1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khoá luận tốt nghiệp đặc điểm ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của tô hoài

65 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sĩ Hội thoại trong Dế Mèn phiêu lưu ký Giáp Thị Thủy, 2009, người viết đã chỉ ra các đặc điểm của hội thoại dưới góc nhìn ngữ dụng học qua giao tiếp và cảm xúc của nhân v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

CỦA TÔ HOÀI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

CỦA TÔ HOÀI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS Đỗ Thị Thu Hương

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Ngôn ngữ học đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy tôi trong thời gian tôi học tập và rèn luyện tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương đã tận tình hướng

dẫn tôi thực hiện khóa luận này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song khóa luận vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2019 Người thực hiện

Đặng Thị Sắc

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả khóa luận xin cam đoan:

Công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của

Đặng Thị Sắc

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Bố cục của khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Một số khái niệm ngôn ngữ học 6

1.1.1 Một số vấn đề về cấu tạo từ 6

1.1.1.1 Khái niệm 6

1.1.1.2 Cấu tạo từ 6

1.1.2 Một số vấn đề về từ loại và câu Tiếng Việt 7

1.1.2.1 Từ loại 7

1.1.2.2 Câu 7

1.2 Khái quát về văn miêu tả 8

1.2.1 Khái niệm 8

1.2.2 Đặc điểm 9

1.2.2.1 Quan sát trong văn miêu tả 9

1.2.2.2 Liên tưởng và tưởng tượng trong văn miêu tả 10

1.2.2.3 Thái độ của người viết văn miêu tả 11

1.2.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong văn miêu tả 12

1.2.3 Phân biệt văn miêu tả với văn tự sự và văn biểu cảm 13

1.3 Khái niệm thiên nhiên 14

1.4 Vài nét về nhà văn Tô Hoài 15

1.4.1 Tiểu sử 15

1.4.2 Sự nghiệp văn chương 16

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI 18

2.1 Đặc điểm cấu tạo từ 18

2.1.1 Hệ thống từ láy 18

2.1.1.1 Từ láy tượng thanh 18

Trang 6

2.1.1.2 Từ láy tượng hình 22

2.1.2 Hệ thống từ ghép 25

2.1.2.1 Từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa 27

2.1.2.2 Từ ghép đẳng lập chuyên chỉ loại 32

2.2 Hệ thống từ loại miêu tả thiên nhiên 33

2.2.1 Danh từ miêu tả thiên nhiên 34

2.2.2 Động từ miêu tả thiên nhiên 36

2.2.3 Tính từ miêu tả thiên nhiên 38

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI 42

3.1 Đặc điểm câu trong sáng tác của Tô Hoài 42

3.1.1 Câu phức 42

3.1.2 Câu đơn 43

3.1.3 Câu ghép 45

3.2 Một số biện pháp tu từ miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài 46

3.2.1 Nhân hóa 47

3.3.2 So sánh 49

3.3.3 Ẩn dụ 53

PHẦN KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Từ láy tượng thanh miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài 18 Bảng 2.2 Từ láy tượng hình miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài 23 Bảng 2.3 Từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của

Tô Hoài 26 Bảng 2.4 Từ ghép đẳng lập chuyên chỉ loại miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của

Tô Hoài 27

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Khi hiểu một tác phẩm nghệ thuật đơn vị đầu tiên mà chúng ta tri nhận đó

là từ ngữ Mỗi nhà văn lại có cách sử dụng ngôn từ theo cách riêng tạo nên phong cách sáng tác Ngôn từ còn là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm Chính vì vậy việc nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ ngôn ngữ là một hướng đi cần thiết

1.2 Tô Hoài là một trong số nhà văn hàng đầu của văn xuôi Việt Nam Ông

là một nhà văn có sức sáng tạo dồi dào và đa dạng với hơn 200 đầu sách được xuất bản Nhà văn Tô Hoài rất coi trọng việc sử dụng ngôn từ trong những sáng tác của mình Theo ông mỗi chữ phải là một hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương của mình mà có

Tô Hoài có một thế mạnh đó chính là miêu tả Với cảm quan về thế giới tự nhiên sâu sắc kết hợp với những hình ảnh, chi tiết tỉ mỉ ông đã miêu tả nên những bức tranh thiên nhiên, sự vật hiện tượng một cách chân thực và sinh động Đặc biệt là những bức tranh miêu tả thiên nhiên Nhờ tài năng lựa chọn chi tiết, hình ảnh đặc sắc và cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo mà những bức tranh thiên nhiên mà Tô Hoài miêu tả hiện lên thật rõ nét Có thể nói, miêu tả là một phương diện tạo nên sự thành công cho những sáng tác của Tô Hoài và ngôn ngữ miêu tả của ông tạo nên những nét đặc sắc rất riêng biệt

1.3 Ba tác phẩm Đảo hoang, Truyện Tây Bắc và Dế mèn phiêu lưu ký là

những tác phẩm xuất sắc của nhà văn Tô Hoài Nổi bật trong ba tác phẩm là hình

ảnh thiên nhiên xuất hiện nhiều với muôn màu muôn vẻ Trong tiểu thuyết Đảo

hoang, Tô Hoài đã miêu tả những phong cảnh thiên nhiên đất nước Văn Lang với

những nét văn hóa, thiên nhiên Bãi Lở và đảo hoang đẹp đẽ và cũng đầy rẫy những

nguy hiểm rình rập Hay thiên nhiên miền núi Tây Bắc lãng mạn trong tập Truyện

Tây Bắc Thiên nhiên trong Dế mèn phiêu lưu ký lại là những vùng đất mới lạ theo

dấu chân của chàng Dế mèn trên chuyến phiêu lưu Bằng tài năng sử dụng ngôn ngữ của mình Tô Hoài đã vẽ lên những bức tranh thiên nhiên trong mỗi tác phẩm lại mang những đặc sắc và phong vị riêng

1.4 Trong chương trình giáo dục hiện nay, Tô Hoài là một nhà văn được đưa vào giảng dạy từ tiểu học đến đại học Chính vì vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ và đặc biệt là đặc điểm ngôn ngữ miêu tả trong sáng tác của Tô Hoài sẽ góp phần tích cực trong việc tiếp nhận, học tập và giảng dạy các tác phẩm của ông

Trên đây là những lí do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đặc điểm ngôn

ngữ miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài”

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Miêu tả là một phương thức được sử dụng nhiều trong đời sống và trong nghệ thuật Trong văn miêu tả, yếu tố quan trọng giúp nhà văn tái hiện thành công những bức tranh hiện thực, những cung bậc cảm xúc là hệ thống ngôn ngữ Từ ngữ

có giàu chất tạo hình, giàu sức biểu đạt mới có thể làm cho đối tượng trở nên sinh động và chân thực Bên cạnh đó là các biện pháp tu từ làm tăng hiệu quả miêu tả đối tượng, làm cho đối tượng trở nên lôi cuốn và hấp dẫn hơn Chính vì vậy, văn miêu

tả là một loại văn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Năm 1918, trong cuốn Việt

Hán khảo văn, Phan Kế Bính cũng đã đưa ra những nhận định về văn miêu tả Ông

cho rằng những cảnh tượng hiện ra trước mắt tác động vào giác quan của con người, làm cuốn hút con người và cứ theo cảnh tượng ấy mà tả thì gọi là văn chương tả

cảnh Cuốn sách đầu tiên viết về chương trình giáo dục môn văn Quốc văn giáo

khoa thư, năm 1935, của nhóm tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng

Đình Phúc, Đỗ Thận (biên soạn) đã cho thấy đề tài về các loài vật, đồ vật, người thân, phong cảnh, là những đề tài gần gũi với đời sống người Việt nhất Tô Hoài với những kinh nghiệm viết văn của mình đã đem đến cho bạn đọc và đặc biệt là

các em học sinh những cuốn sách giúp ích cho việc viết văn miêu tả như: Một số

khinh nghiệm viết văn của tôi (1960), Sổ tay viết văn ( 1967), Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả (1997) Năm 1995, nhóm nhà văn Vũ Tú Nam, Bùi Hiển, Nguyễn

Quang Sáng, Phạm Hổ cũng cung cấp cho bạn đọc những trang viết bổ ích khi viết

văn miêu tả trong cuốn Văn miêu tả và kể chuyện

Tô Hoài là một cây bút văn xuôi xuất sắc để lại nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại Ông bước vào văn đàn khá sớm, ông viết nhiều, viết đều và viết có giá trị Dõi theo chặng đường sáng tác của ông ta thấy được một cây bút luôn cố gắng tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ cho sáng tác của mình Những tác phẩm của ông có sức hấp dẫn và có ý nghĩa lâu bền đối với đời sống tinh thần của bạn đọc nhiều thế hệ Các tác phẩm của ông với nhiều đề tài, thể loại đặc sắc đã trở thành đối tượng cho các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu hướng tới Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu và những bài viết về phương diện ngôn ngữ trong sáng tác của Tô Hoài

