhỏ hơn 75 tuổi và

> 140 pg/ml ở bệnh nhân lớn hơn 75 tuổi thì coi là tăng Vai trò của xét nghiệm các

NP ngày càng được đề cập đến và có nhiều ứng dụng trong lâm sàng:

É Sàng lọc bệnh nhân suy tim: có giá trị sàng lọc sớm bệnh nhân có tổn thương tim nhưng chưa rõ triệu chứng (ví dụ ở bệnh nhân sau NMCT, THA…)

É Chẩn đoán loại trừ nguyên nhân khó thở cấp: thường gặp ở khoa cấp cứu cần loại trừ nhanh khó thở là do nguyên nhân suy tim hay do bệnh phổi Xét nghiệm BNP có giá trị chẩn đoán loại trừ, giá trị dự báo âm tính của nó trên 90% Tuy nhiên, BNP

có thể chưa tăng rõ ở bệnh nhân phù phổi cấp huyết động trong một vài giờ đầu

É Theo dõi điều trị suy tim: nồng độ các BNP này sẽ giảm tương ứng với mức cải thiện triệu chứng và chức năng ở bệnh nhân suy tim Các biến đổi BNP thường xuất hiện sớm và có giá trị dự báo kết quả điều trị

É Giá trị tiên lượng bệnh: ở những bệnh nhân suy tim hoặc các bệnh tim mạch, nồng

độ các BNP huyết thanh có liên quan đến tỷ lệ tử vong và biến chứng về sau

Định lượng nồng độ (BNP) trong máu: Nồng độ BNP có tương quan với mức độ nặng của suy tim và tiên đoán được tiên lượng sống còn của bệnh nhân

É BNP>400 pg/ml phù hợp với chẩn đoán suy tim Tuy nhiên, độ chuyên biệt của BNP giảm khi bệnh nhân có suy thận

Trang 10

É BNP tăng nhẹ ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái không triệu chứng, và ở bệnh nhân suy tim có triệu chứng

É BNP<100 pg/ml, giúp loại trừ chẩn đoán suy tim ở bệnh nhân có biểu hiện khó thở

Điện tâm đồ

Thường chỉ thấy dấu hiệu tăng gánh các buồng tim bên trái: Trục trái, dày nhĩ trái, dày thất trái

Siêu âm tim

Thường thấy kích thước các buồng tim trái (nhĩ trái, thất trái) giãn to Ngoài ra siêu âm còn giúp ta biết được sự co bóp của các vách tim cũng như đánh giá được chính xác chức năng tâm thu của thất trái Trong nhiều trường hợp siêu âm tim còn giúp cho ta khẳng định một số nguyên nhân đã gây ra suy tim trái (bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh…)

Thăm dò huyết động cho phép

Thăm dò huyết động chỉ dùng trong các trường hợp điều trị tích cực các tình trạng suy tim cấp và nặng (shock tim) cần điều trị các thuốc đường truyền liên tục Thông

Trang 11

thường dùng ống thông loại Swan Ganz có bang ở đầu để đưa lên động mạch phổi Thông tim còn thường được tiến hành khi bệnh nhân được làm các thủ thuật tim mạch can thiệp (động mạch vành, van tim…)

Đánh giá mức độ suy tim trái thông qua việc đo cung lượng tim (CO) và chỉ số tim (CI: bình thường từ 2-3,5 l/phút/m2) và đo áp lực cuối tâm trương của thất trái (tăng trong suy tim trái, bình thường < 5 mmHg)

Đánh giá chính xác mức độ nặng nhẹ của một số bệnh van tim

4.2 Suy tim phải

4.2.1 Triệu chứng cơ năng

Khó thở: ít hoặc nhiều, nhưng khó thở thường xuyên, ngày một nặng dần và không có các cơn kịch phát như trong suy tim trái

Ngoài ra, bệnh nhân hay có cảm giác đau tức vùng hạ sườn phải (do gan to và đau)

4.2.2 Triệu chứng thực thể

Chủ yếu là những dấu hiệu ứ máu ngoại biên:

