Các nhân tố riêng tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối Có hai nguyên nhân chính làm phát sinh rủi ro trong KDNH tại các Ngân hàng, đó là:Các Ngânhàng mua bán ngoại tệ hay vàng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH –NGÂN HÀNG
1213320004 1213320026 1213320047 1213320097 1213320089 1213320110 1213320123 Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Thị Lương Bình
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 4 1.1 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI 4 1.2 CÁC TIÊU CHÍ ĐO LƯỜNG RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI 6 1.3 QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 7 CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KDNH CỦA MỘT SỐ NHTM 13 2.1 THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 13 2.2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 23 2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 26 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NHTM 28 3.1 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 28 3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 32 3.3 CÁC KIẾN NGHỊ VỚI CƠ QUAN CHỨC NĂNG 42 KẾT LUẬN 46
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mạithế giới WTO và đang trong tiến trình cải cách để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và songsong là tiến trình tự do hóa nền kinh tế mà lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu chính là lĩnh vựctài chính ngân hàng Khi tự do hóa kinh tế, các ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn trong hoạtđộng nhưng đồng thời cũng chịu thêm nhiều áp lực cạnh tranh cũng như rủi ro từ môitrường bên ngoài, trong khi không thể tiếp tục trông chờ vào chính sách bảo hộ của nhà nước.Tiến trình tự do hóa kinh tế tất yếu dẫn đến tự do hóa các dòng vốn, tự do hóa lãi suất và tự dohóa tỷ giá hối đoái Từ trước tới nay, nhờ chính sách can thiệp của nhà nước đã giúp cho lãisuất và tỷ giá hối đoái rất ổn định Thêm vào đó, hoạt động của các ngân hàng trong những nămtrước đây chủ yếu tập trung vào khâu tín dụng, có những ngân hàng hoạt động kinhdoanh tín dụng chiếm đến hơn 90% Vì thế, vấn đề KDNH cũng như quản lý rủi ro tỷgiá ngoại tệ và giá vàng trong KDNH chưa được các ngân hàng quan tâm đúng mức Chỉ đếnthời gian gần đây từ năm 2006-2010, khi thị trường chứng khoán sôi động, tỷ giá USD/VNDtăng giảm nhanh, giá vàng biến động mạnh, tỷ trọng kinh doanh tín dụng giảm dần, nhiều loạihình kinh doanh mới xuất hiện như đầu tư tài chính, kinh doanh vàng,… áp lực cạnh tranhtrên thị trường tăng cao thì các ngân hàng mới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến việc sửdụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho KDNH và các giải pháp khác trong việc quản lýrủi ro trong hoạt động KDNH Về phía các Ngân hàng, hoạt động KDNH luôn được kỳvọng đem lại nhiều lợi nhuận và rủi ro là thấp nhất Trong khi đó, sự biến động của tỷ giángoại tệ và giá vàng là rất khó để dự đoán và có thể gây ra nhiều thiệt hại cho cả ngân hàng.Cho nên, việc tìm ra các giải pháp để phòng ngừa và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro ngoại hốicho hoạt động KDNH là thật sự cần thiết Vì vậy chúng em chọn đề tài “QUẢN LÝ RỦI ROTRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ” đểnghiên cứu
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN
1.1 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI
Các nhân tố tác động đến rủi ro trong KDNH được chia ra làm hai nhóm, bao gồm nhóm cácnhân tố tác động chung và nhóm các nhân tố tác động riêng:
Nhóm các nhân tố tác động chung gồm nhóm các yếu tố tác động từ môi trường kinh tế - chínhtrị - xã hội của các nước trên thế giới gọi là nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố chủyếu từ môi trường kinh tế trong nước gọi là các yếu tố bên trong
Nhóm các nhân tố tác động riêng là các yếu tố gây ra rủi ro cho KDNH của các NHTM xuất phát
từ hoạt động của các ngân hàng, có hai nguyên nhân chính làm phát sinh các rủi ro này là: cácngân hàng mua bán ngoại tệ phục vụ cho khách hàng hay mua bán cho chính mình; các ngânhàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ
1.1.1 Các nhân t chung tác đ ng đ n r i ro trong kinh doanh ngo i h i ố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ộng đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ại hối ố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
1.1.1.1 Các y u t bên ngoài ếu tố bên ngoài ố bên ngoài
Đây là các yếu tố chủ yếu thuộc các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội của các nước trên thếgiới có ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia nói chung và hoạt động KDNH nói riêng.Mức độ tác động này có thể tùy theo độ mở cửa của từng nền kinh tế khác nhau Tuy nhiên quacác năm, mức độ ảnh hưởng của sự biến động của các nền kinh tế trên thế giới sẽ tác động ngayđến các hoạt động của nền kinh tế của một quốc gia theo chính sách mở cửa của quốc gia đó 1.1.1.2 Các y u t bên trong ếu tố bên ngoài ố bên ngoài
Đây là các yếu tố tác động từ nội tại của nền kinh tế ở một quốc gia, trong đó chủ yếu bao gồm:lạm phát, thâm hụt cán cân thương mại, tình trạng đôla hóa nền kinh tế, trạng thái ngoại tệ, cơchế điều hành tỷ giá và các hợp đồng giao dịch phái sinh ngoại hối
Lạm phát
Quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái không phải là quan hệ một chiều mà là quan hệ vòng,tác động qua lại lẫn nhau, không thể coi yếu tố này là nguyên nhân và yếu tố kia là kết quả Bên cạnh đó, mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động của tỷgiá Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của hai nước tương đươngnhư nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỷgiá biến động phụ thuộc vào mức chênh lệchlạm phát của hai đồng tiền Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bịmất giá so với đồng tiền nước còn lại
Thâm hụt cán cân thương mại
Nhập siêu hay tình trạng thâm hụt cán cân thương mại là sự mất cân đối giữa nhập khẩu và xuấtkhẩu trong điều kiện nhập khẩu vượt quá xuất khẩu Nếu tình trạng này duy trì trong dài hạn vàvượt quá mức độ cho phép có thể ảnh hưởng tới cán cân tài khoản vãng lai và gây nên nhữngbiến động bất lợi đối với nền kinh tế như gia tăng tình trạng nợ quốc tế, hạn chế khả năng cạnh
Trang 5tranh của nền kinh tế, tác động tiêu cực đến thu nhập và việc làm và ở mức trầm trọng hơn có thểgây nên khủng hoảng tài chính tiền tệ Nhập siêu có tác động nhất định tới tỷ giá hối đoái, làmđồng tiền nội tệ của một nướccó khuynh hướng giảm giá, tuy nhiên trong dài hạn sự giảm giácủa đồng nội tệ không có tác động xấu tới cán cân thương mại, do có tác dụng kích thích sảnxuất hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khẩu.