Các nhà nghiên cứu luôn đánh giá cao tài năng của Tô Hoài ở sự quan sát tinh tế các sự việc, hiện tượng của cuộc sống và đưa vào tác phẩm của mình một

cách sinh động Phan Cự Đệ nhận định: “Tô Hoài có một khả năng quan sát đặc

biệt, rất thông minh hóm hỉnh và tinh tế Khả năng này giúp anh thành công khi

Trang 10

miêu tả những hiện tượng bên ngoài, để trực tiếp quan sát và cảm thụ cảnh vật thiên nhiên, sinh hoạt hằng ngày, phong tục lễ nghi, thế giới loài vật ” [13-tr.98]

Trong cuốn Tô Hoài sức sáng tạo của một đời văn, Hà Minh Đức cũng đã nhận xét: “Trong lĩnh vực ngôn từ, Tô Hoài đặc biệt chú ý đến cái mới, cái đẹp của

chữ nghĩa Làm sao để thuần túy là chuyên chăm chút và màu sắc ngôn từ Tô Hoài tìm hiểu cách dùng chữ đẹp của quần chúng trong lao động, trong từng nghề nghiệp và từ đấy suy nghĩ và sáng tạo” [4-tr.30]

Trần Hữu Tá từng nhận xét: “Điều cốt lõi trong nghệ thuật miêu tả của Tô

Hoài là công phu dùng chữ” Ông còn cho rằng: “Ở Tô Hoài không phải là chuyện chơi chữ hay khoe chữ Đây là hàng trăm lần quan sát và ngẫm nghĩ về thiên nhiên, đất nước để tìm chữ đặt tên cho sự vật, phải tìm kiếm chọn lọc rồi đúc luyện thêm mới đưa cho người đọc Đây là những sáng tạo của tình yêu đất nước và của lao động cật lực” [17-tr.17-18]

Bên cạnh đó còn phải kể đến những công trình nghiên cứu: Luận án tiến sĩ

Ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài (Vũ Thùy Nga, 2016), tác giả giải

quyết một số vấn đề về ngôn từ và phương thức tổ chức ngôn từ trong lời văn nghệ

thuật Luận văn thạc sĩ Đặc điểm từ ngữ trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài

(Phạm Thị Thanh Huyền, 2015), tác giả đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc- ngữ

nghĩa của từ ngữ, cách sử dụng từ ngữ trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài Luận văn Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Tô Hoài (Nguyễn Văn Quân, 2012), tác giả

đã tiến hành nghiên cứu về nghệ thuật tự sự, cách thức tổ chức cốt truyện, nhân vật,

ngôn ngữ trần thuật và người kể chuyện Luận văn thạc sĩ Hội thoại trong Dế Mèn

phiêu lưu ký (Giáp Thị Thủy, 2009), người viết đã chỉ ra các đặc điểm của hội thoại

dưới góc nhìn ngữ dụng học qua giao tiếp và cảm xúc của nhân vật; Luận văn Ngôn

ngữ giàu tính tạo hình trong văn xuôi viết về miền núi của nhà văn Tô Hoài (Lê Thị

Na, 2003) đã chỉ ra những giá trị tạo hình về mặt ngôn từ trong các tác phẩm viết về

đề tài miền núi của Tô Hoài, Các khóa luận như: Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả

trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài (Hà Thị Thu Hoài, 2004); Đặc điểm lời dẫn thoại qua khảo sát tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài (Trần Thị Huyền, 2007),

Như vậy, có thể thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn Tô Hoài Mỗi tác giả lại có một hướng nghiên cứu, khai thác ở một khía cạnh, nội dung

và phương diện riêng Song tập trung chủ yếu là khai thác các đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn Về phương diện ngôn ngữ cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu

đề cập đến Các kết quả tổng quan nói trên cũng cho thấy, nghiên cứu về đặc điểm

Trang 11

của ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài thì vẫn là một khoảng đất trống cần được “cày xới” thêm Với đề tài này chúng tôi muốn chỉ ra những nét đặc sắc trong việc sử dụng ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên của Tô Hoài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngữ liệu phục vụ cho nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu của đề tài được khảo sát từ ba tác phẩm sau:

- Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), Nxb Hội nhà văn

- Truyện Tây Bắc (1953), Nxb Văn học

- Đảo hoang (1980), Nxb Kim Đồng

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong văn miêu tả của Tô Hoài Từ đó, thấy được phong cách ngôn ngữ độc đáo trong các sáng tác của ông

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết về văn miêu tả và sáng tác của Tô Hoài

- Tìm hiểu đặc điểm từ vựng trong văn miêu tả thiên nhiên

- Tìm hiểu đặc điểm ngữ pháp và biện pháp tu từ trong văn miêu tả thiên nhiên của Tô Hoài

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả

- Phương pháp phân tích

- Thủ pháp thống kê - phân loại

Trang 12

6 Đóng góp của khóa luận

Về ý nghĩa khoa học: khóa luận góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của ngôn ngữ miêu tả trong văn chương

Về ý nghĩa thực tiễn: kết quả của khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về những sáng tác của nhà văn Tô Hoài Bên cạnh đó, khóa luận còn góp phần định hướng trong việc giảng dạy các tác phẩm của Tô Hoài

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Đặc điểm từ vựng miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài Chương 3: Đặc điểm ngữ pháp và biện pháp tu từ miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm ngôn ngữ học

1.1.1 Một số vấn đề về cấu tạo từ

1.1.1.1 Khái niệm

Theo cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một

số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.” [3-tr.16]

Từ là một đối tượng nghiên cứu trong ngôn ngữ học Nó được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau như: Cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong cách học, cú pháp học

Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa về các yếu tố cấu tạo từ trong cuốn Từ

vựng ngữ nghĩa tiếng Việt: “trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất - tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa- được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt” [3-tr.27]

1.1.1.2 Cấu tạo từ

Cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để tạo từ Trong tiếng Việt có ba kiểu cấu tạo từ: đơn, ghép và láy

Kiểu cấu tạo từ đơn: “Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa

chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ.” [3-tr.39]

Kiểu cấu tạo từ láy: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy,

đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.” [3-tr.40]

Kiểu cấu tạo từ ghép: “Khác với các từ láy trong đó có một hình vị (hình vị

láy) được sản sinh từ hình vị kia (hình vị cơ sở), từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau.” [3-tr.54]

Trang 14

1.1.2 Một số vấn đề về từ loại và câu Tiếng Việt

1.1.2.1 Từ loại

a, Khái niệm

Từ loại là sự phân loại từ trong ngôn ngữ ra thành những loại, những cấp bậc dựa vào đặc trưng ngữ pháp Việc xét một lớp từ nào đó vào một từ loại nhất định dựa trên sự xác định bởi những đặc trưng ngữ nghĩa, hoạt động ngữ pháp của lớp từ

đó khi thực hiện một chức năng nhất định Chính vì vậy mà mỗi hệ thống ngôn ngữ

“Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình Ý nghĩa quá

trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể Đó là ý nghĩa hành động

Ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian.” [1-tr.103]

“Lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của

quá trình) là tính từ.” [1-tr.115]

Hư từ gồm có: phụ từ, quan hệ từ và tình thái từ

1.1.2.2 Câu

a, Khái niệm

Theo Dẫn luận ngôn ngữ học: “Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng

thông báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc một cảm xúc.” [5-tr.266]

Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2) đưa ra định nghĩa về câu như sau: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên

trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩ tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đáng giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.” [2-tr.106]

Trang 15

b, Phân loại

Câu được coi là một đơn vị nhỏ nhất có chức năng thông báo Có nhiều cách phân loại câu như:

Căn cứ vào cấu trúc câu, người ta chia làm ba loại: câu đơn, câu phức và câu ghép:

“Câu đơn được hiểu là câu chỉ có 1 cụm chủ - vị (câu đơn 2 thành phần) và chính cụm chủ - vị này đồng thời cũng là nòng cốt câu.” [2-tr.200]

“Câu phức thành phần là câu gồm từ 2 cụm chủ - vị trở lên, trong đó chỉ có một cụm làm nòng cốt câu, những cụm chủ - vị còn lại đều bị bao hàm bên trong nòng cốt câu.” [2-tr.200]

“Câu ghép là câu gồm từ 2 cụm chủ - vị trở lên, mỗi cụm trong số đó có tư cách (tương đương) một nòng cốt câu đơn (2 thành phần) tức là không cụm chủ - vị nào bao hàm cụm chủ - vị nào Các cụm chủ - vị đang bàn ở đây dường như được

