1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ thơ đỗ thị tấc

103 510 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 869,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo hướng đi đó, chúng tôi nghiên cứu thơ Đỗ Thị Tấc - một nhà thơ nữ của Lai Châu trên phương diện ngôn ngữ với mong muốn tìm ra được những nét riêng trong cách tổ chức ngôn ngữ, từ đó

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kì công trình nào khác

Tác giả

Đặng Thị Hoàng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS TS Phạm Hùng Việt, thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Luận văn là kết quả của quá trình học tập Vì vậy, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những thầy, cô đã giảng dạy các chuyên đề cho lớp cao học Ngôn ngữ K2 (2013 – 2015) tại trường Đại học Tây Bắc

Tôi xin trân trọng cám ơn tới tập thể cán bộ phòng sau đại học - Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời tri ân đến nhà thơ Đỗ Thị Tấc - người bạn đồng hành, luôn tiếp thêm ngọn lửa thi ca cho tôi trong quá trình làm luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Sơn La, ngày 10 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Đặng Thị Hoàng

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

2 Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép 49

5 Bảng các loại từ xưng hô trong thơ Đỗ Thị Tấc 75

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Ngôn ngữ thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ 6

1.1.1 Ngôn ngữ thơ 6

1.1.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 7

1.2 Giới thiệu sơ lược về thơ Lai Châu đương đại và tác giả Đỗ Thị Tấc 19

1.2.1 Giới thiệu sơ lược về thơ Lai Châu đương đại 19

1.2.2 Giới thiệu sơ lược về tác giả Đỗ Thị Tấc 21

1.3 Tiểu kết 23

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ THƠ, VẦN, NHỊP VÀ CÁCH

TỔ CHỨC BÀI THƠ TRONG THƠ ĐỖ THỊ TẤC 24

2.1 Đặc điểm về thể thơ 24

2.1.1 Thể thơ 4 chữ 25

2.1.2 Thể thơ tự do 26

2.2 Vần trong thơ Đỗ Thị Tấc 37

2.2.1 Vần và các chức năng hiệp vần trong thơ 37

2.2.2 Vần trong thơ Đỗ Thị Tấc 40

Trang 5

2.3 Nhịp trong thơ Đỗ Thị Tấc 49

2.3.1 Nhịp điệu và cách tổ chức trong thơ 49

2.3.2 Nhịp trong thơ tự do Đỗ Thị Tấc 54

2.4 Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ trong thơ Đỗ Thị Tấc 57

2.4.1 Đặc điểm về tiêu đề 57

2.4.2 Đặc điểm về câu thơ, dòng thơ 60

2.4.3 Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ 61

2.4.4 Một số kiểu mở đầu và kết thúc 63

2.5 Tiểu kết 67

Chương 3 TỪ NGỮ VÀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THƯỜNG GẶP TRONG THƠ ĐỖ THỊ TẤC 68

3.1 Các lớp từ vựng ngữ nghĩa tiêu biểu 68

3.1.1 Sử dụng từ láy 68

3.1.2 Lớp từ chỉ hình ảnh 70

3.1.3 Lớp từ xưng hô 75

3.2 Một số biện pháp tu từ trong thơ Đỗ Thị Tấc 79

3.2.1 Điệp ngữ 79

3.2.2 Biện pháp so sánh 84

3.3 Tiểu kết 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Jakobson) Đó là

thứ ngôn ngữ được chưng cất công phu vì “bài thơ là tổ chức ở trình độ cao

của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn ngữ” Và “ngôn ngữ thi

ca là thứ ngôn ngữ kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ và tư tưởng và nhiệm vụ của thi nhân là phải tạo nên sự nhiệm màu kỳ diệu ấy” (Phú Hưng) Nền thơ

ca Việt Nam từ văn học trung đại đến hiện đại và đương đại đã ghi nhận sự đóng góp không nhỏ của các nhà thơ nữ

Trong số đông đảo các nhà thơ nữ hiện đại, các nhà thơ nữ Lai Châu

đã có những đóng góp nhất định trong việc góp nên diện mạo và tiếng nói chung của các nhà thơ nữ, đóng góp cho văn học Việt Nam hiện đại những sắc màu, giọng điệu và phong cách ngôn ngữ riêng Đó là hồn thơ vừa mạnh

mẽ, quyết liệt, vừa đằm thắm, dịu dàng sâu lắng đầy duyên dáng, nữ tính, mang đậm sắc thái tâm hồn của người miền núi, tự nhiện, hồn hậu và rất đỗi chân thành Tuy vậy, mỗi nhà thơ lại có cách tổ chức ngôn ngữ để tạo nên dấu

ấn riêng, “tiếng nói riêng”, “giọng điệu riêng”, một lối dùng chữ riêng trong

thế giới nghệ thuật của mình Xuất phát từ đặc trưng của cá tính sáng tạo trong văn học, đã có một số luận án, luận văn nghiên cứu về thơ của một tác giả cụ thể Theo hướng đi đó, chúng tôi nghiên cứu thơ Đỗ Thị Tấc - một nhà thơ nữ của Lai Châu trên phương diện ngôn ngữ với mong muốn tìm ra được những nét riêng trong cách tổ chức ngôn ngữ, từ đó đánh giá đóng góp của nhà thơ nữ này cho văn học Lai Châu nói riêng, văn học Việt Nam nói chung

1.2 Lai Châu, một tỉnh miền núi, nơi địa đầu miền Tây Bắc của tổ quốc, mảnh đất núi non hiểm trở, cuộc sống còn nhiều khó khăn song rất giàu bản sắc văn hoá của 23 dân tộc anh em Chính mảnh đất này đã trở thành

Trang 7

nguồn cảm hứng vô tận, nguồn sinh khí để các nhà văn, nhà thơ sáng tạo ra những giá trị tinh thần phục vụ cho cuộc sống Là một tỉnh miền núi vừa mới được chia tách và tái thành lập như tỉnh Lai Châu, vượt qua những bộn bề của công việc ổn định cơ cấu bộ máy nhà nước, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất,

về nhân sự Hội văn học Nghệ thuật tỉnh Lai Châu vẫn được "khai sinh", hình thành, phát triển đồng hành với sự phát triển của nền kinh tế, chính trị xã hội của tỉnh nhà và đồng hành cùng nền văn học Việt Nam trong các chặng đường phát triển Góp phần làm nền diện mạo của nền văn học Lai Châu nói riêng, văn học Việt Nam nói chung, phải kể đến những đóng góp quan trọng của các nhà thơ nữ Lai Châu

1.3 Có thể nói Thơ nữ Lai Châu có không ít những cây bút nữ có tài Trước hết phải kể đến Bùi Thị Sơn - người phụ nữ với trái tim nhạy cảm luôn trăn trở, suy tư về cuộc đời, về tình yêu và những vấn đề xã hội để từ đó phát hiện ra ra điều nghịch lí tưởng như bình thường nhưng mang nhiều ý nghĩa xã

hội: "Người giàu đổ đi/ Kẻ nghèo nhặt lại/ Bao nhiêu thừa thãi/ Bấy nhiêu tủi

hờn" (Bên thùng rác công cộng) Tiếp theo là Phùng Hải Yến con gái Bùi Thị

Sơn - một nhà thơ trẻ luôn biết trân trọng và cảm nhận sự ấm áp của cội

nguồn văn hoá: "Bẽn lẽn úp mặt vào cái xiết tay/ Tưởng hơi ấm sau điệu xoè

nằm lại" Tiếp đó là gương mặt Lê Thị Hải Yến, Phùng Hương Loan, Nguyễn

Thị Tươi, Đỗ Thị Thanh Tú tất cả họ đều là những cây bút gặt hái được nhiều thành công Trong khuôn khổ một đề tài luận văn chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là tác giả Đỗ Thị Tấc - một hồn thơ vừa hồn nhiên, mạnh mạnh mẽ, tự tin vừa mang cái thẳm sâu của hồn thơ mong manh và đầy trắc

ẩn Thơ chị là tính cách, là tâm hồn, là tiếng lòng, là cuộc đời chị - cuộc đời của người phụ nữ nhiều bất trắc, đa đoan song luôn khát sống, khát yêu, luôn biết nâng niu những hạnh phúc giản dị đời thường

Đỗ Thị Tấc, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian đã gắn bó toàn bộ cuộc

Trang 8

đời với núi rừng Tây Bắc, nên thơ chị có những âm hưởng hoang sơ, hồn nhiên và lấm láp nhọc nhằn như chắt ra từ đá sỏi Hiện chị là Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ Thuật tỉnh Lai Châu, Chi hội trưởng Chi hội văn nghệ Dân gian Việt Nam tỉnh Lai Châu Chị có các bút danh: Lý Mì Mừ, Chu Ân, Bảo Linh Chị đã nhận được các giải thưởng Giải C tác phẩm "Sữa đá" - Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2000; Giải C - Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam - 2001, "Những người mẹ núi" - Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2002 Dù là một cây bút sáng giá của thi ca Lai Châu song những bài viết, các nghiên cứu về chị chưa nhiều và cũng chưa mang tính hệ thống Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn

về thơ Đỗ Thị Tấc, góp phần khẳng định đóng góp của nhà thơ với thơ nữ Lai Châu nói riêng, thơ nữ Việt Nam nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu và tiếp nhận tác phẩm thơ của nhà thơ nữ Đỗ Thị Tấc,

từ trước tới nay đã thu hút được sự chú ý của không ít người Đã có một số tờ báo, bài báo trong nước, trong Tỉnh nghiên cứu về nhà thơ nữ này như: Báo Công an nhân dân, An Ninh thủ đô, Văn nghệ trẻ, Báo Lai Châu Chị cũng