Tình trạng đôla hóa nền kinh tế
Theo IMF, đôla hóa là tình trạng mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm trên 30% tổng khốitiền tệ mở rộng (M2) bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳhạn và tiền gửi ngoại tệ Đôla hóa được hiểu theo cách đơn giản nhất là ngoại tệ USD được sửdụng rộng rãi bên cạnh đồng nội tệ làm đồng tiền thanh toán trong các giao dịch thương mại.Điển hình như, IMF đã xếp Việt Nam thuộc nhóm quốc gia đôla hóa không chính thức
Đôla hóa tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đôla hóa có thể làm cho cầutiền trong nước không ổn định, do người dân và các tổ chức kinh tế có xu hướng chuyển từ đồngnội tệ sang đôla Mỹ, làm cho cầu của đôla Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá
Đối với quốc gia có tình trạng đôla hóa không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định, trongtrường hợp có biến động, người dân và các tổ chức kinh tế bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thểlàm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dân giữ một khối lượnglớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sựchuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác hay còn gọi là hoạt động đầu cơ tỷ giá.Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho NHTW trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và
có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng và hoạt động của thị trường ngoại hối
Trạng thái ngoại tệ
Đây cũng là một trong những công cụ để điều hành của NHNN Càng co hẹp trạng thái ngoại tệ,càng hạn chế được khả năng đầu cơ ngoại tệ, hạn chế việc chuyển đổi các đồng tiền Do vậy, vớiviệc giảm trạng thái ngoại tệ trong quy định mới có thể khiến thị trường ngoại tệ biến động nhiềuhơn trong thời gian tới và tạo ra nhiều biến động cho tỷ giá USD/VND Mặt khác, việc cácTCTD phải điều chỉnh lại trạng thái ngoại tệ theo hạn mức mới đồng nghĩa với việc tổ chức phảimua lại nếu đang ở trạng thái âm lớn hơn hạn mức Nhu cầu mua lại có lẽ sẽ gây áp lực nhất địnhcho thị trường ngoại hối vì tình trạng chênh lệch lãi suất vay USD và VND thời gian qua đãkhuyến khích hoạt động chuyển vốn, chẳng hạn bán USD ra để đổi sang VND nhằm cho vay.Ngoài ra, hoạt động kinh doanh vàng thông qua việc mua bán vàng trên tài khoản vàng tạinướcngoài cũng có ảnh hưởng nhất định đến trạng thái ngoại tệ của các NHTM Từ đó, trạng tháingoại tệ này ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động KDNH của các ngân hàng
Cơ chế điều hành tỷ giá
Kể từ năm 1999, khi Việt Nam có sự thay đổi lớn trong cơ chế tỷ giá, bảng phân loại cơ chế tỷgiá của IMF xếp Việt Nam vào nhóm cơ chế tỷ giá thả nổi với mức phân định là cơ chế tỷ giá thảnổi có quản lý không định trước cùng với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore Ởcùng thời gian này, Malaysia và Trung Quốc vẫn được xếp vào nhóm cố định truyền Tuy nhiên,
từ cuối năm 2004 trở lại đây,IMF chuyển Việt Nam sang nhóm nước có cơ chế cố định truyềnthống vì nhận định rằng kể từ tháng 8/2004, NHNN công bố sẽ không để tỷ giá USD/VND tăngquá 1%/năm Với độ mở thương mại khá cao, sự thiếu ổn định của tỷ giá sẽ gây nên vấn đề
Trang 6nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế Việt Nam Trong ngắn hạn và kể cả trung hạn, Việt Namkhó có thể chuyển sang trạng thái có độ mở thương mại thấp
Ngoài ra, với việc quy định tỷ giá USD/VND theo hướng thị trường và có điều tiết của NHNN
dễ dàng tạo ra rủi ro tỷ giá, đồng thời kéo theo rủi ro cho hoạt động kinh doanh vàng của cácngân hàng với lý do là giá vàng trong nước được xác định dựa vào giá vàng thế giới, tỷ giá USD/VND và các chi phí khác, cho nên rủi ro tỷ giá cũng tất yếu gây nên rủi ro trong hoạt động kinhdoanh vàng của ngân hàng
Các hợp đồng giao dịch phái sinh ngoại hối
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công
cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo
ra lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, lãisuất, v.v Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàntoàn rủi ro,trong đó thường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợpđồng hoán đổi hay những sản phẩm phái sinh kết hợp Ngày nay, hoạt động kinh doanh của cácNHTM trở nên phong phú và đa dạng hơn bao giờ hết, bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng mangtính truyền thống thì các ngân hàng đã không ngừng phát triển các nghiệp vụ tài chính mới, hiệnđại, trong đó, phải kể đến các giao dịch kinh doanh ngoại tệ với doanh số giao dịch lớn hơnnhiều so với trước đây Đây là hoạt động kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận rất cao choNHTM, nhưng cũng chứa không ít rủi ro Khi tham gia hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng
sẽ tạo ra trạng thái ngoại tệ mở và dẫn đến rủi ro tỷ giá cho ngân hàng nếu tỷ giá trên thị trườngbiến động Để có thể hạn chế được rủi ro này, ngân hàng sẽ phải tiến hành các biện pháp phòngngừa, một trong những công cụ hữu hiệu phòng ngừa tỷ giá đó chính là các hợp đồng phái sinhtiền tệ Các hợp đồng phái sinh tiền tệ cơ bản bao gồm: hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hợp đồngngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối quyền chọn và hợp đồng ngoại hối tương lai Công cụphổ biến nhất để kiểm soát rủi ro giao dịch ngoại hối là những hợp đồng tương lai, hoán đổi vàquyền chọn tiền tệ
1.1.2 Các nhân tố riêng tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
Có hai nguyên nhân chính làm phát sinh rủi ro trong KDNH tại các Ngân hàng, đó là:Các Ngânhàng mua bán ngoại tệ hay vàng phục vụ cho khách hàng và mua bán cho chính mình; Các Ngânhàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ hay vàng
Trong môi trường toàn cầu hóa tài chính - ngân hàng như ngày nay, nhà quản trị Ngân hàng ngàycàng phải đối mặt nhiều hơn với rủi ro ngoại hối, điều này cũng làm phát sinh nhiều nghiệp vụmới (gọi là nghiệp vụ phái sinh) trong kinh doanh ngoại hối và được sử dụng tích cực vào việcphòng ngừa rủi ro ngoại hối
1.2 CÁC TIÊU CHÍ ĐO LƯỜNG RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI
1.2.1 Các tiêu chí đ nh l ịnh lượng ượng ng
1.2.1.1 Ph ương pháp đo lường VaR ng pháp đo l ường VaR ng VaR
Một trong những phương pháp đo lường rủi ro trong hoạt động KDNH tại các NHTM phổ biếnnhất hiện nay là sử dụng mô hình VaR
Với việc sử dụng mô hình VaR, các nhà kinh doanh và quản trị ngân hàng xác định được mộtcon số cụ thể về mức độ rủi ro của danh mục ngoại hối mà ngân hàng đang nắm giữ Từ đó, các
Trang 7nhà quản trị ngân hàng xác định được mức độ rủi ro này có nằm trong phạm vi tổn thất cho phépcủa các lãnh đạo cao hơn trong ngân hàng hay không Phương pháp này có thể được thực hiệntrước, trong hay sau khi các dealer thực hiện giao dịch Tuy nhiên, việc thực hiện tính toán VaRtrước khi thực hiện giao dịch ngoại hối sẽ tốt hơn cho việc quản trị ngân hàng
1.2.1.2 Ph ương pháp đo lường VaR ng pháp đo l ường VaR ng tr ng thái ngo i t ạng thái ngoại tệ ạng thái ngoại tệ ệ
Đây cũng là một trong những phương pháp đo lường định lượng phổ biến hiện nay trên thế giới
về mức độ rủi ro của các giao dịch ngoại hối mà ngân hàng thực hiện
Lãi/lỗ đối với ngoại hối (i) = Trạng thái ngoại hối ròng (i) xMức biến động tỷ giá của ngoại tệ (i)hay giá vàng
Mức độ chính xác của việc sử dụng phương pháp này phụ thuộc rất lớn vào việc dự đoán mức độbiến động của tỷ giá ngoại tệ hay giá vàng Kết quả của công thức này là một con số cụ thể thểhiện mức độ rủi ro của hoạt động kinh doanh vàng hay ngoại tệ của ngân hàng