“ghép” lại, kết nối lại để làm một thành một câu.” [2-tr.200]

Căn cứ vào mục đích giao phát ngôn, người ta chia câu ra làm bốn loại: câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán và câu trần thuật

1.2 Khái quát về văn miêu tả

1.2.1 Khái niệm

Văn miêu tả là loại văn sử dụng từ ngữ, câu văn tái hiện những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, hiện tượng, con người, phong cảnh, làm cho chúng như đang tồn tại trước mắt người đọc, người nghe Năng lực quan sát của người nói, người viết cũng được bộc lộ rõ nhất trong loại văn này

Loại văn này mang tính thông báo thẩm mĩ cao Nó thể hiện được cái mới

mẻ, nét riêng trong sự quan sát, cảm nhận của người viết Đối tượng được miêu tả được tái hiện qua những nét nổi bật, đặc sắc được lấy cảm hứng từ thực tế Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu hình ảnh, âm thanh và cảm xúc

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện

nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung một cách cụ thể về sự vật,

sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người.” [19-tr.391]

Miêu tả là một hoạt động phổ biến trong đời sống hằng ngày Nhờ có hoạt động miêu tả mà con người có thể tiếp xúc với vô vàn sự vật, hiện tượng trong thế giới mà không cần thiết phải tiếp xúc trực tiếp Miêu tả giúp cho con người tiếp thu những kinh nghiệm, tri thức, ghi nhớ về các sự vật hiện tượng thế giới xung quanh một cách hiệu quả Cùng với các loại hình nghệ thuật khác, văn học cũng sử dụng miêu tả như là một phương thức quan trọng để nhận thức, phản ánh và thể hiện thế giới Thông qua hệ thống ngôn từ, các nhà văn mô tả các sự vật hiện tượng một cách sống động, rõ nét và chân thực

Trang 16

Từ điển thuật ngữ văn học lại đưa ra định nghĩa như sau: Miêu tả là “một phương pháp thuộc tu từ học cổ điển, bao gồm nhiều kiểu miêu tả hình tượng hóa, đối lập với trần thuật Mục đích của miêu tả là khơi gợi trí tưởng tượng và tình cảm, làm cho người ta cảm động” [6-tr.196] Hay có thể hiểu, văn miêu tả là một

thể văn bản mà trong đó người viết sử dụng ngôn từ và cách diễn đạt mang tính nghệ thuật, phong cách riêng của mình để tái hiện lại, sao chụp lại hình ảnh, chân dung về đối tượng được miêu tả với những đặc điểm nổi bật Những đặc điểm cả về hình dáng bên ngoài lẫn những phẩm chất bên trong giúp cho người tiếp nhận có thêm những hiểu biết và tình cảm trước đối tượng Và cũng qua ngôn từ mà người miêu tả sử dụng thì đối tượng được miêu tả như hiện lên trước mắt người đọc qua

sự lý giải ngôn từ và cảm nhận

Nhìn chung hầu hết các tài liệu tham khảo như Từ điển Tiếng Việt cơ bản, Từ

điển tiếng Việt, sách giáo khoa phổ thông, đều có cái nhìn giống nhau về miêu tả:

Miêu tả là dùng ngôn ngữ hay phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho đối tượng miêu

tả như hiện lên trước mắt người đọc người nghe Người đọc người nghe có thể hình dung một cách cụ thể về sự vật, hiện tượng Muốn miêu tả hay phải biết quan sát, tổ chức, sắp xếp các chi tiết một cách logic, biết lựa chọn từ ngữ, cách đặt câu, sử dụng các biện pháp nghệ thuật, làm nổi bật lên cái hồn của đối tượng được miêu tả

1.2.2 Đặc điểm

1.2.2.1 Quan sát trong văn miêu tả

Theo Từ điển Tiếng Việt quan sát là “xem xét để thấy, để biết rõ sự vật, hiện

tượng nào đó” [19-tr.504]

Quan sát là một hoạt động quan trọng hàng đầu khi miêu tả Nó không chỉ là nhìn, là thấy mà nó còn bao gồm các hoạt động tri giác: nhìn, nghe, ngửi, sờ, cảm,

Theo Nguyễn Quang Uẩn, Tâm lý học đại cương: “Quan sát là hình thức cao nhất

của tri giác” [18-tr.89] Quan sát được coi là một chiếc cửa ngõ nối liền thế giới

khách quan và thế giới chủ quan Nhờ có quan sát mà vốn hiểu biết, trí tưởng tượng, tâm hồn của chúng ta mới giàu có, phong phú, đa dạng và đầy màu sắc Bởi bất kỳ

sự liên tưởng, tưởng tượng dù có phong phú đến đâu cũng bắt nguồn từ hiện thực đời sống, những điều trong thực tế hàng ngày Muốn viết văn, miêu tả hay thì phải

đi nhiều, quan sát nhiều, thật sâu sắc về con người và cảnh vật Văn miêu tả gắn liền với tâm hồn của con người, óc quan sát tinh tế, trí tưởng tượng, sự cảm nhận của người viết Chính sự quan sát đem đến cho người viết sự giàu có về nhận thức và tâm hồn

Sự tưởng tượng, liên tưởng đều được bắt nguồn từ thực tế Để có thể có được

sự từng trải, hiểu biết thì phải quan sát nhiều Những trang văn miêu tả hay, sống

Trang 17

động và có hồn đều bắt nguồn từ những nhà văn có tài quan sát, biết quan sát, chịu

khó quan sát Tác phẩm Dế mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài làm say đắm lòng

người với những trang miêu tả về cuộc sống của chú Dế Mèn và các loài vật Dế Trũi, Ếch Cốm, là do một thời ông đã gắn bó với thiên nhiên cây cỏ, với các loài vật trước cổng làng ông

Quan sát không chỉ là để thấy những hành động, sự việc ở bên ngoài mà còn

là để cảm nhận được cả những diễn biến nội tâm bên trong đối tượng Nhà văn sẽ thâm nhập vào sâu bên trong nhân vật để thấy, để cảm nhận và tái hiện những nét tính cách, tâm tư tình cảm của nhân vật Bên cạnh đó, một điểm nhìn hay một góc nhìn sẽ đưa đến cho ta sự nhìn nhận, cách tiếp cận đối tượng một cách mới mẻ Có thể cùng một đối tượng nhưng lại có nhiều cách nhìn nhận khác nhau Để có thể đạt được hiệu quả cao khi quan sát cần phải gắn liền với liên tưởng, tưởng tượng và từ

đó phát hiện ra những nét đặc biệt, sự tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng

1.2.2.2 Liên tưởng và tưởng tượng trong văn miêu tả

Theo các nhà tâm lý học, Nguyễn Quang Uẩn: tưởng tượng là quá trình

“phản ánh những cái chưa có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những biểu tượng mới trên cơ sở những biểu tượng đã có” [18-tr.106-108] Tưởng

tượng được coi là một quá trình nhận thức Từ một hình ảnh sau đó được mở rộng, hướng tới một hình ảnh khác

Trong văn miêu tả, nhớ có tưởng tượng mà những hình ảnh về đối tượng được miêu tả có thể hiện lên trước mắt người đọc một cách sống động, như thật mà không nhất thiết phải tiếp xúc trực tiếp với đối tượng Những đặc điểm của sự vật hiện tượng được miêu tả không nhất thiết phải được được bộc lộ rõ ràng Nhưng qua liên tưởng nó như được hiện lên với đầy đủ nguyên hình vẹn trạng với đầy đủ những nét đặc trưng của nó

Văn miêu tả sử dụng ngôn ngữ dựng người, dựng cảnh, dựng lên sự vật hiện tượng giúp người đọc hình dung ra sự vật hiện tượng một cách cụ thể và sinh động Chính vì vậy khi miêu tả người viết sử dụng nhiều những biện pháp so sánh, ví von Nhờ đó mà văn miêu tả khơi gợi được trí tưởng tượng, óc sáng tạo của người đọc Nhà thơ Viễn Phương tỏ lòng thành kính của mình, liên tưởng tưởng tượng chủ

tịch Hồ Chí Minh như một mặt trời: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/ Thấy

một mặt trời trong lăng rất đỏ” (Viếng lăng Bác - Viễn Phương)

Liên tưởng, tưởng tượng đóng vai trò quan trọng trong văn miêu tả Nhờ nó

mà những đặc điểm về đối tượng mới có thể hiện ra, đến với người tiếp nhận một cách hoàn thiện nhất Đây cũng là một hoạt động thể hiện tài năng, sự sáng tạo của người viết