đã có mặt trong danh sách 33 gương mặt thơ nữ Việt Nam của tác giả Vũ

Nho, nhà xuất bản Hội nhà văn vietvan.vn đã từng nhận xét: "Trước đây dòng

thơ dân tộc và miền núi đi thẳng từ cổ sơ đến hiện đại, chúng ta đã có y Phương và giờ đây, thật đáng ăn mừng là có thêm Đỗ Thị Tấc" Quê ở Hưng Yên, lên Lai Châu từ thủa lên ba, "điệu thức những bài ca cổ sơ của người Tày, Thái của Hà Nhì đã vận vào để, chẳng những làm nên điệu tâm hồn, nó còn góp phần làm nên thi pháp của nhà thơ" Thơ Đỗ Thị Tấc tả cái nghèo khổ, cái gan góc của người miền núi cứ nhẹ nhõm như không Nhưng đóng góp lớn nhất của Đỗ Thị Tấc cho thơ miền núi là ở chỗ đã đưa quan tâm của

Trang 9

thơ vượt khỏi số phận riêng rẽ, nhúc nhích đến cái quen thuộc của Con Người

nói chung" Trần Vân Hạc đã nhận xét về thơ Đỗ Thị Tấc "Cái chất của

người miền rừng thẳng thắn, trung thực, yêu ghét rõ ràng, nói lời như dao chém đá thấm vào tâm hồn chị nhiều đến nỗi, cách nghĩ, cách nói đặc sệt của người miền rừng" [22, tr 2]

Là một nhà thơ gắn bó toàn bộ cuộc đời với núi rừng nên thơ chị có những âm hưởng hoang sơ, hồn nhiên và lấm láp nhọc nhằn như chắt ra từ sỏi

đá Thơ Đỗ Thị Tấc đa phần lấy cảm hứng từ cuộc sống dân tộc và miền núi

Đó là điều đáng quý Đặc biệt hơn, khi sáng tác thơ Đỗ Thị Tấc thuần thi pháp dân gian - một thứ thi pháp gần gũi với thi ca của đồng bào dân tộc thiểu số anh em Điều đó không chỉ thể hiện vẻ đẹp trong tâm hồn, con người chị mà còn thể hiện cách cảm, cách nghĩ của chị Thế giới quan, nhân sinh quan của chị thể hiện rất rõ qua ngôn ngữ thơ Thực hiện đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ thơ Đỗ Thị Tấc", trong khuôn khổ một luận văn, chúng tôi mong muốn tìm hiểu để làm rõ được nét riêng về phong cách ngôn ngữ của thơ Đỗ Thị Tấc và bản sắc văn hoá miền núi Lai Châu thể hiện qua thơ chị

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

- Trình bày những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài

Trang 10

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Đỗ Thị Tấc xét về mặt hình thức: thể thơ, đặc điểm vần, nhịp

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Đỗ Thị Tấc xét ở bình diện ngữ nghĩa gồm đặc điểm ngữ nghĩa của một số kiểu từ ngữ và một số biện pháp tu

từ thường được nhà thơ sử dụng

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập và phân loại những câu thơ, bài thơ chứa đựng hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên cứu

5.2 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các kiểu cấu trúc tiêu biểu của thơ Đỗ Thị Tấc

5.3 Phương pháp phân tích

Phương pháp này được dùng để phân tích các hiện tượng sử dụng ngôn

từ, tín hiệu thẩm mĩ, cấu trúc ngôn ngữ nhằm rút ra đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Đỗ Thị Tấc

6 Đóng góp của luận văn

Có thể xem đây là đề tài đầu tiên đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ của nhà thơ nữ Lai Châu Đỗ Thị Tấc ở hai bình diện hình thức biểu đạt và nội dung ý nghĩa, từ đó chỉ ra những đóng góp riêng đặc sắc của nhà thơ Đỗ Thị Tấc từ góc độ ngôn ngữ học

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Chương 2 Đặc điểm về thể thơ, vần, nhịp và cách tổ chức bài thơ trong thơ Đỗ Thị Tấc

Chương 3 Từ ngữ và các biện pháp tu từ thường gặp trong thơ Đỗ Thị Tấc

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ

1.1.1 Ngôn ngữ thơ

Văn học là một môn nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng Cho nên người ta gọi văn học là nghệ thuật của ngôn từ Tuy nhiên, không phải mọi tác phẩm bằng ngôn từ đều là văn học Chỉ những tác phẩm nào dùng lời văn với mọi biểu hiện phương tiện của lời nói như nghĩa, vần, nhịp, ngữ điệu, các biện pháp tu từ để tạo ra những hình tượng nghệ thuật mới gọi là văn học theo ý nghĩa hiện đại của từ ấy Thơ là một thể loại

thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật lấy ngôn từ làm cứu cánh và “làm thơ

là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ” (Chế Lan Viên) Vì vậy,

một nhà thơ có phong cách phải sáng tạo ra một tiếng nói riêng, một giọng điệu riêng, một lối dùng chữ riêng trong thế giới nghệ thuật của mình Yếu tính của việc làm thơ là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, một tín hiệu thẫm mỹ

thể hiện tài năng của nhà thơ Nói như Lê Đạt: “Chữ bầu lên nhà thơ” Bởi

“Người làm thơ không phải làm bằng ý mà bằng chữ.” [12, tr 116]

và“Ngôn ngữ trong tay người làm thơ cũng giống như những cây que,

những chiếc vòng… trong tay trẻ nhỏ Chúng có thể biến hóa nên bao trò chơi, mà trò chơi nào cũng chóng chán, cũng đòi người chơi phải bày ra trò mới khác đi.” [52, tr 26]

Trên thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra sự khác nhau giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi Jacobson đã từng nói rằng:

“chức năng của thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp” [28, tr 83], ông nhấn mạnh cơ chế hoạt động của ngôn ngữ

thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp Bên cạnh đó, trên các nguyên lý của

Trang 12

F.de.Saussure trong giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Jacobson còn chỉ ra trong thơ hình thức ngữ âm là vô cùng quan trọng Ông nhấn mạnh các yếu tố

âm thanh như âm vận, điệp âm, điệp vận, khổ thơ là những đơn vị thuộc bình diện hình thức Có thể nói, đây là những cơ sở xuất phát quan trọng trong việc nhận diện ngôn ngữ thơ

Trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh cũng đã dựa vào lý thuyết hệ hình để xem xét thơ từ phương thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình, để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất [5,

tr 51-70] Ông còn nêu ra lý thuyết trường nét dư Trong đó tác giả chỉ ra rằng để thiết lập nên các tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn và trục kết hợp, nhà thơ phải sử dụng đến thao tác loại bỏ trường nét dư, chính là quá trình hình thành thể thơ Nét dư được loại bỏ càng nhiều thì hàm lượng thông tin càng cao và càng đòi hỏi ở người tiếp nhận năng lực tiếp nhận và kết cấu “lạ”

do việc loại bỏ các yếu tố ngôn ngữ có hàm lượng thông tin thấp mà ra

Về cách tổ chức của ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt đã diễn đạt một cách cụ

thể là “được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với cách tổ

chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của tìmg ngôn ngữ"

[11, tr 25]

Từ những cách hiểu trên về ngôn ngữ thơ ca, ta có thể đi đến kết luận: Trong một phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo tổ chức riêng của thơ ca

1.1.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ

Khi phân biệt thơ với các thể loại khác, người ta thường đi theo cách lưỡng phân, đối lập thơ và văn xuôi ở nhiều góc độ khác nhau Ở góc độ ngôn ngữ ta có ta có thể đối lập thơ với văn xuôi trên ba cấp độ: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp để thấy rõ đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca

Trang 13

1.1.2.1 Về ngữ âm

Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trưng tính nhạc Thơ phản ánh cuộc sèng qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu Vì vậy, nhiều người nhất trí xem tính nhạc là đặc thù cơ bản của ngôn ngữ thơ ca Đây là điều mà trong văn xuôi ít được nhắc đến Đặc điểm về tính nhạc có tính phổ biến trong mọi ngôn ngữ Tuy nhiên, trong mỗi ngôn ngữ có cách thể hiện riêng tùy theo cơ cấu cách cấu tạo và tổ chức khác nhau về ngữ âm Tiếng Việt giàu có về nguyên âm, phụ âm, thanh điệu là cơ sở cho ngôn ngữ thơ ca Việt Nam có dáng vẻ độc đáo về tính nhạc Khi khai thác về tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý những đối lập sau

- Sự đối lập trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm

- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các phụ âm cuối

- Sự đối lập cao - thấp, bằng - trắc của các thanh điệu

Bên cạnh đó, sự đối lập vần và nhịp cũng góp phần quan trọng trong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca Những yếu tố về ngữ âm này là cơ sở cũng là chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca, tạo nên những âm hưởng trầm bổng diệu kỳ

Các yếu tố âm thanh, vần luật, tiết tấu, lời thơ tạo nên nhạc điệu Ngôn ngữ thơ thường là ngôn ngữ vừa lắng đọng, vừa ngân vang Nói cách khác,

thơ thường vừa có hình vừa có nhạc Lấy ví dụ về đoạn thơ nổi tiếng sau đây

trong bài Em ơi…Ba Lan… của Tố Hữu :

Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn Anh đi, nghe tiếng người xưa vọng

Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn…

Trang 14

Đoạn thơ này mở đầu cho cả bài thơ ca ngợi đất nước Ba Lan anh em Nhà thơ hình dung Ba Lan như một người em gái đang đi cùng với mình trên những nẻo đường của mùa xuân và cả bài thơ là lời của nhà thơ nói với người

em gái ấy Hình ảnh thơ mở đầu là hình ảnh mùa xuân (mùa tuyết tan, sương

trắng, năng tràn ) Trên con đường mùa xuân đó, nhà thơ như đang dắt tay

người em gái cùng đi, và bên tai nghe văng vẳng tiếng thơ của A - đam, tiếng đàn Sô- panh dường như tiếng của tâm hồn dân tộc Ba Lan từ xưa vọng lại

Cả bốn câu thơ gợi lên không khí sáng tươi, ấm áp, thanh thản, mênh mông của mùa xuân

Trong đoạn thơ này không chỉ có hình mà còn có nhạc, mà nhạc ở đây

cũng không phải vì đoạn thơ có nhắc đến giọng đàn của Sô - panh Nhạc ở đây là nhạc của thơ, nhạc của những âm, những thanh, những vần, những nhịp như ngân nga, hoà điệu cùng nhau, nâng cao hình tượng mùa xuân trên đôi cánh nhạc Những câu thơ ở đây bay bổng, thanh thoát, nhẹ nhàng vì phần lớn

các âm có thanh bằng (Em ơi, Ba Lan, mùa, tan…) hoặc thanh trắc cao (tiếng,

trắng, nắng…) Chỉ có 4 thanh trắc thấp (bạch, vọng, giọng, giọng) thì ba

thanh hoà vận cùng nhau, vang lên như mấy tiếng nhạc trầm giữa một giai điệu cao chung Nhạc điệu du dương ngân nga của đoạn thơ nảy sinh ra do một yếu tố quan trọng này nữa: đó là sự hiệp vần của các tiếng trong từng câu, hoặc giữa các câu Đoạn thơ trên có dáng dấp của thể thơ thất ngôn tứ

tuyệt Theo lệ, chỉ cần 3 vần hiệp với nhau ở cuối câu 1, câu 2 và câu 4 (lan,

tràn, đàn), thậm chí chỉ cần 2 vần ở câu 2 và câu 4 cũng đủ Nhưng Tố Hữu là

nhà thơ rất giàu vần và dùng vần một cách rất rộng rãi Ngoài các vần bắt buộc nói trên, nhà thơ còn gieo một loại vần khác nữa trong từng câu hoặc giữa các câu :

Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn…

Trang 15

Lan với tan, tràn; đường với dương, sương; trắng với nắng, chỉ có hai

câu mà vần nhiều đến vậy Nhưng vẫn chưa hết Nhạc của đoạn thơ còn sinh

ra từ sự phối hợp của các nguyên âm, đặc biệt là nguyên âm a ở câu thơ đầu

và các phụ âm đặc biệt là các phụ âm t, tr ở câu thứ hai

Bên trên có nói đoạn thơ này làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt nhưng nhà thơ đã phá bỏ mọi niêm luật cổ điển để cho dòng suối âm thanh tràn vào các

câu thơ Ví dụ như trong câu đầu, nhà thơ đã phá bỏ luật nhất, tam, ngũ bất

luận; nhị, tứ, lục phân minh (tiếng thứ 1, thứ 3, thứ 5 bằng hay trắc cũng

được; tiếng thứ 2, thứ 4, thứ 6 bằng hay trắc phải rõ ràng) Cả ba tiếng nhất,

tam, ngũ của nhà thơ đều là thanh bằng cả Còn ba tiếng nhị, tứ, lục đáng lý ra

thì phải viết :

Em hỡi, Ba Lan, mùa tuyết tan

O T O B B T (vần)

Nhưng nhà thơ lại viết “Em ơi, Ba Lan…” làm cho câu thơ nhẹ nhàng

hơn Nhà thơ cũng phá bỏ cả niêm Đáng lý ra, cứ theo đúng niêm, sau khi

viết câu thứ hai:“Đường bạch dương…” thì câu thơ thứ ba không được viết:

“anh đi ” vì như vậy là thất niêm (niêm bắt buộc tiếng thứ hai của từng cặp

câu chẵn và lẻ bao giờ cũng phải cùng một thanh trắc hay bằng và cứ thế luân phiên nhau) Ở đây, nhà thơ đã chú trọng âm thanh nhiều hơn niêm luật

Về nhịp điệu (tiết tấu) đoạn thơ trên cũng có những sự phá cách theo tinh thần sáng tạo Các câu thơ 1,3,4 đi theo nhịp bình thường của thơ thất

ngôn (2/ 2/3):

Em ơi / Ba Lan / mùa tuyết tan /

Anh đi / nghe tiếng / người xưa vọng /

Một giọng / thơ ngâm / một giọng đàn/

Nhưng câu thứ 2 lại đổi sang nhịp thơ song thất (3,2,2) :

Đường bạch dương / sương trắng / nắng tràn /

Trang 16

Từ sự phân tích trên, ta có thể thấy một điểm có tính chất khái quát là: Hình tượng thơ hình thành trong một cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt, được cách điệu hoá, khác với ngôn ngữ bình thường Cấu tạo ngôn ngữ đó làm cho lời thơ vừa lắng đọng vừa ngân vang, làm cho hình tượng thơ không chỉ có hình

mà còn có nhạc là sự tổng hợp của hình và nhạc Hình của thơ do ý nghĩa của ngôn ngữ dựng nên, nhạc của thơ sinh ra từ âm thanh ngôn ngữ Hình của thơ lắng đọng, nhạc của thơ ngân vang Hai yếu tố này quyện lẫn vào nhau, cùng một lúc sinh ra từ tâm hồn nhà thơ khi sáng tác và cũng cùng một lúc tác động đến tâm hồn người đọc khi cảm thụ Đọc một đoạn thơ, một bài thơ, chúng ta dường như vừa thấy hình vừa lắng nhạc Cả hình lẫn nhạc cùng giúp ta cảm

và hiểu tình ý của thơ Đọc đoạn thơ vừa dẫn ở trên của Tố Hữu, niềm khoái cảm nghệ thuật và thẩm mỹ trong chúng ta được gợi nên là do không khí mùa xuân chứa chan, đầy dẫy trong bốn câu thơ và chúng ta cảm thụ, lĩnh hội nó vừa qua ý nghĩa trong sáng, khêu gợi của từng từ, từng câu, đồng thời vừa qua

âm điệu thanh thoát, du dương của từng vần, từng nhịp

Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ ca đưa thơ ca xích gần lại với âm nhạc làm chỗ dựa cho các phương pháp diễn đàn âm nhạc

• Vần

Điều kiện trước hết tạo nên tính nhạc của thơ phải kể đến sự hòa âm

mà vần là yếu tố quan trọng xây dựng nên sự hòa âm giữa các câu thơ “Vần

là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [10, tr 12] Đơn vị biểu diễn vần thơ trong tiếng Việt là âm tiết

bao gồm: âm đoạn tính và siêu đoạn tính (thanh điệu) Xét về chức năng tạo nên sự tương đồng, sự hòa âm thì các yếu tố cấu tạo nên âm tiết có vai trò

không giống nhau: “Ở đây thanh điệu, âm cuối rồi đến âm chỉnh là những

yếu tố giữ vai trò quyết định của sự hòa âm Vai trò thứ yếu thuộc về âm đệm

Trang 17

và yếu tố cuối cùng là âm đầu” [10, tr 115]

Trước hết, ta xét đến yếu tố siêu đoạn tính (thanh điệu) chức năng hòa

âm của thanh điệu trong các vần thơ được biểu hiện chủ yếu ở chỗ các âm tiết hiệp vần chỉ có thể mang thanh đồng loại tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc), đó là nét cơ bản của vần thơ Việt Nam

Xét về âm đoạn tính của các âm tiết hiệp vần, đầu tiên phải kể đến âm

cuối “Trong một âm tiết, giữa các yếu tố tạo nên phần vần thì âm cuối là

yếu tố quyết định tính chất của nó rõ hơn cả” [10, tr 100] Âm cuối là cơ sở

để người ta phân loại các vần (khép, nửa khép, mở, nửa mở), chính tính chất của những loại vần giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hòa âm Với âm cuối, sự hòa âm của vần thơ sẽ được tạo ra khi hai âm tiết hiệp vần có

sự đồng nhất các âm cuối (phụ âm, bán nguyên âm và âm vị zê rô) hoặc đồng nhất về đặc trưng ngữ âm vang mũi (m, n, ng, nh), hoặc đồng nhất về đặc trưng ngữ âm vô thanh (p, t, c)

Âm chính “là hạt nhân, là yếu tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm

tiết cho nên âm chính cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập vần thơ” [10, tr 105] Để góp phần vào sự hòa âm này, âm chính có một quy luật

phân bố chặt chẽ trong các vần thơ: các nguyên âm là âm chính của hai âm tiết hiệp vần phải hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất về một đặc trưng nào đó (đặc trưng âm sắc trầm hoặc bổng), đặc trưng về âm lượng (nhỏ, lớn) Ngoài ra, có những trường hợp âm chính không cùng dòng, cùng độ mở cũng hiệp vần với nhau Các âm tiết này hiệp vần nhờ là âm cuối giống nhau

