Quá trình thông khí phụ thuộc vào sự bình thường của các cơ hô hấp, lồng ngực, khoang màng phổi, đường dẫn khí đến phế nang.. Trong giảm thông khí phế nang do liệt cơ hô hấp hoặc thông k
Trang 1XẸP PHỔI
Bộ môn HH – ĐH Y Hà Nội
1 Đại cương
Suy hô hấp là bệnh lý thường gặp trong các khoa cấp cứu, chống độc và điều trị tích cực do bệnh của hệ thống hô hấp và tình trạng nặng của các bệnh lý khác như hôn mê
do tổn thương thần kinh trung ương, ngộ độc, bệnh thần kinh cơ, bệnh tim mạch, chuyển hoá
Thông khí nhân tạo xâm nhập với ống nội khí quản (NKQ), mở khí quản (MKQ) là một trong những thành tựu của chuyên ngành hồi sức cấp cứu, đã góp phần cứu sống nhiều người bệnh suy hô hấp Tuy nhiên có nhiều biến chứng của thông khí nhân tạo xâm nhập, thường gặp nhất là xẹp phổi sau đặt NKQ, MKQ, thở máy dài ngày, hậu quả dẫn đến thất bại hoặc kéo dài thời gian điều trị Vì vậy những biện pháp đề phòng
và xử trí xẹp phổi ở bệnh nhân thông khí nhân tạo còn gặp nhiều khó khăn và luôn được đặc biệt quan tâm
Xẹp phổi (Atelectasis) là tình trạng giảm hoặc mất sự giãn nở không hoàn toàn của nhu mô phổi do quá trình xẹp phế nang khu trú hoặc lan toả, làm mất thể tích phổi Chức năng thông khí, trao đổi khí vùng phổi xẹp bị ảnh hưởng do lưu lượng khí qua vùng phổi xẹp rất nhỏ.Có sự thay đổi của tỷ lệ thông khí/ tưới máu tại vùng phổi xẹp với tỷ lệ máu tĩnh mạch cao gây ra tình trạng giảm oxy máu
2 Cơ chế bệnh sinh
2.1 Giải phẫu sinh lý
Đường dẫn khí bắt đầu từ miệng, mũi đến thanh quản, khí quản, phế quản cuối cùng là phế nang
Phế quản: Từ ngã ba khí- phế quản chia thành phế quản gốc phải và trái
Phế nang: là những túi nhỏ, hình cầu có kích thước khác nhau thành mỏng, là đơn vị trao đổi khí giữa phế nang và mao mạch phổi
Bao quanh phổi là màng phổi gồm lá thành dính sát thành ngực, lá tạng dính vào mặt ngoài phổi, tạo ra một khoang ảo có sự thay đổi áp lực trong chu kỳ hô hấp rất quan trọng trong cơ chế thông khí tự nhiên
2.2 Sinh lý hô hấp
Trang 2Hô hấp là một quá trình gồm 4 giai đoạn liên quan mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và được điều khiển bởi trung tâm hô hấp
Thông khí
Là quá trình đầu tiên giúp cho việc vận chuyển, cung cấp oxy từ ngoài vào trong phổi, phế nang và thải trừ cacbon dioxide từ phế nang ra ngoài
Quá trình thông khí phụ thuộc vào sự bình thường của các cơ hô hấp, lồng ngực, khoang màng phổi, đường dẫn khí đến phế nang
Hệ thống đường dẫn khí có cấu trúc đặc biệt để thực hiện chức năng này Ngoài việc dẫn khí trên bề mặt của khí phế quản còn có hệ thống lông chuyển để quét, đẩy những bụi nhỏ, chất tiết, đờm về phía ngoài
Hệ thống tế bào biểu mô tuyến tiết dịch tráng bề mặt ống, làm trơn, sạch đường thở, bảo vệ đường thở chống lại vi khuẩn Lớp tế bào biểu mô còn có nhiệm vụ làm ẩm, sưởi ấm không khí trước khi đến phế nang
Khi tổn thương niêm mạc khí phế quản, những chức năng trên sẽ bị tổn thương đồng thời tế bào biểu mô sẽ bài tiết quá mức các chất tiết cùng với đờm mủ gây nên tình trạng ứ đọng trong lòng khí phế quản, phế nang cản trở sự thông khí