Trang 18

1.2.2.3 Thái độ của người viết văn miêu tả

Cái hay cái đẹp của một đoạn văn miêu tả không chỉ được thể hiện qua sự quan sát, ngôn ngữ, hay sự liên tưởng, mà nó còn được thể hiện qua tình cảm, thái độ của người viết Mỗi bài văn miêu tả đều hướng đến một mục đích nhằm tái hiện đối tượng, song mỗi người lại có một cách thể hiện, tái hiện khác nhau Qua mỗi bức tranh miêu tả

ta có thể thấy được tâm hồn, tình cảm của người viết đằng sau nó Nguyễn Du từng nói

về mối quan hệ giữa người và cảnh vật: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du) Các yếu tố ngoại cảnh đều được tái hiện qua tâm hồn, trí tuệ, nhân cách, của người viết Chính vì vậy mà các sự vật hiện tượng được miêu tả

cũng phụ thuộc, nhuốm màu sắc cá tính, tâm trạng của tác giả Trong Tác giả nói về tác

phẩm, nhà thơ Huy Cận cũng từng nhận định: “Tôi phải khẳng định rằng, trong tâm hồn con người chứ không chỉ là tâm hồn thi sĩ, không phải cảnh đi vào tâm, mà tâm luôn luôn phóng chiếu ra cảnh ” [16-tr.89] Điều đó có nghĩa là đối tượng miêu tả

thường được suy chiếu qua lăng kính tâm hồn của người viết

Văn miêu tả muốn hay thì người miêu tả không chỉ cần có cái tài mà còn phải có cả cái tình Cái tình đó có thể là lòng say đắm, thái độ, tình cảm đối với cái đẹp, cái thiện, trong sáng, cao thượng, hay cũng có thể là sự khinh bỉ, căm ghét, trước cái ác, cái xấu xa, lố lăng, kệch cỡm, Không có cái tình thì bài văn miêu tả

sẽ trở nên khô cứng như một cái xác không hồn Bài văn miêu tả có tình mới có thể làm lay động, tác động vào lòng người đọc một cách sâu sắc

Khi miêu tả, thái độ và tình cảm của người viết thường được thể hiện một cách gián tiếp thông qua cách người viết nhìn nhận sự vật, cách dùng từ ngữ và lối

so sánh, ví von Phải là một người yêu Huế, gắn bó với thôn Vĩ lắm, nhà thơ Hàn Mặc Tử mới có thể miêu tả bức tranh thôn Vĩ đẹp và nên thơ như thế này:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

(Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử) Qua đó, ta có thể thấy thái độ và tình cảm của người viết có sự tác động, chi phối đến người viết văn miêu tả Những đoạn văn miêu tả phần nào thể hiện chính những cảm xúc, tâm tư, tình cảm của tác giả Cũng nhờ vậy mà những đoạn văn miêu tả trở nên có hồn và hấp dẫn hơn

Trang 19

1.2.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong văn miêu tả

Tiếng Việt là một thứ tiếng vô cùng phong phú và đang dạng Chính vì vậy,

nó là một thức chất liệu, một thứ công cụ để miêu tả, để truyền đạt tư tưởng, tình cảm hiệu quả

Tiếng Việt có một hệ thống các từ gợi hình ảnh và cảm giác vô cùng phong phú và đa dạng Nó giúp các nhà văn có thể diễn đạt thành công những cung bậc tình cảm và sắc thái hiện thực một cách hiệu quả Những từ ngữ gợi về tâm trạng như: bồi hồi, xao xuyến, buồn bã, vui vẻ, Hay những từ gợi về thị giác như: là là, lửng lơ, chới với

Bên cạnh đó, tiếng Việt còn có một số lượng lớn các từ định danh về sự vật hiện tượng Và nó còn có một bộ phận các từ đồng nghĩa cho phép phân biệt những trạng thái, hiện tượng gần giống nhau Đó là những từ giống nhau về mặt ngữ nghĩa nhưng lại khác nhau về mặt âm thanh, như: coi - xem, hiền - lành, ác - dữ, Đặc biệt còn có một bộ phận từ ngữ có khả năng tạo hình như: từ láy, thành ngữ như

những từ láy: long lanh, mênh mông, mù mịt thành ngữ: Khỏe như voi, Mình đồng

da sắt,

Về ngữ pháp và cách diễn đạt trong tiếng Việt rất giàu khả năng miêu tả Tiếng Việt có nhiều biện pháp tu từ và phương thức diễn đạt khác nhau Chính vì vậy mà nhà văn có thể sử dụng và sáng tạo để tạo nên những bài văn miêu tả hay và độc đáo

Thứ tự của các từ được sắp xếp trong một câu đem lại những ý nghĩa khác nhau Và trật tự ấy cũng được nhà văn sử dụng một cách sáng tạo khi miêu tả Với

câu “gió thổi hiu hiu” khi được đảo thành “hiu hiu gió thổi” thì ta vừa thấy được

mức độ nhẹ nhàng của cơn gió, lại vừa thấy được cảm giác thoải mái dễ chịu của cơn gió mang lại

Văn miêu tả sử dụng nhiều biện pháp tu từ như: nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, Những biện pháp tu từ này giúp cho đối tượng được miêu tả trở nên có hồn, con người và cảnh vật trở nên hòa hợp Cảnh vật trở nên có hồn, có sức sống như con người, còn con người như hòa vào cảnh vật Ví dụ như: trắng như bông, tươi như hoa, đen như gỗ mun, Việc sử dụng các biện pháp tu từ và phương thức biểu đạt kết hợp với cách sử dụng từ ngữ của nhà văn sẽ làm cho bài văn miêu tả thêm sinh động và hấp dẫn hơn

Trang 20

Âm thanh của ngôn ngữ tiếng Việt rất giàu nhạc tính Mặc dù nhạc tính mà

nó tạo nên không có giá trị về mặt ngữ nghĩa nhưng lại là một phương tiện bổ trợ hết sức quan trọng trong việc thể hiện nội dung của tác phẩm Nhà văn Nguyễn

Tuân từng nói: “Có những tiếng, những chữ, mỗi lần vác từ trong kho dân tộc ra

mà dùng cần phải gieo nó xuống, cần phải gõ lên ó mà đo lại cả những vòng ngân vang ngân hưởng của nó” [15-tr.635-636] Tiếng Việt có một bộ phận từ láy tượng

thanh.Đó là những từ láy về bộ phận âm thanh mô phỏng âm thanh trong tự nhiên một cách độc đáo: rì rào, rầm rầm, xào xạc, nhờ có những từ ngữ giàu sức gợi góp phần làm cho đối tượng được miêu tả hiện lên một cách sinh động với đầy đủ hình trạng, tính chất và hoạt động của nó

1.2.3 Phân biệt văn miêu tả với văn tự sự và văn biểu cảm

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi nhận định: “Tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai

phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học” [6-tr.385]

Tự sự thường tập trung vào việc nêu sự việc, hành động và nhân vật Là dùng ngôn ngữ để tái hiện lại một chuỗi các sự kiện, từ sự việc này dẫn đến sự việc kia, rồi dẫn đến một kết thúc Thông qua đó, người viết khắc họa nên tính cách của nhân vật và những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất con người và đời sống Trong văn tự tự thường có nhân vật, cốt truyện, diễn biến sự việc, sử dụng nhiều những câu văn trần thuật Nó thường được sử dụng trong: truyện, tiểu thuyết, văn xuôi và

cả trong thơ

Biểu cảm là sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ, bộc lộ cảm xúc, thái độ, tình cảm của nhân vật và người viết trước sự vật, sự việc, nhân vật, hành động Nó thường sử dụng các câu văn, câu thơ miêu tả, bộc lộ cảm xúc

Miêu tả sử dụng ngôn ngữ để làm cho người đọc người nghe hình dung ra sự vật hiện tượng, làm cho sự vật hiện tượng như hiện ra trước mắt người tiếp nhận

Nó thường tập trung vào việc tái hiện những tính chất màu sắc, mức độ, tính chất của sự vật, hiện tượng

Văn miêu tả, biểu cảm và tự sự là ba loại văn thường được sử dụng đan xen với nhau và rất khó để bóc tách Các đoạn văn miêu tả và kể chuyện không tồn tại đơn độc mà chúng thường xen lẫn vào nhau, làm phương tiện bổ trợ cho nhau để thể hiện nội dung của tác phẩm

Trang 21

Ba loại văn trên thường được sử dụng kết hợp với nhau, bổ trợ cho nhau Tùy theo cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ mà chúng ta có thể xác định Nếu một đoạn văn thiên về miêu tả thì cho dù trong đoạn văn đó có sử dụng nhiều yếu tố tự

sự thì đó cũng vẫn là một đoạn văn miêu tả Còn thực chất đó là một đoạn văn tự sự thì dù có miêu tả hay không thì đó cũng vẫn là một đoạn văn tự sự Miêu tả thường được sử dụng làm mục đích chủ yếu thuộc các thể loại: Tùy bút, phóng sự, ghi chép, Bên cạnh đó miêu tả còn được sử dụng làm phương tiện như trong: truyện, tiểu thuyết,