1.2.2 Các tiêu chí đ nh tính ịnh lượng
Các chỉ tiêu này bao gồm: mức độ sử dụng các công cụ phái sinh, sử dụng các kỹ thuật dự đoán
tỷ giá, hạn mức, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội trong và ngoài nước, các chính sách củaChính phủ và các cơ quan có thẩm quyền v.v…
Mức độ thường xuyên sử dụng các công cụ trên trong việc phòng ngừa rủi ro trong hoạt độngKDNH hay diễn biến tình hình trong và ngoài nước quyết định quan trọng đến mức độ rủi ro củaKDNH tại các NHTM hiện nay Do đó, việc ý thức được các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt độngkinh doanh của các cấp lãnh đạo ngân hàng có tầm ảnh hưởng lớn đến rủi ro xảy ra là cao haythấp đến kết quả lợi nhuận của ngân hàng; đồng thời việc phân tích và dự báo tình hình trong vàngoài nước cũng chi phối đến mức độ rủi ro trong hoạt động KDNH của ngân hàng
1.3 QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 R i ro trong kinh doanh ngo i h i c a các ngân hàng th ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ại hối ố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ương mại ng m i ại hối
Về bản chất, KDNH tự nó chứa đựng rủi ro rất cao Ngoài các rủi ro thông thường mà cáchoạt động khác cũng phải đối mặt như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro
kỹ thuật, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro quốc gia, thì KDNH còn chịu thêm một rủi rođặc biệt, đó là rủi ro về tỷ giá ngoại tệ và giá vàng Do tỷ giá ngoại tệ và giá vàng biến độngthường xuyên và bất thường, nên rủi ro tỷ giá ngoại tệ và giá vàng được xem là rủi ro thườngtrực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động KDNH của các ngân hàng Rủi ro ngoạihối là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá ngoại tệ và giá vàng làm ảnh hưởng xấu đến giátrị kỳ vọng trong tương lai
Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro tỷ giá ngoại tệ và giá vàng: (1) các ngân hàng giaodịch các đồng tiền nước ngoài, vàng nhằm phục vụ cho khách hàng và cho chính ngân hàngmình; (2) các ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng các ngoại tệ Cả hai nguyênnhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại hối ròng (trường hoặc đoản) trong mua bán ngoạihối và trong cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ Nếu tỷ giá ngoại tệ và giá vàng biến động càng mạnhthì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn
Trang 81.3.2 Qu n lý r i ro trong kinh doanh ngo i h i c a các Ngân hàng th ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ại hối ố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ương mại ng m i ại hối
1.3.2.1 Khái ni m qu n lý r i ro kinh doanh ngo i h i c a NHTM ệ ản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ạng thái ngoại tệ ố bên ngoài ủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM
Để kinh doanh ngoại tệ có lãi thì các NHTM phải tạo trạng thái ngoại hối mở và tỷ giáphải biến động Muốn tránh hoàn toàn rủi ro tỷ giá thì nhà kinh doanh chỉ việc không tiến hànhbất kỳ giao dịch ngoại hối nào hoặc nếu đã tạo trạng thái ngoại hối thì tiến hành đóng trạng tháingoại hối bằng các giao dịch đối ứng để làm cân bằng trạng thái Tuy nhiên, là Dealer thì việctạo trạng thái ngoại hối và hy vọng tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi là công việc hằngngày của anh ta Do đó, tỷ giá luôn biến động thất thường và không giới hạn làm cho cơ hộikiếm lãi trở nên thường xuyên và vô cùng hấp dẫn Tiềm năng thu lãi và tiềm ẩn rủi ro trongKDNH là đồng hành với nhau Lãi lỗ trong KDNH có thể phát sinh cùng với quy mô biến động
tỷ giá, trong khi tỷ giá biến động là không giới hạn nên có thể làm cho lãi lỗ phát sinh là rất lớn.Điều này buộc ngân hàng phải có một cơ chế quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh ngoại tệ
và vàng một cách chặt chẽ
Rủi ro KDNH là một yếu tố khách quan, ngân hàng không thể loại trừ được tất cả mọi rủi
ro có thể xảy ra khi tham gia giao dịch KDNH, mà ngân hàng chỉ có thể đưa ra các biện pháp vàcông cụ nhằm hạn chế sự xuất hiện của rủi ro Cho nên, quản lý rủi ro KDNH tại ngân hàng làquá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát,phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất do rủi ro gây ra Quy trình quản lý rủi ro thông thườnggồm năm bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro,kiểm soát, phòng ngừa rủi ro
và tài trợ rủi ro
1.3.2.2 Vai trò c a qu n lý r i ro trong kinh doanh ngo i h i đ i v i NHTM ủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ạng thái ngoại tệ ố bên ngoài ố bên ngoài ới NHTM
- Quản trị rủi ro KDNH tốt giúp góp phần làm giảm thiểu chi phí hoạt động và hạn chế tổn thấtcho các ngân hàng, từ đó sẽ giúp tối đa hóa lợi nhuận và giá trị cho cổ đông của ngân hàng
- Quản lý rủi ro KDNH hiệu quả góp phần tạo điều kiện làm lành mạnh tình hình tài chính, ngănngừa nguy cơ phá sản và gia tăng uy tín cho các NHTM Qua đó, các NHTM góp phần tăng lòngtin nơi khách hàng và các đối tác trong và ngoài nước; đồng thời thúc đẩy tăng trưởng, phát triểnkinh tế ổn định và bền vững cho đất nước
- Quản lý rủi ro KDNH tốt giúp phát hiện kịp thời những nguyên nhân có thể gây nên rủi ro chohoạt động KDNH, từ đó ngân hàng có những giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro thích hợp.Quá trình này giúp xây dựng hình ảnh tốt đẹp cho ngân hàng, đáp ứng yêu cầu của các quy địnhtrong nước và các chuẩn mực quốc tế
- Hệ thống quản lý rủi ro KDNH hiệu quả giúp các NHTM có được các nhân tố tích cực sautrong quá trình hoạt động của ngân hàng như có sự giám sát và quản lý tích cực của Hội đồngquản trị và Ban điều hành; ban hành và triển khai đầy đủ các chính sách, quy trình quản lý rủi ro
và các giới hạn rủi ro; thiết lập hệ thống thông tin quản lý rủi ro phù hợp; và thiết lập được hệthống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ hoạt động phù hợp
- Ngoài ra, việc thực hiện quản lý rủi ro KDNH một cách nghiêm túc giúp ngân hàng đảm bảorằng vốn pháp định của ngân hàng không bị suy giảm và khả năng chịu đựng rủi ro của ngânhàng đủ bù đắp tất cả các rủi ro mà có thể dẫn đếntổn thất cho ngân hàng tại mọi thời điểm Bộphận kiểm soát rủi ro thực hiện việc theo dõi, đo lường tất cả các rủi ro của ngân hàng và đánhgiá mức độ đầy đủ của khả năng chịu đựng rủi ro Nếu khả năng chịu đựng rủi ro là không đảmbảo, ngân hàng sẽ có các biện pháp xử lý kịp thời
Trang 91.3.2.3 Các ph ương pháp đo lường VaR ng pháp qu n lý r i ro kinh doanh ngo i h i t i ngân hàng th ản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ạng thái ngoại tệ ố bên ngoài ạng thái ngoại tệ ương pháp đo lường VaR ng m i ạng thái ngoại tệ
Trên thế giới, các Ngân hàng thường sử dụng các phương pháp sau đây để quản lý rủi ro tronghoạt động KDNH của Ngân hàng:
- Sử dụng các giới hạn trạng thái ngoại hối giao dịch qua đêm
Hạn mức (position limits) là giới hạn trạng thái ngoại hối tối đa mà mỗi nhóm, cá nhân KDNHđược phép thực hiện Tùy theo kinh nghiệm, trình độ, mục đích kinh doanh, năng lực tài chính
và trang thiết bị mà hạn mức giữa các tổ chức, giữa các nhân viên kinh doanh là không giốngnhau Việc quản lý hạn mức kinh doanh tại một NHTM có thể căn cứ vào một số tiêu chí nhưsau:
+ Hạn mức chung cho cả phòng kinh doanh, trên cơ sở đó phân bổ hạn mức cho từng nhà kinhdoanh cụ thể