Phụ âm đầu và âm đệm đều có chức năng tạo nên sự khác biệt cho vần thơ để tránh lặp vần Thực tế, khi các âm tiết hiệp vần với nhau đã có sự hòa

âm, đắp đổi của âm chính, âm cuối và thanh điệu thì sự xuất hiện của bất kì

âm đầu nào trong âm tiết cũng không ảnh hưởng đến sự hòa âm Từ đó, ta

thấy rõ một điều: “âm đầu có tham gia cùng với các thành phần khác để tạo

Trang 18

nên sự hòa âm nhưng vai trò của nó không đáng kể” [10, tr l12] Còn âm

đệm mức độ hòa âm rất thấp, có những khuôn vần mà sự có mặt của âm đệm không ảnh hưởng đến sự phân loại của các vần thơ

Như vậy, tất cả các yếu tố cấu tạo nên âm tiết Tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần Trong

đó, thanh điệu, âm cuối, âm chính là những yếu tố quyết định âm hưởng chung của toàn âm tiết và do đó quyết định đến sự hoà âm của các âm tiết hiệp vần

• Nhịp

Tiết tấu trong thơ ca là sự sáng tạo ra những khoảng cách tương tự về

mặt thời gian Tiết tấu trong thơ chính là nhịp thơ “Nhịp thơ là cái được nhận

thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ thậm chí cả đoạn thơ” [14, tr 64] Như

vậy, yếu tố quan trọng nhất tạo nên nhịp điệu chính là ở chỗ ngừng, chỗ ngắt theo một cách thức nhất định khi phát âm

Trong thơ có hai kiểu nhịp: Ngừng nhịp ở cuối dòng và ngừng nhịp ở trong dòng thơ

Nhịp thơ có tính mỹ học do con người sáng tạo ra để biểu hiện tư tưởng, tình cảm con người Do vậy, các trạng thái rung cảm, cảm xúc đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhịp của câu thơ, bài thơ Nhịp trong thơ khác với nhịp trong văn xuôi V.Tinianop phân biệt rõ nhịp điệu văn xuôi và thơ:

“Trong văn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian được cảm thấy rõ,

hiển nhiên đó không phải là những tương quan về thời gian có thực giữa các

sự kiện mà chỉ là những tương quan có tính ước lệ Trong thơ thì thời gian không thể cảm giác được Các tiểu tiết của chủ đề và những đơn vị lớn của chủ đề được cân bằng bởi cấu trúc của thơ” [15, tr 42] Trong một bài thơ,

Trang 19

đơn vị để biểu diễn nhịp (ngắt nhịp) cơ bản nhất là câu thơ (dòng thơ) Vì trong câu thơ tập trung mật độ dày đặc về cú pháp, về sự hòa âm Trong mỗi dòng thơ lại có cách ngắt nhịp phụ thuộc vào thể thơ Từ nhịp chung của thể thơ ấy, người sáng tác sẽ có những cách sử dụng linh hoạt, nhất là trong câu thơ tự do, rõ nhất là loại thơ không vần

Như vậy, cách tạo ngắt nhịp hết sức đa dạng, có nhiều kiểu, tùy câu, tùy đoạn, tùy bài thơ, thể thơ Nhịp trong thơ mang bản sắc của từng nhà thơ trong việc chọn nhịp

Người Việt ưa sự cân đối hài hòa, do vậy trong các thể thơ truyền thống, cách luật, nhịp chẵn thường chiếm ưu thế (ví dụ như thơ lục bát), sự xuất hiện nhịp lẻ cũng là nhịp lẻ cân đối (trong câu có tiểu đối), sau đó mới đến nhịp lẻ độc lập Còn trong thơ tự do, khi những câu thơ gần với văn xuôi, không có vần thì lúc ấy nhịp nổi lên, vai trò của nhịp đã tạo được sự ngân vang rất lớn cho thơ Bản thân nhịp nhiều lúc cũng chứa nội dung trong đó:

“Nhịp chẵn gợi lên sự hài hòa, bình yên, tĩnh lặng, nhịp lẻ thường báo hiệu

những tai ương, mắc mớ, uẩn khúc…” [21, tr 10] Đến đây, ta có thể thấy rõ

nhịp chính là năng lượng cơ bản, là xương sống của bài thơ

Vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm quan trọng của ngôn ngữ thơ Vần

và nhịp nếu đặt đúng chỗ thì mang nghĩa Chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, bổ sung cho nhau: sự ngắt nhịp là tiền đề cho hiện tượng gieo vần, nhịp nâng cao hiệu quả hòa âm của vần, một chiều khác, chính vần

cũng có tác động trở lại nhịp “Sự tác động này được biểu hiện khi có sự hỗ

trợ của vần thì chỗ ngừng chỗ ngắt trở lên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn, vần

có khả năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [10, tr 36], đặc biệt hơn trong thơ tự

do thì “vần trở thành một tiêu chí rất quan trọng giúp người ta ngừng nhịp

đúng chỗ” [10, tr 42]

Trang 20

Túm lại, đặc trưng rất nổi bật của ngụn ngữ thơ ca là sự tổ chức õm thanh một cỏch hài hũa, cú quy luật của chỳng Vần và nhịp là hai yếu tố làm nờn đặc trưng đú đồng thời nú cú vai trũ quan trọng trong việc tạo nờn tớnh nhạc cho thơ, để thơ ca cú khả năng biểu đạt tinh tế những rung cảm, cảm xỳc của tõm hồn mà bản thõn nghĩa của từ khụng thể diễn đạt hết được Hơn nữa,

“nhạc tớnh của một thi phẩm càng giàu, tức những tham số thanh lọc của

ngụn ngữ càng cú độ tin cậy cao, thỡ hiệu quả lưu giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sức sinh tồn của nú càng mạnh” [5, tr 152]

1.2.2.2 Về ngữ nghĩa

Ngụn ngữ thơ ca trước hết là một thứ ngụn ngữ được trau chuốt, tinh luyện từ ngụn ngữ “nguyờn liệu” - lời núi hàng ngày Do vậy, ngữ nghĩa trong thơ ca khụng hoàn toàn đồng nhất với ngữ nghĩa của ngụn ngữ trong giao tiếp thụng thường và nú cũn khỏc với cả ngữ nghĩa trong văn xuụi Mỗi

từ khi đưa vào thơ đều trải qua sự lựa chọn của tỏc giả Những từ ấy hoạt động rất đa dạng, linh hoạt, biến húa để đạt được tham vọng với diện tớch ngụn ngữ nhỏ nhất cú thể chiếm lĩnh cả thế giới Trong văn xuụi khụng hạn chế về số lượng ngụn từ, cõu chữ, cũn trong thơ, tựy thuộc vào từng thể loại

mà cú những cấu trỳc nhất định Dưới ỏp lực của cấu trỳc, ngữ nghĩa của ngụn từ trong thơ nhiều khi khụng dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc mà cũn mang những ý nghĩa mới tinh tế, đa dạng hơn nhiều Nú vừa phải đảm bảo tớnh chớnh xỏc, tớnh hỡnh tượng vừa cú tớnh truyền cảm để phỏt huy được hiệu quả nghệ thuật cao nhất Như tỏc giả Mó Giang Lõn đó nhận xột: “Một trong những nột độc đáo của hoạt động sỏng tạo thơ ca là việc bố trớ chữ, tạo nghĩa mới cho chữ Cựng một chữ ấy nằm trờn một trục hỡnh tuyến ngụn ngữ nhưng lại biểu hiện nhiều chiều của nghĩa Ở đõy khụng chứa đựng với tư cỏch là từ đồng nghĩa mà là từ đa nghĩa Chớnh từ đa nghĩa tạo nờn độ sõu cảm xỳc của thơ, tạo nờn cỏc tầng nghĩa và sự biến húa linh hoạt của cõu

Trang 21

thơ, hỡnh ảnh thơ, hỡnh tượng thơ” [34, tr 21] Do vậy, ngữ nghĩa trong thơ

phong phỳ hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong giao tiếp đời thường và trong văn xuụi