Khuếch tán khí
Khuếch tán khí được thực hiện tại phế nang qua màng phế nang mao mạch Khuếch tán khí phụ thuộc vào thông khí phế nang, tưới máu phổi và cấu trúc, diện tích màng
hô hấp Bình thường màng hô hấp có diện tích khoảng 50-100m2 Diện tích này có thể giảm trong một số bệnh: Cắt thuỳ phổi, giãn phế nang, xẹp phổi
Vận chuyển khí
Máu vận chuyển oxy từ phổi tới các mô và CO2 từ mô tới phổi theo bậc thang nồng
độ Vận chuyển khí phụ thuộc vào cung lượng tim và hồng cầu
Hô hấp tổ chức
Được gọi là hô hấp trong hay hô hấp tế bào
2.3 Các thể tích phổi
Thể tích khí lưu thông (Vt): là thể tích khí một lần thở vào hoặc thở ra không gắng sức, trung bình là 7-10ml/kg cân nặng
Trang 3Thể tích dự trữ thở vào (IRV): là lượng khí cố hít vào sau khi đã hít vào bình thường, trung bình là 2000ml
Thể tích dự trữ thở ra (ERV): là lượng khí cố thở ra sau một lần thở ra bình thường, trung bình là 1000 ml
Tể tích khí cặn (RV): là lượng khí còn lại trong phổi sau khi thở ra, trung bình là 1000ml
Khoảng chết giải phẫu (Ds): là phần không khí lưu thông trong đường hô hấp nhưng không tham gia vào quá trình trao đổi khí, trung bình khoảng 0,15l
Thông khí phút (MV): là là thể tích khí hít vào, thở ra trong 1 phút MV= Vt x f ( Vt là thể tích khí lưu thông, f là tần số thở trong 1 phút)
hông khí phế nang (VA): là lượng khí hít vào tới phế nang trong 1 phút tham gia quá trình trao đổi khí
VA = MV- (fx Ds), trung bình là 4l/phút hay 2-2,5l/phút/m2 diện tích cơ thể
Thông khí phế nang phụ thuộc vào thông khí phút, tần số thở và khoảng chết giải phẫu thông khí phế nang giảm khi thông khí phút giảm hoặc tần số thở nhanh hoặc khoảng chết giải phẫu tăng
2.4 Cơ chế xẹp phổi
Phổi luôn có xu hướng co lại tạo điều kiện cho thở ra dễ ràng được gọi là hiện tượng
co đàn hồi, nổi bật hơn ở những vùng phổi phụ thuộc khi áp lực giãn nhỏ đi và có sự giao động lớn về thể tích giữa các chu kỳ thở
Đặc trưng của xẹp phổi là sự mất thể tích phổi Nhiều yếu tố tương tác để quyết định tình trạng ổn định của phế nang: sức căng bề mặt phế nang, kích thước phế nang và áp lực khí làm căng phế nang
Xẹp phổi do màng surfactant
Sức căng bề mặt phế nang chịu ảnh hưởng của chất hoạt diện (Surfactant) Đây là một Lipoprotein (Lipid, protein, mucopolysaccaride), do tế bào phế nang typ II sản xuất ra, tạo thành lớp dịch màng rất mỏng phủ trên bề mặt trong của phế nang Màng
surfactant có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt phế nang
Các tế bào phế nang typII được kích thích bài tiết Surfactant khi có sự kéo giãn dưới tác động của thông khí phế nang Trong giảm thông khí phế nang có sự giảm số lượng
Trang 4và hoạt tính của surfactant làm tăng sức căng bề mặt phế nang, làm tăng nguy cơ xẹp phổi
Những nguyên nhân gây tổn thương màng surfactant như trong hít sặc, ARDS, nhiễm khuẩn phổi nặng luôn có nguy cơ xẹp phổi cao
Các phế nang nhỏ xa trung tâm cần có áp lực khí đủ lớn để bơm căng phế nang hoặc
