Bướu cổ là một bệnh rất hay gặp trên thế giới và ở Việt Nam: tại vùng Đông Nam Á, với dân số 1 tỉ 355 triệu người thì có đến 176 triệu người bị bệnh bướu cổ.. Ở Việt Nam, số người bị bệ
Trang 2NỘI DUNG
III/ Triệu chứng:
IV/ Điều trị bệnh:
I/ Nguyên nhân:
II/ Cách phát hiện:
MỤC TIÊU
Trang 3Bướu cổ là một bệnh rất hay gặp trên thế giới và
ở Việt Nam: tại vùng Đông Nam Á, với dân số 1 tỉ
355 triệu người thì có đến 176 triệu người bị bệnh bướu cổ Ở Việt Nam, số người bị bệnh bướu cổ tăng dần tùy theo vùng sinh sống: từ 4% ở các
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đến trên 20% ở
các vùng núi Tây Nguyên.
Bệnh thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam
giới.Bệnh bướu cổ đơn thuần có thể lan tỏa khi
toàn bộ tuyến giáp có thể tích to lên Đôi khi bướu
có thể là bướu nhân, có thể là một nhân đơn độc hoặc có nhiều nhân, nổi u lên, làm gồ ghề bề mặt của thân tuyến giáp Bướu cổ đơn thuần là một
vấn đề tồn tại mang tính chất xã hội, bệnh được xem như trầm trọng ở chỗ nó có thể dẫn đến hậu quả thần kinh và tâm thần (chứng đần do bướu
cổ) và là một trong những vấn đề y học-xã hội
quan trọng hiện nay.
Trang 4Phân loại:
Có hai loại bướu cổ thường gặp:
+ Bướu giáp đơn thuần: đơn thuần có nghĩa là ngoài chuyện tuyến giáp bị phình to ra thì chức năng sản
xuất nội tiết tố của tuyến giáp không bị ảnh hưởng
Bệnh có tính chất di truyền, có nghĩa là nguy cơ để
Bạn mắc bệnh cao hơn nếu trong gia đình có thành
viên nào đó đã bị bướu giáp Nhìn chung, tiến triển
bướu đơn thuần là tốt Tuy nhiên, Bạn cần thiết phải được điều trị sớm và tích cực để phòng tránh các biến chứng hoặc tình trạng ung thư hóa.
+ Bướu giáp có nhân: có thể có một nhân (đơn
nhân) hoặc nhiều nhân làm cho tuyến giáp phì đại ra theo nhiều hướng, hình thể khác nhau Tuy nhiên,
bướu nhân cũng thường không gây ảnh hưởng đến
chức năng sản xuất nội tiết tố của tuyến giáp Các
nhân giáp có thể lỏng hay đặc, bắt tia phóng xạ hay
không bắt tia phóng xạ
Ngoài ra còn có bệnh bướu cổ gây chứng lồi mắt:
Trang 5 Bệnh bướu cổ gây lồi mắt:
- Là do cơ thể người bị bệnh sản xuất ra một
kháng thể chống lại tổ chức (cơ quan) của chính
mình.
- do Người bị bệnh có những khiếm khuyết trong
kiểm soát hệ thống miễn dịch (khiếm khuyết gen)
dẫn tới việc để hệ thống miễn dịch sinh ra kháng
thể chống lại tổ chức của chính mình
- Tuy nhiên, không phải tất cả những người có
những khiếm khuyết về gen nêu trên đều bị bệnh
mà chỉ có một số người, trong một số điều kiện
thuận lợi mới phát sinh bệnh Những điều kiện
thuận lợi dễ làm bệnh phát sinh đó là tình trạng
nhiễm khuẩn (nhiễm vi khuẩn hoặc virus), các
sang chấn tâm lý, giới tính nữ, đặc biệt trong các
giai đoạn có những thay đổi về hormon nữ như
dậy thì, sau đẻ, tiền mãn kinh, hút thuốc lá
- Tuy nhiên những người đang được điều trị
bệnh Basedow mà dùng thêm iốt thì việc điều trị
sẽ khó khăn hơn do iốt làm hạn chế tác dụng của
thuốc điều trị
- Những phụ nữ đang bị bệnh Basedow thường
giảm khả năng phóng noãn (trứng) mà biểu hiện
bên ngoài là vô kinh hoặc kinh không đều, vì vậy
thường rất khó có thai
Trang 6I / Nguyên nhân:
- Yếu tố di truyền
- Thiếu hụt I ốt:
+ Thiếu iốt có thể gây tác hại cho mọi lứa tuổi, nhưng lứa tuổi dễ bị bệnh nhất là thời kỳ bào thai và trẻ nhỏ
+Thiếu iốt là nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh bướu cổ và đần
độn.
- Thừa I ốt: các loại rong tảo biển do chứa quá nhiều iôt gây nên tình trạng quá tải iôt và cũng làm bệnh nhân bị bướu cổ Chính vì vậy ở những bệnh nhân bị bệnh bướu cổ, họ thường được khuyên hạn chế
sử dụng các loại thực phẩm này
- Tình trạng suy dinh dưỡng trầm trọng, đặc biệt là thiếu
vitamin A cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bướu cổ
Chính vì vậy trong khẩu phần ăn của những bệnh nhân bị bướu cổ, chúng ta phải chú ý bổ sung đầy đủ lượng vitamin A cần thiết.
Dù là do nguyên nhân nào thì bướu cổ đơn thuần thường xuất hiện ở phụ nữ, nhiều nhất ở lứa tuổi dậy thì, vị thành niên, phụ
nữ ở lứa tuổi sinh đẻ
Trong một số vùng, do ở cách xa biển, lại do phong tục tập quán của địa phương nên bệnh bướu cổ đơn thuần xảy ra rất nhiều
Trang 7- Bướu cổ là sự tăng thể tích
của tuyến giáp trạng Có thể
phát hiện bướu cổ to bằng
mắt thường (khi bảo người
bệnh nuốt, tuyến giáp sẽ chạy
ngược lên nhìn rõ hơn) và
bằng cách sờ nắn
- Nếu tuyến giáp to nhưng
không kèm theo các rối loạn
chức năng như cường giáp
(tay run, mạch nhanh ) hay
thiểu năng giáp (dạ dày lên
xanh xạm, tiếng khàn, lưỡi to
dày, cử động chậm chạp )
hay dấu hiệu viêm nhiễm thì
đó là bướu cổ đơn thuần.
II/ Cách phát hiện:
Trang 8- Nhìn: Bướu có thể trông thấy được từ mức độ ở vùng trước cổ hơi phồng lên đến mức làm cho cổ biến dạng.
- Sờ: mật độ có thể mềm, nếu bướu cổ mới phát triểnquá Sờ bướu bệnh nhân không đau, di động khi bệnh nhân nuốt.
Các triệu chứng do bướu chèn ép tổ chức xung quanh:
+ Chèn ép khí quản:
- Các triệu chứng: khó thở theo tư thế nằm, tiếng thở khò khè, ho khan kéo dài do bướu gây kích thích khí quản.
+ Chèn ép thần kinh:
- Chèn ép dây thần kinh quặt ngược: Nói khàn, giọng đôi Soi
thanh quản có thể thấy bị liệt dây thanh âm ( thường ở một bên ).
- Chèn ép dây X: có thể làm thay đổi nhịp tim, nhịp thở, huyết áp
- Chèn ép dây hoành: Gây nấc hoặc liệt cơ hoành
+ Các dấu hiệu chèn ép khác:
- Chèn ép thực quản: khó nuốt, nuốt ngẹn…
- Chèn ép động mạch cảnh: Ù tai, đau đầu ( thường ở một bên )
- Chèn ép hệ tĩnh mạch vùng cổ
III/ Triệu chứng
Trang 9Theo Tổ chức Y tế liên Mỹ (PAHO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bướu cổ được phân độ theo kích thước của tuyến giáp như sau:
+ Độ 0: không có bướu cổ.
+ Độ 1a: bướu cổ chỉ phát hiện được qua sờ nắn, không nhìn được
cả khi cổ đối tượng ngả ra sau tối đa.
+ Độ 1b: bướu cổ phát hiện được qua sờ nắn, có thể nhìn được khi
cổ đối tượng ngả ra sau tối đa.
+ Độ 2: có thể dễ dàng phát hiện được bướu cổ khi cổ ở tư thế bình thường mà không cần dùng đến kỹ thuật sờ nắn.
+ Độ 3: bướu cổ rất lớn và có thể nhận ra từ một khoảng cách xa đáng kể.
Bảng phân loại của khoa ngoại: lồng ngực - bướu cổ - mạch máu – VQY 103 – HVQY:
+ Độ I: sờ thấy bướu khi bệnh nhân nuốt
+ Độ II: Nhìn và sờ đều thấy rõ nhưng vòng cổ chưa thay đổi
+ Độ III: Bướu lồi hẳn ra ngoài vòng cổ, chiếm 1 diện tích rộng trước
cổ, xác định được kích thước
+ Độ IV: Bướu to lấn quá xương ức, làm thay đổi đáng kể hình dáng vùng cổ
III/ Triệu chứng
Trang 10- Điều trị nguyên nhân: nếu tìm được
yếu tố ngoại sinh là nguyên nhân
bướu cổ, cần điều trị ngay theo
nguyên nhân đó Nếu chế độ ăn có
những thức ăn gây bướu cổ (một số
rau, đậu, củ cải…), cần loại trừ Nếu
bệnh nhân đang ở vùng thiếu I ốt
trong thức ăn, cần cung cấp muối ăn
có trộn I ốt
- Điều trị bổ sung bằng hocmôn: trị
liệu bằng hocmôn tuyến giáp
- Điều trị ngoại khoa: Bướu lan tỏa,
to, xấu, chèn ép, điều trị nội khoa
không kết quả
- Với bướu giáp đơn thuần :BN chỉ
cần điều trị bằng thuốc sẽ cho kết
quả rất tốt Riêng bướu giáp đơn
thuần đơn nhân hoặc đa nhân nếu
điều trị thuốc sáu tháng không hiệu
quả mới phải mổ
IV/ Điều trị bệnh:
Trang 11- Với bướu cường giáp, điều trị chủ yếu
bằng thuốc kháng giáp tổng hợp, thuốc tim
mạch, BN sẽ phục hồi nhanh chóng và trở
về trạng thái bình thường
- Với ung thư giáp, hướng xử trí là cắt hết
thùy giáp bị ung thư, cắt eo giáp, nạo hạch
Nếu đã có di căn hạch thì cắt hết hai thùy,
nạo hạch, chấp nhận suy giáp trạng và điều
trị hỗ trợ bằng kích tố giáp suốt đời.
Khi đã có dấu hiệu bị bướu cổ khá nặng có
thể dùng dầu i-ốt, khoảng 2,5ml loại 40%
tiêm vào bắp thịt Mỗi năm, ngoài việc ăn
uống đầy đủ còn còn có thể tiêm thêm 1ml
để bào đảm cho tuyến giáp trạng hoạt động
bình thường
Vì vậy phương pháp tốt nhất để phòng
ngừa vẫn là bổ sung đầy đủ vi lượng iode
cho bữa ăn hàng ngày Nếu đã có dấu hiệu
xưng to nên đến bác sĩ chuyên khoa hoặc
viện để xạ trị hay giải phẫu.
IV/ Điều trị bệnh:
Trang 12- Rối loạn chức năng tuyến
- Biến chứng tại tuyến:
+ Viên tuyến giáp cấp và bán cấp
+ Xuất huyết
+ Thoái hóa ác tính
- Biến chứng chèn ép: nuốt vướng, khó thở, rối loạn
chèn ép có thể gây hội chứng trung thất
Biến chứng sau mổ:
- Chảy máu sau mổ: thường từ các mạch máu ở dưới
da hoặc cơ do cầm máu không tốt khi mổ hoặc do
bệnh nhân có các cử động quá mạnh ở vùng cổ sau
mổ
- Nói khàn sau mổ
- Suy hô hấp sau mổ
- Nhiễm trung vết mổ
Biến chứng
Trang 13Biện pháp phòng ngừa tích cực
nhất, đơn giản nhất và hiệu quả nhất
cho nhân dân ở vùng bướu cổ địa
phương là biện pháp trộn Kali Iodua
vào muối ăn theo tỉ lệ tử 5-60 mg/kg
Chọn bao muối có nhãn in rõ ràng,
không rách
Muối phải khô, không ẩm ướt
Ngửi: Không có mùi vị đặc biệt dù đã
trộn iốt vào muối
Bảo quản muối tại gia đình: Để muối
iốt vào hộp hay lọ kín có nút Để
muối ở nơi khô ráo, mát (tránh để
quá gần bếp lửa) tránh ánh sáng soi
trực tiếp vào muối
Phòng Bệnh
Trang 14- Hiện nay trên thị trường có
nhiều loại muối iốt được sản
xuất đóng gói 500g, 1.000g,
2.000g Có loại muối tinh iốt
hạt nhỏ và mịn, có loại muối
thô (hạt to) Các bao muối này
đều ghi rõ số lượng, hàm
lượng iốt ở ngoài bao muối
- Sử dụng muối iốt như muối
thường, không nên ăn mặn
quá
+ Sò chứa một hàm lượng I ốt
cao nên là một trong những
loại thức ăn có tác dụng ngăn
ngừa và kìm hãm sự phát triển
của bướu
Phòng Bệnh
Trang 15+ Nước tương Tam
Thái Tử mới được
chế biến theo công
nghệ ChiSu thơm
ngon đảm bảo giữ gìn
sức khỏe theo tiêu
chuẩn của BỘ Y TẾ
VIỆT NAM Tam Thái
Tử có thành phần từ
muối I-ốt giúp ngăn
ngừa bệnh bướu cổ
Chay mặn đều dùng
được
Phòng Bệnh
Trang 16Rau câu là một
trong những thực
phẩm rất tốt cho
sức khoẻ và chứa
thành phần ngăn
ngừa và hạn chế
sư phát triễn của
bướu.
Trang 17+ Sau khi ăn củ cải, không nên
ăn ngay loại hoa quả có nhiều
sắc tố như táo tây, lê, nho Lý
do là trong quá trình tiêu hóa và
phân giải, sự tương tác giữa các
thực phẩm này sẽ sản sinh ra
chất gây ức chế tuyến giáp, dẫn
đến bệnh bướu cổ.
+ Theo các công trình nghiên
cứu của một số chuyên gia trên
thế giới, có một số loại thức ăn
tồn tại các tác nhân gây bệnh
bướu cổ như khoai mì, hạt kê,
các loại rau họ cải như bắp cải,
sữa đậu nành và các chế phẩm
từ đậu nành như đậu phụ
Chú lợn bắp cải
Phòng Bệnh
Trang 1818