Ngụn ngữ thơ là ngụn ngữ giàu sức khơi gợi, từ ngữ trong thơ khụng chỉ gọi tờn sự vật, hiện tượng mà cũn gợi ra nhiều liờn tưởng, tưởng tượng trong tư duy người tiếp nhận Họ khụng chỉ tỡm thấy ở từ ngữ và cấu trỳc

ngụn ngữ thơ những thụng tin “vẻ mặt” mà cũn tỡm thấy cả những “trầm

tớch” ngữ nghĩa của cõu chữ Lỳc này, ngụn ngữ thơ đó đạt đến độ hàm sỳc

“ý tại ngụn ngoại”.Và người đọc cú thể đồng sỏng tạo cựng với người nghệ

sĩ để tỡm hiểu đến tận cựng sức mạnh biểu đạt của ngụn ngữ thơ Đú chớnh là điều cốt tử của thơ Hiểu như vậy, chỳng ta nhận thấy ngụn ngữ thơ trở thành một thứ gỡ đó chưa từng được núi hoặc chưa từng được nghe Và trong quỏ trỡnh vận động của ngụn ngữ thơ ca cỏi biểu hiện và cỏi được biểu hiện luụn xõm nhập và chuyển húa vào nhau tạo ra cỏi khoảng khụng ngữ nghĩa vụ cựng cho ngụn ngữ thơ Chớnh đặc trưng ngữ nghĩa này tạo nờn sức hấp dẫn

kỡ lạ cho ngụn ngữ thơ Nú đũi hỏi người đọc đến với thơ bằng cả tõm hồn

mỡnh để cú thể cựng “vào mó” với người nghệ sĩ để “giải mó” những lớp

ngữ nghĩa tiềm tàng trong từng cõu chữ

Như đó núi ở trờn, thơ là ý tại ngụn ngoại, thơ cú thể núi được những

điều hết sức lắng đọng, kết tinh mà nhiều khi văn xuụi khụng núi được “Điều

kỡ diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cỏi nghĩa của nú, ngoài cụng dụng gọi tờn sự vật, bỗng dưng tự phỏ tung, mở rộng ra, gọi đến xung quanh

nú những cảm xỳc, những hỡnh ảnh khụng ngờ, toả ra xung quanh nú vựng ỏnh sỏng động đậy ” (Nguyễn Đỡnh Thi) Ưu thế của thơ trước hết là ở chỗ

này Cú những ý nếu núi ra bằng văn xuụi thỡ dường như vụ nghĩa nhưng

trong lời thơ nú lại cú sức khờu gợi rất lớn Vớ như từ “vũng” trong cõu thơ

của Nguyễn đỡnh Thi là như vậy:

Trang 22

Buổi chiều ứa máu Ngổn ngang những vũng bom

“Vũng bom” chứ không phải “hố bom” Trong “vũng” có nét nghĩa

thường trực “có nước” mà từ “hố” không nhất thiết phải có Chính nét nghĩa

"có nước" này tạo nên sự cộng hưởng giữa từ “vũng” và từ “máu” trong câu

đi trước Sự cộng hưởng đó dẫn đến một hình tượng liên tưởng có sức tố cáo mạnh mẽ: những vũng bom đạn Mĩ đã trút xuống làng quê ta chính là những vũng máu

Qua ví dụ trên, ta thấy nhờ cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt, thơ có thể nói được những điều lắng đọng, kết tinh, có sức khêu gợi lớn Đó cũng là đặc trưng rõ rệt của thơ

Các nhà thơ xưa nay vẫn thường hay nói đến sự kết tinh, chất chứa của lời thơ, của hình tượng thơ và lao động nghệ thuật của các nhà thơ xưa nay cũng thường là sự phấn đấu nhằm đạt cho được điều đó Trong kho tàng ngôn ngữ vô cùng phong phú của toàn dân, nhà thơ hay nhà văn lựa chọn những từ ngữ cần thiết nhất để đưa vào tác phẩm Đó là quá trình khổ luyện, tìm tòi,

tích lũy vốn sống mới có được những chữ “thần” để có thể “lóe sáng” lên

ở câu thơ, câu văn làm cho tác phẩm “nổi gió”, “cất cánh” Nhà thơ Nga

Mai-a-côp-ski đã viết:

Phải phí tổn ngàn cân quặng chữ

Mới thu về một chữ mà thôi

Những chữ ấy làm cho rung động

Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài

Chính đặc trưng ngữ nghĩa này tạo nên sức hập dẫn kì lạ cho ngôn ngữ

thơ Nó đòi hỏi người đọc đến với thơ bằng cả tâm hồn hình để có thể “đồng

Trang 23

sáng tạo”, cùng “vào mã” với người nghệ sĩ để “giải mã” những lớp ngữ

nghĩa ẩn trong từng câu chữ

1.1.2.3 Về ngữ pháp

Cũng như phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa, phương diện ngữ pháp của ngôn ngữ thơ cũng mang nét khác biệt với văn xuôi Điều khác biệt trước tiên thể hiện ở sự phân chia dòng thơ Dòng thơ có khi còn được gọi là câu thơ, nhưng trên thực tế dòng thơ không hoàn toàn trùng khớp với câu thơ xét về

cú pháp Dòng thơ có thể nhỏ hơn hoặc bằng, thậm chí lớn h¬n câu thơ và ngược lại Nghĩa là có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, có những dòng thơ lại bao gồm nhiều câu

Cách lựa chọn từ ngữ nhiều lúc không theo trật tự bình thường, các thành phần trong dòng thơ trong câu thơ thường bị đảo lộn Về cấu trúc cú

pháp của câu thơ, Nguyễn Lai đã nhận xét: “Cấu trúc có pháp của câu thơ

thường khó phân tích theo nguyên tắc logic của ngữ pháp thông thường trong văn xuôi” [31, tr.129] vì cấu trúc của ngôn ngữ thơ thường không bị ràng buộc bởi các quy định chặt chẽ như câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng Người nghệ sĩ với những ý đồ nghệ thuật riêng của mình, có thể

sáng tạo và sử dụng các kiểu câu có cấu trúc “bất quy tắc” Đó là những câu

“chệch” ra khỏi quỹ đạo của trật tự tuyến tính thông thường mà các đơn vị

ngôn ngữ luôn phải tuân thủ, bao gồm câu đảo ngữ, câu tỉnh lược, câu tách biệt, câu trùng điệp, câu vắt dòng, câu có sự kết hợp bất thường về nghĩa

Ngoài ra còn có cách liên kết từ mang tính “lạ hóa” tạo nên những tác động

mạnh mẽ và những gợi mở phong phú trong lời thơ Việc sử dụng phổ biến các kết cấu này không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản thơ Ngược lại, chính điều đó tạo ra, đem lại những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, đem hết khả năng vô tận của ngôn ngữ thơ trong việc chở tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới và tâm hồn con

Trang 24

người, làm nên sức ám ảnh của thơ.

Có thể nói, ngữ pháp thơ ca là loại ngữ pháp đặc biệt độc đáo, đầy ma lực đối với con người Khám phá ngữ pháp thơ ca là con đường ngắn nhất để chúng ta tìm ra được phong cách riêng của mỗi nhà thơ, tìm ra được những dấu ấn sáng tạo mang tính cá nhân của người nghệ sĩ

Có thể dẫn ra đây ý kiến của Mã Giang Lân: “Thơ trước hết là ngôn

ngữ với màu sắc âm thanh, nhịp điệu, với những cấu trúc đặc biệt Mỗi chữ đứng riêng có ý nghĩa riêng, nh-ng trong trường hợp khác, trong những cấu trúc khác sẽ có những ý nghĩa khác Mçi chữ mçi từ không chỉ là xác mà là hồn, là độ sâu ngữ nghĩa, độ sâu của ngân vang, của cảm quan nghệ thuật”

[34, tr.149] Quả đúng như vậy, qua ba đặc trưng về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ

nghĩa, ta thấy ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, nó là sản phẩm thể hiện tài năng, sự sáng tạo mang phong cách riêng của từng nhà thơ

1.2 Giới thiệu sơ lược về thơ Lai Châu đương đại và tác giả Đỗ Thị Tấc

1.2.1 Giới thiệu sơ lược về thơ Lai Châu đương đại

Lai Châu là tỉnh miền núi biên giới có nhiều thành phần dân tộc, có truyền thống lịch sử và văn hoá phong phú, độc đáo Đó cũng là mảnh đất

“màu mỡ”, là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận cho các nghệ sĩ Đồng thời

cũng đặt ra nhiệm vụ cho các nhà văn, nhà thơ sáng tác, sưu tầm, phổ biến, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá trên địa bàn, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Lai Châu giàu đẹp, văn minh

Sau khi tỉnh Lai Châu được chia tách thành hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu, trên địa bàn tỉnh Lai Châu mới có 42 văn nghệ sĩ, thuộc các chuyên ngành: Hội hoạ, âm nhạc, nhiếp ảnh, văn thơ, sưu tầm, nghiên cứu văn hoá, văn nghệ dân gian Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 02 Chi hội Văn học - Nghệ thuật ở hai huyện Tam Đường và Sìn Hồ, Chi hội Văn học - Nghệ thuật Tam Đường có 15 hội viên, trong đó có 04 hội viên đồng thời là hội viên Hội văn

Trang 25

học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và 03 hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam

Thông qua các cuộc thi sáng tác, trại bồi dưỡng nghiệp vụ, Hội đã phát hiện, kết nạp thêm 20 hội viên, nâng số hội viên của Hội văn học nghệ thuật tỉnh năm 2005 lên đến 60 người và thành lập được các chi hội chuyên ngành như:

+ Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số

+ Chi hội văn nghệ dân gian

+ Chi hội nhiếp ảnh

Về chất lượng, phần lớn các nghệ nhân, các hội viên biểu diễn, hội viên sưu tầm, nghiên cứu văn hoá dân gian, hội viên sáng tác (văn, thơ), hội viên nhiếp ảnh gia đều có tác phẩm đoạt giải của quốc gia, khu vực và chuyên ngành được tổ chức hành năm Đội ngũ văn nghệ sĩ trong tỉnh không ngừng trưởng thành về mọi mặt, nâng cao được bản lĩnh chính trị, phát huy khả năng nghề nghiệp Có được những thành quả đó là nhờ sự quan tâm, động viên, chăm lo về vật chất và tinh thần của các cấp lãnh đạo đối với Hội văn học nghệ thuật tỉnh nhà Đặc biệt là thái độ làm việc tâm huyết, nhiệt tình, miệt mài sáng tạo của các văn nghệ sĩ Các anh, các chị đã thường xuyên có mặt

trên các địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặt biệt khó khăn để “3

cùng ” với nhân dân

Một trong những thành tựu tiêu biểu của phong trào sáng tác Văn học Nghệ thuật tỉnh Lai Châu không thể không nhắc đến thành tựu sáng tác thơ