mở lại các phế nang bị xẹp Trong giảm thông khí phế nang do liệt cơ hô hấp hoặc thông khí nhân tạo với Vt thấp thì áp lực khí không đủ lớn để bơm căng các phế nang nhỏ, lâu ngày sẽ tiến triển tới xẹp phế nang, xẹp phổi
Xẹp phổi do lực giãn của phổi giảm hoặc mất:
Bình thường các lực giãn ở phổi bắt nguồn từ áp lực âm của màng phổi, trong khi đường dẫn khí được khung sụn nâng đỡ tạo ra sự thông thoáng Ở thì thở vào với sự hoạt động của các cơ hô hấp, lồng ngực được kéo giãn ra, khí từ ngoài vào trong phổi, cuối thì thở ra phổi có xu hướng xẹp lại để đẩy khí trong phổi ra ngoài, xu hướng này gọi là độ chun (elastic) Các phế nang không đơn thuần là hình cầu độc lập, chúng thông với nhau do đó phụ thuộc lẫn nhau Việc co đàn hồi của phổi và thành ngực kết hợp với sức căng bề mặt thúc đẩy sự xẹp phổi Áp lực âm của khoang màng phổi giúp tạo lực căng duy trì việc giãn nở của phổi
Áp lực căng tại phế nang (P) có liên quan trực tiếp với sức căng bề mặt phế nang (Ts)
và gián tiếp với bán kính phế nang (r) Một sức căng bề mặt phế nang cao và/ hoặc bán kính phế nang nhỏ làm cho phế nang giãn ra khó khăn và dễ dẫn đến xẹp phổi Phương trình Laplace P = 2Ts/r mô tả mối quan hệ làm căng một bóng (được xem như một phế nang)
Các phế nang có mối liên kết và phụ thuộc vào nhau Sự chun lại của thành ngực và phổi về phía rốn phổi phối hợp với sức căng bề mặt phế nang (Ts) làm tăng xẹp phổi Ngược lại, áp lực âm màng phổi có xu hướng kéo phổi giãn về phía thành ngực phối hợp với lớp Surfactant làm giảm sức căng bề mặt phế nang tạo sự giãn nở của phế nang
Khí, phế quản được khung sụn nâng đỡ tạo ra đường lưu thông khí bình thường
Những nguyên nhân ảnh hưởng đến áp lực âm trong màng phổi: tràn khí, tràn dịch màng phổi, giảm hoạt động của cơ hoành: liệt cơ, chấn thương ngực, bụng, sau phẫu thuật bụng (tăng áp lực trong ổ bụng)
Trang 5Xẹp phổi do tắc nghẽn đường dẫn khí
Tắc nghẽn đường dẫn khí bởi dị vật, nút đờm dẫn đến thông khí phế nang giảm, áp lực đường thở giảm dẫn đến xẹp phổi gọi là xẹp phổi tắc nghẽn Nếu một đường thở bị tắc nghẽn do chất nhầy, dịch, đờm quánh, mảnh vụn, thì không khí phía sau chỗ tắc được hấp phụ kéo dài trong vài giờ hoặc vài ngày thúc đẩy sự xẹp nhu mô phổi vùng xa chỗ bít tắc Đây là vấn đề thường gặp trong hồi sức hô hấp nhân tạo dài ngày với nội khí quản và mở khí quản Ngược lại với quá trình các phế nang bị ứ dịch từ từ và không có mất thể tích phổi, thông khí phụ trong vùng dưới phân thuỳ là một cơ chế sinh lý quan trọng trong cải thiện sự xẹp phổi
Phạm vi, tốc độ xẹp phổi do tắc nghẽn còn phụ thuộc vào khả năng thông khí phụ (thông khí bàng hệ của hàng trăm phế nang bên cạnh với các tiểu phế quản ngoại vi) Tắc nghẽn đường dẫn khí ở trẻ em nguy hiểm hơn người lớn vì thiếu tương đối thông khí bàng hệ ở phổi “Hội chứng thuỳ phổi giữa” là một thí dụ, do thuỳ phổi giữa dễ bị xẹp trong bệnh lý viêm vì bị cô lập bởi các vách liên thuỳ, thiếu thông khí bàng hệ
Xẹp phổi do áp lực âm trong đường thở
