Trong lịch sử loại hình nghệ thuật, thơ ca là loại hình ra đời sớm nhấtcủa nhân loại cùng một lúc với nhạc, họa, múa nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh.Được xem là loại hình tác phẩm tự
Trang 1- -
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ TỰ DO CỦA HOÀNG NHUẬN CẦM
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Kim Bảng
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một
công trình nào khác
Tác giả luận văn
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành ngoài sự cố gắng của bản thân còn có sự quan
tâm giúp đỡ của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè… Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Vũ Kim Bảng, nguyên Phó Viện trưởng Viện
Ngôn ngữ học Việt Nam, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian hoàn
thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Hải Phòng, Viện
Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã nhiệt tình giảng
dạy, cung cấp cho tôi những vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đã đóng
góp những ý kiến quý báu cho luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, tập thể cán bộ, giáo viên trường
THCS Bắc Hà, quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, những người bạn thân hữu và các
em học sinh đã động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 12 năm 2016
Tác giả
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
MỞ ĐẦU v
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Thơ và các khái niệm liên quan 7
1.1.1 Khái niệm thơ 7
1.1.2 Các khái niệm liên quan đến thơ 9
1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ 11
1.2.1 Ngôn ngữ thơ là gì? 11
1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 12
1.3 Hoàng Nhuận Cầm và thơ của ông 18
1.3.1 Vài nét về Hoàng Nhuận Cầm 18
1.3.2 Thơ của Hoàng Nhuận Cầm 19
1.4 Tiểu kết Chương 1 20
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TRONG THƠ TỰ DO CỦA HOÀNG NHUẬN CẦM 22
2.1 Đặc điểm về vần thơ Hoàng Nhuận Cầm 23
2.1.1 Vần trong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm xét theo vị trí của các tiếng hiệp vần 24
2.1.2 Vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo đường nét thanh điệu 29
2.1.3 Vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo mức độ hòa âm 30
2.2 Đặc điểm về nhịp thơ Hoàng Nhuận Cầm 35
2.2.1 Khái quát về dòng thơ và nhịp thơ trong thơ tư do Hoàng Nhuận Cầm 35
2.2.2 Kiểu tổ chức nhịp điệu đối xứng 40
2.2.3 Kiểu tổ chức nhịp điệu trùng điệp 41
Trang 52.2.4 Kiểu tổ chức nhịp điệu tự do 42
2.3 Tiểu kết Chương 2 44
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ VÀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG THƠ TỰ DO HOÀNG NHUẬN CẦM 45
3.1 Đặc điểm sử dụng các lớp từ đặc thù trong thơ Hoàng Nhuận Cầm 45
3.1.1 Sử dụng từ láy 45
3.1.2 Sử dụng lớp từ chỉ màu sắc 49
3.1.3 Sử dụng lớp từ chỉ hoa 52
3.2 Các biện pháp tu từ trong thơ Hoàng Nhuận Cầm 54
3.2.1 Biện pháp so sánh 54
3.2.2 Biện pháp nhân hóa 61
3.2.3 Biện pháp điệp 63
3.2.4 Biện pháp sử dụng câu hỏi tu từ 69
3.3.Tiểu kết Chương 3 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
TƯ LIỆU KHẢO SÁT 80
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
2.1 Các loại vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo vị
2.2 Các loại vần chân trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm 242.3 Các vần theo mức độ hòa âm trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm 302.4 Thống kê cách ngắt nhịp trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm 353.1 Các kiểu láy trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm 463.2 Màu sắc cơ bản và màu sắc không cơ bản trong thơ tự do
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
1.1 Trong lịch sử loại hình nghệ thuật, thơ ca là loại hình ra đời sớm nhấtcủa nhân loại cùng một lúc với nhạc, họa, múa nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh.Được xem là loại hình tác phẩm tự sự, thơ ca là hiện tượng độc đáo của văn học với
cơ chế sử dụng ngôn ngữ của nó Vì vậy, ngôn ngữ thơ trước tiên được coi là đốitượng quan tâm của lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học và hiện nay đặc biệt đượcquan tâm với tư cách là đối tượng khảo sát của ngành ngôn ngữ học Nghiên cứu vềngôn ngữ thơ ca có thể là quá trình khám phá tìm hiểu ngôn ngữ trong hoạt độnghành chức của nó; có thể là tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ tạo nên phong cáchriêng của tác giả Đây là một hướng nghiên cứu hết sức cần thiết để người đọc cóthể có cách nhìn toàn diện và thấu đáo hơn về bản chất của thơ ca
1.2 Trong lịch sử phát triển của nền văn học Việt Nam, thơ ca chịu ảnhhưởng sâu sắc của luật thơ truyền thống (lục bát và lục bát biến thể) và thơ Đườngluật cùng những quy tắc nghiêm ngặt Bước sang đầu thế kỷ XX, với công cuộchiện đại hoá văn học, thơ Việt Nam thực sự chuyển mình và phát triển theo nhiều
xu hướng khác nhau trong đó có khuynh hướng tự do hóa trong thơ Với khuynhhướng tự do hóa trong thơ ca, việc mở rộng dung lượng nội dung, phản ánh hiệnthực sinh động của cuộc sống; linh hoạt hơn trong hình thức biểu đạt thế giới nộitâm phong phú của con người và phát huy tối đa các tính sáng tạo của nhà thơ đượcxem là những thay đổi mạnh mẽ so với các thể loại thơ truyền thống Cùng với đổimới về nội dung, ngôn ngữ thơ cũng được cách tân mạnh mẽ, không bị bó buộc bởinhững qui tắc cổ hủ Do vậy, thơ tự do đã khẳng định được những ưu điểm khôngthể thay thế được của nó trên thi đàn thơ ca Việt Nam hiện đại Thơ tự do trước tiênđược đánh dấu bằng phong trào Thơ mới (1930 - 1945), sau đó là thời kì phát triểnmạnh mẽ của nền thơ chiến tranh cách mạng nói chung (1945 - 1975), đặc biệt làgiai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) và tiếp nối là từ sau năm 1975 đến naygắn liền với giai đoạn xây dựng đất nước Có thể nói, trong giai đoạn hiện đại, thơ
tự do giữ vị trí thống trị thi đàn so với các thể thơ khác
1.3 Đặc điểm về mặt hình thức của thơ tự do là không quy định số lượng câuchữ, vần điệu, cấu trúc bài thơ; biến đổi linh hoạt, cởi mở theo cảm xúc và không bị
Trang 8gò ép như thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát) hay thơ Đường luật Chính vìthế mà rất nhiều nhà thơ hiện đại đã lựa chọn thơ tự do là thể loại chính trên bướcđường sáng tạo thi ca và nhiều tác giả đó thành danh ở thể loại thơ ca này Nhữngnhà thơ nổi tiếng trong giai đoạn hiện đại có rất nhiều trong đó có thể kể đến nhữngnhà thơ nổi tiếng với thể thơ tự do như Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, NguyễnĐình Thi, Hoàng Cầm, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, TếHanh Trong số những nhà thơ trải qua chiến tranh chống Mỹ cứu nước và trưởngthành trong giai đoạn hiện nay, được nhiều người yêu thích, đặc biệt là giới trẻ, tênnhà thơ Hoàng Nhuận Cầm luôn được đề cập Ông một người lính và một ngườicầm bút; sáng tác nhiều và khỏe đặc biệt trong thời gian cầm súng từ 1971 đến
1975 Trong số các bài thơ tiêu biểu của ông, tập thơ “Xúc xắc mùa thu" được nhận
giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993 Đến năm 2012, tuyển tập thơ
“Xúc xắc mùa thu - Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến”được nhận giải thưởng Nhà
nước về Văn học Nghệ thuật Trong các tập thơ này, thể thơ mà Hoàng Nhuận Cầm
sử dụng trong tuyển tập thơ này chủ yếu là thể thơ tự do.
Từ những cơ sở trên đây, chúng tôi muốn thực hiện một đề tài nghiên cứu
cho luận văn của mình "Đặc điểm ngôn ngữ thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm".
Tìm hiểu đặc điểm thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm thông qua khảo sát và đánh giá
từ góc độ ngôn ngữ học, trước hết chúng tôi muốn chỉ ra những đóng góp của nhà
thơ trong việc sử dụng vần điệu và ngôn từ đối với thể loại thơ tự do trong thơ ca
thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và hơn thế nữa trong quá trình tự do hoá ngôn ngữthơ, hiện đại hoá nền thơ Việt Đồng thời, chúng tôi cũng hướng tới việc chỉ ra
những đặc trưng mang phong cách của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu thơ tự do từ góc độ văn học
Thơ tự do Việt Nam xuất hiện muộn màng vào những năm 1932 - 1945 củathế kỷ XX Mặc dù vậy, thơ tự do ngay từ khi hình thành đã được rất nhiều nhànghiên cứu quan tâm và đánh giá
Trước tiên phải đề cập đến ý kiến của nhà phê bình Hoài Thanh trong công
trình nghiên cứu về phong trào Thơ Mới trong cuốn Thi nhân Việt Nam Theo ông, Thơ tự do chỉ là một phần nhỏ của Thơ mới Phong trào Thơ mới trước hết là một
Trang 9cuộc thử nghiệm táo bạo để định lại giá trị của những khuôn phép xưa [38] Điều
đó có nghĩa là thơ tự thực sự xuất hiện với tư cách là một thể thơ độc lập từ phongtrào Thơ Mới Và ngay từ khi được khai sinh, thơ tự do đó là một thể thức góp phầnđổi mới hình thức nghệ thuật thơ dân tộc, đối chọi lại những khuôn luật cứng nhắccủa thơ cổ điển Đồng quan điểm với Hoài Thanh về thời điểm khai sinh của thơ tự
do từ phong trào Thơ mới là ý kiến của tác giả Bằng Giang (1966): Từ Thơ mới, thơ
tự do mở đường nhập hội Tao Đàn [14].
Tiếp theo, phải kể đến công trình nghiên cứu công phu của hai tác giả BùiVăn Nguyên và Hà Minh Đức (1971) Trong công trình nghiên cứu Thơ ca Việt
Nam, các ông đã đề cập đến thể thơ tự do, đặc biệt là về mặt hình thức: Nói đến thơ
tự do là muốn nói đến một thể thơ ít bị ràng buộc nhất về mặt vần điệu, về sự hạn định câu như thế đúng về mặt hình thức cấu tạo thơ tự do có thể có câu dài ngắn khác nhau [33] Cũng trên tinh thần này, Lam Giang (1994) đánh giá: Tự do dùng chữ, tự do đặt câu, tự do gieo vần hay bá vần, tự do chọn điệu cũ hay sáng tạo điệu mới, tự do chọn nghĩa lí hay không cần nghĩa lí [15].