+ Hạn mức theo các đồng tiền kinh doanh: Ngoài việc quy định tổng hạn mức chung, đối vớinhững nhóm và cá nhân kinh doanh liên quan đến nhiều đồng tiền, thì việc quy định hạn mứckinh doanh đối với mỗi đồng tiền là cần thiết Những đồng tiền ít biến động thì hạn mức có thểcao, còn những đồng tiền biến động mạnh thì hạn mức thấp hơn
+ Hạn mức cho các loại nghiệp vụ cụ thể, ví dụ hạn mức cho từng nghiệp vụ giao ngay, kỳhạn, tương lai, hoán đổi và quyền chọn
- Sử dụng các kỹ thuật dự đoán tỷ giá
Phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là phân tích cơ bản Những người sử dụng
phương pháp này dựa vào những phân tích về “những nhân tố cơ bản” như GDP, đầu tư, tiết kiệm, sản lượng, lạm phát, cán cân thanh toán,… Những phân tích này không được mô hình hóa
bằng kinh tế lượng mà chỉ mang tính định tính nhằm xác định tác động của nhân tố này đến xuhướng biến động dài hạn của tỷ giá
Một phương pháp khác cũng được nhiều nhà quản trị Ngân hàng sử dụng là phương phápphân tích kỹ thuật Phương pháp này dựa trên những nguyên tắc của trường phái nghiên cứu
“hành vi học trong tài chính” (behavioral finance) Theo quan điểm này, các nhà phân tích kỹthuật có thể dự báo được những “mẫu hình” của thị trường bằng cách “đọc” các đồ thị tỷ giá
- Sử dụng các công cụ phái sinh
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng kỳ hạn
Trên thị trường mua bán hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp xuất hay nhập khẩu thường cónhu cầu bán ngoại tệ hay mua ngoại tệ để thanh toán cho các hợp đồng xuất nhập khẩu với cácnước khác Với tình trạng tỷ giá ngoại tệ luôn biến động bất thường, các nhà xuất nhập khẩu có
xu hướng mua các hợp đồng kỳ hạn với các ngân hàng để phòng ngừa rủi ro tỷ giá Sau khi đãthực hiện hợp đồng bán kỳ hạn với các doanh nghiệp, để phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho chính ngânhàng mình, các ngân hàng này cần thực hiện mua đối ứng các giao dịch kỳ hạn này tại thị trườngngoại hối nước ngoài hoặc tại thị trường ngoại hối trong nước Với các giao dịch kỳ hạn này,ngân hàng trong nước chỉ hưởng phí dich vụ, là khoản chênh lệch giữa phí kỳ hạn tính cho kháchhàng trong nước và phí kỳ hạn mà ngân hàng nước ngoài tính cho ngân hàng trong nước khi thựchiện giao dịch kỳ hạn ngoại tệ.Hàng hóa ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hóa nào: các loại ngoại
tệ hay vàng Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên tựthỏa thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính cá nhân Giá hàng hóa đó trên thị
Trang 10trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hóa có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống sovới mức giá đã ký kết trong hợp đồng Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đãcam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường Như vậybằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũngnhư hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình Vì chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nênmỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng Khi có thay đổi giá
cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiệnhợp đồng Ngoài ra, vì mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chínhxác
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng tương lai
Cách thức phòng ngừa rủi ro bằng hợp đồng tương lai cũng gần tương tự như trường hợp phòngngừa rủi ro bằng hợp đồng kỳ hạn, như: khách hàng có nhu cầu bán hay mua một loại ngoại tệnào đó trong tương lai cho nhu cầu xuất nhập khẩu của doanh nghiệp và lo ngại tỷ giá biến độngnhiều sẽ gây rủi ro cho số lượng ngoại tệ mà họ cần bán hay mua trên, khách hàng sẽ mua mộthợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, ngân hàng sau khi bán hợp đồng tương lai, phảithực hiện giao dịch đối ứng trên thị trường ngoại hối và hưởng chênh lệch phí đồng thời phòngngừa được rủi ro có thể xảy ra khi tỷ giá biến động bất lợi
Tuy nhiên, một trong những điểm khác biệt cơ bản của giao dịch tương lai và kỳ hạn trong việcphòng ngừa rủi ro tỷ giá là: hợp đồng kỳ hạn được thương lượng trực tiếp giữa hai chủ thể,không cần chuẩn hóa sản phẩm và không yêu cầu thủ tục phức tạp, trong khi hợp đồng tương laiđược giao dịch trên Sở giao dịch tương lai nên việc chuẩn hóa hợp đồng là điểm quan trọng, vìvậy rủi ro tín dụng cũng được hạn chế nhiều hơn so với các giao dịch kỳ hạn
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng quyền chọn
Tương tự như hai loại sản phẩm phái sinh trên, khách hàng xuất nhập khẩu có nhu cầu mua sảnphẩm phái sinh để phòng ngừa rủi tỷ giá do tỷ giá có thể biến động bất lợi và gây tổn thất đến sốlượng ngoại tệ dự kiến trong tương lai Trong trường hợp này, khách hàng chọn mua hợp đồngquyền chọn (quyền chọn bán hoặc hoặc chọn mua) Còn ngân hàng thì bán quyền chọn bán hoặcbán quyền chọn mua Đối với nước ta, trong thời gian trước đây khi cho thực hiện giao dịchquyền chọn, thì khách hàng chỉ được mua quyền chọn, chứ không được bán quyền chọn đểphòng ngừa rủi ro hay đầu cơ Ngân hàng chỉ được thực hiện bán quyền chọn cho khách hàng cónhu cầu phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Sau khi ngân hàng bán quyền chọn bán hoặc quyền chọn mua cho khách hàng, để phòng ngừarủi ro tỷ giá, ngân hàng cần thực hiện mua lại quyền chọn bán hoặc quyền chọn mua trên thịtrường ngoại hối Lúc đó, ngân hàng chỉ hưởng phí quyền chọn chênh lệch
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng hoán đổi
Giao dịch hoán đổi là một sự kết hợp giữa giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn Bản thângiao dịch hoán đổi giải quyết được nhược điểm của hợp đồng giao ngay là có thể thỏa mãn nhucầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm tương lai, đồng thời khắc phục được nhược điểm củahợp đồng kỳ hạn ở chỗ có thể thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm hiện tại.Trong trường hợp này ngân hàng cần mua đối ứng giao dịch hoán đổi tương ứng với đối tác trênthị trường ngoại hối nhằm tránh rủi ro khi tỷ giá biến động bất lợi
Vào ngày hiệu lực hợp đồng hoán đổi, ngân hàng có thể kiếm lợi nhuận từchênh lệch giá mua vàgiá bán ngoại tệ giao ngay và tránh được rủi ro tỷ giá đối với nguồn ngoại tệ đáp ứng cho giaodịch giao ngay Vào ngày đáo hạn hợp đồng hoán đổi ngoại tệ trên, ngân hàng kiếm được lợinhuận từ chênh lệch giá mua và giá bán kỳ hạn và cũng tránh được rủi ro khi tỷ giá biến động bấtlợi đối với nguồn ngoại tệ đáp ứng cho giao dịch kỳ hạn
Trang 11- Sử dụng công cụ VaR – Giá trị chịu rủi ro
VaR được xác định dựa trên quy luật phân bố xác suất cho giá trị thị trường của danh mục.Thông thường, sự biến động giá trị của các tài sản được tuân theo quy luật phân phối chuẩn, với
2 giá trị đặc trưng là mức kỳ vọng và phương sai
Phương pháp đo lường VaR
Hiện tại, các Ngân hàng trên thế giới đang sử dụng ba phương pháp chính để đo lường VaR, đólà: Phương pháp Delta – Gamma, phương pháp phân tích và phương pháp Monte Carlo
Các nguyên tắc xây dựng mô hình VaR
Sử dụng phương pháp phân tích (Analytical Method), áp dụng đối với các ngoại tệ mạnh Xkhông phải USD (gọi tắt G7) và vàng (riêng trường hợp USD/VND có phương pháp tính riêng)
1.3.3 Các nhân t nh h ố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ưởng đến quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các ngân ng đ n qu n lý r i ro trong kinh doanh ngo i h i c a các ngân ến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ại hối ố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ủi ro trong kinh doanh ngoại hối hàng th ương mại ng m i ại hối
1.3.3.1 Các nhân t nh h ố bên ngoài ản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ưởng từ phía các NHTM ng t phía các NHTM ừ phía các NHTM
- Tuân thủ không tốt các chính sách và quy trình QLRR của ngân hàng Mặc dù ngân hàng đãban hành hệ thống quản lý rủi ro cho hoạt động KDNH, việc tuân thủ không đúng theo những gìtrong hệ thống quy định tạo nên nhiều rủi ro cho hoạt động chung của ngân hàng Việc khôngtuân thủ theo các quy định trong chính sách này thể hiện ở chỗ có thể xuất phát từ phía các cấplãnh đạo không quản trị rủi ro theo quy định đã ban hành hoặc có thể xuất phát từ phía nhữngngười thực hiện thi hành các quy định không đúng hoặc cố ý làm trái quy định vì một lý do nào
đó Việc thực hiện không tốt các quy định trong hệ thống quản trị rủi ro trong KDNH có thể đemlại nhiều tổn thất cho ngân hàng và gây nhiều khó khăn cho quá trình thực thi chính sách vì mụctiêu chung của ngân hàng
- Ưa thích các giao dịch có lợi nhuận cao và chấp nhận mức độ rủi ro cao
Hội đồng quản trị ngân hàng thuộc nhóm người thích kinh doanh với các giao dịch tạo ra nhiềulợi nhuận và sẵn sàng chấp nhận mức độ rủi ro cao Chính sự ưa thích này có thể là nguồn cảmhứng cho quá trình quản trị hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, ngân hàng là lĩnh vực được kiểmsoát chặt chẽ bởi NHNN và các cơ quan khác của Chính phủ, hoạt động ngân hàng luôn phảituân thủ theo rất nhiều quy định khắc khe từ phía Nhà nước, đặc biệt là từ NHNN Do đó, loại
“sở thích” này trong hoạt động KDNH của ngân hàng bị kiểm soát và hạn chế nhiều Việc thựchiện kinh doanh với các giao dịch tạo ra nhiều lợi nhuận và mức độ rủi ro cao có nhiều khả năngđem lại khó khăn cho quá trình quản lý rủi ro trong KDNH của các NHTM
- Hạn mức giao dịch và tổn thất cao
Thông thường Hội đồng quản trị giao các loại hạn mức kinh doanh cho Tổng
giám đốc ngân hàng, sau đó Tổng giám đốc giao hạn mức xuống các cấp bên dưới Việc giao hạnmức từ phía Hội đồng quản trị phụ thuộc rất lớn vào “khẩu vị rủi ro”của từng ngân hàng Cònviệc giao hạn mức xuống các cấp bên dưới của Tổng giám đốc có quy định rất chặt chẽ và đặcbiệt mỗi cấp quản lý chỉ được một hạn mức nhất định Tuy nhiên, trên thực tế các ngân hàngthường giao mức tối đa hạn mức của Tổng giám đốc cho trưởng phòng KDNH của ngân hàngnhằm hổ trợ cao nhất cho hoạt động kinh doanh với bản chất là kinh doanh luôn mang tính nhanhchóng, cơ hội và chấp nhận rủi ro Chính vì lẽ đó, đi kèm với mức độ rủi ro cao từ hạn mức đượcgiao cao sẽ dễ dàng dẫn đến nhiều tổn thất cho hoạt động của các NHTM và gây khó khăn choquá trình quản lý rủi ro của ngân hàng
- Theo đuổi mục tiêu lợi nhuận quá cao
Hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và được kiểm soát rất chặt chẽ từ phía Chínhphủ Bên cạnh đó, để phục vụ cho quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước cùng với quá
Trang 12trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới, nhiều ngân hàng được mở ra và tham giavào hoạt động tại cùng một thị trường trong nước Chính lẽ đó, mức độ cạnh trạnh ngày càng cao
và mục tiêu lợi nhuận ngày càng khó đạt được so với điều kiện thị trường trong thời kỳ hội nhập.Tuy nhiên, chỉ tiêu lợi nhuận năm sau phải cao hơn năm trước nhằm đáp ứng mong muốn của cổđông, do đó, mục tiêu lợi nhuận ngân hàng luôn ở mức cao hơn so với khả năng thực hiện củangân hàng, và lợi nhuận cao thường đi kèm với rủi ro cao Cho nên, với các mục tiêu như trêngây nhiều khó khăn cho quá trình quản trị rủi ro hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Trình độ nhân sự không tốt
Việc thực thi các chính sách về quản trị rủi ro phần lớn là thuộc về Ban tổng giám đốc cùng độingũ nhân viên ngân hàng Quá trình tuân thủ này của đội ngũ nhân sự ngân hàng không chỉ xuấtphát từ các quy định chặt chẽ trong chính sách mà phụ thuộc rất lớn vào tính ý thức, trình độhiểu biết và quá trình thực hiện chính sách trên thực tế Do đó, trình độ của đội ngũ nhân sựkhông tốt dẫn đến nhiều khó khăn cho quá trình đưa các quy định trong chính sách vào thực tiễn
áp dụng củangân hàng
1.3.3.2 Các nhân t nh h ố bên ngoài ản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ưởng từ phía các NHTM ng t bên ngoài ngân hàng ừ phía các NHTM
- Chính sách của nhà nước thay đổi
Hàng năm nhà nước ban hành nhiều chính sách mới nhằm bổ sung, thay đổi các quy định phápluật đã cũ và không phù hợp với điều kiện của thị trường trong thời kỳ mới Các giao dịchKDNH không chỉ được thực hiện trong vài ngày mà có nhiều giao dịch được thực hiện trong vàinăm, ví dụ như các giao dịch huy động và cho vay vàng trong thời gian qua Một khi chính sáchnhà nước thay đổi và ngân hàng không dự liệu được hết sẽ tạo ra nhiểu khó khăn cho quá trìnhquản lý rủi ro trong KDNH của ngân hàng Việc thay đổi chính sách nhanh chóng của nhà nướcđem lại rủi ro chính sách cho các ngân hàng, ví dụ như chính sách tất toán các tài khoản huyđộng và cho vay vàng của NHNN vừa qua đem lại nhiều khoản lỗ cho các NHTM
- Môi trường kinh doanh trong và ngoài nước tiềm ẩn nhiều rủi ro
Hoạt động kinh doanh luôn được đặt trong môi trường nhiều biến động ở trong và ngoài nước,ngân hàng mặc dù có nhiều sự chuẩn bị trong kế hoạch kinh doanh cũng khó tiên liệu được hếtnhững khó khăn của thị trường đem lại Chính vì lẽ đó, hoạt động kinh doanh của ngân hàng làluôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và những sự thay đổi của môi trường kinh doanh bên ngoài thường gâynhiều khó khăn cho công việc quản trị rủi ro KDNH của ngân hàng
Trang 13CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KDNH CỦA MỘT
SỐ NHTM
2.1 THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1.1 Các nhân t chung tác đ ng đ n r i ro kinh doanh ngo i t ố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ộng đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ại hối ệ
Tình hình kinh tế thế giới trong những năm qua có những diễn biến hết sức phức tạp, trong bốicảnh chung đó, kinh tế Việt Nam không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tiêu cực và gặp phải một sốkhó khăn, trong đó, nổi lên vấn đề lạm phát tăng cao trở thành thách thức đối với công tác điềuhành vĩ mô từ năm 2011.Nền kinh tế của Việt Nam trở về tình trạng môi trường kinh tế vĩ môtương đối ổn định trong suốt hai năm qua so với thời kỳ đầy biến động 2007-11 Các biện phápbình ổn được thực hiện trong năm 2011 và 2012 đã giúp Việt Nam khôi phục ổn định kinh tế vĩ
mô thông qua giảm lạm phát, tăng cường các tài khoản đối ngoại, và ổn định thị trường ngoạihối Chỉ số lạm phát CPI giảm xuống còn 6,04% trong năm 2013 so với 18,13% trong năm 2011
và 6,81% trong năm 2012 Tăng trưởng tín dụng và giá lương thực thực phẩm giảm đã giúp giảm
tỷ lệ lạm phát
Lạm phát tại Việt Nam bị ảnh hưởng theo mức lạm phát của các nước trên thế giới và trở thànhnguy cơ lớn đối với nền kinh tế, cán cân thương mại thâm hụt ở mức cao qua nhiều năm tuy cómức giảm qua các năm do giá các nguyên nhiên liệu nhập khẩu tăng mạnh, trong khi xuất khẩugặp nhiều khó khăn do nhu cầu tiêu dùng thế giới phục hồi chậm trong giai đoạn khó khăn mới
kể từ 2007-2008, giai đoạn khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéotheo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynhđảo Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ lực chưa từng có của các nền kinh tế để chống chọi với
"bão"
Vấn đề nhập siêu cũng đang gây áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia, tác động tới tỷ giáUSD/VND, đồng thời gián tiếp làm gia tăng nguy cơ lạm phát đối với nền kinh tế Việt nam trongcác năm qua