Trong thông khí nhân tạo với áp lực âm cuối thì thở (NEP) ra có khả năng giải quyết được việc thải trừ CO2 nhưng gây ra áp lực âm trong khí quản và phế quản dẫn đến nguy cơ xẹp phổi ở những phân thuỳ phổi có đường kính đường dẫn khí nhỏ, nhất là ở trẻ em vì không có thông khí phụ Hiện nay phương thức thở này không còn được sử dụng
Hút đờm khí phế quản với áp lực âm lớn, kéo dài cũng gây nên nguy cơ xẹp phổi này
Xẹp phổi do tăng lực co đàn hồi của phổi
Xẹp phổi do lực co đàn hồi của phổi tăng nhưng thường diễn ra trong một quá trình dài
3 Phân loại và nguyên nhân
3.1 Các thể xẹp phổi
Xẹp cả một phổi
Thường do một u hoặc dị vật làm tắc hoàn toàn phế quản gốc, thường xẹp phổi tiến triển từ từ theo sau sự phát triển của khối u
Xẹp phổi hoàn toàn đôi khi do phản xạ thần kinh sau khi một số phế quản bị dị vật
Trang 6hoặc chất tiết gây bít tắc, có thể phản xạ do một số thủ thuật như soi phế quản, hoặc thủ thuật vùng dạ dầy ruột
Xẹp phổi do phản xạ xuất hiện bất ngờ với các biểu hiện suy hô hấp nặng Xẹp phổi do phản xạ sẽ mất dần sau một vài ngày
Xẹp một thuỳ
Do dị vật, u, hạch lao, do đờm, chất tiết quánh dính gây bít tắc một nhánh phế quản thuỳ, tiểu thuỳ
XQ thấy thuỳ bị xẹp hình tam giác đỉnh ở rốn phổi, đáy ở thành ngực
Nếu xẹp thuỳ dưới đám mờ có đáy nằm trên cơ hoành Cơ hoành bên xẹp sẽ cao hơn bên lành 1 vài cm
Xẹp ở thuỳ trên, thuỳ này bị co về đỉnh phổi, hình ảnh kéo rốn phổi lên trên và kéo lệch khí quản về bên xẹp
Xẹp phế nang
Thường do nút đờm gây tắc các tiểu phế quản
Trên XQ phổi không điển hình, thường là các đám mờ không đồng đều như những ổ phế quản phế viêm
Xẹp phế nang có thể tạm thời sau thủ thuật soi rửa phế quản, sẽ mất đi nhanh chóng một vài giờ sau thủ thuật
Xẹp phổi ở vùng nền phổi thành lớp
Nguyên nhân do đờm làm tắc những nhánh phế quản nhỏ, do rối loạn hoạt động cơ hoành sau phẫu thuật ổ bụng
XQ thấy những vệt mờ nằm ngang trên một bên nền phổi, cơ hoành bên đó cao hơn bên đối diện 0,5- 1- 2 cm
Xẹp phổi dạng đĩa
Do các nang lớn trong phổi, bẩm sinh hoặc do lao, khí phế thũng ép vào vùng phổi xung quanh gọi là xẹp phổi quanh hang
3.2 Nguyên nhân
3.2.1 Tổn thương màng Surfactan
Sự thiếu hụt chất Surfactant về số lượng hoặc chất lượng gây nguy cơ dẫn đến xẹp phổi thường gặp trong bệnh:
Trang 7É Bệnh màng trong ở trẻ em
É Hội chứng suy hô hấp cấp ở người lớn
É Tổn thương phổi cấp sau hít phải dịch vị
É Thở oxy 100% kéo dài
É Gây mê đường hít
É Hít phải khói
É Đụng dập phổi
3.2.2 Do tắc nghẽn đường dẫn khí
Do dị vật, hít phải thức ăn, nút đờm trong bệnh phổi phế quản mãn tính, hen phế quản, bệnh saccoit,lao phế quản, u nấm Chảy máu khí phế quản, phổi
Viêm tiểu phế quản, phù nề phế quản, co thắt phế quản
Chèn ép ngoài phế quản: các bất thường về tim mạch, khối u ở nhu mô phổi
3.2.3 Gây ra áp lực âm trong màng phổi không đủ
Tràn dịch màng phổi
Tràn khí màng phổi
Trong phẫu thuật lồng ngực mở áp lực trong lồng ngực bằng áp lực khí quyển phổi sẽ xẹp nhanh chóng, trong tạo hình ngực, cắt xương sườn
Khối choán chỗ trong màng phổi: u trung biểu mô, u lympho, tụ máu, dầy dính màng phổi sau viêm màng phổi mủ, sau gây dính màng phổi, thoát vị cơ hoành
Do chèn ép trực tiếp vào nhu mô phổi, phế quản: U phổi, trung thất, hạch lao
Do các rối loạn vận động cơ hoành: Bệnh lý thần kinh cơ hoành, tăng áp lực trong ổ bụng(cổ trướng, viêm phúc mạc, sau phẫu thuật ổ bụng)
3.2.4 Tăng xơ phổi
Lao xơ phổi, xơ phổi tiến triển, bệnh phổi kẽ
Bụi phổi Silicose, amiante, điều trị bằng tia xạ
3.2.5 Giảm thông khí phế nang
Bệnh phổi hạn chế: gù vẹo cột sống, viêm dầy dính màng phổi
Những chấn thương vùng ngực, bụng, đau không hít thở được sâu
Sau phẫu thuật lồng ngực, bụng có ảnh hưởng đến hoạt động của cơ hoành
Tổn thương tuỷ sống cổ gây liệt cơ hô hấp
Trang 8Các bệnh thần kinh cơ: Hội chứng Guillain Barré, Hội chứng Porphyrie niệu cấp, bệnh nhược cơ nặng, rắn hổ cắn, ngộ độc Phospho hữu cơ
Bệnh béo phì
Người già, nằm bất động lâu một tư thế
3.2.6 Thông khí nhân tạo dài ngày
Ứ đọng đờm, chất tiết khí phế quản
É Tắc nghẽn khí phế quản do đờm, chất tiết khí phế quản bị khô quánh do cung cấp nước không đầy đủ, khí thở vào không đủ ẩm, do mất nước, tăng tiết mồ hôi, nước bọt, dịch vị, dịch tiêu hoá
É Khô dịch tiết phế quản còn có thể do thuốc như atropin trong điều trị ngộ độc phospho hữu cơ
É Nút tắc đờm khí phế quản dẫn đến xẹp phổi thường xuyên gặp ở bệnh nhân được đặt nội khí quản, mở khí quản, thở máy dài
Di lệch ống nội khí quản, canun mở khí quản vào sâu một bên phổi, thường vào sâu khí quản gốc phải làm tăng thông khí phổi phải và làm giảm hoặc mất thông khí phổi trái Di lệch ống có thể gặp ngay sau thủ thuật nhưng thường là trong thời gian duy trì ống do cố định ống chưa tốt, do thao tác hút đờm, do bệnh nhân dãy dụa
Tổn thương niêm mạc khí phế quản do hút đờm, áp lực hút tại đầu ống sonde gây bong, chợt, loét niêm mạc khí phế quản dẫn đến nhiễm khuẩn, tăng tiết nhiều đờm tạo thuận lợi cho bít tắc khí phế quản
Giảm thông khí phế nang: trong thông khí nhân tạo, dòng chảy của khí chậm, đều, không phân bố đều trong phổi, có vùng tăng thông khí, có vùng giảm thông khí, nhất
là khi bệnh nhân nằm lâu ở một tư thế sẽ làm giảm thông khí, xẹp phổi
Chấn thương phổi do áp lực dẫn đến vỡ phế nang, tràn khí màng phổi
Giảm phản xạ ho, khạc ở bệnh nhân hôn mê, liệt cơ, dùng thuốc an thần dẫn đến ứ đọng đờm
Do nằm bất động lâu
Tổn thương phổi do trào ngược, hít phải dịch vị, thức ăn
Nhuyễn sụn khí, phế quản do viêm tái diễn, kéo dài
Trang 9Hẹp khí, phế quản do tổn thương tỳ đè của thành ống nội khí quản, canun mở khí quản, do áp lực bóng chèn đầu ống quá cao, do tổ chức hạt sùi vào lòng khí quản sau rút ống
4 Chẩn đoán
4.1 Lâm sàng
Những xẹp phổi nhỏ ít có biểu hiện và khó chẩn đoán về mặt lâm sàng, thường chỉ có các triệu chứng sốt nhẹ, khó thở, đau ngực, nhịp tim nhanh với các triệu chứng của bệnh lý gây lên xẹp phổi Ở bệnh nhân đang được hồi sức, đặc biệt đang được thông khí nhân tạo với ống nội khí quản, mở khí quản nếu có các biểu hiện trên và khả năng thanh thải đờm, chất tiết khí phế quản kém, nặng hơn là các biểu hiện thở chống máy cần chú ý tới tình trạng xẹp phổi
Xẹp hoàn toàn một bên phổi dễ chẩn đoán hơn với các dấu hiệu lồng ngực xẹp, giảm hoặc mất di động một bên, khoang liên sườn hẹp lại, mỏm tim đập lệch sang bên xẹp,
cơ hoành nâng cao, gõ đục, rì rào phế nang giảm hoặc mất, rung thanh giảm (do sự lưu thông khí bị hạn chế hoặc mất), tiếng thở phế quản và tiếng thổi ống, thở chống máy, thiếu oxy nặng
Xẹp phổi thuỳ
É Cử động xương sườn bên xẹp kém hơn bên đối diện, khe liên sườn hẹp, mỏm tim lệch
É Gõ đục vùng phổi xẹp, cơ hoành cùng bên có thể được phát hiện cao hơn khi gõ
É Nghe phổi thấy RRPN giảm, có ran ở vùng phổi xẹp
É Tiếng ran ẩm to hạt hoặc tiếng ran khò khè chỉ cho biết có tình trạng ứ đọng nhiều đờm ở khí, phế quản
4.2 XQ phổi
X-quang phổi thường cho thấy các dấu hiệu xẹp phổi mà trên lâm sàng không rõ ràng, tuy nhiên XQ không thể cho thấy các vi xẹp phổi (microatelectasis), Chẩn đoán xẹp phổi bằng XQ khi thấy trên phim chụp:
É Đám mờ ở 1 vùng phổi, vùng mờ có thể làm mất đi hoàn toàn các hình ảnh XQ bình thường qua đó có thể xác định vị trí xẹp, ví dụ bờ phải của tim mờ khi có xẹp thuỳ giữa phổi phải
Trang 10É Mất thể tích phổi có thể thấy qua việc dịch chuyển vị trí rãnh liên thuỳ, tập chung hình ảnh các mạch máu, tăng sáng phổi lành
É Di lệch trung thất, khí quản, về phía phổi xẹp, khe liên sườn hẹp hơn bên đối diện,
cơ hoành nâng cao, là những dấu hiệu có giá trị chẩn đoán cao
Xẹp thuỳ giữa phải:
É Phim thẳng: hình mờ tam giác, đỉnh về phía ngoại vi
É Phim nghiêng: hình mờ tam giác đỉnh về phía rốn phổi, đáy về phía thành ngực Chụp CT scan phổi cho chẩn đoán chính xác hơn Xẹp phổi tròn có hình ảnh đặc trưng phân biệt vùng phổi tương đối lành tính xung quanh vùng phổi xẹp, phân biệt với ưng thư trung thất, phổi
4.3 Nội soi phế quản
Soi phế quản bằng ống soi mềm cho phép đánh giá tình trạng, nguyên nhân, mức độ tắc nghẽn đường thở và giúp điều trị xẹp phổi do tắc nghẽn
5 Hậu quả xẹp phổi
Hậu quả nặng nề nhất của xẹp phổi cấp là suy hô hấp với giảm oxy máu nặng, giảm oxy máu được cho là do co thắt mạch phổi do thiếu oxy trong các vùng phổi xẹp, không được thông khí, dẫn tới máu khi vào vòng tuần hoàn không đủ bão hoà oxy Tình trạng này ít gặp hơn trong những xẹp phổi diễn biến từ từ
Xẹp phổi cấp hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, sau chấn thương và bệnh nhân hồi sức Xẹp phổi do những nguyên nhân bên ngoài khí phế quản hầu như không có sốt ở những bệnh nhân sau mổ, hồi sức có tăng tiết, ứ đọng đờm, chất tiết khí phế quản, nhất
là có thông khí nhân tạo xâm nhập, sốt thường gặp ở xẹp phổi và là biểu hiện của nhiễm khuẩn phổi sau xẹp
Vùng phổi xẹp có sự giảm thể tích, khi thở máy với thể tích lưu thông cố định sẽ bổ xung sang phần phổi lành có thể làm căng phế nang qua mức dẫn đến chấn thương phổi áp lực
Xẹp phổi đôi khi khởi phát suy tim phải cấp tính hoặc mãn tính
Xẹp phổi có thể dẫn đến viêm màng phổi và tràn dịch màng phổi xuất tiết
Xẹp phổi có thể làm giảm chức năng phổi dù đã tái lập lại thông khí vùng phổi xẹp
6 Dự phòng và xử trí