É Gan to đều, mặt nhẵn, bờ tù, đau một cách tự phát hoặc khi sờ vào gan thì đau Lúc đầu gan nhỏ đi khi được điều trị và gan to lại trong đợt suy tim sau, nên còn gọi

là gan "đàn xếp" Về sau, do ứ máu lâu ngày nên gan không thể nhỏ lại được nữa và trở nên cứng

É Tĩnh mạch cổ nổi to và dấu hiệu phản hồi gan-tĩnh mạch cổ dương tính Áp lực tĩnh mạch trung ương và áp lực tĩnh mạch ngoại biên tăng cao

É Tím da và niêm mạc: Tím là do máu bị ứ trệ ở ngoại biên, nên lượng Hemoglobin khử tăng lên trong máu Tùy mức độ suy tim mà tím nhiều hay ít Nếu suy tim nhẹ thì chỉ thấy tím ít ở môi và đầu chi Còn nếu suy tim nặng thì có thể thấy tím rõ ở toàn thân

É Phù: Phù mềm, lúc đầu chỉ khu trú ở hai chi dưới, về sau nếu suy tim nặng thì có thể thấy phù toàn thân, thậm chí có thể có thêm tràn dịch các màng (tràn dịch màng phổi, cổ chướng ) Bệnh nhân thường đái ít (khoảng 200 - 500ml/ngày) Nước tiểu sậm màu

Khám tim

Trang 12

É Sờ: có thể thấy dấu hiệu Hartzer (tâm thất phải đập ở vùng mũi ức), nhưng không phải bệnh nhân nào cũng có dấu hiệu này

É Nghe: ngoài các triệu chứng của bệnh đã gây ra suy tim phải ta còn có thể thấy:

· Nhịp tim thường nhanh, đôi khi có tiếng ngựa phi phải

· Cũng có khi nghe thấy tiếng thổi tâm thu nhẹ ở trong mỏm hoặc ở vùng mũi ức do

hở van ba lá cơ năng Khi hít vào sâu, tiếng thổi này thường rõ hơn (dấu hiệu

É Trên phim tim phổi thẳng:

· Cung dưới phải (tâm nhĩ phải) giãn

· Mỏm tim nâng cao hơn phía trên vòm hoành trái, do tâm thất phải giãn

· Cung động mạch phổi cũng giãn to

· Phổi mờ nhiều do ứ máu ở phổi

É Trên phim nghiêng trái: Thất phải to làm cho khoảng sáng sau xương ức bị hẹp lại Điện tâm đồ: Thường thấy các dấu hiệu của trục phải, dày nhĩ phải, dày thất phải Siêu âm tim: chủ yếu thấy kích thước thất phải giãn to Trong nhiều trường hợp có thể thấy các dấu hiệu của tăng áp động mạch phổi

Thăm dò huyết động: có thể thấy:

É Áp lực cuối tâm trương của thất phải tăng (thường là trên 12 mmHg)

É Áp lực động mạch phổi cũng thường tăng

4.3 Suy tim toàn bộ

Thường là bệnh cảnh của suy tim phải ở mức độ nặng:

É Bệnh nhân khó thở thường xuyên, phù toàn thân

É Tĩnh mạch cổ nổi to, áp lực tĩnh mạch tăng rất cao

É Gan to nhiều

Trang 13

É Thường có thêm tràn dịch màng phổi, màng tim hay cổ chướng

É Huyết áp tối đa hạ, huyết áp tối thiểu tăng, làm cho huyết áp trở nên kẹt

É X quang: Tim to toàn bộ

É Điện tâm đồ: Có thể có biểu hiện dày hai thất

5 Đánh giá mức độ suy tim

Có nhiều cách để đánh giá mức độ suy tim, nhưng trong thực tế lâm sàng, cách phân loại mức độ suy tim theo Hội Tim mạch học New York (New York Heart Association) viết tắt là NYHA, dựa trên sự đánh giá mức độ hoạt động thể lực và các triệu chứng cơ năng của bệnh nhân là được chấp nhận và ứng dụng rộng rãi