Thu hút đầu tư FDI, viện trợ nước ngoài ODA mặc dù chưa có tín hiệu chịu tác động rõ nét,nhưng về lâu dài sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực do nhiều nước phải thực hiện các biện pháp thắt chặtchi tiêu, hạn chế đầu tư, nhất là việc Nhật Bản phải tập trung tài chính để tái thiết đất nước sauthảm họa thiên tai Trong lĩnh vực tiền tệ, áp lực tỷ giá gia tăng do tác động của lạm phát, nhậpsiêu và nhất là sự tồn tại của thị trường tự do mua bán ngoại tệđã gây ảnh hưởng tiêu cực đếnhoạt động quản lý Nhà nước về ngoại hối, gây ra tình trạng đầu cơ làm giá trục lợi, làm méo móthị trường
Trong khi lạm phát có thể không còn là câu chuyện chính yếu của năm 2012, thì tỷ giá lại có thểlại là nhân vật chính Với việc tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ và cắt giảm đầu tưcông như năm 2011, mức lạm phát đã quay về mức 6,81% năm 2012 Khó khăn của kinh tế thếgiới sẽ khiến cho dòng vốn quốc tế đầu tư vào Việt Nam có thể sụt giảm Xuất khẩu khó có thểgiữ được mức tăng trưởng cao như năm nay Hơn nữa, nguy cơ các quỹ đầu tư nước ngoài, vớidanh mục chứng khoán lên tới 7 tỉ USD, rút vốn trong năm 2013 và các năm sau là rất lớn Đây
sẽ là những áp lực chính đối với cán cân thanh toán của Việt Nam trong những năm sau
Hơn nữa, với việc lãi suất huy động VND có xu hướng giảm dần theo đà giảm của lạm phát, việcgăm giữ ngoại tệ sẽ trở nên hấp dẫn hơn Với tất cả những khía cạnh trên, tỷ giá trở thành tâmđiểm bên cạnh các nội dung tái cấu trúc nền kinh tế.Sự biến động phức tạp của kinh tế thế giới
và nền kinh tế Việt Nam sẽ tạo ra nhiều rủi ro cho hoạt động ngoại hối của nền kinh tế
Lạm phát
Trang 14Biểu đồ 2.1: Tình hình lạm phát qua các năm (%)
Mỹ Với tình hình khó khăn chung của nhiều nước trên thế giới, các nhà đầu tư vào thị trườngViệt Nam rất cần vốn USD rút về nước để bù đắp cho các khoản lỗ của hoạt động đầu tư trongnước của chính các nhà đầu tư nước ngoài đó Các nhà đầu tư nước ngoại này rút vốn thông quaviệc bán các khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán, hay bán trái phiếu chính phủ tại ViệtNam và mua USD để chuyển về nước họ Từ đó, cầu USD tăng đột biến từ người dân trong nước
và các nhà đầu tư nước ngoài làm cho tỷ giá USD/VND tăng lên bất thường
Đồng thời, tỷ lệ lạm phát cao khiến người dân trong nước “đổ xô” vào vàng nhằm tìm kênh trú
ẩn an toàn để bảo toàn giá trị tài sản của họ Nguồn cung vàng tại Việt nam chủ yếu từ nhậpkhẩu.Từ đó, giá vàng tăng cao cùng với tỷ giá USD/VND càng tăng cao hơn và gây bất lợi chocác trạng thái đoản ngoại hối của các NHTM cổ phần Do dự báo được tình hình, trong năm
2007 và 2008 hoạt động KDNH tại các ngân hàng trên tạo được kết quả khả quan
Trong năm 2010 và 2011 lạm phát tăng trở lại sau khi giảm xuống mức 6,34% năm 2009 Mộtđặc điểm đáng chú ý của hai năm này là các sàn vàng của các ngân hàng trong nước đồng loạtđóng cửa theo chỉ đạo của Chính phủ, lãi suất tiết kiệm vàng bằng 0 làm cho nhu cầu về USDgiảm đáng kể Tuy nhiên, NHNN cho phép nhập khẩu vàng để kéo chênh lệch giá vàng trong vàngoài nước về một mức hợp lý, việc làm này đã đẩy cầu USD tăng cao Đồng thời trong thời kỳlạm phát cao này, lãi suất cho vay VND cao và lãi suất cho vay USD thấp càng khiến cho các tổchức vay USD và tạo ra cầu USD tăng ảo Cũng như phân tích ở trên NHNN cũng chưa bình ổnđược tỷ giá USD/VND và giá vàng trong nước, tạo cho chúng biến động phức tạp và gây ranhiều rủi ro cho hoạt động KDNH của Eximbank và đã tạo ra các khoản lỗ cho các NHTM khácnữa ko chỉ riêng Eximbank
Trong những năm vừa qua từ năm 2007 đến nay, chỉ có hai năm 2009, 2012 và năm 2013 có tỉ lệlạm phát thấp, giúp cho tỉ giá USD/VND tương đối ổn định
Biểu đồ 2.2: Tỷ giá USD/VND bình quân năm từ năm 2007 đến năm 2012
Trang 15Đơn vị tính: đồng/USD Nguồn: website http://www.xe.com
Tuy nhiên, tình hình kinh tế trong nước vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như: giá USD vẫn tăngtrong khi giá USD thế giới giảm, dự trữ ngoại hối còn mỏng, các hoạt động kinh tế nói chungcòn trì trệ kéo theo cầu trong nước yếu,… Từ đó, với các bất ổn trên của nền kinh tế trong nướckéo theo nhiều rủi ro tiềm ẩn trung và dài hạn cho các hoạt động KDNH của nhiều NHTM trong
Trang 16Biểu đồ 2.4: Lãi/Lỗ thu nhập trong kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng ACB
Biểu đồ 2.5: Lãi/Lỗ thu nhập trong kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng SACOMBANK
Thâm hụt cán cân thương mại
Biểu đồ 2.6: Thâm hụt/Thặng dư cán cân thương mại (tỷ USD)
Trang 17tệ theo hướng dư cầu ngoại tệ và gây áp lực tăng tỷ giá
Nhập siêu là nguyên nhân chính làm tăng nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán và từ đó tạo áplực giảm dự trữ ngoại hối nhà nước do NHNN phải bán ngoại tệ để can thiệp trên thị trườngngoại hối nhằm ổn định tỷ giá Trong các năm 2009 và 2010, do cán cân thanh toán thâm hụtlớn, NHNN đã phải bán ngoại tệ cho các TCTD, dẫn đến dự trữ ngoại hối nhà nước sụt giảmtương đối
Trong cán cân thương mại của nước ta, nhập khẩu vàng là một trong những nguyên nhân làmcho tình hình nhập siêu chưa được cải thiện đáng kể, mặc dù cán cân thương mại năm 2012 cóthặng dư nhỏ Cầu vàng cao khiến cho cầu ngoại tệ tăng và làm cho tỷ giá USD/VND luôn có xuhướng tăng; từ đó làm cho cung cầu về ngoại tệ và vàng thường xuyên ở trạng thái mất cân đối.Cuối cùng, các vấn đề này đã tạo nên nhiểu tổn thất cho hoạt động KDNH của các NHTM cổphần nói chung và Eximbank nói riêng
Tình trạng đôla hóa nền kinh tế
Trong những năm qua, tình hình đôla hóa tại Việt Nam có xu hướng giảm rõ nét Cùng với niềmtin của người dân vào đồng tiền Việt Nam ngày càng tăng, các chính sách và biện pháp hànhchính của Chính phủ đang tỏ ra hiệu quả và góp phần làm hạn chế việc sử dụng USD trong thanhtoán, niêm yết giá, giảm đáng kể các đối tượng được phép vay bằng ngoại tệ (đặc biệt là USD).Các hoạt động trên góp phần ổn định tỷ giá USD/VND và giảm các khoản đầu cơ vào tài sản làvàng
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế như đã phân tích trong phầnlạm phát ở trên Cho nên các rủi ro tiềm ẩn trong trung và dài hạn vẫn còn đó, việc “yêu thích”
Trang 18USD và vàng của người dân vẫn còn đó, tình trạng đôla hóa chưa thể chấp dứt được Từ đó, việcđiều hành các chính sách vĩ mô của NHNN gặp không ít khó khăn, việc quản lý thị trường ngoạihối trong nước vẫn luôn là một ẩn số và rất khó tìm được sự đồng thuận lớn từ phía người dâncũng như các ngân hàng Cho nên, các rủi ro đối với hoạt động KDNH của các NHTM cổ phầnnói chung và Eximbank nói riêng vẫn còn tồn tại trong thời gian vừa qua cũng như sắp tới.
Trạng thái ngoại tệ
Trong các năm qua, theo Báo cáo của NHNN, các ngân hàng TMCP vẫn duy trì trạng thái ngoại
tệ trong quy định của NHNN Tuy nhiên, việc quy định trạng thái ngoại tệ cao trong thời giantrước thời điểm thông tư 07/2012/TT-NHNN ngày 20/03/2012 do NHNN ban hành có hiệu lựcđem lại nhiều rủi ro cho hoạt động KDNH của các ngân hàng Nhằm tăng lợi nhuận, các ngânhàng chấp nhận duy trì trạng thái đoản hay trường đến mức tối đa của trạng thái ngoại tệ màNHNN cho phép, thậm chí các ngân hàng còn duy trì trạng thái ngoại tệ trong ngày cao hơn mứcquy định 30%, mức quy định về trạng thái ngoại tệ cuối ngày của NHNN Việc đáp ứng quy địnhcủa NHNN theo cách thức đối phó càng tạo ra nhiều rủi ro cho hoạt động kinh doanh của cácngân hàng Ngoài ra, quy định về trạng thái ngoại tệ của NHNN trước ngày thông tư 07 có hiệulực tạo ra tình trạng đôla hóa khó kiểm soát và tạo ra sự biến động của tỷ giá ngoại tệ càng phứctạp khi cầu ngoại tệ có xu hướng cao hơn cung ngoại tệ đặc biệt vào cuối năm Sau ngày thông tư
07 có hiệu lực, tình trạng đôla hóa giảm đi rõ nét, tuy lợi nhuận về kinh doanh ngoại hối cácNHTM cổ phần trong đó có Eximbank giảm đi rõ rệt Phần lỗ trong KDNH này chủ yếu xuấtphát từ kinh doanh vàng, nhằm đáp ứng thanh khoản vàng để tất toán các tài khoản huy độngvàng của khách hàng theo đúng quy định của NHNN Về tổng thể, việc ban hành thông tư 07giúp các NHTM cổ phần trong đó có Eximbank dễ dàng hơn trong quá trình kiểm soát hoạt độngKDNH, giảm đáng kể rủi ro cho hoạt động này với trạng thái ngoại tệ trong mức +/-20%
Cơ chế điều hành tỷ giá
Trên thực tế, theo cơ chế điều hành tỷ giá trong những năm gần đây, NHNN đang sử dụng công
cụ “tỷ giá bình quân liên ngân hàng” và “biên độ” để kiểm soát tỷ giá trên thị trường Mặc dù gọi
là tỷ giá bình quân liên ngân hàng nhưng NHNN thường ấn định tỷ giá này theo mục tiêu ổnđịnh kinh tế vĩ mô, thường là mang tính dài hạn Vì thế đôi khi có một “độ lệch” nhất định so vớithực tế biến động ngắn hạn trên thị trường Với cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay, thị trườngngoại hối đã xuất hiện hai tỷ giá, đó là tỷ giá chính thức được các NHTM niêm yết, mua bán và
tỷ giá phi chính thức trên thị trường tự do; đồng thời sự mất cân đối cung cầu ngoại tệ luôn cóthể xảy ra trong năm
Với việc điều hành và kiểm soát các giao dịch ngoại hối trên thị trường, NHNN đã có cơ chế tỷgiá USD/VND và điều tiết thị trường vàng hợp lý, đã không tạo ra những rủi ro đáng kể cho cácgiao dịch KDNH của các NHTM cổ phần nói chung và Eximbank nói riêng
Các chính sách điều hành trên của NHNN được cho là kịp thời và phù hợp với diễn biến của thịtrường Tuy nhiên, sự chênh lệch quá lớn giữa tỷ giá chính thức và thị trường tự do là cơ hộikhông thể bỏ qua cho giới đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá này Một khi đầu cơ xuấthiện, tỷ giá USD/VND lại càng diễn biến phức tạp hơn và càng tạo ra nhiều rủi ro cho hoạt độngKDNH của các NHTM cổ phần Theo biểu đồ về lãi/lỗ trong KDNH của các NHTM, lợi nhuậncác ngân hàng đều giảm đáng kể, thậm chí Eximbank giảm lợi nhuận trên 50% của KDNH trongnăm 2009 so với năm 2008
Trang 19Trước tình hình giá USD tự do tăng mạnh dưới ảnh hưởng của cơn sốt giá vàng, NHNN đã lậptức công bố cho nhập khẩu vàng nhằm giảm sức ép lên cung vàng; qua đó hạ bớt sức nóng củađồng USD trên thị trường tự do Thêm vào đó, NHNN quyết định can thiệp trực tiếp và mạnh tayvào tỷ giá khi điều chỉnh tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng Tuy nhiên cùng với rủi ro
tỷ giá và với cơn sốt vàng trên thị trường trong thời gian này, các ngân hàng gặt hái được nhiềulợi nhuận và cũng bị nhiều tổn thất cho lợi nhuận của ngân hàng, cuối cùng là lợi nhuận cácNHTM cổ phần hầu như giảm kể cả Eximbank
Trong năm 2010, nền kinh tế trong nước vẫn còn nhiều khó khăn như: lạm phát cao ở mức 2 con
số, nhập siêu chưa giảm đáng kể, cầu USD tăng mạnh, cung USD còn yếu, chênh lệch tỷ giáUSD/VND giữa thị trường chính thức và thị trường tự do vẫn còn cao, nhu cầu mua vàng tăngmạnh, … Đứng trước tình hình như vậy, để bình ổn TTNH, NHNN đã thực thi rất nhiều chínhsách, biện pháp như điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, kiểm soát mạnh TTNH cuối năm
2009, tăng nguồn cung USD trên thị trường qua các biện pháp hành chính như kết hối ngoại tệ,giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ Thêmvào đó, việc chấm dứt hoạt động của các sàn vàng, lãi suất tiết kiệm bằng vàng tại các NHTMgần như 0% cộng với một lượng vàng khá lớn tại các NHTM đã khiến cho giá vàng trong nước
đã giảm (thậm chí thấp hơn giá vàng thế giới) và khiến cho hoạt động đầu tư vào vàng suy giảm.Với các biện pháp kịp thời này của NHNN đã góp phần giảm sức ép đối với cầu USD, tăngnguồn cung vàng miếng, giảm chênh lệch tỷ giá USD/VND giữa hai thị trường, kéo giá vàngtrong nước và thế giới về sát nhau
Sau khi đóng cửa sàn vàng năm 2010, nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng SJC kể từ tháng5/2012, ngừng cho vay vàng miếng từ tháng 4/2011 và ngừng huy động vàng miếng kể từ tháng11/2012, tỷ giá USD/VND tăng thêm 9,3% từ mức 18.932 lên mức 20.693, đáp ứng đủ các nhucầu mua USD của doanh nghiệp có nhu cầu hợp pháp, tỷ giá USD/VND dần đi vào ổn định, đầu
cơ vàng miếng không còn xuất hiện như trước, niềm tin của người dân vào VND tăng lên, v.v trong năm 2011 và 2012
Tuy các chính sách trên của NHNN là kịp thời và hợp lý trong giai đoạn ngắn hạn, về lâu dài cácbiện pháp này tỏ ra không hiệu quả và mang nặng tính hành chính đồng thời ngày càng xa cácquy tắc của thị trường; từ đó, rủi ro về biến động tỷ giá, giá vàng trong nước, cũng như chênhlệch giá vàng trong nước và quốc tế cũng như chênh lệch tỷ giá USD/VND giữa thị trường chínhthức và thị trường phi chính thức không giải quyết được một cách triệt để
Hơn nữa, ngoài các rủi ro tỷ giá ngoại tệ tiềm ẩn cho hoạt động KDNH tại Eximbank như đãphân tích ở trên, cơ hội kinh doanh đã và đang giảm đi đáng kể và rủi ro chính sách của NHNN
là đang hiện hữu như việc tất toán các tài khoản huy động vàng mà các NHTM đang thực hiệnlàm giảm lợi nhuận cho hoạt động KDNH của Eximbank rất nhiều
- Các hợp đồng giao dịch phái sinh ngoại hối
Hầu hết các giao dịch phái sinh ngoại tệ mà Eximbank thực hiện đều đáp ứng cho nhu cầu muabán sản phẩm phái sinh ngoại hối từ phía khách hàng đa số là doanh nghiệp
Số lượng khách hàng và TCTD khác giao dịch kỳ hạn của Eximbank
Đối tượng Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Khách hàng 23 151 1.128 334 72
Tổng cộng 37 167 1.148 357 104
Nguồn: Báo cáo giao dịch tiền tệ tại EXIMBANK qua các năm
Giá trị giao dịch kỳ hạn với khách hàng và với TCTD khác của Eximbank
Trang 20Năm Giao dịch
với khách hàng
Giao dịch với TCTD khác
Nguồn: Báo cáo giao dịch tiền tệ tại EXIMBANK qua các năm
Số lượng khách hàng và TCTD khác giao dịch hoán đổi của Eximbank
Đối tượng Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Nguồn: Báo cáo giao dịch tiền tệ tại EXIMBANK qua các năm
Giá trị giao dịch hoán đổi với khách hàng và với TCTD khác của Eximbank
với khách hàng
Giao dịch với TCTD khác
Nguồn: Báo cáo giao dịch tiền tệ tại EXIMBANK qua các năm
Giá trị giao dịch quyền chọn với TCTD khác của Eximbank
Năm
Quyền chọn ngoại tệ
Quyền chọn nội tệ
Quyền chọn mua Quyền chọn bán Mua quyền
chọn mua
Bán quyền chọn mua
Mua quyền chọn bán
Bán quyền chọn bán
Nguồn: Báo cáo giao dịch tiền tệ tại EXIMBANK qua các năm
Lời / Lỗ từ giao dịch phái sinh ngoại tệ của Eximbank
Năm 2007 2008 2009 2010 2011
Lời / lỗ 115.618 503.357 467.857 106.886 158.033
Nguồn: Báo cáo tài chính thường niên của EXIMBANK qua các năm
Trang 21Khách hàng của ngân hàng là các tổ chức/cá nhân mua hay bán các sản phẩm phái sinh ngoại tệhay vàng nhằm phòng ngừa rủi ro cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của họ có liên quanđến ngoại tệ hay nhằm đầu cơ trạng thái vàng hay ngoại tệ Sau khi tiếp nhận các giao dịch từphía khách hàng, ngân hàng phần lớn là thực hiện đối ứng ngay với các đối tác ngân hàng nướcngoài nhằm hưởng chênh lệch giá, do thị trường mua bán sản phẩm phái sinh ngoại hối tại ViệtNam chưa phát triển đủ để các ngân hàng sau khi nhận lệnh mua bán của khách hàng có thể bánhay mua lại với một khách hàng khác hay cân đối trạng thái giao dịch của khách hàng với Trungtâm giao dịch Quốc gia về sản phẩm phái sinh ngoại hối như các nước Ngoài việc thực hiện môigiới cho khách hàng về các giao dịch phái sinh ngoại hối, ngân hàng hầu như rất hiếm khi thựchiện mua hay bán các giao dịch phái sinh ngoại hối cho chính các trạng thái ngoại hối của ngânhàng mình để phòng ngừa rủi ro của tỷ giá ngoại tệ hay giá vàng Chính vì lẽ đó, trong nhữngnăm vừa qua, khi mà tỷ giá USD/VND và giá vàng ngày càng biến động phức tạp, đồng thời rủi