Miêu tả, biểu cảm và tự sự thường được biết đến là ba phương thức biểu đạt độc lập dựa trên mục đích, thao tác và đặc trưng riêng của mỗi loại Nhưng trong một tác phẩm văn học thường sử dụng nhiều phương thức biểu đạt Các phương thức biểu đạt thường được sử dụng kết hợp, đan xen với nhau trong một văn bản Trong một tác phẩm văn học thường có một phương thức biểu đạt chính, còn các phương thức biểu đạt khác chỉ đóng vai trò bổ sung, làm rõ, phong phú thêm Như trong một văn bản có phương thức biểu đạt chính là tự sự thì miêu tả hay biểu cảm chỉ đóng vai trò bổ trợ Khi đó miêu tả trong khi kể chuyện sẽ làm cho sự việc đang

kể thêm sinh động với màu sắc, dáng vẻ, diện mạo của sự việc, nhân vật, làm cho

sự việc hành động như đang xảy ra trước mắt người đọc Còn yếu tố biểu cảm khi

đó xuất hiện sẽ giúp cho người viết thể hiện được thái độ, tình cảm của mình trước

sự vật, hiện tượng đó Qua đó người đọc sẽ có sự thấu cảm trước sự việc, hiện tượng đang được kể

Các yếu tố miêu tả và biểu cảm góp phần làm cho câu truyện càng trở nên thấm thía, ý nghĩa và sâu sắc hơn Nhờ có biểu cảm mà tác giả có thể bày tỏ được thái độ trân trọng và tình cảm của mình với nhân vật và sự việc Sự mô tả, tái hiện các đặc điểm của sự vật hiện tượng cũng góp phần không nhỏ làm cho sự vật hiện tượng thêm phần sinh động hơn Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi của truyện là cốt truyện với sự việc và nhân vật cùng với những hành động chính tạo nên Các yếu tố như miêu tả và biểu cảm chỉ dựa vào sự việc và nhân vật để phát triển Chính vì vậy mà miêu tả và biểu cảm chỉ là yếu tố bổ sung làm sáng tỏ thêm cho sự việc và nhân vật

mà thôi Và miêu tả thường được thể hiện thông qua cách nhìn nhận, suy nghĩ và hành động của con người

1.3 Khái niệm thiên nhiên

Theo Wikipedia Tiếng Việt: “Thiên nhiên là toàn bộ những gì đang có chung

quanh con người mà không phải do con người tạo nên” [20]

Trang 22

Thiên nhiên là một khái niệm vô cùng rộng lớn, nó bao gồm cả không khí, bầu trời, đất đai, nước, hiện tượng thời tiết, khí hậu và cả các loài động- thực vật

Là một thể thống nhất với nhau có mối quan hệ mật thiết và vận hành theo quy luật nhất định

Khái niệm thiên nhiên nói trên là cơ sở để chúng tôi tập hợp các từ miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài

1.4 Vài nét về nhà văn Tô Hoài

1.4.1 Tiểu sử

Tô Hoài (27/9/1920 - 6/7/2014) tên thật là Nguyễn Sen Quê nội của ông là thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cũ Tuy nhiên, ông lại được sinh ra tại quê ngoại tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay) thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Tô Hoài từ nhỏ sống và lớn lên ven nội thành, bên cạnh có con sông Tô Lịch chảy qua Chính vì vậy mà ông

đã lấy tên của con sông Tô Lịch và tên phủ Hoài Đức ghép lại để đặt làm bút danh cho mình Bên cạnh đó, ông còn sáng tác với nhiều bút danh như: Mắt Biển, Thái Yên, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa, Vũ Đột Kích, Nhưng với ông cái bút danh mà ông tâm đắc nhất, quen thuộc nhất mà độc giả nhất vẫn là cái tên Tô Hoài

Ông sinh ra trong một gia đình làm nghề thủ công nghèo Bố phải rời bỏ quê hương đi kiếm ăn rồi sau đó bặt vô âm tín Lận đận lắm Tô Hoài mới có thể học xong bậc tiểu học Thời thanh thiếu niên, Tô Hoài đã sớm phải lao động vất vả, kiếm sống bằng nhiều nghề như là: dạy trẻ con học, thợ cửi, bán hàng, coi kho, bán hàng, phụ kế toán Ông đã từng nếm trải biết bao nỗi tủi nhục khi thất nghiệp không còn lấy một đồng xu dính túi

Tô Hoài đến với văn chương một cách hết sức tự nhiên Lúc mới bắt đầu ông viết những bài thơ lãng mạn Nhưng sau đó ông nhận ra rằng thơ không phù hợp với mình nên ông đã chuyển sang viết văn xuôi Đến với văn xuôi, Tô Hoài đã phát huy được hết những năng khiếu và sở trường của mình Những trang văn đầu tiên của ông đã xuất hiện trên Hà Nội Tân Văn và Tiểu thuyết Thứ Bảy Những tác phẩm

đầu tay của ông như là: Nước lên (1942), Giăng thề (1941), Dế Mèn phiêu lưu ký

(1941), O chuột (1942)

Bên cạnh việc sáng tác văn chương, Tô Hoài còn là một anh thanh niên tích cực tham gia các hoạt động chính trị Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, ông tích cực tham gia phong trào Ái hữu thợ dệt Hà Đông và phong trào Thanh niên dân chủ ở

Hà Nội Năm 1943, ông còn tham gia Hội văn hóa cứu quốc, hăng say trong hoạt

Trang 23

động tuyên truyền Việt Minh và hoạt động viết báo bí mật Thời gian này ông chủ yếu viết báo nhưng vẫn để lại một số thành tựu về văn chương phải kể đến là Truyện Tây Bắc

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Tô Hoài làm chủ bút tạp chí Cứu Quốc, tham gia phong trào Nam tiến Ông tham gia kháng chiến trên nhiều mặt trận

ở phía Nam Năm 1946, ông được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Kháng chiến toàn quốc, Tô Hoài lên Việt Bắc công tác và làm việc ở Hội văn nghệ Việt Nam, năm 1951 Tô Hoài tham gia vào nhiều chiến dịch và phong trào giải phóng ở phía Bắc Những chuyến đi đến những vùng đất mới đã mở mang về tư tưởng, giúp ông tích lũy thêm nhiều vốn sống Năm 1957, ông được bầu làm Tổng thư ký của Hội Năm 1958, ông được bầu làm Phó Tổng thư ký Năm 1980, ông tiếp tục tham gia Ban chấp hành Hội nhà văn, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Liên Hiệp Đảng đoàn Hội nhà văn Từ năm 1968 - 1996, ông giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội và tham gia nhiều hoạt động công tác xã hội khác

Năm 2014, ông mất tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi

1.4.2 Sự nghiệp văn chương

Tô Hoài là một nghệ sĩ lao động miệt mài trên con đường nghệ thuật của mình Ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam trên 160 tác phẩm và có nhiều đóng góp to lớn cho nền văn học Việt Nam

Quá trình sáng tác của Tô Hoài được chia làm hai giai đoạn: trước Cách mạng tháng Tám và Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trước Cách mạng tháng Tám, Ông viết về thế giới loài vật và cuộc sống vùng quê ven nội thành Có thể kể tên các tác phẩm của Tô Hoài trong mảng đề tài

này như là: Một cuộc bể dâu, Ba anh em, Dê và lợn, Đôi ghi đá, Võ sĩ bọ ngựa,

Đám cưới chuột, Trê và cóc, Và đặc biệt là tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký Ở giai

đoạn này, Tô Hoài viết về làng quê và con người vùng Nghĩa Đô và các vùng quê

như Bưởi, Trích Sài, Võng Thị, thể hiện trong các tác phẩm như: Nhà nghèo, Ông

cúm bà co, Quê người,

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Tô Hoài hướng ngòi bút của mình đến nhiều nơi, trải nghiệm, gắn bó với cuộc sống ở nhiều vùng đất khác nhau và đặc biệt

là vùng núi Tây Bắc Các tác phẩm viết về đề tài miền núi của Tô Hoài như là: Núi

Cứu quốc (1948), Truyện Tây Bắc (1953) Sau năm 1955, tiểu thuyết Miền Tây ra đời, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Nhớ Mai Châu (1988),

Trang 24

Bên cạnh đề tài miền núi là đề tài về Hà Nội Tô Hoài là một người con của Hà Nội nên có những cái nhìn và am hiểu về nó một cách sâu sắc Điều đó được thể hiện

qua tập truyện Người ven thành, Quê nhà, Mười Năm (1958), Chuyện cũ Hà Nội,

Với những sáng tác của mình, Tô Hoài vinh dự được nhận các giải thưởng như:

- Năm 1956, giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam với Tập

truyện Tây Bắc

- Năm 1970, giải A giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội với tiểu thuyết Quê nhà

- Năm 1970, giải thưởng của Hội Nhà văn Á - Phi với tiểu thuyết Miền Tây

- Năm 1996, giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đợt 1

- Năm 2010, Giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội

Cho đến nay, Tô Hoài là nhà văn có số lượng tác phẩm văn xuôi nhiều nhất trong nền văn học hiện đại Việt Nam Trên hành trình sáng tác không mệt mỏi, ông

đã tạo nên cho mình một dấu ấn riêng, một phong cách nghệ thuật riêng Và nghệ thuật kể chuyện và miêu tả là phương diện thành công góp phần đem lại phong cách riêng trong sáng tác của Tô Hoài

Tiểu kết chương 1

Nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ trong các sáng tác văn chương là điều cần thiết để khẳng định giá trị của tác phẩm và đóng góp của nhà văn Trong văn miêu tả, để nắm được những đặc điểm về ngôn ngữ không thể không chú ý đến những khái niệm cơ bản: từ loại, câu, văn miêu tả Gắn liền với những khái niệm này là những yếu tố liên quan như: quan sát trong văn miêu tả, liên tưởng tưởng tượng trong văn miêu tả, thái độ của người viết văn miêu tả, đặc điểm ngôn ngữ trong văn miêu tả và phân biệt văn miêu tả với văn tự sự và văn biểu cảm Và đặc biệt khi nghiên cứu về ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên thì không thể không nhắc tới khái niệm thiên nhiên Và nhà văn cũng là một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua

Tô Hoài là một nhà văn được nhiều nhà nghiên cứu chú ý nhiều về phương diện ngôn ngữ Các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ , cách xây dựng cấu trúc câu của ông Tô Hoài đã xây dựng nên cho mình một giọng điệu riêng Bên cạnh đó ông còn có những từ ngữ miêu tả sáng tạo dựa trên vốn từ được tích lũy bằng nhiều cách Sự tìm hiểu lý thuyết về một số khái niệm và tác giả nhằm xác lập cơ sở để nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài

Trang 25

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN

TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI 2.1 Đặc điểm cấu tạo từ

2.1.1 Hệ thống từ láy

Từ láy tiếng Việt được cấu tạo theo phương thức phối hợp trên cơ sở hòa

phối ngữ âm Phối hợp ngữ âm tức là hiện tượng lặp và đối xứng Theo Dẫn luận

ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp: “Từ láy là những từ cấu tạo bằng cách lặp lại thành phần âm thanh của một hình vị hoặc một từ” [5-tr.70] Về phương diện tu từ

thì từ láy có ba chức năng là: miêu tả, bộc lộ và thay thế Cũng nhờ những chức năng này mà từ láy được Tô Hoài vận dụng nhiều vào miêu tả thiên nhiên trong các sáng tác của mình và tạo nên những hiệu quả nhất định

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên ba tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký,

Truyện Tây Bắc và Đảo hoang và thấy được nhà văn Tô Hoài đã sử dụng 625 từ láy

miêu tả thiên nhiên Trong đó có 104 từ láy tượng thanh và 460 từ láy tượng hình

2.1.1.1 Từ láy tượng thanh

Từ láy tượng thanh thường có nghĩa rất đơn giản, chủ yếu mô tả âm thanh tự nhiên bằng cơ chế láy Mỗi từ láy lại mang một ý nghĩa riêng mà không giống với các kiểu láy trong cùng kiểu cấu tạo

Trong ba tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký, Truyện Tây Bắc và Đảo hoang, nhà

văn Tô Hoài đã sử dụng 104 từ láy tượng thanh chiếm 16,64% trong tổng số 625 từ láy miêu tả thiên nhiên Dưới đây là một số ví dụ:

BẢNG 2.1 TỪ LÁY TƯỢNG THANH MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG

TÁC CỦA TÔ HOÀI

STT Từ láy tượng thanh Ngữ cảnh xuất hiện

nắng” [9-tr.13]

Trang 26

6 Oang oang “oang oang mãi lên” [8-tr.53]

[10-tr.115]

Với biệt tài sử dụng ngôn ngữ của mình, Tô Hoài đã chọn lựa những từ ngữ độc đáo và đặc biệt nhất để tạo nên những câu văn miêu tả giàu sức gợi hình Đối với những từ láy tượng hình miêu tả thiên nhiên đều được nhà văn Tô Hoài khai thác, thể hiện một cách kỹ lưỡng Đó phải là những từ giàu nhạc tính và lột tả được những tính chất, đặc tính của âm thanh làm cho người đọc như có thể cảm nhận như đang trực tiếp nghe được những tiếng động mà tác giả đang nói tới Bên cạnh đó những từ láy còn phải được cấu thành theo nguyên tắc hòa phối ngữ âm với tác dụng tạo nên nghĩa Mỗi từ láy được sử dụng đều thể hiện một cách sinh động và sự cảm thụ thế giới của chính nhà văn Từ láy mô phỏng âm thanh tuy chỉ mang một nét nghĩa là mô phỏng âm thanh trong tự nhiên, sự vật, hiện tượng nhưng trong các trang văn miêu tả của Tô Hoài lại mang những giá trị gợi tả, gợi cảm vô cùng lớn

Từ láy mô phỏng âm thanh được Tô Hoài sử dụng khá phong phú Ở từng từ láy tượng thanh mà Tô Hoài sử dụng đều mang đến cho chúng ta những cảm nhận khác nhau về âm thanh của con người, thiên nhiên đầy cảm xúc và thi vị

Bên cạnh đó, Tô Hoài còn có nhiều hình thức tạo từ mới Ngoài việc cảm nhận sự việc, hiện tượng qua con mắt đầy tinh tế, Tô Hoài còn có một tâm hồn nhạy cảm để viết lên những âm thanh trong tự nhiên một cách sống động Những trang văn miêu tả của ông viết rất hay nhờ việc sử dụng các từ láy tượng hình và tượng thanh làm tăng sức biểu đạt Và đặc biệt là có những từ tượng thanh mô phỏng lại những âm thanh đặc trưng của mỗi loài vật:

Tiếng “anh Xiến Tóc bay xè xè trên trời” [8-tr.23]

Tiếng “nước óc ách chảy” [8-tr.48]

Tiếng Cóc “kèng kẹc” [8-tr.56]

Tiếng Dế: “cất tiếng gáy riii riiii ” [8-tr.23]

Tiếng Ve Sầu: “o o i i” [8-tr.84]

Tiếng Ếch, Nhái : “uồm uồm, oang oang” [8-tr.53]

Trang 27

Tiếng “đàn ong à à lay động” [9-tr.206]

Tiếng “chim gào quàng quạc” [9-tr.278]

Có những từ láy được Tô Hoài sử dụng để nhại lại âm thanh của đối tượng:

Ví dụ: bli li li li , rào rào, ầm ầm, ùm oàm, xôn xao, ào ào, đùng đùng

cúc cu, le te

Sự mô phỏng âm thanh, tiếng nói của muôn loài, muôn vật làm cho tiếng Việt trở nên đa dạng, lôi cuốn và hấp dẫn hơn khi diễn tả

Thiên nhiên trong Đảo hoang hiện lên qua những âm thanh của tiếng chiêng

trong không gian; tiếng sóng hung dữ, hù dọa con người của con sông Cái; tiếng động vật; tiếng của những hiện tượng tự nhiên Hay những âm thanh của thiên nhiên vùng Tây Bắc dữ dội và trầm lắng Những âm thanh đặc trưng của các loài vật nhỏ bé xuất hiện trong chuyến phiêu lưu của anh chàng Dế Mèn, và vô vàn những âm thanh của thiên nhiên, của cuộc sống đều được nhà văn Tô Hoài miêu tả thông qua hệ thống từ láy tượng thanh một cách rõ nét và sinh động Ví dụ như đoạn văn miêu tả tiếng sóng của con sông Cái:

“ – Con nước sắp quật chết cả mình đến nơi, ai mà chẳng sợ! Rõ ràng mắt

chúng tôi đã trông thấy nửa đêm trăng vằng vặc sáng, đàn trâu thần dưới nước nhô

lên, xô nhau phá vào bờ, cách mấy dặm còn nghe sừng trâu ùm oàm đánh vào

nhau ” [9-tr.14]