Từ khi ra đời đến nay, phong trào sáng tác thơ ở Lai Châu khá mạnh, trên 10 tập thơ được xuất bản và công bố Trên 100 bài thơ được đăng trên các tạp chí trung ương và địa phương của các tác giả đã minh chứng cho điều đó Tuy chưa có tác phẩm, tác giả nổi bật, chưa có sự bứt phá rõ nét trong đội ngũ hơn

20 tác giả thơ của tỉnh, nhưng thơ Lai Châu đang chuyển từng bước từ chỗ

Trang 26

bằng cảm xúc mô tả hiện thực cái tốt, cái đẹp của cuộc sống, các tác giả trẻ đã tập trung thể nghiệm đổi mới hình thức thể hiện và thi pháp sáng tác bước đầu

có hiệu quả Là một tỉnh có 23 dân tộc anh em chung sống Mảng thơ song ngữ tuy chưa phát triển nhưng vẫn duy trì Cái khó ở mảng thơ này cho cả tác giả và bạn đọc đó là phần dịch Thơ song ngữ hầu như chỉ dịch nghĩa chứ chưa có sáng tạo uyển chuyển từ ngữ dân tộc sang ngữ phổ thông Điều này hạn chế không nhỏ đến sự cảm nhận cái hay, cái đẹp trong văn chương tiếng

mẹ đẻ

Thơ Lai Châu đương đại có sự góp mặt của nhiều cây bút trưởng thành

từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đến nay học vẫn dồi dào sức sáng tạo thực sực sự đạt độ chín Đó là Nguyễn Thanh Luận, Huỳnh Nguyên, Đào Chính, Nguyễn Thị Tươi, Bùi Thị Sơn Những cây bút này tuy tuổi không còn trẻ nữa nhưng cái tình với thơ vẫn còn rất trẻ, thơ vẫn còn tình tứ lắm Tiếp nối các thế hệ nhà thơ đi trước, trẻ hơn có Đỗ Thị Tấc, Lê Thị Hải Yến, Phùng Hải Yến, Duy Tú Mỗi tác giả có một cách nhìn, một giọng điệu, một cách thể hiện theo cái “tạng” riêng của mình

Có thể nói các nhà thơ lai Châu qua các thế hệ đã không ngừng nỗ lực vận động theo yêu cầu đổi mới Họ đã đưa thơ trở về với mọi mặt đa dạng, phức tạp và sinh động của cuộc sống Dù có lúc cuộn xoáy trào dâng, có khi lại dồn nén tích tụ, nhưng bao giờ cũng thể hiện tâm hồn mãnh liệt, tính cách vừa phóng khoáng, hồn nhiên, chân thật của những con người miền sơn cước Lai Châu

1.2.2 Giới thiệu sơ lược về tác giả Đỗ Thị Tấc

Đỗ Thị Tấc sinh ngày 23 tháng 7 năm 1963, quê quán ở Nguyên Hoà, Phù Cừ, Hưng Yên Thế nhưng từ năm ba tuổi, chị đã theo bố mẹ (là công nhân làm đường) phiêu bạt trên khắp các cung đường của miền núi Lai Châu

Là một nhà thơ gắn bó cả cuộc đời với rừng cây và núi đá nên thơ chị cũng

Trang 27

chan chứa tình người vùng cao Năm 1982, chị tốt nghiệp trung cấp thể dục thể thao và công tác tại sở thể dục thể thao tỉnh Lai Châu Năm 1990, chị làm phóng viên rồi đi học Đại học báo chí Năm 1996- 2001, chị làm phóng viên Đài Truyền hình Lai Châu, rồi làm phó chủ tịch, chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Lai Châu từ năm 2004 đến nay

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Đỗ Thị Tấc viết và in dè dặt Nhưng những gì chưa nhiều chị viết ra cũng đủ gây ấn tượng về một vùng quê núi, về những người mẹ núi Trong thơ của chị , miền quê núi ở góc trời Tây Bắc, nơi thiên nhiên vừa gần gũi, hoang sơ, vừa khắc nghiệt mộng mơ gắn bó với người làm thơ như “ổ lá” mẹ sinh Nơi ấy “Trâu thở ra khói Người nói ra sương” ( Đỗ Thị Tấc- Cánh đồng) Nơi ấy chênh vênh trên mái nhà tổ quốc:

Nhìn xuống thấy mây cuốn gió Nhìn ngang gặp sao trời” Con người sống với núi, với rừng, với cây, với đá:

Mài đá giữa nhà làm bàn Mài đá trước sân phơi hạt Cây lúa cây rau vươn lên từ vách đá Cây ngô cây kê lên từ kẽ chân của đá

(Đỗ Thị Tấc - Sữa đá)

Ca ngợi quê núi, người miền núi, Đỗ Thị Tấc dành rất nhiều tình cảm cho những người mẹ Đã có biết bao nhiêu bài thơ hay, câu thơ hay viết về mẹ nhưng Đỗ Thị Tấc vẫn tìm được cách viết riêng, cách diễn tả riêng tư từ hoàn cảnh riêng của mình:

Mẹ không gặt con trên cánh đồng tình yêu

Mẹ không gặt con trên cánh đồng hoan lạc

Mẹ không gặt con trên cánh đồng người

Mẹ gặt con trên cánh đồng trớ trêu số phận

Trang 28

(Đỗ Thị Tấc - Trầu say)

Ngoài hai chủ đề lớn là quê núi và mẹ, thơ Đỗ Thị Tấc cũng cho người đọc cảm nhận những vẻ đẹp khác của cuộc sống các cô gái vùng cao Một thoáng nhớ nhung, hay khoảnh khắc rạo rực của cô gái chớm biết yêu được nhà thơ quan sát, cảm nhận và diễn đạt rất tinh tế đúng với với điệu hồn của người con gái dân tộc vùng cao:

Nhớ ai Xếp gối bông lau Gấp chăn bông gạo

Ra chan buông tóc gội đầu trăng

(Đỗ Thị Tấc - Bây giờ câu hát về đâu)

Đỗ Thị Tấc gắn bó với mảnh đất miền Tây Bắc Thơ chị có một vùng quê núi, một giọng điệu mộc mạc, phóng khoáng, có một tình cảm, dạt dào, trong sáng, đầy mẫu tính và nữ tính

1.3 Tiểu kết

Những vấn đề cơ bản về ngôn ngữ thơ, cụ thể là các vấn đề liên quan đến đặc trưng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà chúng tôi trình bày trong chương 1 sẽ là cơ sở lí luận, là định hướng để chúng tôi giải quyết các vấn đề

về ngôn ngữ thơ của Đỗ Thị Tấc trong chương 2 và chương 3 của luận văn Qua việc tìm hiểu về tác giả Đỗ Thị Tấc, có thể thấy Đỗ Thị Tấc là nhà thơ nữ tiêu biểu của thơ Lai Châu hiện đại Chị là một nhà thơ có giọng điệu không thể lẫn Đó là một hồn thơ tài hoa, nhạy cảm, tinh tế và đầy nữ tính

Trang 29

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ THƠ, VẦN, NHỊP

VÀ CÁCH TỔ CHỨC BÀI THƠ TRONG THƠ ĐỖ THỊ TẤC

2.1 Đặc điểm về thể thơ

“Thể loại như xương cốt, cái làm nên hình thù, vóc dáng cơ bản để từ đó nhà thơ đắp lên da thịt và thổi hồn vào mình, khiến bài thơ trở thành thực thể

và tồn tại với đời” [38, tr 230] Nói cách khác, thể loại là yếu tố rất quan trọng

để tạo nên chỉnh thể một thi phẩm, nó thuộc về phương diện hình thức nhưng

lại bao chứa nội dung, vì thế nó góp phần quyết định sức sống của một bài thơ

Lịch sử văn học cũng là lịch sử quá trình hình thành và phát triển của các thể loại Riêng với thơ, đến nay có thể kể đến các thể thơ như: thơ Đường luật, thơ hai chữ, thơ ba chữ, thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ lục bát, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tự do, thơ văn xuôi… Mỗi thể loại đều có ưu thế và nhược điểm riêng, có thể loại chỉ thịnh hành trong một giai đoạn nhất định, có thể loại đi suốt hành trình thơ Việt, có thể loại đóng khung trong một hình thức cố định, có những thể loại rất linh hoạt và có những biến tấu đa dạng Sự phân định các thể loại được tiến hành chủ yếu dựa trên các yếu tố: số tiếng của mỗi dòng, số dòng thơ, cách phối thanh và hiệp vần

Tần suất xuất hiện của các thể loại đó được thể hiện cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Bảng thống kê các thể loại thơ

TẬP

THƠ

Trang 30

2.1.1 Thể thơ 4 chữ

Thể thơ bốn chữ khá phổ biến trong tục ngữ, ca dao, dân ca, vè và thơ Trong tục ngữ, chúng ta gặp nhiều câu đặt theo thể thơ bốn chữ tạo thành từng cặp hai câu:

“Gần mực thì đen Gần đèn thì sáng”

“Khôn đâu đến trẻ Khỏe đâu đến già”