5.1 Phân loại mức độ suy tim theo NYHA

Phân loại mức độ suy tim theo NYHA (New York Heart Association)

Độ Biểu hiện

I Bệnh nhân có bệnh tim nhưng không có triệu chứng cơ năng nào, vẫn sinh hoạt

và hoạt động thể lực gần như bình thường

II Các triệu chứng cơ năng chỉ xuất hiện khi gắng sức nhiều Bệnh nhân bị giảm nhẹ các hoạt động về thể lực

III Các triệu chứng cơ năng xuất hiện kể cả khi gắng sức rất ít, làm hạn chế nhiều các hoạt động thể lực

IV Các triệu chứng cơ năng tồn tại một cách thường xuyên, kể cả lúc bệnh nhân nghỉ ngơi không làm gì cả

Trong thực tế lâm sàng, cách phân loại này rất tốt đối với suy tim trái, nhưng không thật thích hợp lắm đối với các bệnh nhân suy tim phải

5.2 Phân loại suy tim của Hội Tim mạch học Mỹ (AHA/ACC) 2005

Cách phân loại này nhấn mạnh đến sự tiến triển và các giai đoạn của suy tim

Phân loại giai đoạn suy tim theo AHA

Giai đoạn Đặc điểm

A Bệnh nhân có các nguy cơ cao của suy tim nhưng chưa có các bệnh lý

tổn thương cấu trúc tim

Trang 14

B Bệnh nhân đã có các bệnh lý ảnh hưởng cấu trúc tim nhưng chưa có

triệu chứng và biểu hiện của suy tim

C Bệnh nhân đã có triệu chứng của suy tim hoặc đang có triệu chứng và

có liên quan bệnh gây tổn thương cấu trúc tim

D Bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối cần các biện pháp điều trị đặc biệt

5.3 Phân loại mức độ suy tim trên làm sàng theo Hội Nội Khoa Việt Nam

Ở nước ta, số lượng các bệnh nhân suy tim phải thường chiếm một tỷ lệ khá lớn trong

số các bệnh nhân bị suy tim Vì vậy, sơ bộ trên lâm sàng các thầy thuốc thường qui ước mức độ suy tim theo khuyến cáo của Hội Nội khoa Việt nam như sau:

Phân loại mức độ suy tim trên làm sàng của Hội Nội khoa Việt nam

Độ Biểu hiện

I Bệnh nhân có khó thở nhẹ nhưng gan chưa sờ thấy

II Bệnh nhân khó thở vừa, gan to dưới bờ sườn vài cm

III Bệnh nhân khó thở nhiều, gan to gần sát rốn nhưng khi được điều trị gan có thể nhỏ lại

IV Bệnh nhân khó thở thường xuyên, gan luôn to nhiều mặc dù đã được điều trị

6 Điều trị

Điều trị suy tim bao gồm:

É Những biện pháp điều trị chung cho tất cả các loại nguyên nhân gây ra suy tim, nhằm giảm ứ trệ tuần hoàn và tăng cường khả năng co bóp của cơ tim

É Những biện pháp điều trị đặc biệt áp dụng cho từng trường hợp cụ thể tùy theo nguyên nhân của suy tim

A Những biện pháp điều trị chung

6.1 Các biện pháp không dùng thuốc

Chế độ nghỉ ngơi: Nghỉ ngơi là một việc khá quan trọng vì nó góp phần làm giảm công của tim Nói chung bệnh nhân cần giảm hoặc bỏ hẳn các hoạt động gắng sức Trong trường hợp suy tim nặng thì phải nghỉ tại giường theo tư thế nửa nằm nửa ngồi Tuy nhiên, trong trường hợp suy tim mà bệnh nhân phải nằm điều trị lâu ngày thì khi hoàn cảnh cho phép, nên khuyến khích bệnh nhân xoa bóp, lúc đầu là thụ động, sau đó là chủ động ở các chi, nhất là hai chi dưới để làm cho máu tĩnh mạch trở về tim được dễ

Ngày đăng: 11/11/2016, 01:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w