Những con sóng hung hăng như những con trâu thần nửa đêm xô nhau phá

vào bờ Từ láy ùm oàm mô phỏng âm thanh phát ra nghe trầm, giống như tiếng của

một vật nặng bị rơi xuống chỗ nước sâu Từ ùm oàm được Tô Hoài sử dụng để miêu

tả lại âm thanh những con sóng xô vào nhau, nhô lên cao rồi rơi xuống tạo nên những âm thanh lớn Điều đó đã được Tô Hoài liên tưởng như những con trâu thần

từ dưới nước xô lên đánh vào bờ Qua đó, người đọc có thể cảm nhận được những đợt sóng của con sông Cái cồn lên hết sức mạnh mẽ rồi đập xuống tạo nên những tiếng động lớn Bên cạnh đó, khi miêu tả con sông Cái nhà văn Tô Hoài đã sử dụng nhiều từ láy tượng thanh khác để mô phỏng lại âm thanh, tiếng động của những con

sóng xô nhau ùm oàm, tiếng đất lở ầm ầm, tiếng rào rào của những hòn đá tảng lăn

xuống nước, Những từ láy tượng thanh ấy được sử dụng đều góp phần làm rõ hơn đặc tính dữ dội, hung hãn, nguy hiểm của con sông Cái đang ngày đêm nổi sóng đe dọa con người Nó gợi cho người đọc cảm giác rất cụ thể và sống động như đang tận mắt chứng kiến, tận tai nghe những âm thanh dữ dội trong không gian đó vậy

Trang 28

Hay tiếng tiếng ve núi lẩn trong tiếng suối:

“Mọi người lắng tai, nghe lẫn trong tiếng suối róc rách, nếu không để ý kĩ không biết được, từ nguồn nước xa đưa lại tiếng con ve núi giọng kim kêu lanh

lảnh Tiếng ve núi giọng kim trong vắt, thường núi nào cũng có ve kêu lúc xẩm tối

dưới gốc cây, ve kêu nửa đêm trên lưng cây.” [9-tr.137]

Đó là thiên nhiên nơi vùng đảo hoang mà gia đình Mai An Tiêm bị đày đến Khi rời khỏi hang đá đi tìm nước uống họ đã may mắn tìm được con suối nhỏ Tiếng

suối được Tô Hoài miêu tả qua từ róc rách là âm thanh của nước chảy qua từng kẽ

đá Đó là âm thanh của những con suối nhỏ Nó khác hẳn với tiếng rào rào của thác nước hay tiếng sóng vỗ bờ của những con sông hay biển Và lẫn trong tiếng suối ấy là tiếng ve mà nếu không để ý thì không thể nhận ra được Tiếng ve núi giọng kim cao

trầm Tiếng kêu lanh lảnh mô tả cái chất giọng cao, trong, xa và mảnh, đúng như nhà

văn miêu tả “tiếng ve núi giọng kim trong vắt” Đó là những âm thanh của sự sống mãnh liệt đang tồn tại nơi hoang đảo hoang vu và khắc nghiệt

Và âm thanh tụ họp của những loài động vật kiếm ăn cũng được Tô Hoài miêu tả một cách sống động:

“Mấy hôm nọ, trời mưa lớn, trên những hồ ao quanh bãi trước mặt, nước dâng trắng mênh mông Nước đầy và nước mới thì cua cá cũng tấp nập xuôi ngược, thế là bao nhiêu cò, sếu, vạc, cốc, le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng, két ở các bãi sông xơ xác nghèo đói tận đâu, cũng bay cả về vùng nước mới để kiếm mồi

Suốt ngày, họ cãi cọ om sòm bốn góc đầm, có khi chỉ vì tranh một con mồi tép Có những anh Cò gầy vêu vao ngày ngày bì bõm lội bùn tím cả chân mà vẫn hếch mỏ,

chẳng được miếng nào.” [8-tr.12]

Tô Hoài đã miêu tả những cái ao, hồ sau cơn mưa Đó là một thế giới ồn ào, náo động của những loài vật nhỏ bé Cái cảnh tấp nập, nhộn nhịp của các loài động

vật kéo đến kiếm mồi Với từ láy om sòm mô tả âm thanh ồn ào, người đọc có thể

thấy được sự đông đúc và náo nhiệt của cái bãi nước ấy Một khung cảnh đông đúc với sự góp mặt của nhiều loài động vật: cò, sếu, vạc, cốc, le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng, két Các loài động vật trong đầm tranh nhau kêu, âm thanh của chúng lẫn vào nhau tạo nên sự ồn ào, được tác giả liên tưởng như chúng đang cãi cọ Từ khung cảnh các loài vật kiếm ăn trong tự nhiên mà Tô Hoài đã có được một sự liên tưởng hết sức đặc sắc Những loài vật dường như cũng có tính cách riêng, số phận riêng giống như con người vậy Chúng được miêu tả với bộ dạng nghèo đói xơ xác

Trang 29

từ đâu kéo đến kiếm ăn Và cũng vì đói nên chúng tranh nhau, cãi lộn làm cho cả

vùng hồ ao quanh bãi trở nên ầm ĩ, náo động Tô Hoài đã sử dụng từ láy bì bõm để

miêu tả tiếng lội nước với tần suất nhiều và liên tục của anh Cò Từng bước, từng bước Cò lọ mọ trên bùn để tìm kiếm miếng ăn Từng bước chân của những anh Cò lội xuống bùn bì bõm, bì bõm cả ngày Từ đó thấy được sự khó khăn, vất vả của những anh Cò trên từng bước Trong cái môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt ấy,

Cò không thể kiếm lấy cho mình được một miếng ăn

Với việc sử dụng và sáng tạo những từ láy tượng thanh trong những sáng tác của mình, Tô Hoài đã viết lên những bản nhạc âm thanh trong cuộc sống Những bản nhạc đó được cảm nhận trực tiếp bằng thính giác và bằng chính tâm hồn của tác giả Ông còn có những cách tân độc đáo đem đến cho người đọc những cảm nhận mới, những cảm nhận đầy đủ và trực tiếp về đối tượng Người đọc như được trực

tiếp cảm nhận, trực tiếp trải nghiệm qua sự dẫn dắt bằng ngôn từ của tác giả

2.1.1.2 Từ láy tượng hình

Nếu như hội họa tái hiện những bức tranh thiên nhiên bằng đường nét và màu sắc, tác động trực tiếp tới thị giác của người xem, thì văn học lại tái hiện những bức tranh thiên nhiên bằng ngôn ngữ Thông qua ngôn ngữ thì người đọc có thể hình dung

ra sự vật hiện tượng, hình dung ra bức tranh thiên nhiên mà tác giả khắc họa

Trong các sáng tác của mình, nhà văn Tô Hoài đã tạo dựng nên những khung cảnh, những bức tranh thiên nhiên sinh động và đầy màu sắc Trong những bức tranh ấy có đầy đủ những mảng, khối, đường nét khắc họa đầy tinh tế bằng ngôn ngữ Đó là những công trình nghệ thuật được tái tạo bằng ngôn từ dưới bàn tay tài hoa và trí tuệ của nghệ nhân Tô Hoài Nó không chỉ thể hiện rõ nét đặc trưng của đối tượng, sự vật hiện tượng mà còn mang những nét rất riêng, màu vẽ riêng của phong cách nghệ thuật Tô Hoài

Khảo sát các tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký, Truyện Tây Bắc và Đảo hoang,

chúng tôi thu thập được 460 từ láy tượng hình, chiếm 73,6% trong tổng số 625 từ láy được sử dụng Dưới đây là một số ví dụ:

Trang 30

BẢNG 2.2 TỪ LÁY TƯỢNG HÌNH MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC

CỦA TÔ HOÀI

STT Từ láy tượng hình Ngữ cảnh xuất hiện

chấp chới đầy ánh nắng” [9-tr.66]

Có thể khẳng định: số lượng từ láy tượng hình miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài là không hề nhỏ Nó trở thành một phương tiện ngôn ngữ đặc sắc của ông khi miêu tả những sự vật hiện tượng trong tự nhiên Có thể thấy rằng Tô Hoài có một vốn từ láy hết sức phong phú, giàu sức sáng tạo mà khó có thể bắt gặp

ở các nhà văn khác Ông luôn tìm tòi, sáng tạo và phát triển ngôn ngữ trên cái nền lời ăn tiếng nói của dân gian Ta có thể bắt gặp những từ láy rất mới lạ trong các

sáng tác của ông như: kheo khư, thuồn thuỗn, rời rợi, chỏng gọng, khoằm khoặm,

bềnh bệch, tồm tộp, hủn hoẳn, và một số từ láy ba, láy bốn như: xa lắc xa lơ, bấy lẩy bẩy, đù đà đù đờ,