Nhìn chung, trong thơ ca dân gian thể thơ bốn chữ có hai loại vần là vần chân và vần lưng (thường thường thì đan xen nhau) và nhịp là nhịp hai

Các nhà thơ Việt Nam từ sau 1930 trở lại đây vẫn viết đều thể thơ bốn chữ này: Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Tố Hữu, Hồ Chí Minh… Nhịp và vần rất

đa dạng và phong phú Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, các nhà thơ vẫn viết được nhiều bài thơ hay ở thể thơ này Nhịp thơ bốn chữ (phổ biến là nhịp hai) gần với các bài đồng dao, đây cũng là nhịp thích hợp với tâm hồn trẻ thơ Bác Hồ trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã sử dụng nhịp thơ này để

viết bài thơ “Khen tặng hai cháu liên lạc trong bộ đội chiến khu II”:

Bác được tin rằng Cháu làm liên lạc

Bị giặc bắt được Lại trốn thoát ngay Mang hai lính Tây Theo về bộ đội Thế là cháu giỏi…

Trong sáng tác của nhà thơ Đỗ Thị Tấc, chỉ có một bài thơ làm theo thể thơ bốn chữ

Trang 31

2.1.2 Thể thơ tự do

Dựa vào bảng phân loại trên có thể thấy, nhà thơ Đỗ Thị Tấc rất có duyên với thể thơ tự do Chứng tỏ, chị đã bắt nhịp cùng với thơ ca thời đại trong việc sử dụng các thể thơ mới

Thơ tự do xuất hiện ngay từ khi phong trào thơ Mới ra đời và ngày càng được khẳng định vị trí của mình trong nền thơ hiện đại với nhiều tìm tòi mới Thơ tự do là thể thơ không tuân theo những quy tắc về cách luật cố định Thơ

tự do phóng túng trong cách biểu đạt, nhịp điệu khoáng đạt được cấu tạo bằng những câu thơ tự nhiên, đa dạng về tổ chức kết cấu, có số lượng từ ngữ co giãn linh hoạt, về mặt hình thức, thơ tự do có thể có vần nhưng nó không trở thành một quy tắc chặt chẽ mà nhịp điệu lại nối lên như một yếu tố chủ đạo Nhịp điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xác định như trong thơ Đường, thơ lục bát mà do những quy tắc nội tại, cảm xúc của nhà thơ

Như vậy, thơ tự do, thật ra không phải là thơ hoàn toàn phủ định mọi luật lệ của thơ Gọi là tự do vì nó bao gồm các thể loại thơ không theo một thể thức ổn định, cố định nào cả Số chữ trong từng câu, số câu trong mỗi bài, cách hiệp vần, cách ngắt nhịp đều hoàn toàn phóng khoáng, tuỳ theo nội dung của bài thơ và chủ định của nhà thơ Thơ tự do chỉ tự do đối với các luật lệ gò

bó, cố định, còn thật ra nó cũng tự giác tuân theo những qui luật cơ bản về âm thanh, vần luật, nhịp điệu của tiếng nói và câu thơ Việt Nam, đều rất chú trọng, quan tâm đến nhạc điệu của lời thơ Thơ tự do mở rộng khả năng diễn

tả của thi pháp Việt nam, làm giàu thêm nhạc điệu cho câu thơ Việt Nam, chứ không phải là vứt bỏ và phá hoại nhạc điệu đó

Sự phát triển của thơ tự do là để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thơ ca phải đi sâu vào các đề tài rộng lớn của cuộc sống, bắt nhịp với hơi thở thời đại Thơ tự do không phải là hình thức định trước của các nhà thơ khi sáng tác, mà là một hình thức định trước của các nhà thơ tìm đến với độ chín của

Trang 32

tâm hồn, tìm thấy ở đó sự diễn tả phù hợp nhất cho những trạng thái tinh vi của đời sống tinh thần, tình cảm, cho những đối tượng mà mình tâm đắc nhất

Thể thơ tự do được nhà thơ Đỗ Thị Tấc sáng tác với số lượng lớn nhất, đặc biệt chiếm ưu thế với 47 bài trong tổng số 48 bài chiếm 98% Ở thể thơ này, Đỗ Thị Tấc có nhiều bài thơ xuất sắc, in đậm dấu ấn phong cách thơ Đỗ Thị Tấc

Trong 47 bài thơ tự do được khảo sát, chúng tôi nhận thấy đặc điểm chung về hình thức là sự phối xen: xen kẽ câu thơ dài ngắn (số lượng từ khác nhau) với nhau, phối hợp có vần và không vần

Chẳng hạn bài "Những người mẹ núi" - cũng là tên tập thơ của chị đã

được tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002

Cõng hạt giống trên lưng Địu con thơ trước ngực Qua ba cánh rừng

Mẹ lên nương Mặt trời chưa thức

Hạt giống gieo vào đất Con thơ ngon giấc lán nương Tra hạt xong ôm con

Địu con thơ trước ngực

Trang 33

Đầu mẹ đội nắng, mưa, sấm, chớp

Có thể nói, hình tượng người mẹ là một trong những hình tượng nghệ thuật tiêu biểu trong dòng chảy thơ ca Việt Nam từ văn học dân gian đến văn học viết Hình tượng ấy vừa phản ánh khí thế hào hào của dân tộc, vừa biểu trưng của văn hoá truyền thống và hiện đại của nhân dân Việt Nam Như một nỗi ân nghĩa thiêng liêng, xưa cũng như nay, hình ảnh người mẹ Việt Nam là một trong những biểu tượng đẹp nhất, sáng chói nhất, tượng trưng sâu sắc nhất về Người mẹ - Tổ Quốc của người Việt Nam, người đã sinh ra dân tộc này, con người của đất nước này

Trong lịch sử thơ ca dân tộc, đã có biết bao bài thơ hay, câu thơ hay viết về mẹ, nhưng Đỗ Thị Tấc vẫn tìm được cách viết riêng Đó là sự cảm nhận về người mẹ núi ở vùng quê núi Có thể đó là một người mẹ cụ thể, mẹ của chị, của người chiến sĩ ra đi mãi mãi không về, và có thể là người mẹ vô danh giữ hạt Sống cho mường, cho bản Mỗi hoàn cảnh khác nhau, hình ảnh

Trang 34

người mẹ hiện lên trong những cảnh ngộ, tâm sự, nỗi niềm riêng Song mỗi bài thơ Đỗ Thị Tấc viết về người mẹ Núi là một nốt nhạc trong bản giao hưởng ngợi ca người phụ nữ miền núi, ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng

Bài thơ “Những người mẹ núi ” viết về những người mẹ dân tộc miền

Núi âm thầm, bền bỉ, quên mình hi sinh tất cả để giữ hạt sống cho bản mường Hình ảnh “người mẹ núi” vừa “ Cõng hạt giống trên lưng Địu con thơ trước ngực Qua ba cánh rừng Mẹ lên nương Mặt trời chưa thức” khiến người đọc cảm nhận được nỗi vất vả, khó nhọc trong cuộc mưu sinh của người mẹ, người phụ nữ vùng cao Bài thơ như một lời giãi bày tâm sự tự nhiên, không cầu kì uốn éo làm duyên, không phô trương khoe chữ Ý thơ, nhịp thơ cũng

trúc trắc, như nhịp thở dốc của người mẹ khi “ Cõng hạt giống trên lưng /Địu con thơ trước ngực ” vượt qua bao cánh rừng hoang vu, vượt qua bao con suối, qua bao dốc cao, đèo sâu để lao động, để gieo mầm sự sống Chẳng thể đếm hết được biết bao giọt mồ hôi mặn chát đã đổ xuống trên chặng đường vượt đèo lội suối, trên núi, trên nương; chẳng thể đếm được bao lần nước mắt thầm lặng đã tuôn rơi trong cuộc đời vất vả, gian truân Vượt lên tất cả,

“ người mẹ núi ” vẫn âm thầm chắt chiu những nụ cười thầm lặng từ cuộc đời

đầy muối mặn, mồ hôi Đó là phẩm chất tốt đẹp của người mẹ Việt Nam nói

chung, người mẹ dân tộc miền núi nói riêng

Một nhà nghiên cứu từng nói rằng: trong dòng chảy có nước của cội nguồn thì dòng chảy đó sẽ không bao giờ ngưng đọng Con người Việt Nam

từ bao đời nay vốn tha thiết hướng về cội nguồn quê hương, đất nước, nơi chôn rau, cắt rốn của mình Đỗ Thị Tấc là một nhà thơ người kinh, nhưng ngay từ lúc 3 tuổi đã sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số nên thơ tự do của chị đa phần lấy cảm hứng từ cuộc sống dân tộc và miền núi Đây là điều đáng quý Quý hơn nữa , khi sáng tác, nhà thơ nữ này thuần thi pháp dân gian- một thị pháp gần gũi với thi ca của đồng bào dân tộc thiểu số anh em

Trang 35

Thơ tự do của Đỗ Thị Tấc ít có vần Bù lại, nhà thơ thường xuyên sử dụng phép điệp: điệp âm, điệp từ, điệp cụm từ, điệp tứ, điệp liền, điệp cách dòng cả điệp trong câu Thơ ca dân gian chủ yếu được tiếp nhận từ truyền khẩu, nên muốn dễ thuộc lòng, ngôn từ phải đơn giản, dễ hiểu, nhịp thơ đều đặn, dễ ngấm và điệp Ví dụ một đoạn ca dao Chăm:

Trâu kéo cày qua bờ Chẳng buồn lòng "họ" trâu dừng lại Trâu kéo cày qua suối

Chẳng buồn nói một tiếng "họ" trâu

(Tagalau 3, NXBTP Hồ Chí Minh, 2003, Inrasara dịch)

Ở bài “Trầu say, chúng ta bắt gặp hai dạng điệp, điệp liền dòng( điệp

từ và cụm từ) và điệp cách dòng

Điệp liền dòng:

Mẹ không gặt con trên cánh đồng tình yêu

Mẹ không gặt con trên cánh đồng hoan lạc

Mẹ không gặt con trên cánh đồng Người

Nghê đá đình làng nhe răng không nói Lời ru ra cánh đồng

Lúa ngậm đòng hết thì con gái

Trang 36

Chúng tôi nghĩ, với lối điệp như thế, người ít chữ nghe qua vài lần là đủ

thuộc Có khi hứng lên, Đỗ Thị Tấc điệp luôn từng cặp một:

Mài đá giữa nhà làm bàn Mài đá trước sân phơi hạt Cây lúa, cây rau vươn lên từ nách đá Cây ngô, cây kê mọc lên từ kẽ chân của đá Những tiếng cựa quậy làm nên sự sống Những tiếng động của sự chết

(Đỗ Thị Tấc - Sữa đá)

Thơ Đỗ Thị Tấc tạo nên một sức hấp dẫn kì lạ, dễ nhớ, dễ thuộc nhờ lối

sử dụng ngôn từ đơn giản, những hình ảnh cụ thể, gần gũi với sinh hoạt hàng ngày, đến nỗi người đọc có cảm giác đó là nói chứ không thơ gì cả, vậy mà nó

cứ thơ:

Sữa người trắng Sữa đá trong

Về đi em Cho đầu anh gối tóc Cho tay anh gối đầu Mình như ngọc đôi chẳng rời nhau

(Đỗ Thị Tấc - Sữa đá)

Một đặc điểm nữa của thơ tự do Đỗ Thị Tấc là chủ yếu gồm những câu đơn, ngắn Trong các tập thơ của mình, Nhà thơ để trắng rất nhiều khoảng trống trên trang giấy Nhà thơ này sử dụng tối đa câu đơn và xuống dòng Một hình ảnh dùng đắt: xuống dòng; một cụm từ, ba chữ, thậm chí hai chữ: xuống dòng Đây có lẽ là khác biệt duy nhất của Đỗ Thị Tấc với thi ca dân gian Bởi nhà thơ đang có mặt trên giấy, nó cần tạo ấn tượng lên cái nhìn của mắt chứ không còn nghe bằng tai như thơ ca truyền khẩu nữa Có lẽ vì thế nên nhà thơ

Trang 37

đôi lúc viện tới cái thang - thơ bậc thang Dù ít, nhưng có, để lại ấn tượng Thế nhưng ở khía cạnh này, Đỗ Thị Tấc dường như chưa đạt được điều mình muốn Bởi đây là loại thơ cấu trúc câu rất gần ngôn ngữ nói Trong lúc, nói

như Phan Ngọc: “ Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt

ép người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này ”.

Sáng tác dân gian thường nghiêng về cảm xúc, nó đánh thẳng vào tình cảm đối tượng, gây cho người đọc buồn, vui, yêu, ghét Trong lúc cái hay của thơ hiện đại đa phần là hay ở toàn cục, tập hay bài Và bởi cấu trúc đứt quãng, phân mảnh nên trong mỗi bài, nhiều đoạn vẫn có thể sáng lên bất ngờ - người đọc có thể đọc bất kì đâu nếu thích, không cần theo trật tự từ đầu đến cuối “câu chuyện” Thơ bình dân, ở đây là Đỗ Thị Tấc thì ngược lại Nó đòi hỏi chúng ta phải đoc tuyến tính, theo dõi trên xuống; kịch tính dồn dần về đoạn dưới để bùng vỡ nới đoạn, câu cuối cùng Nhà thơ khi thành công thường ở lối cấu trúc chặt, lối nói kín, mà hình tượng thơ thì liền một mạch, gây được ấn tượng Chẳng hạn như bài “Dáng tre ”

Cha cho măng dáng đứng

Mẹ cho măng áo mặc Lớn lên bụng áo chật Dáng thẳng vẫn vươn cao

Vươn cao Đến một ngày Biết mình là con núi Biết mình là cháu trời Cho nên đầu tre cúi

Trang 38

Đây là một bài thơ hay viết về tre Trong một bức tứ bình xưa, hoạ sẽ

đề thơ dưới cây tre rằng:

Vị xuất thổ thời tiêu hữu tiết Đáo lăng vân xứ dã vô tư

Viết về cây tre lúc chưa ra khỏi đất đã có khí tiết (chữ “tiết” nghĩa đen

là đốt tre) khi cao đến ngang mây lòng dạ vẫn vô tư, kể là đã hay, nhưng cây tre của Đỗ Thị Tấc thì lại hay ở chỗ khiêm nhường: “ Biết mình là con núi, Biết mình là cháu trời, Cho nên đầu tre cúi ” Cái cúi đầu khiêm tốn ấy trước

trời, trước núi sinh ra mình, vừa khiêm nhường lại vừa kiêu hãnh, ngạo nghễ Quả là một tứ thơ lạ, ý nghĩa thật đằm sâu

Chính cấu trúc mở và phức hợp của bài thơ tự do có một vai trò quan trọng trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống Chất hiện thực bề bộn của cuộc sống được tăng cường đưa vào thơ Có những bài thơ tự do của Đỗ Thị Tấc mang dáng dấp của một câu chuyện dài, câu chuyện về cuộc đời chị như trong bài “Trầu say ”:

Giữa hai cột hiên nhà Dây võng nghiến vào gỗ Đung đưa

Con ngủ Kẽo kẹt tiếng võng

In hằn móng ngựa Miết trên đường làng

Cỗ xe khát vọng

Con có ở trên đời Như sợi khói chui ra từ cọng rạ Cay mắt mẹ đun độ mưa dầm

Trang 39

ngày không Con khóc lặng

Mẹ khóc thầm À ơi con ngủ cho say

Mẹ ru con

Mẹ ru ai

ru hời Cái cò đi đón cơn mưa Nước dâng ngập bến

Cò xưa không về!

Lời ru bay lên Ngọn tre làng cong ngàn dấu hỏi Lời ru run lên

Nghê đá đình làng nhe răng không nói Lời ru ra cánh đồng

Lúa ngậm đòng hết thì con gái Lời ru trở về bên cánh võng Liềm cùn

Mẹ không gặt con trên cánh đồng Tình yêu

Mẹ không gặt con trên cánh đồng Hoan lạc

Mẹ không gặt con trên cánh đồng Người Cánh đồng thứ nhất

Lá trầu Cánh đồng thứ hai

Trái cau Cánh đồng thứ ba

Vôi trắng

Trang 40

Mẹ đã trao một người ra trận

Để rồi hai mươi năm sau

Mẹ gặt con trên cánh đồng trớ trêu

Số phận Trầu say

Có ấm mẹ chăng những tháng ngày tủi cực Chẳng thể nuôi con bằng những miếng trầu Cánh phượng bay trong tầm tã mưa mau

Những năm tháng cuối Trông chiều đưa bóng núi

Mẹ têm trầu

Cánh phượng muốn bay

Điều đáng nói, bao giờ Đỗ Thị Tấc cũng kết hợp rất nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự với yếu tố trữ tình, cho nên những bài thơ tự do của chị dù dài hay ngắn thì cảm xúc vẫn rất liền rất liền mạch Ví dụ bài “Vô đề, Đỗ Thị

Tấc viết:

Lá khóc Nắng và gió lau khô mắt lá

Đá khóc

Ngày đăng: 10/11/2016, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam(1945 - 1975), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam(1945 - 1975)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
2. Vũ Tuấn Anh (2000), Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
3. Aristote (1992), Nghệ thuật thi ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1992
4. Lê Bảo (2001), Thơ Việt Nam, tác giả, tác phẩm, lời bình (tái bản lần thứ nhất), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam, tác giả, tác phẩm, lời bình
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
6. Huy Cận, Hà Minh Đức (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (2011), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
9. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2006), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
10. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2005
11. Hữu Đạt (1998), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội
Năm: 1998
12. Lê Đạt, Đối thoại với đời và thơ, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại với đời và thơ
Nhà XB: Nxb Trẻ
13. Hồng Diệu (1977), Đọc thơ giữa những ngày xuân của Tế Hanh, báo Văn nghệ, (175) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc thơ giữa những ngày xuân của Tế Hanh
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 1977
14. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình nhìn từ góc độ loại hình, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kết cấu thơ trữ tình nhìn từ góc độ loại hình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
15. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 2002
16. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1971
17. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
18. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
19. Hà Minh Đức (chủ biên) (1999), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
20. Hà Minh Đức (2008), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2  Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép  49 - Đặc điểm ngôn ngữ thơ đỗ thị tấc
2 Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép 49 (Trang 3)
Bảng 2.2: Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép - Đặc điểm ngôn ngữ thơ đỗ thị tấc
Bảng 2.2 Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép (Trang 54)
Bảng 3.3: Bảng thống kê các kiểu so sánh - Đặc điểm ngôn ngữ thơ đỗ thị tấc
Bảng 3.3 Bảng thống kê các kiểu so sánh (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w