Trong công trình Hành trình thơ Việt Nam hiện đại (1998), Trần Đình Sử có thống kê tỉ lệ thơ tự do trong các tuyển tập thơ và khẳng định: Xét về hình thức bề ngoài, thơ sau cách mạng năm 1945 phát huy hình thức tự do [37] Theo kết quả thống kê sơ bộ của nhà nghiên cứu này, ở tập Thơ kháng chiến 1945 - 1954 (NXB Tác phẩm mới, năm 1986) có 62/147 bài thơ tự do Ở tập Thơ Việt Nam 1945 - 1985
(NXB Văn học, năm 1985) có 98/213 bài thơ tự do Điều đó chứng tỏ rằng, thơ tự
do chiếm ưu thế vượt trội hơn hẳn so với các thể thơ khác Các kết quả khảo sát đãchỉ rõ ràng là xu thế phát triển của thơ Việt Nam hiện đại là xu thế tự do hoá hìnhthức thơ
Xu hướng tự do hoá hình thức thơ gắn với sự phát triển của thế thơ tự do đótrở thành hướng phát triển của thơ Việt Nam hiện đại Nhiều nhà nghiên cứu tronggiai đoạn hiện nay như: Mã Giang Lân, Nguyễn Xuân Nam, Hữu Đạt, Nguyễn VănLong, Nguyễn Thị Phương Thùy đã khẳng đinh xu hướng này Đây cũng là mộtluận điểm quan trọng mà chúng tôi lưu ý khi triển khai đề tài luận văn
Trang 102.2 Nghiên cứu thơ tự do từ góc độ ngôn ngữ học
Nghiên cứu thơ tự do từ góc độ ngôn ngữ học, cho đến nay chưa có nhiều
Có thể kể đến một sổ luận văn, luận án nghiên cứu về thơ tự do từ góc độ này như:
Khương Thị Thu Cúc với luận văn Sự vận động của thể thơ tự do từ phong trào thơ Mới đến nay [6], nhìn nhận vấn đề thơ tự do theo quan điểm thể loại hình thức Hà Thị Diễm Hường với luận văn Khảo sát nhịp điệu trong thơ tự do [18] nghiên cứu theo quan điểm phong cách học Đỗ Khánh Phượng với đề tài Khảo sát thể thơ tự
do [36], nghiên cứu về thể thơ tự do cũng dưới góc độ phong cách học Nguyễn Thị Phương Thuỳ với luận án Nghiên cứu sự tự do trong ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỉ XX [43] lại nhìn nhận các bước tiến của ngôn ngữ trong thơ theo hướng tự
do hoá cả về mặt nội dung và hình thức Đây là một công trình công phu, nhìn lạiquá trình phát triển tự do hóa của thơ ca Việt Nam hiện đại từ góc độ ngôn ngữ học
Qua nguồn tài liệu đó tiếp cận trên, chúng tôi thấy rằng, thơ tự do đó đượctìm hiểu chủ yếu ở hướng khái quát về thể loại Hướng nghiên cứu thơ tự do gắn với
tác giả cụ thể có thể chưa được nhiều người quan tâm Vì vậy, trên cơ sở kế thừa,
phát triển kết quả nghiên cứu của những người đi trước, luận văn tập trung đi sâu
tìm hiểu về: “Đặc điểm ngôn ngữ thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm”.
2.3 Tình hình nghiên cứu thơ Hoàng Nhuận Cầm
Việc nghiên cứu thơ của Hoàng Nhuận Cầm gắn liền với các giai đoạn sángtác của tác giả và chủ yếu từ góc độ văn học
Sau khi nhận giải nhất Báo Văn nghệ năm 1972 - 1973 với tập thơ đầu tiên
"Thơ tuổi 20" (in chung với Vũ Đình Văn) và tập thơ thứ hai "Những câu thơ viếtđợi mặt trời" (thơ, 1984), giới phê bình văn học vẫn chưa có những đánh giá đángchú ý đối với Hoàng Nhuận Cầm Phải mãi đến năm 1993, khi tập thơ “Xúc xắcmùa thu" của ông được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, thơ củaHoàng Nhuận Cầm mới thực sự được các nhà phê bình, nghiên cứu thực sự quantâm Có thể điểm lại những bài viết từ góc độ phê bình văn học đối với thơ ông như:
Hồ Thế Hà với bài viết "Xúc xắc mùa thu ru trong cỏ", báo Thừa Thiên huế, số 338,
ra ngày 19/10/1993; Khả Xuân có bài viết " Viên xúc xắc xoay tròn", báo BìnhĐịnh, số 429 ngày 22/10/1993; Nguyễn Hoàng Sơn với bài " Hoàng Nhuận Cầm -
Trang 11tiếng thơ riêng khó lẫn", báo Tiền phong ngày 10/11/2002 bàn về phong cách thơcủa tác giả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn nhằm làm sáng tỏ vấn đề sau:
- Nêu những đặc điểm chính về ngôn ngữ thơ ở các phương diện: hình thức,nội dung thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm;
- Góp phần làm sáng tỏ phong cách thơ Hoàng Nhuận Cầm, những đóng gópcủa thơ tự do của ông trong giai đoạn văn học hiện đại Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Khảo sát và tìm hiểu về đặc điểm ngữ âm: nhịp điệu, âm điệu, vần điệutrong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm
- Khảo sát và tìm hiểu về đặc điểm ngữ nghĩa: cách sử dụng từ và các biệnpháp tu từ tiêu biểu trong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm
- Từ những đặc điểm hình thức và nội dung trên, rút ra những đặc điểmchung nhất về ngôn ngữ thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm và bước đầu khẳng địnhnhững đóng góp của Hoàng Nhuận Cầm về mặt phong cách trong nền thơ ca hiệnđại đại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngôn ngữ thơ của HoàngNhuận Cầm Đây là một phạm vi rộng Trong luận văn này, chúng tôi tập trungkhảo sát hai phương diện chủ yếu nhất tạo nên đặc điểm thơ tự do của HoàngNhuận Cầm gồm:
- Các đặc điểm ngữ âm được sử dụng trong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm;
- Các đặc điểm sử dụng từ và các biện pháp tu từ tiêu biểu được sử dụngtrong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm
4 2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát của luận văn là 80 bài thơ tự do trong tuyển tập "Xúc xắcmùa thu (thơ) - Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ)” (NXB Hội nhà văn, năm
Trang 122015) Tuyển tập này được in trên cơ sở Hoàng Nhuận Cầm được nhận Giải thưởngNhà nước về Văn học Nghệ thuật vào năm 1992.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp sau:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Đây là thủ pháp được sử dụng chủ yếu
nhằm thống kê tần số xuất hiện các thể thơ, đặc điểm vần nhịp và hài thanh, các lớp
cơ sở đó, có thể tổng hợp, rút ra nhận xét, khái quát điển hình về phong cách thơ tự
do Hoàng Nhuận Cầm
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn này có thể coi là công trình nghiên cứu đầu tiên về đặc điểm ngônngữ thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm một cách toàn diện về cả phương diện cả về
đặc điểm ngữ âm và ngữ nghĩa từ góc độ ngôn ngữ học Qua luận văn này, chúng ta
có thể nhận diện được những nét riêng trong cách vận dụng tiếng Việt vào sáng tạothơ và từ đó khẳng định những đóng góp của thơ tự do nói riêng và thơ nói chungcủa Hoàng Nhuận Cầm đối với nền văn học nước nhà
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài.
Chương 2: Đặc điểm ngữ âm trong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm
Chương 3: Đặc điểm sử dụng từ và các biện pháp tu từ trong thơ tự do của
Hoàng Nhuận Cầm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Thơ và các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm thơ
Thơ, một loại hình nghệ thuật ra đời hầu như sớm nhất gắn liền với nhảymúa và ca nhạc (thơ ca), được sử dụng trước tiên trong các nghi lễ thần linh, ma
thuật ngay từ thời nguyên thủy Trong tiếng Trung Hoa, thơ được đọc là thi được
dùng để ghi chép lịch sử (sử thi) và được dùng chung ở vùng Đông Á cổ và trung
đại Thuật ngữ poiè sis của Hi Lạp được dùng chung ở vùng châu Âu để nói về nền thi ca Đối lập với thơ, văn xuôi (thuật ngữ văn ở Trung Hoa và Đông Á và prosa
gốc La tinh được dùng ở châu Âu) thường được dùng để gọi chung những tác phẩmchữ viết không mang tính nghệ thuật như sử, triết, chính luận, hành chính, Vàothời cận đại, hiện đại, thơ có nghĩa hẹp chỉ riêng loại hình sáng tác cụ thể như thơtrữ tình, thơ tự sự, trường ca Mặc dù thơ luôn hiện hữu thường xuyên trong cuộcsống hàng ngày, trong thực tế cuộc sống, tuy nhiên đưa ra một định nghĩa chung về
nó là điều khó khăn
Định nghĩa về thơ, Jakobson đưa ra luận điểm: Thơ là thứ ngôn ngữ tự quy chiếu, tự nó đầy đủ cho nó [22] Ông bình luận thêm: ý nghĩa của bài thơ không phải chỉ ở cái được nói mà chủ yếu còn ở cách nói Ngôn ngữ không còn là phương tiện truyền thông mà là nội dung của việc truyền thông Với những mức độ khác nhau có thể nói hầu hết các trường phái phê bình hiện đại đều tập trung vào một nội dung đặc biệt trong thơ: bản thân hình thức của thơ [22] Từ đó, ông khái quát:
Là thơ, theo các nhà hình thức luận của Nga là kỹ thuật, theo các nhà cấu trúc luận của Pháp là một hệ thống kí hiệu, theo các nhà phê bình mới của Mỹ là một cấu trúc của ý nghĩa [22].
Phạm Quỳnh đã đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về thơ, chú ý tương quan
giữa thơ và họa: Ta coi thơ tức là vẽ, và vẽ tức là thơ; thơ là vẽ bằng lời, bằng âm thanh, vẽ là thơ bằng hình, bằng màu sắc [Dẫn theo 17] Nhà thơ Hàn Mặc Tử lại đưa ra quan niệm về thơ dựa trên thánh chúa: Thơ là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy ,
Trang 14vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt [Dẫn theo 23].
Năm 1949, Nguyễn Đình Thi viết Mấy ý nghĩ về thơ đã trình bày sự khác
biệt giữa văn và thơ, những nguyên nhân khiến nghệ sĩ sáng tác và tác dụng tình
cảm của thơ ca Ông cho rằng: Tâm hồn chúng ta có một rung động thơ khi nó thoát
ra khỏi trạng thái bình thường Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói - tức là chữ - để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường [Dẫn theo 30] Được coi như người khai sinh ra phong trào thơ tự do ở miền
Nam sau 1954, Thanh Tâm Tuyền đã từ chối quan niệm thi nhân và thi ca cổ điển
Ông nhấn mạnh: Vần của nó (thơ tự do ) là vần ẩn dấu cách xa (có thể đi tới khác
âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó là một thứ nhịp điệu rộng rãi, phức tạp ở một trình độ nghệ thuật cao hơn đối với thứ nhịp điệu đơn giản rút gọn [ Dẫn theo 30].