Tô Hoài sử dụng từ láy tượng hình vào miêu tả thiên nhiên nhằm khắc họa hình dáng của sự vật hiện tượng Bởi từ láy có khả năng tạo hình cao và tính biểu cảm mạnh mẽ Nó vừa có thể vừa chuyền tải cảm xúc đồng thời làm toát lên cái hồn của đối tượng được miêu tả

Miêu tả anh chàng Dế Choắt, nhà văn đã sử dụng một loạt từ láy:

“Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện

thuốc phiện Đã thanh niên rồi mà cánh chỉ ngắn củn đến nửa lưng, hở cả mạng

sườn, như người cởi trần mặc áo gi- lê Đôi càng bè bè, nặng nề, trông đến xấu

Trang 31

Râu ria gì mà cụt có một mẩu, và mặt mũi thì lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ Đã

vậy, tính nết lại ăn sổi ở thì (thật ra vì ốm đau luôn, không làm được), có một cái hang ở cũng chỉ bới nông choèn sát mặt đất, không đào sâu rồi khoét ra nhiều ngách như hang tôi” [8-tr.10]

Đoạn văn trên miêu tả ngoại hình xấu xí cùng tính nết dở hơi của anh chàng

Dế Choắt Để miêu tả Dế Choắt, nhà văn đã huy động một hệ thống các từ láy đôi:

gầy gò, lêu nghêu, bè bè, nặng nề; từ láy tư như ngẩn ngẩn ngơ ngơ Ngoài ra còn

có từ ghép sắc thái hóa: nông choèn Với từ lêu nghêu người đọc có thể hình dung

Dế Choắt có một thân hình nhỏ và dài một cách mất cân đối Ngoại hình nhỏ bé, ốm yếu của Dế Choắt được Tô Hoài so sánh như một gã nghiện thuốc phiện Mặc dù đã trưởng thành nhưng ngoại hình của Dế Choắt lại chưa phát triển hết Cánh của Dế Choắt mới chỉ ngắn đến nửa lưng đến nỗi hở cả mạng sườn Thân hình thì nhỏ bé

vậy nhưng đôi càng của chàng dế này lại có hình dáng bè bè, to rộng theo bề ngang Đôi càng có vẻ quá khổ so với thân hình tạo nên sự nặng nề, mất cân đối Dế Choắt

có một cặp râu cụt ngủn với một khuôn mặt lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ Qua

từ ngẩn ngẩn ngơ ngơ, người đọc có thể nắm bắt được không chỉ về ngoại hình mà

còn thấy được cả tính cách và con người của Dế Choắt

Ngoài việc sắp đặt vị trí từ nhằm nhấn mạnh về mặt nội dung đặc điểm của hiện tượng trong tự nhiên Tô Hoài còn sử dụng từ ngữ sáng tạo, tinh tế, điều này khiến cho đoạn văn miêu tả trở nên giàu sức gợi hình, gợi cảm

Trong đoạn văn mở đầu tác phẩm Mường Giơn, Tô Hoài miêu tả:

“Buổi sáng rét ngọt Hơi núi ngùn ngụt thở xuống cánh đồng, đọng trên đầu

người đi, trên mái nhà, trong các làng người Thái Có khi ở trong làng mà hàng

tháng mịt mù, nhà nọ không trông thấy nhà kia” [7-tr.25]

Miêu tả khung cảnh buổi sáng sớm miền sơn cước, Tô Hoài đã sử dụng hai

từ láy: ngùn ngụt, mịt mù Chỉ với hai từ láy này, ông đã lột tả được nét đặc trưng của miền núi cao vùng Tây Bắc Trước hết, từ láy ngùn ngụt mô tả hơi núi phả xuống một

cánh đồng, trên đầu người đi, và trên những mái nhà Nó bao phủ không gian tạo nên

một khung cảnh mờ xương Từ láy mịt mù mô tả cả một không gian rộng lớn chìm

trong hơi núi Lớp sương dày đến nỗi mà từ nhà này cũng không thể nhìn sang nhà khác Hiện tượng ấy diễn ra trong cả tháng Và đó cũng là một nét đặc trưng của miền núi cao vùng Tây Bắc Việt Nam Tô Hoài phải là một người đã từng sống và gắn bó với nơi đây mới có thể miêu tả một cách chân thực và rõ nét đến như vậy

Trang 32

Ánh trắng và giọt sương cũng được Tô Hoài miêu tả một cách sinh động:

“Trên cao, mặt trăng sáng vằng vặc Làn gió hiền lành đưa đẩy những chiếc lá tre dài và nhọn đẫm sương óng ánh thành một nét sắc trong bóng trăng.” [8-tr.24]

Đó là một khung cảnh ban đêm được Tô Hoài miêu tả một cách đậm chất

thơ Đó là một đêm trăng sáng vằng vặc Nó gợi tả một hình ảnh trăng sáng không

gợn bóng mây, sáng đến nỗi có thể nhìn rõ các sự vật Dưới bóng trăng là những làn gió nhẹ một cách hiền lành như đang đưa đẩy những chiếc lá tre dài và đẫm sương

Những giọt sương đêm óng ánh trên lá tre phản chiếu ánh trăng sáng lên lấp lánh

Nhờ việc sử dụng từ láy tượng hình vằng vặc và óng ánh mà những sự vật như là

trăng hay sương đêm đều được hiện lên một cách rõ nét và cụ thể Cũng nhờ đó mà

sự vật hiện tượng trở nên sống động và hấp dẫn hơn

Nhà văn Tô Hoài đã vận dụng triệt để vốn từ láy với sự sáng tạo phát triển ngôn ngữ một cách độc đáo để miêu tả thiên nhiên một cách rõ nét và chân thực nhất Những hình dáng, màu sắc của sự vật hiện tượng đều được mô tả thông qua hệ thống từ láy tượng hình phong phú và đa dạng Nhờ vậy, đối tượng được miêu tả có hồn và hấp dẫn hơn

2.1.2 Hệ thống từ ghép

Theo Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã đưa ra quan niệm về

từ ghép: “Từ ghép được tạo ra từ phương pháp ghép hình vị, do sự kết hợp hai hoặc

một số hình vi (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập với nhau” [3-tr.54]

Dựa trên ý nghĩa của từ mới , tính chất của hình vị và quan hệ ngữ pháp giữa các hình vị người ta chia từ ghép thành hai loại: từ ghép hợp nghĩa và từ ghép phân nghĩa Từ ghép hợp nghĩa có khuynh hướng gợi lên các sự vật, hiện tượng có ý nghĩa khái quát, tổng hợp Còn loại từ ghép phân nghĩa có khuynh hướng tài hiện các sự vật hiện tượng một cách cụ thể, rõ ràng

Khảo sát ba tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký, Truyện Tây Bắc và Đảo hoang,

chúng tôi thu thập được 1530 từ ghép miêu tả thiên nhiên Trong đó có 508 từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa và 139 từ ghép đẳng lập chuyên chỉ loại miêu tả thiên nhiên

Ngày đăng: 03/09/2019, 13:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2012), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1), Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
2. Diệp Quang Ban (2012), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2), Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
3. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng và ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng và ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1981
4. Hà Minh Đức (2010), Tô Hoài sức sáng tạo của một đời văn, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài sức sáng tạo của một đời văn
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2010
5. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
6. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên) (2013), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2013
7. Tô Hoài (1977), Tập truyện Tây Bắc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập truyện Tây Bắc
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977
8. Tô Hoài (2005), Dế Mèn phiêu lưu ký, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dế Mèn phiêu lưu ký
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2005
9. Tô Hoài (2015), Đảo hoang, Nxb Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảo hoang
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 2015
10. Tô Hoài (2015), Tập truyện ngắn Tô Hoài - Chiếc áo xường xám màu hoa đào, Nxb Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiếc áo xường xám màu hoa đào
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2015
11. Phạm Hổ (1995), Văn miêu tả và kể chuyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và kể chuyện
Tác giả: Phạm Hổ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
12. Đinh Trọng Lạc (2012), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
13. Phong Lê - Vân Thanh (tuyển chọn, 2000), Tô Hoài, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài, về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
14. Vũ Đức Nghiệu (chủ biên), Nguyễn Văn Thiệp (2010), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Vũ Đức Nghiệu (chủ biên), Nguyễn Văn Thiệp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2010
15. Nguyễn Tuân (1999), Bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Tuân
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1999
16. Nguyễn Quang Thiều (2000), Tác giả nói về tác phẩm, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả nói về tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Quang Thiều
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2000
17. Trần Hữu Tá (1981), Sách văn học Việt Nam 1945-1975 (tập 2), Nxb Giáo Dục Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách văn học Việt Nam 1945-1975
Tác giả: Trần Hữu Tá
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1981
18. Nguyễn Quang Uẩn (1995), Tâm lý học đại cương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
19. Thành Yến (biên soạn) (2013), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Thành Yến (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm