Lạm phát cơ bản là chỉ tiêuphản ảnh tác động của chính sách tiền tệ, đo lường được các tác động hay áp lực lâu dài ổn định củacầu đến sự biến động của giá cả.Vì vậy chỉ tiêu này cần được
Trang 1Tiểu luận
Lạm phát có ảnh hưởng tới tất cả các đối tượng từ người tiêu dùng, doanh nghiệp, đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế hay không? Để kiềm chế lạm phát chính phủ các nước thường sử dụng các biện pháp nào? Ở Việt Nam hiện nay có lạm phát không? Nếu có thì chính phủ Việt Nam sử dụng những biện pháp nào?
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1 Tổng quan về lạm phát 4
1.1.1 Khái niệm về lạm phát 4
1.1.2 Phân loại lạm phát 4
1.2 Cách tính lạm phát 6
1.3 Lạm phát cơ bản 8
1.3.1 Khái niệm lạm phát cơ bản 8
1.3.2 Các phương pháp tính lạm phát cơ bản 8
1.4 Những ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế 9
1.5 Các bài học trên thế giới về kiểm soát lạm phát 10
1.5.1 Hàn Quốc 10
1.5.2 Trung Quốc 10
1.5.3 Các nước khác trên thế giới 11
PHẦN II: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 13
2.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của VN thời gian vừa qua 13
2.2 Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua 15
2.3 Những nguyên nhân dẫn đến lạm phát 16
2.3.1 Việc áp dụng phương pháp tính chỉ số CPI ở Việt Nam 16
2.3.2 Mức cung tiền tăng cao vào năm 2007 17
2.3.3 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư công 18
2.3.4 Tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng mạnh 19
2.3.5 Do cầu kéo 20
2.3.6 Do chi phí đẩy 21
2.3.7 Do công tác dự báo chưa tốt 21
2.3.8 Tỉ giá cố định trong thời gian dài 22
2.3.9 Lúng túng trong điều hành 22
Trang 22.4 Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế Việt Nam 22
2.4.1 Tác động của lạm phát đến người tiêu dùng 22
2.4.2 Tác động của lạm phát tới người nông dân 23
2.4.3 Tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán 24
2.4.4 Tác động của lạm phát đến tín dụng ngân hàng 24
2.4.5 Tác động của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh 24
2.4.6 Tác động của lạm phát tới tài chính nhà nước 24
2.5 Các chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ trong thời gian qua 25
PHẦN III: CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁP Ở VIỆT NAM 27
3.1 Định hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam 27
3.2 Các giải pháp cần và đủ 28
3.3 Các đề xuất kiến nghị 30
KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
MỤC LỤC BIỂU ĐỒ Đồ thị 1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2003-2008 14
Đồ thị 2:Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2003-2007 15
Đồ thị 3: Thể hiện CPI, USD, Vàng 2007-2008 17
Đồ thị 4 : so sánh mức cung tiền của việt Nam so với Trung Quốc và Thái Lan 18
Đồ thị 5: tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán 19
Đồ thị 6: tăng trưởng dư nợ cho vay ngành ngân hàng 2004-2007 20
LỜI MỞ ĐẦU
Lạm phát có ảnh hưởng tới tất cả các đối tượng từ người tiêu dùng, doanh nghiệp, đến chỉ tiêu
tăng trưởng kinh tế năm 2008, thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại
suy thoái 1929-1933 Bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, thế giới chứng kiển sự sụp đổ của những định chế tài chính khổng lồ Lý do sâu xa của nó là sự mất cân bằng quốc tế của các khu vực kinh tế trụ cột trên thế giới và những vấn đề nội tại của hệ thống ngân hàng Mỹ và Châu Âu Cho đến thời điểm này, hàng loạt ngân hàng tên tuổi đã phải tuyên bố phá sản hoặc nhờ chính phủ cứu trợ Thị trường tài chính nhiều nước gần như đóng băng, kéo theo là nền kinh tế thực sự suy thoái.Nạn thất nghiệp tăng đến mức báo động, nhất là trong tầng lớp dân nghèo ở các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển Thương mại quốc tế giảm mạnh, sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn chưa
có dấu hiệu ngừng lại, lạm phát xảy ra ở khắp nơi Mặc dù nhiều nước đã đưa ra những gói kích cầu lớn, với tổng số tiền công bố toàn cầu xấp xỉ 2000 tỉ USD
Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó 2008 là năm nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với những vấn đề phức tạp cũng như những tác động khó lường từ tình hình thế giới Đặc biệt là nạn
Trang 3lạm phát tăng cao khiến nền kinh tế nước ta không tránh khỏi rơi vào tình trạng khủng hoảng trầmtrọng, ngân sách Chính phủ thâm hụt, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn.
Chính vì thế, lạm phát hiện nay đã trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Ổn định lạm phát
là một vấn đề cực kỳ quan trọng, bởi lẽ lạm phát là một trong những chỉ tiêu vĩ mô quan trọng đánhgiá “tình hình sức khỏe” của một nền kinh tế bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng và thất nghiệp Lạmphát có ảnh hưởng tới tất cả các đối tượng từ người tiêu dùng, doanh nghiệp, đến chỉ tiêu tăng trưởngkinh tế Bên cạnh đó, lạm phát luôn luôn là kết quả của sự tác động tổng hợp từ các yếu tố kinh tếkhác nhau, và rất khó nhận ra đâu là nguyên nhân chủ yếu, nên việc kiềm chế lạm phát thường gặp rấtnhiều khó khăn
Theo báo cáo, Việt Nam chỉ là một nền kinh tế nhỏ trong khu vực châu Á vì GDP của Việt Nam chỉchiếm xấp xỉ 1% so với toàn khu vực, trừ Nhật Bản Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấntưởng bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng liên tục Mặc dù vậy, Việt Nam đang chịu tác động từ chínhthành công quá lớn và quá nhanh chóng của mình Đặc biệt, đối với Việt Nam, một nước đi theo conđường kinh tế thị trường chưa lâu, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này có thể làm xói mòn niềm tin vàothị trường, nhất là khi vai trò của Nhà Nước đã được nhấn mạnh trở lại ngay cả ở Mỹ và các nền kinh
tế phát triển khác Tuy nhiên, sẽ là sai lầm lớn nếu Việt Nam không tiếp tục con đường đang đi Nêncoi cuộc khủng hoảng lần này như một cơ hội tái cơ cấu lại nền kinh tế và nâng cao năng lực cạnhtranh của mình Cùng với các trào lưu biến đổi của thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam cần lựachọn cho mình một chiến lược phát triển khôn ngoan và bền vững
Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên donhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủngngân sách v.v ) Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiềutiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát
1.1.2 Phân loại lạm phát
Lạm phát do cầu kéo:
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh
ra lạm phát Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS Đường AD dịch sang phải trong khi đường
Trang 4AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng.Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thíchrằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tănglên để đáp ứng Do đó có lạm phát.
Nguyên nhân dẫn đến cầu kéo: do hàng hóa ngày càng trở nên khan hiếm trong khi nhu cầu ko tănghay do nhu cầu ngày càng tăng trong khi hàng hóa ko tăng hoặc tăng chậm hay do cả nhu cầu tăngtrong khi hàng hóa thì có xu hướng ngày càng khan hiếm (các giả sử chỉ là tương đối) Do các nguyênnhân trên tất yếu làm cho giá cả thị trường tăng cao chúng ta đã tìm ra nguyên nhân gây tăng giá docầu kéo và để giải quyết nó cần tìm ra các biện pháp tăng lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu trên thịtrường, có rất nhiều cách trong đó phần lớn nhờ cách giải quyết của chính phủ về các chính sách vềđầu tư nhằm tăng hiệu quả sx nhằm đưa sp vào thị trường Ngoài chính phủ tất cả các yếu tố kháctrên thị trường cạnh tranh tự do đều góp phần làm giảm tăng giá trên thị trường như làm thế nào đểthay đổi thói quen tiêu dùng hay nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng,
Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên.Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thểtăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặthàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát
Lạm phát do chi phí đẩy
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng Các xí nghiệp vì muốnbảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tếcũng tăng
Nguyên nhân dẫn đến chi phí đẩy: Trong hàng loạt các yếu tố tác động đến chi phí đầu vào của mộtsản phẩm như giá cả nguyên vật liệu, chi phí lao động, chi phí mua sắm tài sản cố định, cho đến cácchính sách của nhà nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả của sản phẩm; mà khi các yếu tố này caođương nhiên sẽ đẩy chi phí đầu vào tăng và làm tăng giá sản phẩm Để giải quyết chúng cần đặcbiệt chú ý tới các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước mà đặc biệt là các chính sách về thuế chúng
ta đã biết các nguyên nhân dẫn đến chi phí tăng từ đó sẽ biết biện pháp giải quyết, bản thân từng dnsản xuất hàng hóa tự tìm cách hạ bớt chi phí đầu vào như tìm mua các yếu tố đầu vào thuận tiện đểgiảm thiểu chi phí phát sinh, tính toán hao phí nguyên vật liệu chính xác để dự trữ cho phù hợp tránh
Trang 5chi phí sử dụng vốn tăng tận dụng giảm thiểu lãng phí do sử dụng nguyên vật liệu, tận dụng nguồnlao động sẵn có tăng năng suất tối đa, tránh lãng phí những chi tiêu ko cần thiết hay tinh giảm hệthống quản lý cồng kềnh ko hiệu quả Hay các chính sách vĩ mô của nhà nước như giảm các loại thuếđầu vào, giảm thuế thu nhập
Lạm phát do nhập khẩu
Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhàcung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trongnước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giáchung bị giá nhập khẩu đội lên
Lạm phát tiền tệ
Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệkhỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầucủa nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát
Bảng 1.1: Tóm tắt các thành phần tác động chủ yếu đối với các mặt hàng trong CPI
Giálươngthực
Giáphânbón
Giáthép
Tỷ giáhối đoái
Giáthuốc
Trang 6Theo cách tiếp cận của học thuyết trọng tiền giải thích “lạm phát” là một hiện tượng thuộc về tiền tệ,biểu thị thông qua phương trình : M*V=P*Q Theo đó, với giả định với tốc độ lưu thông tiền tệ (V)không đổi thì lạm phát (P) sẽ không xảy ra nếu cung tiền (MS) không tăng (MS = P*Q / V)
Theo thông thường, tỷ lệ lạm phát tháng hay quý có thể so sánh với các kỳ gốc khác nhau
Chẳng hạn gọi :i , k t = k -1 * ( Pi,t – P i,t-k ) / Pi,t-k ; với :
) và các sốc đối với giá mặt hàng thứ i (Vi,t ), ta có :
sẽ cho thấy rõ xu thế lạm phát và ít bị nhiễu hơn so với (K=1), cách tính lạm phát này tương đương tỷ
lệ lạm phát so với tháng cùng kỳ chia cho 12 hoặc 3
Tính lạm phát theo tỷ lệ phần trăm giữa bình quân CPI 12 tháng liên tục đến tháng hiện tại và tỷ lệlạm phát tính bình quân CPI các tháng cùng kỳ trừ đi 100 Các chỉ số này phải là chỉ số định gốc haychung gốc so sánh (1995=100) Cách tính này có ý nghĩa về mặt thống kê
Theo một cách tính khác : tỷ lệ lạm phát trung bình chung ( IICPIt) có thể phân tích hai cấu phần tácđộng xu thế lâu dài hay thường trực, thường xuyên, ổn định (t P) và tác động nhiễu nhất thời, tứcthời ( Tt) là :
CPI t
Trang 7) thì lạm phát CPI có thể coi là lạm phát cơ bản Khi đó giá trị trung bình là ước lượng không chêchvới phương sai bé nhất.
Khi CPI bị nhiễu nhiều nhất thời đến chừng mực mà ( Pi,t – Pi,t-k) /Pi,t-k khơng còn tuân theo phân
bố chuẩn Khi đó CPI sẽ không còn là ước lượng tốt nhất và sẽ phản ánh sai lệch xu thế lâu dài củalạm phát
Để hoạch định chính sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước cần một thước đo phản ánh xu thế lâu dài củalạm phát Chỉ tiêu này được gọi là lạm phát cơ bản hay lạm phát tiền tệ Lạm phát cơ bản là chỉ tiêuphản ảnh tác động của chính sách tiền tệ, đo lường được các tác động hay áp lực lâu dài ổn định củacầu đến sự biến động của giá cả.Vì vậy chỉ tiêu này cần được tính toán sao cho loại trừ được tác độngcủa các sốc cung nhất thời, điều chỉnh giá không đều, thuế gián thu hay việc gán “giá không đổi “khihàng hóa tạm thời vắng…
1.3 Lạm phát cơ bản
1.3.1 Khái niệm lạm phát cơ bản
Lạm phát cơ bản (Core Inflation): là tỷ lệ lạm phát thể hiện sự thay đổi mức giá mang tính chất lâu dài
mà loại bỏ những thay đổi mang tính tạm thời nên lạm phát cơ bản chính là lạm phát xuất phát từnguyên nhân tiền tệ (hay chính lạm phát theo quan niệm của Friedman) Do đó không phải là CPI màLạm phát cơ bản là một công cụ đắc lực giúp Ngân hàng trung ương có con mắt đánh giá đúng đắn
về lạm phát, qua đó mới có thể chỉ dẫn cho mục tiêu chính sách tiền tệ trong tương lai và một khi giá
cả ổn định sẽ là tiền đề cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác ổn định và phát triển Tuy nhiên, cũng cầnphải lưu ý rằng các tác động của chính sách tiền tệ sau một độ trễ thời gian mới có hiệu lực, do đó sẽ
là quá muộn nếu các ngân hàng trung ương đợi cho đến khi tỷ lệ Lạm phát cơ bản bắt đầu tăng thìmới bắt đầu cố gắng làm giảm sức ép lạm phát
Tùy vào các phương pháp đo lường khác nhau, các nước công nghiệp tiên tiến có phân biệt rõ rànggiữa tỷ lệ lạm phát được công bố rộng rãi theo thông lệ (thường là CPI, chỉ số giảm phát GDP) và tỷ
lệ Lạm phát cơ bản (có thể công bố hoặc không công bố mà chỉ để sử dụng nội bộ tuỳ từng quốc gia)
1.3.2 Các phương pháp tính lạm phát cơ bản
Tùy theo đặc thù ở một số nước mà người ta sử dụng một số phương pháp khác nhau để xây dựngphương pháp tính, các phương pháp phổ biến được dùng như :
Phương pháp loại trừ chủ quan
Đầu thập niên 70, nhiều nước bắt đầu áp dụng tính lạm phát cơ bản theo phương pháp loại trừ một sốnhóm hàng, mặt hàng dễ bị sốc bởi cung như hàng hóa thuộc loại lương thực thực phẩm, nhiên liệunăng lượng, điện năng thuế gián thu Cách tính này chỉ cần loại bỏ một số mặt hàng thuộc loại lươngthực thực phẩm, nhiên liệu năng lượng, thuế gián thu sau đó tính lại quyền số rồi tính bình quân giaquyền Tuy nhiên việc xác định mặt hàng loại trừ trên khá máy móc, không có kiểm định Hiệnphương pháp loại trừ chủ quan (CPI-FET) vẫn được áp dụng ở nhiều nước
Phương pháp tinh theo trung vị gia quyền (WM-CPI)
Là ước lượng thô nhất khi trung bình gia quyền không còn là ước lượng tốt nhất cho xu thế trọngtâm.Trung vị là ước lượng tốt hơn ước lượng trung bình do nó không chịu ảnh hưởng của các sốc tănggiá tạm thời Đây cũng là ước lượng khoa học không tùy tiện như phương pháp CPI-FET
Phương pháp trung bình lược bỏ (TM-CPI)
Trang 8Cuối thập kỷ 80 trở lại đây, phương pháp tính giá trị trung bình lược bỏ ngày càng được sử dụng rộngrãi Khi phân bố xác suất của phần nhiễu của biến động giá của nhóm ngành hàng có chung kỳ vọng
nhưng lại có phương sai khác nhau ( I2 J2 ) thi trung bình mẫu ( CPI) là ước lượng khôngchệch đối với phương sai không bé nhất Khi đó cần loại trừ các nhóm hàng rơi lệch hẳn về hai phíacủa đồ thị phân bố tần suất của biến động giá của các nhóm hàng Tỷ lệ phần trăm số nhóm lược bỏ (
) được chia đều hoặc không chia đều cho cả 2 phía Khi loại trừ xong trung bình mẫu được tính
cho các quan sát còn lại TM-CPI có thể là bình quân giản đơn hay gia quyền
Phương pháp bình quân gia quyền nghịch đảo độ lệch chuẩn và phương sai
Ngoài ba phương pháp trên còn có : Phương pháp bình quân gia quyền nghịch đảo độ lệch chuẩn hoặcphương sai, phương sai ở đây được tính riêng cho từng nhóm hàng theo thời gian Mô hình kinh tếlượng : tự hồi quy vecto VAR hay mô hình tính toán lạm phát Quah-Vahey…cũng đã được tính thửtại một số nước Mô hình này có ưu thế là dựa trên lý thuyết tiền tệ nhưng các giả thuyết xây dựng môhình lại không sát với thực tế
Phương pháp tính lạm phát cơ bản cũng cần tính thử, kiểm nghiệm bằng dự báo ngắn hạn và trunghạn cho các phương pháp như :
Phương pháp điều chỉnh cụ thể : điều chỉnh thời vụ, thuế gián thu và các mặt hàng nhà nước quản lý,ngoài ra có thể áp dụng kết hợp với phương pháp loại trừ mặt hàng do nhà nước quản lý giá, lươngthực phẩm, nhiện liệu , năng lượng ra khỏi rổ tính hàng hóa CPI ( phương pháp này thường dùng đểcông bố);
Một số phương pháp thống kê thuần túy bao gồm : tính trung vị , trung bình lược bỏ có quyềnsố/không có quyền số hay phương pháp tính lại quyền số mới hay phương pháp bình quân gia quyềnnghịch đảo độ lệch chuẩn hoặc phương sai ( những phương pháp này thường sử dụng nội bộ đểnghiên cứu và phân tích);Phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích, tính toán và dựbáo lạm phát cơ bản cũng nên tính thử nghiệm sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích
Khi tính toán, lựa chọn , dự báo được lạm phát cơ bản thì ngân hàng nhà nước có thể chủ động tiếnhành lượng hóa mục tiêu ổn định lạm phát gắn liền với thực thi chính sách tiền tệ
1.4 Những ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế
Đối với các quốc gia đang phát triển:
Tác hại dễ thấy nhất là lạm phát phủ định (negate) tăng trưởng kinh tế nếu bằng hay cao hơn tăngtrưởng kinh tế Ví dụ theo World Factbook, nếu một nền kinh tế tăng trưởng kinh tế ở mức 8.4%nhưng tỉ lệ lạm phát lên tới 8.3% Như vậy, trung bình người dân có thu nhập cao hơn 8.4% nhưngđời sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùng thời kỳ thì coi như cũng không tích lũy được gì Tiêu chuẩnđời sống không được cải thiện bao nhiêu Nếu không có biện pháp ngăn chận, lạm phát sẽ làm tê liệtdần bộ máy kinh tế vì doanh nhân sẽ không thiết tha hoạt động sản xuất nữa vì không có lợi nhuận.Tâm lý chung sẽ chỉ mua bán “chụp giựt” và chuyển tài sản thành kim loại quý hay ngoại tệ mạnh đểtránh lạm phát Điều này rõ ràng không có lợi cho sự xoay vòng của đồng tiền để phát triển nền kinhtế
Đối với các quốc gia công nghiệp (industrialized countries) mà xã hội đã chuyển qua dạng xã hộitiêu thụ rồi thì lạm phát tác hại theo một qui trình ba bước:
Trang 9Lạm phát (inflation) - Giảm phát (deflation) – Suy thoái kinh tế (economic recession).
Lạm phát không kiểm soát nổi sẽ đưa đến tình trạng giá thành các mặt hàng tăng cao Giá hàng hóalên cao sẽ làm giảm nhu cầu tiêu thụ Hàng hoá trở nên dư thừa và ế ẩm Để sống còn, công ty sảnxuất phải chịu lỗ, hạ giá bán và thu nhỏ hoạt động lại Một số hãng xưởng sẽ phải đóng cửa và côngnhân bị sa thải ra làm nhu cầu chung về tiêu thụ lại càng giảm nữa Đến đây bắt đầu giai đoạn giảmphát Hàng hoá sẽ xuống giá cho đến khi nào tìm được một sự quân bình mới giữa cung cầu Lúc đókinh tế đi vào giai đoạn suy thoái và tiêu chuẩn sống (standards of livings) của người dân bị giảm sút
1.5 Các bài học trên thế giới về kiểm soát lạm phát
Lạm phát là hiện tượng vốn có của nền kinh tế sử sụng tiền tệ.Ngày nay không có một nền kinh tế nàokhông dùng tiền, và do đó cũng không có một nền kinh tế nào có thể nói là không có lạm phát Lạmphát trong không ít trường hợp đã là một biện pháp phát triển kinh tế , làm tăng nhu cầu, thúc đẩy cáchướng đầu tư có lợi Song khi lạm phát vượt quá một giới hạn nhất định, vượt quá mức tăng thu nhậpquốc dân thì nó trở thành một căn bệnh gây nhiều tác hại cho sự phát triển kinh tế- xã hội
Ở các nước Tư Bản Chủ nghĩa phát triển, mức tăng thu nhập quốc dân trung bình hàng năm tuỳ theotừng nước trong những năm 1970 vào khoảng 3-3.5%, mức lạm phát vào khoảng trên dưới 10%, cónước đã tới trên 20% Vào những năm 80 này, mức lạm phát ở các nước Tư Bản Chủ Nghĩa phát triểnnói chung đã giảm xuống trên dưới 3-4%, nghĩa là chỉ cao hơn mức tăng thu nhập quốc dân một chút( khoảng trên dưới 3%) Lạm phát hai chữ số là hiện tượng cá biệt ở các nước này Có thể nói nhữngnước Tư Bản chủ nghĩa phát triển đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc chống lạm phát
Ở các nước đang phát triển tình hình lạm phát nghiêm trọng hơn, ở nhiều nước Châu Phi thườngxuyên lạm phát ở mức hai con số, ở Châu Mỹ La Tinh – ba con số, ở Châu Á mức độ lạm phát thấphơn thường là ở một chữ số
1.5.1 Hàn Quốc
Trước tình hình lạm phát đầu năm 2008 tại Hàn Quốc, Chính phủ đưa ra mục tiêu bình ổn giá tiêudùng và hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp Một ủy ban chống tăng giá và chống đầu cơ được thànhlập do thứ trưởng Choi Joong Kyung đứng đầu Chính phủ Hàn Quốc giảm giá điện sinh hoạt và duytrì cho đến năm 2010 Chính phủ cũng quyết định miễn, giảm một số dòng thuế tiêu thụ và nhập khẩu;tiến hành hỗ trợ trên 1,0 tỷ USD cho nông dân vay vốn ưu đãi nhằm tăng mức cung lương thực vàthực phẩm; giảm 50% mức phí giao thông vận tải trên các tuyến đường cao tốc trong một số giờ Các biện pháp tiết kiệm sử dụng năng lượng của Chính phủ, cải cách mạng lưới phân phối và dịch vụ,giảm phí dịch vụ y tế, viễn thông đã được đưa ra, nhằm giảm chi phí cho người dân
1.5.2 Trung Quốc
Lạm phát tăng cao vào đầu năm 2008 tại Trung Quốc, cao nhất trong 11 năm qua.Nguyên nhân chính
là giá lương thực - thực phẩm tăng tới 23,3% so với mức 18,2% đến hết tháng 1/2008 Để chống lạmphát, Chính phủ Trung Quốc chủ trương ưu tiên thực hiện chính sách tài chính ổn định, minh bạch vàsiết chặt chính sách tiền tệ trong năm 2008, hạn chế cung ứng tiền Chính phủ cũng ưu tiên các lĩnhvực liên quan trực tiếp tới đời sống nhân dân, cho phép đồng nhân dân tệ biến động linh hoạt hơn.Thực ra Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (Trung ương) đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt ngay
từ năm 2007 với các biện pháp nới lỏng quy định giao dịch ngoại tệ, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tới 10lần và thực hiện 6 lần tăng lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, với mức
Trang 10tăng không lớn, để thị trường tiền tệ không bị tác động cũng như không gây khó khăn cho hoạt độngngân hàng.
Quyết định nới rộng biên độ giao dịch của đồng Nhân Dân tệ so với Đô la Mỹ nhằm kiểm soát lưuthông tiền tệ và kiềm chế tốc độ cho vay quá mạnh của các ngân hàng thương mại vào bất động sản.Biện pháp này được phối hợp với quy định tăng mức đặt cọc khi vay tiền mua ngôi nhà thứ hai, tănglãi suất cho vay và tăng thuế lợi tức tiền gửi ngân hàng, hạn chế tiền đầu tư vào thị trường chứngkhoán Theo sau các biện pháp trên, Chính phủ Trung Quốc cũng phát hành tín phiếu đối với các ngânhàng thương mại nhằm thu hút tiền từ lưu thông về
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Để kiềm chế lạm phát, Chính phủ Trung Quốc thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp cả về tiền tệ, thịtrường, sản xuất Báo cáo tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc đưa ra các nhóm giải pháp cấp bách đểkiềm chế chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất, nhất là sản xuất các mặt hàng thiết yếu như: lương thực, thựcphẩm, dầu thực vật, thịt,
Kiểm soát chặt chẽ ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu là lương thực - thực phẩm
Đẩy mạnh và kiện toàn hệ thống dự trữ, điều tiết xuất nhập khẩu, bình ổn giá thị trường trong nước.Thực hiện tốt khâu quản lý và điều tiết, điều hành giá cả, ngăn chặn tình trạng đua nhau tăng giá Giám sát việc thu phí và lệ phí giáo dục, y tế, giá cả mặt hàng dược phẩm và nguyên nhiên vật liệuphục vụ nông nghiệp kiên quyết xử lý các trường hợp liên kết đầu cơ trục lợi
Hoàn thiện và thực hiện các biện pháp trợ cấp đối với người có thu nhập thấp
Ngặn chặn kịp thời tình trạng giá cả nguyên nhiên vật liệu leo thang
1.5.3 Các nước khác trên thế giới
Các ngân hàng trung ương mỗi quốc gia như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể tác động đến lạm phát
ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết lập các lãi suất Các lãi suất cao (và sự tăng chậm củacung ứng tiền tệ) là cách thức truyền thống để các ngân hàng trung ương kiềm chế lạm phát, sử dụngthất nghiệp và suy giảm sản xuất để hạn chế tăng giá Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương xem xétcác phương thức kiểm soát lạm phát rất khác nhau Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phátmột cách cân xứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó ở mức cao Bên cạnh
đó cần xét tới các giải pháp như giảm thuế nhằm giảm chi phí sản xuất để tăng đầu tư và đẩy mạnhhoạt động xuất khẩu
So sánh Chính sách mục tiêu lạm phát của một số nước trên thế giới
Hơn một chục năm qua kể từ khi chính sách mô tả lạm phát được biết đến, đã có rất nhiềuquốc gia áp dụng nó Tuy có những điểm giống nhau vì cùng dựa trên những lý thuyết cơ sở nhưngchính sách mục tiêu lạm phát của mỗi nước lại mang những mầu sắc khác nhau Để có cái nhìn tươngđồng cũng như cở sở so sánh về chính sách mục tiêu lạm phát của các nước này, chúng ta có thể nhìnvào bảng dưới đây với những tiêu chí hết sức cơ bản tương ứng với một số vấn đề đã đặt ra
Trang 11Đối tượng của học thuyết
“trách nhiệm tay đôi” Tuyệt đối
Cơ quan công bố lạm phát mục
tiêu
Sự thoả thuận giữa
Bộ tài chính vàchính phủ
Bộ tài chính và ngânhàng trung ương phốihợp công bố
Ngân hàng trungương Châu ÂuECB
Chỉ số lạm phát cơ bản CPI loại trừ tác động
của lãi suất
CPI loại trừ tác động giálương thực và nănglượng
HICP loại trừtác động củathực phẩm chưachế biến
Công bố báo cáo Hàng quý từ 3/1990 Nửa năm từ 5/1995 Hàng tháng
Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Việc nghiên cứu chính sách mục tiêu lạm phát của các nước này có thể gợi ý cho chúng ta một sốvấn đề:
Lựa chọn chính sách mục tiêu lạm phát phải trên cơ sở sau một thời kỳ kiềm chế lạm phát thànhcông Điều này sẽ giúp tạo ra niềm tin của công chúng vào khả năng của ngân hàng trung ương trongviệc thực thi các mục tiêu mình đã định ra cũng như tạo tiền đề cở sở cho việc kiểm soát lạm phát vềsau Còn việc sau bao nhiêu năm thì phải phụ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia cụ thể, khi thấymình đã hội tụ đầy đủ những yếu tố có thể thực hiện thành công chính sách mô tả lạm phát thì chínhthức công bố Bởi vì một khi đã công khai công bố thì phải bằng mọi cách đạt được, nếu không sẽ gâymất niềm tin với công chúng
Chỉ số CPI và chỉ số lạm phát cơ bản – song song sử dụng Mặc dù như đã nói ở trên chỉ số CPI
có nhiều ưu điểm nhưng một nhược điểm lớn là nó lại bao gồm cả những yếu tố khiến giá cả biếnđộng trong ngắn hạn mà có thể nhanh chóng mất đi sau đó nên bên cạnh đó các ngân hàng trung ươngđều sử dụng thêm chỉ số lạm phát cơ bản vì cho rằng chỉ số này mới thể hiện bản chất xu hướng biếnđộng của giá cả và giúp ngân hàng trung ương có thể nhìn nhận về tình trạng lạm phát chính xác hơn Chính sách mục tiêu lạm phát phải có tính linh hoạt cao Đây là một vấn đề quan trọng, bởi vìcác biến cố kinh tế, chính trị, xã hội biến đổi không lường, dẫn đến những phản ứng khác nhau củanền kinh tế vào từng thời kỳ, rất cần thiết phải cho ngân hàng trung ương những sự linh hoạt nhất định
để họ có thể phản ứng lại các biến động này một cách có hiệu quả
Chính sách mục tiêu lạm phát phải có sự công khai minh bạch và gắn liền với trách nhiệm caocủa ngân hàng trung ương Điều này có tác dụng là khi mà các chủ thể khác trong nền kinh tế biếtđược ngân hàng trung ương đang làm gì, chính sách tiền tệ đang ở đâu thì những sự dự tính của họ về
Trang 12các nhân tố có liên quan đến lạm phát sẽ gần hơn với những gì mà ngân hàng trung ương mong muốn
và tỷ lệ lạm phát trong dài hạn sẽ rơi vào khung mục tiêu đã đặt ra
Chính sách mục tiêu lạm phát không được phép xung đột với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.Ngoài chính sách tiền tệ, bất cứ quốc gia nào cũng còn phải thực hiện nhiều các chính sách kinh tế vĩ
mô khác Việc đặt ra các chính sách chồng chéo và xung đột lẫn nhau tất sẽ gây ra những khó khăncho các cơ quan chủ quản trong việc thực thi các chính sách này Vì vậy ngay từ khi hoạch địnhchúng ta đã phải cố gắng làm sao cho các chính sách này không có xung đột với nhau mới tạo ranhững thuận tiện trong quá trình thực hiện sau này
Dự báo lạm phát - nhân tố góp phần trong thành công của chính sách mục tiêu lạm phát Tấtnhiên không phải bất cứ quốc gia nào cũng thực hiện dự báo lạm phát, và cũng không phải bắt buộcphải dự báo lạm phát mới đem đến thành công cho chính sách mô tả lạm phát , nhưng có thể dự báotrước được những gì có thể xẩy ra cũng không phải là tồi Nó sẽ góp phần giúp ngân hàng trung ương
có được cái nhìn tốt hơn và không bị bất ngờ trước những gì mà mình sẽ phải đối mặt và vì thế đưa rađược những biện pháp ứng phó
PHẦN II: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của VN trong thời gian vừa qua.
Tốc độ tăng GDP có thể nói là khởi sắc Nợ nước ngoài thấp Khả năng trả nợ không có vấn đề.Việc Việt Nam gia nhập WTO đã mở rộng thêm khả năng gắn bó và mở rộng thị trường với kinh tếthế giới mà không còn bị vấn đề chính trị ngăn cản Sự hồ hởi của người nước ngoài với nền kinh tếViệt Nam là chưa từng thấy Điều này đã phản ánh qua luồng ngoại tệ đổ vào Việt Nam cao nhất từxưa đến nay từ đầu tư trực tiếp đến đầu tư gián tiếp qua việc mua cổ phiếu và trái phiếu Việt Nam
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng Việt Nam 2003-2008
Trang 13-Nguồn: Ministry of Foreign Affairs (Bộ ngoại giao)
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng vọt kể từ năm 2006, năm đánh dấu sự kiện Việt Nam gianhập WTO, trong vòng 3 năm từ năm 2004-2007, FDI đổ vào Việt Nam đã tăng lên gấp 8 lần Khicác hoạt động đầu tư tăng lên mạnh mẽ, trong giai đoạn đầu, hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu,thiết bị cần thiết cũng sẽ theo đó tăng mạnh Và sau đó, khi giai đoạn bùng nổ đầu tư tạm lắng xuống,các kết quả (sản phẩm) phần lớn sẽ được xuất khẩu ngược lại thị trường nước ngoài
Việc các doanh nghiệp nước ngoài đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam thông qua FDI là yếu tố hếtsức quan trọng đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu từ đó mở ra cơ hội kinh doanh khổng lồ cho cáccông ty hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển
Bảng 2.3 : Tình hình cán cân thương mại 2003-2008
Cán cân thương mại -4.9% -3.4% -0.9% -0.3% -3.2% -3.2%
Nguồn: Ministry of Foreign Affairs (Bộ ngoại giao)
Năm 2007 số ngoại tệ đưa vào Việt Nam mà ngân hàng nhà nước mua vào đã trên 9 tỉ đô la ViệtNam đang tìm cách quản lý tình hình phức tạo này.Ngoại tệ vào nhiều đã tạo ra hai vấn đề :
Số cung ngoại tệ nhiều sẽ làm ngoại tệ mất giá , hay nói cách khác, tiền đồng lên giá đối vớingoại tệ Làm ảnh hưởng đến xuất khẩu , mất cân đối cán cân thương mại
Việc phát hành tiền đồng để đổi ngoại tệ sang tiền đồng đã làm tăng số cung tiền đồng trên thịtrường dẫn đến lạm phát tăng cao, vấn đề phát hành lượng lớn tiền đồng ra thị trường nhằm mục đíchtăng chi tiêu nhà nước, nhất là vào đầu tư để chạy đua lập thành tích đạt con số tăng GDP cao Do đó
Trang 14không thể đánh đồng tỷ lệ tăng GDP cao với tỷ lệ phát triển kinh tế GDP cao nhưng tình hình lạmphát còn tăng cao hơn, chất lượng xây dựng thấp kém, ô nhiễm môi trường nặng nề, tăng tỷ lệ nghèo
2.2 Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua
Trang 15Cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đô-la Mỹ bị mất giá mạnh trên thị trường thế giới, lãi suất của nóliên tục giảm; trong thời gian đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách duy trì tỷ giá tiền đồng thấp; đầunăm 2007 nước ta chính thức gia nhập WTO Đầu năm 2008 do biến đổi về khí hậu đã gây thiệt hạicho cây trồng và gia súc đẩy giá lương thực thực phẩm lên cao.Cùng lúc đó chính phủ đã tăng giáxăng dầu lên 36%.Để đối phó với áp lực lạm phát gây ra thì tiền lương của công nhân viên chức cũng
đã được tăng lên vào tháng giêng 2008.Giá lương thực và nhà ở leo thang đã làm cho lạm phát đạt tớimức 19.4% năm qua ,vào tháng 3 mức cao nhất trong hơn 1 thập kỉ qua Chính sách thắt chặt tiền tệđược áp dụng để dần dần đẩy lạm phát về mức ổn định hơn trong quý 2 năm 2008 Nhưng có lẽ lạmphát còn nằm trong phạm vi 16% vào tháng 12 Mức lạm phát trung bình được dự báo là khoảng18.3% năm 2008 và 10.2% năm 2009
2.3 Những nguyên nhân dẫn đến lạm phát
Trong những năm qua lạm phát ở Việt Nam diễn biến rất phức tạp Có thể nói lạm phát lên đếnmức hai con số vào năm 2007 là cao nhất trong 12 năm qua mà nguyên nhân sâu xa là do việc điềhành chính sách tài chính và tiền tệ có nhiều bất ổn, trong điều kiện kinh tế thị trường chưa phát triểnđẩy đủ, có thể tóm tắt nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở Việt Nam như sau :
2.3.1 Việc áp dụng phương pháp tính chỉ số CPI ở Việt Nam
Chỉ số giá tiêu dùng là một tỷ số phản ánh giá của rổ hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so vớigia của cùng rổ hàng hóa đó trong năm gốc Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn rổ hàng hóatiêu dùng Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố địnhtrong bài toán Mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng vàtrọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị muavào năm gốc Những nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản ánh giá cả sinh hoạt là không phảnánh sự biến động của giá hàng hóa tư bản ; không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng tiêu dùngcuãng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau theothời gian
Việt Nam trong những năm qua cũng sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính tỷ lệ lạm phát
và sử dụng nó cho mục đích điều hành chính sách tiền tệ Ngoài những nhược điểm như đã phân tích
ở trên , việc điều hành chính sách tiền tệ , chỉ số này không phản ánh được tình hình lạm phát vì nóthường xuyên dao động Sự giao động trong ngắn hạn đôi khi không có liên quan gì đến áp lực lạmphát căn bản trong nền kinh tế và việc sử dụng chỉ số này làm mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ cóthể dẫn đến sai lệch trong chính sách
Ở Việt Nam theo phương pháp tính CPI hiện nay, giá cả của nhóm hàng lương thực chiếmquyền số lớn nhất, tới 47.9% trong rổ hàng hóa tính CPI Trong các năm trước đây , mặc dù nhiềunhóm mặt hàng khác có biến động tăng đáng kể, nhưng nhóm mặt hàng lương thực thực phẩm , nhất
là lúa gạo , giá cao su, cà phê , hạt đều , thịt heo, rau hoa quả biến động thất thường Trong các năm
1997, 1999, 2000, các mặt hàng lương thực thực phẩm giảm thấp, khó tiêu thụ, nên đã làm cho chỉ sốCPI ở mức thấp , thậm chí là âm Nhưng trong năm 2007 nhóm mặt hàng lương thực phẩm tăng…đãtác động làm gia tăng chỉ số CPI nói chung => Do đó nếu loại bớt được sự tăng giá đột biến gây nênnhững tác động lớn trong tính toán, thì rõ ràng chỉ số lạm phát không cao như đã công bố.Ta có biểu
Trang 16đồ chỉ số giá tiêu dùng , chỉ số giá vàng và USD của các tháng năm 2007-2008so với kỳ gốc 2005(%).
Đồ thị 3 : Thể hiện CPI, USD, Vàng 2007-2008
2.3.2 Mức cung tiền tăng cao vào năm 2007
Năm 2007 Việt Nam gia nhập WTO gia nhập vào môi trường mới , áp dụng nhiều chính sách mở cửathương mại quốc tế Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đẩy lượng cung ngoại tệ lêncao Để thu hồi số ngoại tệ về ngân hàng trung ương chính quyền đã bỏ tiền Việt Nam ra mua ngoại tệ Số tiền đó quá lớn dẫn đến tình trạng dư thừa nội tệ trên thị trường và là nguyên nhân dẫn đến lạmphát
Từ năm 2003-2007 số lượng tiền ở Việt Nam tăng quá nhanh so với số lượng hàng hóa và dịch vụ Sốtiền lưu hành tăng khoảng 25% mỗi năm, số tín dụng tức số tiền cho vay tăng khoảng trên35% Trong khi đó số lượng hàng hóa dịch vụ mà dân chúng có thể mua chỉ tăng dưới 10 % một năm.Trong năm ngân hàng nhà nước đã bỏ một lượng lớn nội tệ để mua ngoại tệ ( đầu tư trực tiếp và đặcbiệt là đầu tư vào thị trường chứng khoán) đã làm cho mức cung tiền tăng cao