Tiếp nhận tư tưởng của Jakobson, từ năm 1973, Đặng Tiến đã có những bài viếtgiới thiệu và phân tích sắc sảo về một số vấn đề cốt yếu của thi học: thơ khác ngôn ngữ
chung ra sao, sự khác biệt giữa văn và thơ, lời thơ và ý thơ Ông khái quát: Ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằm phục vụ một đối tượng trong cuộc sống hàng ngày Thơ trái lại là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng [42] Nhưng ông cũng đã lưu ý: Nói thơ là một ngôn ngữ tự tại không có nghĩa rằng thơ không cần có ý nghĩa Cũng không hàm ý rằng thơ không tương quan gì đến thực tế nhất là thực tại xã hội Đây là hai điểm chính yếu ta không nên ngộ nhận [ 42] Dựa vào quan điểm đó, Đặng
Tiến đã có nhiều bài phê bình có giá trị về các nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Trãi, BàHuyện Thanh Quan, Tản Đà, Hàn Mặc Tử
Năm 1985, cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều của
Phan Ngọc được công bố đã thực sự khuấy động một hướng tiếp cận tác phẩm vănhọc mới tại Việt Nam: Nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ Và đến năm 1995,
trong công trình Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Phan Ngọc đã đưa ra định nghĩa về thơ: Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này [32] Theo đó, ông khẳng định thêm: Một khi đã nhìn theo quan điểm này thì từ, nhịp, vần, phách, thể loại, trường phái cái gì cũng có nội dung của nó và nội dung
ấy là những kiểu quan hệ [32] Cùng với Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh đã đi sâu
Trang 15nghiên cứu những đặc trưng của thơ từ phương diện ngôn ngữ trong tiểu luận Ngôn ngữ thơ [3] Lĩnh hội tư tưởng về thơ của Jakobson, Nguyễn Phan Cảnh đã có
những phân tích cụ thể về các đặc trưng của thơ trong phân biệt với văn xuôi
Từ góc độ lý luận, xem xét thơ trong mối quan hệ tổng hòa giữa nội dung
và hình thức, Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa thơ là: Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu [45] Định nghĩa
này đã bao quát được đầy đủ các tiêu chí về cả nội dung và hình thức nghệ thuậtcủa thơ, hơn nữa nó còn chỉ ra đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ để khu biệtvới ngôn ngữ trong các thể loại văn học khác
1.1.2 Các khái niệm liên quan đến thơ
1.1.2.1 Khái niệm thi pháp học
Thi pháp học (poetics) là một phân môn của lý luận văn học được định nghĩa: "Thi pháp học là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hoá các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào việc tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu của sáng tác nghệ thuật" (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục
2009, tr 304)
Thi pháp coi đối tượng là văn bản nghệ thuật (trong đó có thơ) đề cập đến 3nội dung:
- Sự sáng tạo văn chương, các nguyên lý và hình thức;
- Cấu trúc một tác phẩm văn chương;
- Hệ thống các phương tiện, thủ pháp biểu đạt: từ ngữ, âm thanh, chữ viết,biểu tượng
1.1.2.2 Khái niệm thi học
Thi học (poetic art) là một phân môn của thi pháp Thi học nghiên cứu các
đặc trưng của ngôn ngữ thơ và các nguyên lí phân tích ngôn ngữ thơ Thi học xemthơ là ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng, có tổ chức nhất về mặt âm thanh, được tạothành từ những tiết đoạn liên quan với nhau, phụ thuộc vào nhau thông qua hìnhthức âm thanh (vần và nhịp)
Trang 16Nội dung của thi học gồm:
Trong các nội dung trên, thi luật có vai trò quan trọng nhất Nghiên cứu thi
học của bất cứ một nền thi ca nào đó, về bản chất là đi tìm các nguyên lí, các qui tắc
sử dụng các yếu tố và quan hệ của các yếu tố đối với mỗi bài thơ, thể loại thơ vànền thi ca của dân tộc đó
1.1.2.3 Khái niệm thi luật
Thi luật (versification, prosody) là một phân môn của thi học, ra đời từ rất
khi người ta nghiên cứu về thi ca Hi lạp, La mã cổ đại Thi luật lấy đối tượng
nghiên cứu là các qui tắc, các phương thức về ngữ âm dùng để sáng tạo thơ ca Bộ
môn này đó phát triển và hoàn thiện và được coi là phần quan trọng nhất của ngànhthi học Nội dung của thi luật nghiên cứu:
- Cách thức tổ chức và hoà phối các âm/thanh trong dòng thơ, câu thơ, khổ
thơ, bài thơ (thi âm);
- Cách thức tạo lập một dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ thông qua các
bước thơ (thi tiết);
- Qui tắc về nhịp điệu của dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ (thi điệu);
- Qui tắc về vần điệu dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ (thi vận);
- Cách thức tổ chức một khổ thơ từ nhiều dòng thơ (thi đoạn).
Tuy nhiên, tuỳ từng ngôn ngữ, quan niệm về thi luật có khác nhau
Các học giả Pháp khảo sát các kĩ thuật liên quan đến câu thơ, sự cấu thành
khổ thơ, nhịp điệu và âm hưởng (sonorite') Họ còn nói đến tính nhạc của thơ mà
tính nhạc này được thể hiện bằng vần (nhiều kiểu koại vần khác nhau); sự điệp âm(nguyên âm và phụ âm) trong nhiều dòng thơ; sự điệp khúc và sự tương quan giữa
âm và nghĩa Các học giả Pháp cũng nhấn mạnh: thơ là để đọc ra bằng miệng cho
Trang 17nên nhịp điệu, số lượng âm tiết, trọng âm, chỗ ngắt giọng là quan trọng Các họcgiả Anh Mỹ xem thi luật là là thuyết về cấu trúc và đặc điểm của thơ, nghiên cứu vềnghệ thuật làm thơ, các nguyên lí và kĩ thuật làm thơ Do vậy họ quan tâm đến: tiếtđiệu tức âm tiết khi làm thơ, nhịp điệu, vần và hình thức của một khổ thơ Các họcgiả Nga xem thi luật nghiên cứu trước hết về các đặc điểm ngữ âm và cách tổ chứcngôn ngữ thơ đặt trong sự phân biệt với văn xuôi.
Tóm lại, thi luật dù theo quan niệm của trường phái nào cũng phải quan tâmđến: nguyên âm, phụ âm, âm tiết, trọng âm, thanh điệu, nhịp điệu, chỗ ngừng vàngữ điệu Thi luật không nghiên cứu các hiện tượng này rời rạc mà chúng phải đượckết nối, tập hợp, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau trong sáng tạo và cảm thụ thi ca
1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ
1.2.1 Ngôn ngữ thơ là gì?
Thơ là một thể loại của văn học nghệ thuật Vì thế, ngôn ngữ thơ trước hết là
ngôn ngữ văn học, có nghĩa là “ Ngôn ngữ mang tính chất nghệ thuật được dùng trong văn học” [ 29; tr 185] Song do sự tổ chức ngôn ngữ trên cơ sở của hệ thống
nhịp điệu, đảm bảo tính chất tối đa về nghĩa trên một đơn vị diện tích ngôn ngữ chậthẹp, lại mang sắc thái chủ quan của người viết trong một mức độ cần thiết đã tạocho ngôn ngữ thơ ca những phẩm chất đặc biệt Ngôn ngữ thơ phải cô đọng, giàusức biểu hiện Mỗi từ ngữ, hình ảnh trong thơ đều phải kết tinh được một dunglượng lớn về cuộc sống tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ có sức ám ảnh Ngôn ngữthơ là đỉnh cao của sự chắt lọc, là biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc, mỹ lệ,phong phú của ngôn ngữ Mỗi bài thơ là những ngôn từ sáng giá đứng trong mộttrật tự hoàn hảo Bởi thế, nhiều người đã khẳng định: Thơ là sự kết tinh và thănghoa của nghệ thuật ngôn từ Trong thơ, ngôn ngữ dễ có điều kiện bộc lộ năng lựcbiểu hiện và vẻ đẹp hơn so với ngôn ngữ được vận dụng trong các lĩnh vực khác
Thể loại thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ phápnhằm biểu tượng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng
của thơ ca Đó là “một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ cho chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [ 42; tr 23 ] Điều ấy chỉ có được trong thơ chứ không thể có ở bất kì một thể
loại nào khác trong văn học Hình thức tổ chức đặc biệt của thơ trữ tình khiến cho
Trang 18cái được cảm nhận không chỉ là ý nghĩa, cảm xúc được biểu hiện mà còn là chínhbản thân ngôn từ Cũng như vậy, người đọc thơ không chỉ lĩnh hội cái điều mà nhàthơ muốn nói ra mà còn tiếp nhận trọn vẹn hình thức ngôn từ của bài thơ Ngượclại, trong văn xuôi không thể cung cấp cho ta một sự lĩnh hội tuyệt đối như thế, bởicái ý nghĩa biểu hiện của văn xuôi tự sự mới là mục đích duy nhất, ngôn từ chỉ đóngvai trò như một chất liệu có tính tương đối Trong thơ ca, hình thức tổ chức ngôn từkhông chỉ là phương tiện mà còn được coi như mục đích bắt người đọc phải nhớ mãi.Ngôn ngữ thơ sử dụng tập trung các biện pháp nghệ thuật tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhânhóa tạo nên những hình ảnh tượng trưng, gợi nên những liên tưởng phong phú.
Ngôn ngữ thơ được tổ chức có vần, có nhịp, có số lượng âm tiết, có đối, có
số câu, có niêm luật, có sự vận dụng về trọng âm và trường độ chính nhờ cách tổchức ngôn ngữ độc đáo ấy mà ngoài ngữ nghĩa thông báo của bài thơ ta còn cónhững ngữ nghĩa khác Điều đó làm nên tính đa tầng ý nghĩa của thơ, giúp nhà thơchuyển tải tối đa sự phức tạp, tinh tế vô cùng của tâm trạng, tình cảm con ngườitrong sự hữu hạn của câu chữ
1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ
Để làm rõ đặc trưng của ngôn ngữ thơ ta sẽ dựa vào ba phương diện sau:
1.2.2.1 Về ngữ âm
Thơ là tiếng nói của tâm hồn tình cảm con người Thế giới nội tâm của nhàthơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịpđiệu của từ ngữ ấy Trong thơ, các đặc trưng về ngữ âm được tổ chức một cách chặtchẽ, có dụng ý để tạo nên tính nhạc Vì vậy, tính nhạc được xem là đặc thù cơ bảncủa ngôn ngữ thơ ca và cũng là một đặc điểm nổi bật để phân biệt với văn xuôi
Tiếng Việt có sự phong phú về thanh điệu, số lượng các nguyên âm, phụ âm,
đó là cơ sở để tạo tính nhạc trong thơ Đặc biệt là sự phong phú về thanh điệu đã tạonên dáng vẻ riêng biệt của tính nhạc trong thơ
Khi khai thác tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý đến những đối lập sau:
- Sự đối lập về trầm - bổng, khép - mở các nguyên âm
- Đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanhtrong các phụ âm cuối
- Đối lập cao - thấp, bằng - trắc của các thanh điệu
Trang 19Bên cạnh đó, hai yếu tố quan trọng góp phần tạo nên tính nhạc cho ngôn ngữthơ ca là vần và nhịp (sự hòa âm và tiết tấu) Các tiết tấu ngữ âm này là chất liệu đểtạo nên âm hưởng du dương, trầm bổng của ngôn ngữ thơ ca Tính nhạc trong ngônngư thơ đã rút ngắn khoảng cách giữa thơ với âm nhạc Trong thực tế, nhiều nhạcphẩm bổi tiếng có chất liệu lời được lấy từ thơ ca Và thật thú vị khi đọc những bàithơ được phổ nhạc, ta nhận thấy sự hòa âm, tiết tấu là một yếu tố rất quan trọng làmnên sự thành công của thi phẩm ấy.
a) Vần điệu
Điều kiện trước hết tạo nên tính nhạc cho thơ phải kể đến sự hòa âm mà vần
là yếu tố quan trọng xây dựng nên sự hòa âm giữa các câu thơ “Vần là sự hòa âm,
sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [4] Đơn vị biểu
diễn vần thơ trong tiếng Việt là âm tiết bao gồm: âm đoạn tính và âm siêu đoạn tính(thanh điệu) Xét về chức năng tạo nên sự tương đồng, sự hòa âm thì các yếu tố cấu
tạo nên âm tiết có vai trò không giống nhau: “Ở đây thanh điệu, âm cuối rồi đến âm chính là những yếu tố giữ vai trò quyết định của sự hòa âm Vai trò thứ yếu thuộc
về âm đệm và yếu tố cuối cùng là âm đầu” [4].
Trước hết, ta xét đến yếu tố siêu đoạn tính (thanh điệu) chức năng hòa âmcủa thanh điệu trong các vần thơ được biểu hiện chủ yếu ở chỗ: các âm tiết hiệp vầnchỉ có thể mang thanh đồng loại tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc) Đó là nét cơbản của vần thơ Việt Nam
Xét về các mặt âm đoạn tính của các âm tiết hiệp vần, đầu tiên phải kể đến
âm cuối “Trong một âm tiết, giữa các yếu tố tạo nên phần vần thì âm cuối là yếu tố quyết định tính chất của nó rõ hơn cả” [4] Âm cuối là cơ sở để người ta phân loại
các vần (khép, nửa khép, mở, nửa mở), chính tính chất của những loại vần này giữvai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hòa âm Với âm cuối, sự hòa âm của vầnthơ sẽ được tạo ra khi hai âm tiết hiệp vần có sự đồng nhất các âm cuối (phụ âm,bán nguyên âm và âm vị zero) hoặc đồng nhất về đặc trưng âm vang mũi (m, n, ng,nh), hoặc đồng nhất về đặc trưng ngữ âm vô thanh (p, t, c)
Âm chính “là hạt nhân, là yếu tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết cho nên âm chính cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập vần thơ” [4] Để góp
Trang 20phần vào sự hòa âm này, âm chính có một quy luật phân bố chặt chẽ trong các vầnthơ: các nguyên âm làm âm chính của hai âm tiết hiệp vần phải hoặc đồng nhất hoàntoàn, hoặc đồng nhất về một đặc trưng nào đó (đặc trưng âm sắc: trầm hoặc bổng; đặctrưng về âm lượng: nhỏ, lớn) Ngoài ra có những trường hợp âm chính không cùngdòng, cùng độ mở cũng hiệp vần với nhau Các âm tiết này hiệp vần là nhờ âm cuốigiống nhau.
Phụ âm đầu và âm đệm đều có chức năng tạo nên sự khác biệt cho vần thơ đểtránh lặp vần Thực tế, khi các âm tiết hiệp vần với nhau đã có sự hòa âm, đắp đổi
âm chính, âm cuối và thanh điệu thì sự xuất hiện của bất kỳ âm đầu nào trong âm
tiết cũng không ảnh hưởng đến sự hòa âm Từ đó, ta thấy: “Âm đầu có tham gia cùng với các thành phần khác để tạo nên sự hòa âm nhưng vai trò của nó không đáng kể” [4] Còn âm đệm mức độ hòa âm rất thấp, có những khuôn vần mà sự có
mặt của âm đệm không ảnh hưởng đến sự phân loại của các vần thơ
Như vậy, tất cả các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vàoviệc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần Trong đó, thanhđiệu, âm cuối, âm chính là những yếu tố chính quyết định âm hưởng chung của toàn
âm tiết và do đó quyết định sự hòa âm của các âm tiết hiệp vần
b) Nhịp điệu
Tiết tấu trong thơ ca là sự sáng tạo ra những khoảng cách tương tự về mặt
thời gian Tiết tấu trong thơ chính là nhịp thơ “Nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ và thậm chí là đoạn thơ” [7] Như vậy, yếu tố quan trọng nhất
tạo nên nhịp điệu chính là ở chỗ ngừng, chỗ ngắt theo một cách thức nhất định khiphát âm Trong thơ có hai kiểu nhịp: ngừng nhịp ở cuối dòng và ngừng nhịp ở trongdòng thơ
Nhịp thơ có tính mỹ học do con người sáng tạo ra để biểu hiện tư tưởng, tìnhcảm con người Do vậy, các trạng thái rung cảm, cảm xúc, đều ảnh hưởng đến việclựa chọn nhịp của câu thơ, bài thơ Nhịp trong thơ khác nhịp trong văn xuôi Trongvăn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian được cảm thấy rất rõ, hiển nhiên
đó không phải là những tương quan về thời gian có thực giữa các sự kiện mà chỉ là
Trang 21những tương quan có tính ước lệ Trong thơ thì thời gian không thể cảm giác được.Các tiểu tiết của chủ đề và những đơn vị lớn của chủ đề đều được cân bằng bởi cấutrúc của thơ Trong một bài thơ, đơn vị để biểu diễn nhịp (ngắt nhịp) cơ bản nhất làcâu thơ (dòng thơ) Vì trong câu thơ tập trung mật độ dày đặc về cú pháp, về sự hòaâm…Trong mỗi dòng thơ lại có cách ngắt nhịp phụ thuộc vào thể thơ Từ nhịpchung của thể thơ ấy, người sáng tác sẽ có cách sử dụng linh hoạt, nhất là trong thơ
tự do, rõ nhất là loại thơ không vần
Như vậy, cách tạo nhịp, ngắt nhịp hết sức đa dạng, có nhiều kiểu, tùy câu,tùy đoạn, tùy bài thơ, thể thơ Nhịp trong thơ mang bản sắc của từng nhà thơ trongviệc chọn nhịp
Thực tế cho thấy, người Việt Nam thường ưa sự cân đối hài hòa, do vậytrong các thể thơ truyền thống, cách luật, nhịp chẵn thường chiếm ưu thế (ví dụ nhưthơ lục bát), sự xuất hiện nhịp lẻ cũng là nhịp lẻ cân đối (trong câu có tiểu đối), sau
đó mới đến nhịp lẻ độc lập Còn trong thơ tự do, khi những câu thơ gần với vănxuôi, không có vần thì lúc ấy nhịp nổi lên, vai trò của nhịp đã tạo được sức ngân
vang rất lớn cho thơ Bản thân nhịp nhiều khi cũng chứa nội dung trong đó: “Nhịp chẵn gợi lên sự hài hòa, bình yên, tĩnh lặng, nhịp lẻ thường báo hiệu những tai ương, mắc mớ, uẩn khúc…” [7].
Vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm quan trọng của ngôn ngữ thơ Vần vànhịp nếu đặt đúng chỗ thì mang nghĩa Chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗlẫn nhau, bổ sung cho nhau: sự ngắt nhịp là tiền đề cho hiện tượng gieo vần, nhịpnâng cao hiệu quả hòa âm của vần, một chiều khác chính vần cũng có tác động trở
lại nhịp “Sự tác động này được biểu hiện khi có sự hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng, chỗ ngắt trở nên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn, vần có khả năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [4], đặc biệt trong thơ tự do thì “vần trở thành một tiêu chí rất quan trọng giúp người ta ngừng nhịp đúng chỗ” [4].
Tóm lại, đặc trưng nổi bật của ngôn ngữ thơ ca là sự tổ chức âm thanh mộtcách hài hòa, có quy luật của chúng Vần và nhịp là hai yếu tố làm nên đặc trưng đóđồng thời nó có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính nhạc cho thơ, để thơ ca cókhả năng biểu đạt tinh tế những rung cảm, cảm xúc của tâm hồn mà bản thân nghĩacủa từ ngữ không thể diễn đạt hết được Hơn nữa “nhạc tính của một thi phẩm càng
Trang 22giàu, tức là những tham số thanh học của ngôn ngữ càng có độ tin cậy cao, thì hiệuquả lưu giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sức sinh tồn của nó càng mạnh Ki No
Curajuki cũng đã nói: “Nếu nhịp điệu vĩnh viễn trường tồn, thì làm sao thơ ca bị tiêu diệt được?” [dẫn theo 4].
1.2.2.2 Về ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa trong thơ ca nhiều hơn so với ngữ nghĩa trong giao tiếp đờithường, thậm chí khác cả với ngữ nghĩa trong văn xuôi Thơ là một cấu trúc rất côđọng, hàm súc Vì vậy, ngôn ngữ thơ phải chứa đựng nhiều thông báo: một câu,một chữ có thể gợi lên nhiều nghĩa Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ được Nguyễn
Phan Cảnh giải thích như sau: “Sức mạnh của cơ cấu lặp lại, song song chính là chỗ đã tạo ra một từ láy lại, song song trong tư tưởng Việc chức năng mỹ học chiếm ưu thế trong các thông báo thơ trong khi không loại chức năng giao tế, đã làm cho thông báo thành đa nghĩa, có tính chất nước đôi, nhập nhằng hiểu theo nghĩa tốt của từ này” [3] Và đấy chính là điều cốt tử cho thơ: “Thơ phải được ý ở ngoài lời Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của người làm thơ Cho nên ý thừa hơn lời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn câu thì tuy công phu nhưng vẫn vụng Còn như ý hết mà lời cũng hết thì không đáng là người làm thơ vậy.” [Dẫn theo 3].
Ngôn ngữ thơ ca mang trong mình nó sự sống, nhiều ý nghĩa vô cùng biếnđổi, xuất phát từ ý đồ nghệ thuật của nhà thơ Mỗi từ ngữ khi đưa vào thơ đã quatrục lựa chọn của tác giả Như “con kỳ nhông”, nó hoạt động rất đa dạng và biếnhóa linh hoạt tùy theo chuỗi từ ngữ và nhịp điệu mà trong đó nó được sử dụng Giátrị ngữ nghĩa của từ phụ thuộc vào vị trí của nó trong câu thơ Do đó, từ ngữ trongmột diễn ngôn thơ luôn thay đổi ý nghĩa và kéo theo, ngữ nghĩa học thơ ca thường
đi chệch so với sự liên kết từ ngữ thông thường
Văn xuôi không hạn chế về số lượng âm tiết, từ ngữ, câu chữ Còn trong thơ,tùy theo từng thể loại mà có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ, do áp lực củacấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại nghĩa đen, nghĩa gốc,nghĩa ban đầu của nó mà đã đi vào những tầng ý nghĩa mới tinh tế hơn, sâu sắc đadạng hơn và mới mẻ hơn nhiều Đó là nghĩa bóng hay còn gọi là ý nghĩa biểu trưngcủa ngôn ngữ thơ ca Đặc trưng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn
Trang 23hút kỳ lạ đối với người đọc, người nghe Bởi họ không chỉ tiếp nhận văn bản thơbằng mắt, bằng tai mà bằng cả xúc động, tình cảm, bằng cả trí tưởng tượng liêntưởng nữa Điều đó cũng làm cho ngôn ngữ thơ không còn là phương tiện giao tiếp
mà đóng một vai trò khác
1.2.2.3 Về ngữ pháp
Theo Phan Ngọc, thơ là một “cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản” [32].
Sự quái gở, kỳ lạ ấy thể hiện rõ nhất ở phương diện ngữ pháp, bao gồm sự phânchia dòng thơ, câu thơ, những kiểu câu và cách sắp xếp từ ngữ trong thơ
Thơ là một loại đơn vị rất đặc trưng của dòng, còn gọi là câu, hay cú Song
sự thực là ranh giới giữa câu thơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Dòng thơkhông đồng nhất với câu của cú pháp, thường là nhỏ hơn nhưng có thể bằng hoặclớn hơn Số lượng âm tiết của dòng và số dòng trong bài thơ đã trở thành tên gọi củathể thơ: ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, song thất lục bát…(theo số tiếng trong dòng),bát cú, tứ tuyệt…( theo số câu trong bài) Điều này cũng chứng tỏ cấu trúc thơ kháccấu trúc văn xuôi rất nhiều
Cách lựa chọn từ ngữ nhiều lúc không theo trật tự bình thường, các thànhphần trong dòng, trong câu thơ thường bị đảo lộn Về cấu trúc cú pháp của câu thơ,Nguyễn Lai đã nhận xét: Phải nói rằng ngôn ngữ thơ là một thứ ngôn ngữ được bộc
lộ thế giới chủ quan, thiên về thế giới ấn tượng cảm xúc, cảm giác Những mạchbiểu cảm thường đan chéo nhau, chiếm những cấp nghĩa thiếu quan hệ nội tại trên
bề mặt cú pháp Do vậy, cấu trúc cú pháp câu thơ thường " khó phân tích theo nguyên tắc logic của ngôn ngữ thông thường như trong văn xuôi” [25] Chịu sự chi
phối của một thể loại văn bản luôn đòi hỏi hiệu quả nghệ thuật có sự thay đổi vượtbậc: tính đa nhanh, tính hình tượng, tính cảm xúc, nên thơ phải chọn cho mìnhnhững hình thức biểu đạt riêng, mà một trong những hình thức đó là xây dựng kiểucâu có cấu trúc bất quy tắc Đó là những câu có sự bẻ gãy trật tự tuyến tính của cácđơn vị ngôn ngữ luôn phải tuân thủ, bao gồm: câu đảo ngữ, câu tỉnh lược, câu táchbiệt, câu trùng điệp, câu vắt dòng, câu có sự kết hợp bất thường về nghĩa Ngoài racòn có cách liên kết từ mang tính “lạ hóa” tạo nên những tác động mạnh mẽ vànhững gợi mở phong phú cho lời thơ Việc sử dụng phổ biến các kết cấu này khônglàm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản thơ Ngược lại, chính
Trang 24điều đó đã tạo ra, đem lại những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, đemđến khả năng vô tận của ngôn ngữ thơ trong việc chuyển tải những trạng thái tinh
tế, bí ẩn của thế giới và tâm hồn con người, làm nên sức ám ảnh cho thơ
1.3 Hoàng Nhuận Cầm và thơ của ông
1.3.1 Vài nét về Hoàng Nhuận Cầm
Hoàng Nhuận Cầm sinh ngày 07 tháng 02 năm 1952, quê quán: Đông Ngạc,
Từ Liêm, Hà Nội, vào Hội nhà văn năm 1981 Năm 1971 , ông vào học tai KhoaNgữ Văn, trường Đại học tổng hợp Hà Nội (Khóa 16) Những năm 70 của thế kỷ
20, nhiều thế hệ học sinh, sinh viên thủ đô xếp bút nghiên lên đường ra trận Trongnhững năm tháng đó, như biết bao những sinh viên cùng trang lứa, hoàng NhuậnCầm đã lên đường nhập ngũ, ông đã chiến đấu trong đội hình của sư đoàn 325B ởmột trong những mặt trận ác liệt nhất giai đoạn đó là mặt trận Quảng Trị Sau đó,ông đã từng chiến đấu tại các mặt trận khác nhau như Quảng Bình, Quảng Trị vàThừa Thiên - Huế cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng Năm 1976, ôngđược giải ngũ trở về trường cũ tiếp tục học Năm 1981, sau khi tốt nghiệp đại họcông về công tác tại Hãng phim truyện Việt nam và sau đó làm việc tại Đài truyềnhình Việt Nam
Có thể nói, nét chủ đạo tạo nên cảm hứng sáng tạo nghệ thuật trong cuộc đờiông chính là giai đoạn của người sinh viên cầm súng Hoàng Nhuận Cầm đã sángtạo nghệ thuật trong suốt cả cuộc đời mình với những thể loại khác nhau Tuynhiên, mảng để lại nhiều ấn tượng nhất vẫn là những bài thơ với những trải nghiệm,những cung bậc khác nhau của cuộc đời Nếu ví một bài thơ như cái cây thì có cây -thơ chỉ quý ở phần củ xù xì nằm sâu dưới gốc, lại có cây - thơ đáng giá nhất là ởphần lá xanh trên ngọn Đó chính là những tứ thơ quý giá ẩn sâu dưới những tầng rễcâu chữ mà người đọc phải dày công đào bới bằng những thao tác tư duy sắc nhọnmới tìm thấy được Không những thế, thơ Hoàng Nhuận Cầm còn như một thứ cành
lá xanh tươi cứ mướt mát, rời rợi trên cao vẫy gọi người đọc
Ngoài sáng tạo thơ, ông còn viết những kịch bản phim và biên kịch phim
đều để lại những dấu ấn như: Lầm lỗi; Đằng sau cánh cửa; Đêm hội Long Trì; Hà Nội mùa Đông năm 46; Áo chàm Bắc sơn; Pháp trường trắng; Ai lên xứ hoa đào; Mùi cỏ cháy
Trang 251.3.2 Thơ của Hoàng Nhuận Cầm
Cầm bút làm thơ từ rất sớm (năm 12 tuổi), song Hoàng Nhuận Cầm chỉ thực
sự được bạn đọc biết đến rộng rãi kể từ lần ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ của tuần
báo Văn nghệ năm 1972 - 1973 với chùm thơ Nhật ký, Thư mùa thu, Nghe chim kể chuyện trên đồi chốt, Anh bộ đội và tiếng nhạc la (trong tập thơ Thơ tuổi hai mươi
in cùng Vũ Đình Văn, 1974) Cùng đoạt giải nhất với anh trong đợt này là các nhà
thơ Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ Những năm ấy, cuộc chiếnchống Mỹ của chúng ta đang vào giai đoạn cực kỳ khốc liệt, vậy mà qua thơ HoàngNhuận Cầm, ta lại thấy một bầu không khí êm ả, thơ mộng, nhẹ nhàng đến lạ: hìnhảnh anh bộ đội trong phút trực chiến vẫn không quên lắng nghe tiếng chim hótthanh bình
Giải thưởng của tuần báo Văn nghệ như một động lực để tác giả tiếp tục sáng
tác và cho ra mắt độc giả những tập thơ riêng của mình: Những câu thơ viết đợi mặt trời (in năm 1983); Xúc xắc mùa thu, tập thơ được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (in năm 1992); Thơ với tuổi thơ (in năm 2004) Năm 1992, xét những
đóng góp đối với nền thơ ca đương đại, Hoàng Nhuân Cầm vinh dự được nhận Giảithưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật - một giải thưởng để đời đối với những
người sáng tạo nghệ thuật Tuyển tập thơ "Xúc xắc mùa thu (thơ) - Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ)” đã đươc Nhà xuất bản Hội nhà văn công bố vào năm 2015
như một sự tôn vinh cho nhà thơ mặc áo lính Hoàng Nhuận Cầm
Hoàng Nhuận Cầm là nhà thơ được đúc nên bởi tài năng thiên bẩm, mà đángnói là giọng thơ đẹp, vang như tiếng hót của một loài chim quý Trời phú cho ônggiọng thơ sang trọng, trong trẻo Một khi giọng thơ ấy vút lên, lập tức được chú ý.Hoàng Nhuận Cầm đã gây ấn tượng đến ngạc nhiên với những câu thơ trần đầy tínhnhạc, vang vọng, óng ả Giọng thơ ấy, cho đến gần đây vẫn còn hút hồn nhiều ngườiyêu thơ bởi những cung bậc của cảm xúc chắp trên đôi cánh của âm nhạc luyến láy,ngân vọng, dịu dàng và những hình ảnh lộng lẫy đầy huyền hoặc
Một cách khái quát nhất, thơ Hoàng nhuận Cầm sáng tác, có thể được chia
làm hai mảng lớn: Thơ về chiến tranh và thơ về tình yêu Mảng thơ chiến tranh rất
độc đáo bởi bản thân tác giả là người trải nghiệm cuộc chiến khốc liệt, nhưng mảngthơ tình yêu của Hoàng Nhuận Cầm được chú ý, đặc biệt là giới trẻ bởi chất trẻ
Trang 26trung, tươi mới, hào hoa thấm đẫm trong từng câu thơ, từng hình ảnh, khiến thơ ônglung linh.
Đối với mảng thơ chiến tranh, Nguyễn Hoàng Sơn báo Tiền Phong, số 45,
ngày 10/11/2002) đã nhận định về Hoàng Nhuận Cầm “Bên cạnh một Nguyễn Duy già dặn, từng trải, một Nguyễn Đức Mậu còn vương lửa khói và đất bụi chiến hào, một Lâm Thị Mỹ Dạ nhẹ nhõm, giàu nữ tính là một Hoàng Nhuận Cầm trẻ trung, tươi rói như màu quân phục mới, như tiếng chim cất lên trên vòm me sân trường…” Điểm khác biệt so với các nhà thơ khác khi viết về chiến tranh là sự
"tĩnh lặng" của chiến trường khốc liệt trước giờ súng nổ với các bài thơ: Nghe chim
kể chuyện trên đồi chốt hay Anh bộ đội và tiếng nhạc la; Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu Với thơ Hoàng Nhuận Cầm, nhiều chỗ ta chẳng cần phải giải thích dài
dòng mà chỉ đơn thuần đọc lên thôi - đọc đúng như giai điệu mà tác giả quy ướctrong bài thơ của ông, là bạn đọc có thể cảm được cái hay, cái đẹp của nó
Mảng thơ tình yêu chiếm một dung lượng lớn trong toàn bộ thơ ông Nhiềubài thơ của Hoàng Nhuận Cầm mà phần lớn là thơ tình được các bạn đọc trẻ tuổi,đặc biệt là học sinh, sinh viên yêu thích vì nó gắn với những kỷ niệm của tuổi trẻ,
tình yêu với một giọng thơ trẻ trung, sôi nổi: Chiếc lá buổi đầu tiên; Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến; Viên xúc xắc mùa thu Với nội dung bay bướm, hướng về
tuổi trẻ, cách diễn đạt nhuần nhị, trong sáng, cộng với cái du dương, quặn siết củagiai điệu, thật dễ dàng để thơ Hoàng Nhuận Cầm chinh phục được đông đảo độcgiả, nhất là độc giả thuộc lứa tuổi học sinh, sinh viên Từng có thời, Hoàng Nhuận
Cầm được coi là “ông vua thi sĩ” của tuổi học đường.
1.4 Tiểu kết Chương 1
Thơ đã hiện hữu trong đời sống con người từ thời cổ đại Tuy nhiên một định
nghĩa về thơ lại được nhìn từ những góc độ khác nhau: người sáng tạo thơ, ngườinghiên cứu thơ theo phương pháp văn học truyền thống hay phương pháp ngôn ngữhọc hiện đại Dù được định nghĩa từ góc độ nào thì thơ vẫn cần được nhìn nhận
toàn diện cả về mặt nội dung và hình thức và đó là những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ của tâm hồn được thể hiện bằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.
Trang 27Khi nghiên cứu về thơ, người ta đề cập đến những khái niệm cơ bản như:
thi pháp, thi học và thi luật, trong đó quan trọng nhất là thi luật Thi luật nghiên
cứu các qui tắc hình thức tiêu biểu của thơ như: qui tắc kiến tạo dòng thơ, khổthơ, bài thơ; qui tắc hiệp vần, hài thanh, ngắt nhịp và cả cách tạo nên âm hưởngcủa thơ
Ngôn ngữ nghệ thuật được xem là công cụ để sáng tạo văn chương nhưng
ngôn ngữ thơ khác biệt với ngôn ngữ văn xuôi Ngôn ngữ thơ, xét từ góc độ ngữ
âm, trước tiên phải có nhịp điệu, sau đó là vần điệu và âm điệu Từ ngữ trong thơ
được lựa chọn cầu kỳ đến mức tinh xảo và được trình bày bằng các biện pháp tu
từ cầu kỳ Ngữ pháp của thơ không phải là ngữ pháp thông thường mà nó được
xem là một thứ ngôn ngữ "quái đản", bị chi phối trước tiên ý nghĩa nhằm thểhiện tâm trạng và cả bằng sự chi phối bởi các qui tắc ngữ âm, từ vựng để thểhiện được những cảm xúc tinh túy, tao nhã bậc nhất của con người
Hoàng Nhuận Cầm làm thơ hay nhất khi ông là người lính trong giai đoạnchiến tranh chống Mỹ cứu nước ác liệt nhất 1971 - 1975 Tuy vậy, mảng đề tàichiến tranh trong thơ ông lại không khốc liệt mà lại là sự "tĩnh lặng" lạ thường, sựtĩnh lặng trước giờ súng nổ với những kỉ niệm của tuổi thơ ùa về Mảng đề tài tìnhyêu trong thơ ông có sức cuốn hút đối với giới trẻ bởi cách diễn đạt nhuần nhị, trongsáng và sự du dương Điều làm nên khác biệt, tạo ra phong cách riêng cho nhà thơphải kể đến đặc điểm ngôn ngữ riêng được sử dụng trong thơ ông tạo nên phongcách, đặc biệt trong thể thơ tự do
Trang 28CHƯƠNG 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TRONG THƠ TỰ DO CỦA HOÀNG NHUẬN CẦM
Nếu thơ Mới ra đời vào khoảng năm 1932 và phát triển như vũ bão trongkhoảng 2 thập niên, để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn học, thơ ca Việt Namvới những cái tên lẫy lừng như Thâm Tâm, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư,Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính v.v , thì khoảng 23 năm sau, vào năm 1955, trên thiđàn Việt Nam bắt đầu xuất hiện một thể thơ mới hơn cả thơ mới với tên gọi là thơ
tự do
Là thể loại trẻ trong dòng văn học dân tộc, thơ tự do đã thể hiện được ưu thế
và bản lĩnh của một thể thơ vừa có khả năng truyền tải tốt nội dung vừa đem lạinhững cách tân mới mẻ về hình thức nghệ thuật như là một sự giải phóng của tâmhồn khỏi ách áp bức của những lệ luật, vần điệu cũ Thơ tự do phóng túng trongcách biểu hiện, nhịp điệu khoáng đạt được cấu tạo bằng những câu thơ tự nhiên, đadạng về tổ chức kết cấu, có số lượng từ ngữ co giãn linh hoạt Về mặt hình thức thơ
tự do có thể có vần nhưng nó không trở thành một quy tắc chặt chẽ mà nhịp điệu lạinổi lên như một yếu tố chủ đạo Nhịp điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xácđịnh (như trong thơ Đường luật, thơ lục bát….) mà do những quy tắc nội tại, cảmxúc của nhà thơ
Sự phát triển của thơ tự do là để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thơ ca phải đisâu vào các đề tài rộng lớn của cuộc sống, bắt nhịp với hơi thở của thời đại Thơ tự
do không phải là hình thức định trước của các nhà thơ khi sáng tác mà là một hìnhthức được nhà thơ tìm đến với độ chín tâm hồn, tìm thấy ở đó sự diễn tả phù hợpnhất cho những trạng thái tinh vi của đời sống tinh thần, tình cảm cho những đốitượng mà mình tâm đắc nhất
Hoàng Nhuận Cầm đã vận dụng những ưu thế vượt trội của thơ tự do trongsáng tác của mình để truyền tải nhiều thông điệp của cuộc sống Ở Chương 2 này,chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, đánh giá một số đặc điểm về ngữ âm (gồm vần và
nhịp) ở các bài thơ tự do in trong tập Xúc xắc mùa thu (thơ)- Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ) của Hoàng Nhuận Cầm.
Trang 292.1 Đặc điểm về vần thơ Hoàng Nhuận Cầm
Người làm thơ và người đọc thơ xưa nay đều công nhận vai trò của vần điệutrong thi ca Có người cho rằng vần khớp nối, kết dính các câu thơ làm nên chỉnhthể một tác phẩm Có người khẳng định vần dẫn đường cho cảm xúc, cũng có ngườituyệt đối hóa vần điệu là đặc điểm để phân loại thơ với các loại hình nghệ thuậtkhác Dù nói theo cách nào thì cũng có thể thấy rằng vần điệu là một trong nhữngyếu tố hình thức quan trọng bậc nhất của thơ Vần trong thơ ca có tác dụng kết nốicác dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất, có âm hưởng riêng, giúp chođộc giả dễ nhớ, dễ thuộc
Bàn về vai trò của vần trong thơ ca đã có khá nhiều ý kiến khác nhau, trong
đó chúng tôi chú ý đến quan điểm của tác giả Mai Ngọc Chừ và các tác giả của
cuốn Từ điển thuật ngữ văn học.
Tác giả Mai Ngọc Chừ (2005) thì cho rằng: Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng theo luật ngữ âm nhất định giữa hai loại âm tiết hay ở cuối dòng thơ và thực hiện chức năng nhất định liên kết các dòng thơ, gợi tả và nhấn mạnh sự ngừng nhịp
[3, Tr.16]
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học thì định nghĩa: Vần là một phương diện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ [ 15,Tr 362].
Như vậy, các tác giả đều thống nhất thừa nhận vai trò của vần trong thơ,khẳng định sức mạnh của cách hòa phối âm thanh và con chữ trên từng trang viết.Riêng thơ tự do, thể thơ của cảm xúc thì vần không theo một quy định chặt chẽ nào,thậm chí có trường hợp thơ không cần gieo vần
Trong 80 bài thơ ở tập thơ Xúc xắc mùa thu (thơ)- Hò hẹn mãi cuối cùng
em cũng đến (thơ), Hoàng Nhuận Cầm đã có nhiều sáng tạo trong cách gieo vần,
hiệp vần với nhiều loại vần khác nhau Vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm sẽđược chúng tôi xem xét dưa trên ba tiêu chí là vị trí của tiếng hiệp vần, mức độ hòa
âm và đường nét thanh điệu
Trang 302.1.1 Vần trong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm xét theo vị trí của các tiếng hiệp vần
Xét về vị trí, vần ở các bài thơ tự do trong tập thơ Xúc xắc mùa thu
(thơ)-Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ) gồm cả vần chân và vần lưng Số lượng
từng loại vần được chúng tôi thể hiện qua bảng thống kê sau:
Bảng 2.1 Các loại vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo vị trí gieo vần
Loại vần Số lượng ( cặp vần) Tỉ lệ %
Bảng thống kê trên cho thấy vần xuất hiện khá nhiều ở giữa cũng như ở cuối
dòng thơ trong các bài thơ tự do in trong tập Xúc xắc mùa thu (thơ)- Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ) Số lượng vần xuất hiện ở cuối dòng thơ cao hơn số
vần xuất hiện ở giữa dòng thơ Đặc điểm từng loại vần cụ thể như sau:
2.1.1.1 Vần chân
Vần chân hay còn gọi là cưới vận, là loại vần được gieo ở tiếng cuối củadòng thơ, đánh dấu sự kết thúc của dòng và tạo mối liên kết giữa các dòng thơ vớinhau Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm chủ yếu
sử dụng vần chân Trong tổng số 686 cặp vần, có 483 cặp vần chân, chiếm 70,4 %.Vần chân trong thơ Hoàng Nhuận Cầm có thể xuất hiện liên tiếp (vần liền), có thểgiãn cách (vần cách- vần chéo), có thể hòa quyện lẫn nhau (vần ôm) hết sức linhhoạt Tỉ lệ sử dụng các kiểu vần trên trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm như sau:
Bảng 2.2 Các loại vần chân trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm
Trang 31a Vần liền
Vần liền được hiểu là các âm tiết hiệp vần xuất hiện liên tiếp ở cuối các dòng
thơ Khảo sát 483 cặp vần chân, chúng tôi thấy có 305 cặp vần liền, chiếm tỷ lệ 63,1 %.
Điều này chứng tỏ vần liền trong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm giữ vai trò chủ đạotrong việc liên kết các dòng thơ Vần liền góp phần tạo sự liền mạch trong cảm xúc củachủ thể trữ tình, đồng thời ý thơ được gắn kết với nhau một cách chặt chẽ
Một đặc điểm nổi bật trong việc sử dụng vần liền ở thơ tự do Hoàng NhuậnCầm là sự biến đổi linh hoạt Có khi vần liền được gieo liên tục trong khổ thơ theo
mô hình AA Chẳng hạn:
Em bảo em vừa làm được bài thơ Khiến tôi vừa mừng, vừa lo, vừa sợ Bắt đầu từ đây xách làn đi chợ
Tôi làm sao mua được… một củ hành ???
(Một hy sinh nho nhỏ)
Âm ơ được nhắc lại liên tục ở ba tiếng thơ- sợ- chợ cuối ba câu thơ liên tiếp
trong khổ thơ vừa trích dẫn, tạo nên chuỗi liên kết dồn dập giống như cảm giác hơi
lo sợ dường như dàn trải của tác giả
Có khi vần liền được gieo liên tiếp theo từng cặp với mô hình AA-BB Kiểu
sử dụng vần như vậy làm cho ý thơ, lời thơ tuôn chảy nhịp nhàng Ví dụ:
Bạn hãy đến xem máu trên bảng, trên tường
Và máu chảy rất nhiều trên áo trắng Nhưng trận này chúng tôi phải thắng Như một điều đã hứa trước ban mai Như một điều sẽ đến trước tương lai.
(Dàn đồng ca tuổi trẻ) Những tiếng trắng- thắng (cùng thanh trắc), mai- lai (cùng thanh bằng) hiệp
vần với nhau có tác dụng gắn kết những câu thơ trong khổ thơ vừa được dẫn
b Vần cách (vần chéo)
Vần cách hay vần chéo là trường hợp những âm tiết hiệp vần xuất hiện cáchnhau một dòng thơ, hai dòng thơ có khi cả một đoạn thơ Theo kết quả khảo sát,trong tổng số 483 cặp vần chân ở thơ Hoàng Nhuận Cầm thì có 75 cặp vần cách
Trang 32chiếm tỷ lệ 15,5% Tuy sử dụng không nhiều nhưng vần cách trong thơ tự do HoàngNhuận Cầm được sử dụng khá thành công Mô hình vần cách thường là ABAB (tức
là các âm tiết hiệp vần xen kẽ nhau)
Vần giãn cách với sự gieo vần liên tiếp cuối các dòng thơ theo mô hìnhABAB giúp cho câu thơ có sự hòa quyện, cân xứng giữa hình thức biểu hiện và cảmxúc của nhà thơ, làm cho ý thơ lan tỏa một cách tự nhiên tạo nên sự hòa điệu nhịpnhàng, lúc bổng, lúc trầm, lúc khoan, lúc nhặt Chẳng hạn:
Thơ tôi viết xin mời em cứ đọc
Đang gọi đám mây lại nói chuyện quả cà
Đừng lo lắng theo tâm hồn rong ruổi
Đói bụng, thơ tôi sẽ trở lại nhà
(Thơ màu xanh)
Hai tiếng cà và nhà gieo vần cách với nhau cùng với hai tiếng mang thanh trắc là đọc và ruổi giúp cả khổ thơ mang nhịp điệu trầm bổng, nhịp nhàng.
Cũng có khi vần cách lại được gieo ở hai câu thơ cách nhau hai dòngthơ.Ví dụ:
Tôi tựa cửa chờ chính tôi Tuổi thơ đi không trở lại Trong trắng xa rồi xa mãi Tan là tan vỡ mà thôi.
(Những thời vô tội)
Ở khổ thơ trên, vần ôi được gieo ở hai tiếng tôi và thôi cuối hai câu thơ cách
nhau hai dòng thơ Điều đặc biệt là cuối hai dòng thơ ở giữa hai câu thơ có vần cáchnày cũng sử dụng hai tiếng hiệp vần với nhau Những tiếng chứa những vần đượchiệp góp phần tạo nên mối liên hệ không chỉ về mặt ngữ âm mà còn chứa đựng cảmxúc của người viết
c Vần ôm
Vần ôm thực chất là sự phối hợp hai kiểu vần liên tiếp và giãn cách Do vậy, môhình phân bố cơ bản của nó là ABBA (các âm tiết cuối của dòng đầu và dòng cuối khổhiệp vần với nhau và các âm tiết cuối ở hai dòng giữa khổ hiệp vần với nhau)
Trong thơ của Hoàng Nhuận Cầm, ở tập Xúc xắc mùa thu (thơ)- Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ), có 103 cặp vần ôm/ 483 cặp vần chân, chiếm tỷ
Trang 33lệ 21,4 % Tần số xuất hiện của vần ôm trong tập thơ này nhiều thứ hai sau vần liền.Vần ôm trong thơ Hoàng Nhuận Cầm vừa gợi sự toàn vẹn của dòng thơ vừa tạo nên
sự cuộn chặt của dòng cảm xúc Do vậy, khổ thơ vừa có sức lan tỏa vừa có sự lắngsâu Sau đây là một vài ví dụ về cách sử dụng vần ôm trong thơ Hoàng Nhuận Cầm:
Mai anh về thở gió Di Linh
Em ngồi nhớ trong thành phố cổ Mưa làm dấu dọc đường quốc lộ Gốc cây me chảy máu tên mình
(Di Linh cảm mến)
Ở ví dụ thứ nhất, hai cặp tiếng Linh – mình và cổ - lộ hiệp vần với nhau, tạo
sự hài hòa cho cả khổ thơ
Ngoài ra, thơ Hoàng Nhuận Cầm còn có trường hợp âm tiết cuối dòng thứhai bắt âm với âm tiết cuối dòng ba, còn khi hai âm tiết của dòng đầu và dòng cuốikhông bị ràng buộc trong quy định hiệp vần Chính sự hiệp vần này làm cho cảmxúc được thể hiện lắng đọng nhưng đồng thời mạch thơ lại được mở rộng Ví dụ:
Đường cha bước đúng ngày hoa đỏ thắm
Rơi như mưa, như máu đổ bên đường
Em đã đến cùng tôi như tín ngưỡng
Cám ơn Người, kinh thánh của tình yêu.
Có thể nói, vần chân trong thơ Hoàng Nhuận Cầm được vận dụng linh hoạt
và sáng tạo, tạo nên âm hưởng cho lời thơ và góp phần biểu đạt cảm xúc
2.1.1.2 Vần lưng
Vần lưng hay còn gọi là yêu vận, là vần mà tiếng hiệp vần nằm giữa dòngthơ Đây là một nét đặc sắc của vần thơ Việt Nam và cũng là điểm khác biệt quantrọng phân biệt thơ Việt Nam với nhiều thể thơ của Trung Quốc như nhận xét của
Trang 34Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức: “Thơ ta khác thơ Trung Quốc ở chỗ thiên về vầnlưng” Vần lưng được thể hiện rõ nhất trong thơ lục bát, tuy nhiên nó cũng được thểhiện trong nhiều thể thơ khác kể cả thơ tự do, tạo lên sự hài hòa và sức liên kết chặtchẽ giữa các dòng thơ.
Ở tập Xúc xắc mùa thu (thơ)- Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ)
của Hoàng Nhuận Cầm thì vần lưng chiếm 203/686 cặp vần theo vị trí gieo vần,tương ứng với tỷ lệ 29,6 % Với số lượng khiêm tốn so với vần chân nhưng vầnlưng cũng đã phát huy được hiệu quả trong việc tạo nhạc điệu trong thơ và tạo sứcgợi cảm cho ý thơ
Vần lưng trong tập Xúc xắc mùa thu (thơ)- Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ) được gieo rất linh hoạt, vị trí được phân bố theo nhiều dạng khác nhau mà
chủ yếu là trường hợp vần chân gieo xuống vần lưng Chẳng hạn:
Ơi đất xưa, đường rừng cũ
Thức dậy chưa em Lộc Ninh Dấu chân những ngày trinh sát Thành hoa bất tử vô tình.
(Mùa hoa bất tử)
Ở khổ thơ này, vần được gieo từ vần chân xuống vần lưng rồi lại trở về vần
chân Ba tiếng Ninh- trinh- tình hiệp vần với nhau, giúp nhà thơ tái hiện khoảng
thời gian chiến đấu tại Lộc Ninh vào mùa hoa bất tử Và từ nơi chiến trường khóilửa, những người chiến sĩ quả cảm ấy đã trở thành bất tử với thời gian
Trong nhiều trường hợp cả hai tiếng hiệp vần đều nằm ở giữa dòng thơ
Ví dụ:
Ông lão đánh xe ơi, sao tôi nhớ vô vàn
Tháng ba hoa phượng bùng bùng cơn lửa cháy Vẫn con đường ông đưa đi học ấy
Nay tôi về trong tiếng hát xe tăng
(Điệp khúc)
Như vậy, trong thơ Hoàng Nhuận Cầm, các loại vần phân loại dựa vào vị trícủa tiếng hiệp vần được tác giả sử dụng với mức độ và tính chất khác nhau Vầntrong thơ Hoàng Nhuận Cầm về cơ bản vẫn tuân thủ theo cách hiệp vần truyền
Trang 35thống nhưng rõ ràng nhà thơ đã tạo nên một giọng điệu riêng khó lẫn khiến nhữngcâu thơ tự do của anh hấp dẫn người đọc nhiều thế hệ.
2.1.2 Vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo đường nét thanh điệu
Thanh điệu là một trong hai yếu tố không thể thiếu để cấu tạo nên âm tiếttiếng Việt Trong vần thơ, thanh điệu mang chức năng hòa âm Sự hòa âm đượcbiểu hiện ở chỗ các âm tiết tham gia hiệp vần với nhau bao giờ cũng mang trênmình nó hai thanh điệu cùng một đặc trưng truyền điệu (bằng hoặc trắc) Hai âm tiết
có thể đồng nhất phân đoạn tính Những âm điệu không phân bố theo quy luật trênthì không bắt vần được với nhau
Theo đường nét thanh điệu, vần trong thơ Hoàng Nhuận Cầm được chia làmhai loại là vần bằng và vần trắc Số lượng cặp vần bằng là 329/509, chiếm tỷ lệ64,6% trong tổng số cặp vần theo đường nét thanh điệu Số lượng cặp vần trắc là180/509, chiếm tỷ lệ 35,4% trong tổng số cặp vần theo đường nét thanh điệu
2.1.2.1.Vần bằng
Vần bằng là loại vần mà các tiếng hiệp vần phải có cùng thanh điệu hoặc âmđiệu thuộc nhóm bằng (bao gồm các thanh không dấu và thanh huyền) Đây là loạivần tạo nên âm hưởng nhẹ nhàng, thích hợp cho việc thể hiện tình cảm, cảm xúc,tâm trạng kín đáo của nhân vật trữ tình
Việc sử dụng vần bằng đã góp phần tạo nên âm điệu nhẹ nhàng hài hòa vàsâu lắng trong nhiều bài thơ của Hoàng Nhuận Cầm
(Năm nốt bâng quơ trên một cây đàn)
Khổ thơ trên chứa 5 tiếng cuối mang thanh bằng trong 5 câu thơ liên tiếp,hiệp vần với nhau Đó là 5 tiếng em- khi- đi- em- riêng Cách sử dụng nhiều vầnbằng khiến câu thơ như lan tỏa, miên man
Trang 362.1.2.2.Vần trắc
Vần trắc là loại vần mà các tiếng hiệp vần với nhau phải có cùng thanh điệuhoặc âm điệu thuộc nhóm trắc (gồm các thanh: sắc, ngã, hỏi và nặng)
Trong các bài thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm ở tập Xúc xắc mùa thu
(thơ)-Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ) thì vần trắc cũng được sử dụng rất phổbiến Khác với vần bằng, những câu thơ chứa vần trắc ở cuối dòng thường diễn tả
sự vật, hiện tượng, tình cảm, suy nghĩ với tốc độ nhanh, gấp gáp, quyết liệt và dữdội Điều này cũng góp phần thể hiện rất thành công trạng thái cảm xúc và góp phầnbộc lộ thái độ của nhân vật trữ tình Chẳng hạn:
Tôi không thể nào mang về cho em Trên những đồi biên cương chảy máu Mặt đồng đội sau những ngày chiến đấu Khẩu sung ghì nóng bỏng đất Hòa Vang.
(Tôi không thể nào mang về cho em)
Hai tiếng máu và đấu đều mang thanh trắc khiến hai câu thơ chứa chúng trởnên quyết liệt, mạnh mẽ, dứt khoát như hình ảnh người chiến sĩ trong những ngàychiến đấu
Rõ ràng, Hoàng Nhuận Cầm đã sử dụng rất thành công các cặp vần theođường nét thanh điệu để tạo nên sự hài hòa và nhạc tính cho thơ
2.1.3 Vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo mức độ hòa âm
Vần là sự hòa xướng, hưởng ứng nhau của nhiều yếu tố trong hai âm tiết hiệp vần Do đó, dựa vào mức độ phối hợp của các thành phần âm tiết (đặc biệt là thanh điệu, âm cuối, âm chính) có thể phân chia các loại vần Về mức độ hòa âm, vần thơ Việt Nam được chia làm ba dạng: vần chính, vần thông và vần ép Tỷ lệ xuất hiện của các dạng vần theo mức độ hòa âm này
trong tổng số 442 cặp vần ở tập thơ Xúc xắc mùa thu (thơ)- Hò hẹn mãi cuối
cùng em cũng đến (thơ) như sau:
Bảng 2.3 Các vần theo mức độ hòa âm trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm
Trang 37Ví dụ:
Lê thê qua trọn kiếp người
Ba trăm trăng lẻ vỡ lời thở than Hương cong dấu hỏi tro tàn Đường xa- xa tắp hai bàn chân ai Nuốt chưa xong Cõi Thở Dài Xác thân lật úp lá bài đêm xuân.
(Ba dấu chấm )
Ở đoạn thơ vừa dẫn xuất hiện hai cặp vần chính hiệp vần với nhau là cặp
than- tàn và ai- dài Những vần chính này cùng với thanh điệu đã khắc họa cảm
giác ngao ngán như tiếng thở dài của nhân vật trữ tình
Trong tổng số 442 cặp vần theo mức độ hòa âm được khảo sát thì vần chính
có 255 cặp, chiếm tỷ lệ 57,7%, là loại vần xuất hiện nhiều nhất xét theo mức độ hòa
âm Các cặp vần chính trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm được phân chia thành cáckiểu sau:
Kiểu 1: Có âm đầu hoàn toàn khác nhau, thanh điệu có sự đồng nhất hoàntoàn hoặc đồng nhất ở đặc trưng truyền điệu (cùng thanh bằng (B) hoặc (T), âm
Trang 38chính và âm cuối giống nhau Đó là trường hợp của cặp tôi- thôi và lại- mãi ở ví dụ
dưới đây :
Tôi tựa cửa chờ chính tôi Tuổi thơ đi không trở lại Trong trắng xa rồi xa mãi Tan là tan vỡ mà thôi.
(Những thời vô tội)
Kiểu 2: Thanh điệu đồng nhất ở đặc trưng truyền điệu, các thành phần hoàntoàn giống nhau Đó là trường hợp của cặp rừng- rưng trong khổ thơ sau:
Anh về Hà Nội, chưa hết nhớ Anh em văn nghệ đón Người Rừng Như đón một thằng cha hóa dại Đang ngồi uống rượu mắt rưng rưng
(Xuất ngũ)
Kiểu 3: Âm đầu và âm đệm khác nhau, thanh điệu giống nhau hoàn toànhoặc chỉ đồng nhất ở đặc trưng truyền điệu, âm chính và âm cuối giống nhau Đó là
trường hợp của cặp lóa- quá và xa- già (đều không chứa âm cuối) trong khổ thơ sau:
Lửa những ngày qua lóa lóa Ngàn cây, ngàn lá giờ đây xa Bàn tay dạo ấy thơ dại quá Cụm khói ngủ quên giữa rừng già
(Nhớ mẹ Trường Sơn)
Như vậy, vần chính trong thơ Hoàng Nhuận Cầm đã góp phần đồng nhất âmhưởng, tạo nên sự nhịp nhàng, cân đối cho những dòng thơ chứa chúng
2.1.3.2 Vần thông
Vần thông là loại vần có âm chính và âm cuối không hoàn toàn giống nhau
mà chỉ có thể có sự đồng nhất chút ít: cùng dòng hoặc độ mở (đối với âm chính),cùng nhóm phụ âm mũi hoặc nhóm tắc thanh hầu (đối với âm cuối)
So với vần chính thì vần thông có mức độ hòa âm không cao bằng nhưng nóvẫn tạo âm hưởng tốt và giá trị cao Các âm tiết trong vần thông được phân bố như sau:
Trang 39- Thanh điệu trong các cặp vần đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất ở đặctrưng truyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc).
- Âm cuối trong hai âm tiết hiệp vần hoặc đồng nhất hoàn toàn hoặc đồngnhất đặc trưng vang (cùng nhóm mũi), hoặc đồng nhất đặc trưng vô thanh (cùngnhóm vô thanh)
- Âm chính trong cặp vần hoặc đồng nhất đặc trưng âm sắc (cùng bổng, cùngtrầm vừa hoặc cùng trầm), hoặc đồng nhất đặc trưng âm lượng (cùng âm lượng lớn,cùng âm lượng trung bình, cùng âm lượng bé)
Qua khảo sát, chúng tôi thấy xét về mức độ hòa âm trong thơ tự do Hoàng
Nhuận Cầm ở tập Xúc xắc mùa thu (thơ)- Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ)
thì vần thông chiếm ưu thế với tỷ lệ 28,5 % Vần thông xuất hiện trong thơ tự doHoàng Nhuận Cầm gồm các loại sau:
Loại 1: Có âm chính giống nhau nhưng âm cuối chỉ gần giống nhau Đó là
trường hợp của cặp phượng- lượn trong ví dụ sau:
Và bông trang nở thật điềm nhiên
Lũ ve lại học bài trong khóm phượng Chong chóng lượn trời ơi chong chóng lượn Giấy trắng và áo trắng các em tôi.
(Cột đèn lĩnh xướng)
Loại 2: Có âm cuối giống nhau nhưng âm chính chỉ gần giống nhau Đó là
trường hợp của cặp súng- xuống trong khổ thơ dưới đây:
Anh đã viết xong dòng đầu tiên Một dòng lửa phụt ra từ súng Dưới chân Ngựa mặt quân thù gục xuống Câu ngỏ đầu như thế đấy em ơi
(Viết trên lưng ngựa trắng)
Loại 3: Có âm chính và âm cuối chỉ gần giống nhau Đó là trường hợp của
cặp em- lên trong ví dụ sau:
Thơ tôi viết xin mời em cứ đọc Nhưng mà đừng tin bông Huệ ấy là em Bởi có lúc cả một rừng hoa trắng Tôi đã đạp tơi bời, phút cầm súng xông lên.
(Thơ màu xanh)
Trang 40Rõ ràng, vần thông được sử dụng phổ biến trong thơ tự do của Hoàng NhuậnCầm để diễn tả sự phức điệu của tâm hồn, cảm xúc và giúp chủ thể trữ tình giãi bàynhững suy nghĩ phong phú đa dạng của mình.
2.1.3.3 Vần ép
Vần ép là loại vần đối khó xác định Trong lịch sử nghiên cứu thơ ca, từtrước đến nay vẫn có những quan điểm chưa thống nhất về loại vần này Tuy nhiên,không thể không thừa nhận sự có mặt có loại vần này trong thi ca Việt Nam Hai âmtiết hiệp vần tạo thành một cặp vần ép khi:
- Thanh điệu và âm cuối đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất những đặctrưng ngữ âm nhất định
- Nguyên âm làm âm chính đi xa ngoài những ràng buộc về mặt ngữ âm.Tuy không có nhiều tác dụng trong việc tạo nên sự hài hòa cho ngôn ngữ thơnhưng vần ép cũng có hiệu quả nhất định trong việc tạo ra sự hòa âm cho vần thơ
Trong các vần thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm ở tập Xúc xắc mùa thu
(thơ)-Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ), số lượng vần ép không nhiều so với vần
chính và vần thông (chỉ có 61 cặp, chiếm 13,8 %) nhưng đã được sử dụng hiệu quả
và linh hoạt ở những bài thơ dài có sự va đập của những cảm xúc đối lập, bí ẩn hoặcnhững bài thơ có nhiều yếu tố tự sự với sự xuất hiện của hiện thực đời sống trongthơ Chẳng hạn:
Đã cắt đến hàng rào cuối cùng Các đồng chí ơi, xung phong ! Người cắt dây thép gai đã cắt xong Đứng dậy nghe đất nước núi sông mình Bao năm cắt chia đang liền lại.
(Người cắt dây thép gai)
Ở đoạn thơ này, hai tiếng cùng và mình cùng mang thanh bằng cũng hiệp vần với nhau bên cạnh cặp vần phong- xong Trong đó, âm cuối [ng] của cùng và [nh] của mình là hai âm mũi, có cùng đặc trưng ngữ âm.
Có thể nói mức độ hòa âm của các cặp vần là một đặc điểm ngữ âm đặc sắctạo nên tính nhạc cho thơ Hoàng Nhuận Cầm đã vận dụng sự hài hòa về ngữ âm để