ro chính sách từ phía NHNN ngày càng hiện hữu, lợi nhuận từ mảng KDNH của các ngân hàngngày càng giảm, đặc biệt là bị lỗ trong năm 2011 và năm 2012 vừa qua tại nhiều NHTM cổ phần
có thị phần giao dịch lớn trong KDNH như Eximbank, ACB và Sacombank
2.1.2 Các nhân t riêng tác đ ng đ n r i ro kinh doanh ngo i t ố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ộng đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ại hối ệ
Khi Eximbank thực hiện mua hộ và bán hộ cho khách hàng để thu phí thì rủi ro hối đoái khôngphát sinh Một khi ngân hàng tiến hành mua bán ngoại hối cho khách hàng hay cho chính ngânhàng nhằm mục tiêu kiếm lợi nhuận do tỷ giá ngoại tệ hay giá vàng biến động, ngân hàng đang
mở trạng thái ngoại hối trường hay đoản, khi đó rủi ro ngoại hối sẽ xảy ra khi tỷ giá ngoại tệ haygiá vàng biến động ngược với trạng thái ngoại hối mà ngân hàng đang nắm giữ
Khía cạnh thứ hai của rủi ro hối đoái mà Eximbank phải đối mặt là sự không cân xứng giữa tàisản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ hay vàng Tài sản có bằng ngoại tệ hay vàng là cáckhoản mục trên bảng tổng kết tài sản như các khoản cho vay bằng ngoại tệ hay vàng, các chứngkhoán bằng ngoại tệ, tiền gửi bằng ngoại tệ hay vàng ở Ngân hàng khác, tiền mặt bằng ngoại tệ,vàng, v.vv Tài sản nợ bằng ngoại tệ hay vàng là các khoản mục trên bảng tổng kết tài sản nhưphát hành các chứng chỉ tiền gửi bằng ngoại tệ/vàng, phát hành trái phiếu châu Âu, và các hìnhthức huy động vốn khác bằng ngoại tệ hay vàng
Do tính chất toàn cầu hóa, thị trường tài chính đã tạo ra những khả năng to lớn để tăng nguồnvốn của các Ngân hàng bằng các ngoại tệ khác nhau Đây là lợi thế to lớn không những đa dạnghóa nguồn vốn và sử dụng vốn bằng các ngoại tệ, mà còn tạo ra những cơ hội để tăng được lợitức đầu tư và giảm được chi phí huy động vốn Ví dụ chúng ta có một bảng cân đối tài sản rútgọn như sau:
Trang 22nhưng trạng thái ngoại tệ của các đồng tiền lại không cân xứng với nhau Mức lãi suất trả chochứng chỉ tiền gửi bằng VND, kỳ hạn 1 năm là 8%; mức lãi suất tín dụng bằng VND, kỳ hạn 1năm, không có rủi ro (tín phiếu kho bạc) chỉ là 10% Chúng ta thấy rằng, nếu Ngân hàng đầu tưvào tài sản có chỉ bằng đồng bản tệ, thì chỉ được hưởng mức chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra là
+2% (10% - 8%) Nhằm đơn giản trong quá trình tính toán, chúng ta giả sử rằng, khoản tín dụng
cho các công ty nước ngoài bằng USD không có rủi ro, mức lãi suất là 15%/năm Muốn đầu tưcho các công ty nước ngoài bằng USD, trước hết Ngân hàng phải chuyển hóa 50% của 2.000 tỷVND thành USD theo tỷ giá giao ngay, và tiến hành cho vay theo các bước giao dịch như sau: Tại thời điểm đầu năm, bán 1.000 tỷ VND để lấy USD Tỷ giá giao ngay lúc bấy giờ là: 1 USD
= 20.385 VND, ta có: 1.000.000 : 20.385 ≈ 49,06 triệu USD
Cho các công ty nước ngoài vay 49,06 triệu USD, kỳ hạn một năm, lãi suất 15%/năm
Tại thời điểm cuối năm (tín dụng đến hạn) thu được cả gốc lẫn lãi là:
49,06 (1 + 0,15) = 56,42 triệu USD
Chuyển hóa số lượng 56,42 triệu USD thu được thành VND theo tỷ giá giao ngay tại thời điểmcuối năm Tỷ giá giao ngay tại thời điểm cuối năm 2010 không thay đổi, tức là 1 USD = 20.385VND, số lượng VND thu được là:
là thấp hơn nhiều so với mua trái phiếu kho bạc bằng nội tệ
Nguyên nhân làm cho Ngân hàng không có lãi nhiều là do USD giảm giá so với VND, đã làmgần như triệt tiêu sự hấp dẫn bởi mức lãi suất cho vay bằng USD cao hơn so với đồng nội tệ Kếtquả là, rủi ro do tỷ giá biến động có thể làm triệt tiêu thu nhập, thậm chí là lỗ đối với một danhmục tài sản bằng ngoại tệ
Ngược lại, nếu USD tăng giá so với VND, ví dụ từ 1 USD = 20.385 VND tăng lên 1 USD =20.955 VND, thì lượng VND gốc và lãi thu được trong trường hợp này là: 56,42 x 20.955 =1.182 tỷ VND
Mức lợi tức tương ứng là 18,2%/năm
Trang 23Trong trường hợp này, Ngân hàng thu được lợi tức kép từ cho vay bằng USD, bao gồm lãi suấtcho vay và phần lên giá của USD so với VND sau một năm đầu tư Mức lợi tức chung cho cảdanh mục đầu tư sẽ là:
(0,5 x 0,10) + (0,5 x 0,182) = 0,141 = 14,1%/năm
Trên thực tế, Ngân hàng không thể biết trước được tỷ giá giao ngay USD/VND biến động nhưthế nào tại thời điểm tín dụng đến hạn, trong khi đó trạng thái ngoại tệ của Ngân hàng là trườngròng 1.000 tỷ quy VND (hay 49,06 triệu USD) chịu rủi ro ngoại tệ Như chúng ta đã phân tíchphần trên, 50% khoản tín dụng bằng USD có thể có mức lợi tức 18,2% nếu USD lên giá từ 1USD = 20.385VND lên 1 USD = 20.955VND; ngược lại, mức lợi tức tín dụng bằng USD cũngchỉ có thể là 8,2% nếu USD giảm giá xuống 1 USD = 19.181VND
2.2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.2.2 Qu n lý r i ro trong ho t đ ng kinh doanh ngo i t ủi ro trong kinh doanh ngoại hối ại hối ộng đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ại hối ệ
2.2.2.1 Qu n lý r i ro trong nghi p v phái sinh ngo i t ản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM ệ ụ phái sinh ngoại tệ ạng thái ngoại tệ ệ
Còn đối với nghiệp vụ phái sinh ngoại tệ, nghiệp vụ tài chính phái sinh đã xuất hiện ở Việt Nam
từ những năm 1990, chủ yếu là tại các Ngân hàng có giao dịch với các Ngân hàng nước ngoài.Một số Ngân hàng lớn như: Vietcombank, BIDV, Vietinbank, cũng đã triển khai chủ yếu cácnghiệp vụ như: mua bán ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi, hợp đồng tương lai, quyền chọn cho cácdoanh nghiệp có nhu cầu sử dụng ngoại tệ và trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong thanh toán quốc tế.Tuy nhiên, các sản phẩm công cụ phái sinh hiện nay tại Eximbank còn ít, chưa thu hút được cácdoanh nghiệp sử dụng, vì thế, thu nhập từ các công cụ phái sinh còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trongtổng thu nhập của Ngân hàng
Hiện nay dù có tham gia vào một số nghiệp vụ phái sinh nhưng Eximbank chỉ chú ý đến việcmua bán ngoại tệ nhằm mục đích đáp ứng cho thanh toán quốc tế, vay và cho vay ngoại tệ màhầu như không thực hiện bảo hiểm tỷ giá nên trong KDNH thì các NHTM đóng vai trò chủ yếu
là trung gian giao dịch để hưởng chênh lệch giá hơn là những nhà tạo lập thị trường Chính vì lẽ
đó, các NHTM nói chung và Eximbank nói riêng còn yếu về phân tích tỷ giá mà đặc biệt là vềphân tích kỹ thuật Đó cũng là lý do vì sao mà ngân hàng không mạnh về kinh doanh đầu cơ màchủ yếu chỉ kinh doanh cho khách hàng nhằm hưởng chênh lệch giá, cho nên, hầu như cácEximbank giữ trạng thái tự doanh ngoại tệ rất ít, và đa phần cũng mua bán các giao dịch pháisinh ngoại tệ trong nước với các đối tác nước ngoài nhằm hưởng chênh lệch giá, tùy thuộc vàotừng thời kỳ theo quyết định của Hội đồng Quản trị và Ban Tổng giám đốc Ngân hàng Từ đó rủi
ro xảy ra cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ mặt hay ngoại tệ phái sinh rất ít khi xảy ra hoặc nếu
có xảy ra thì cũng trong chừng mực kiểm soát được.Hoạt động tự doanh của Eximbank cũng nhưviệc thực hiện các giao dịch phái sinh của Ngân hàng hay doanh nghiệp với doanh số rất ít trongthời gian vừa qua cũng xuất phát từ nhiều nguyên nhân
Trước hết, chúng ta nhận thấy rằng các nghiệp vụ phái sinh trên là các nghiệp vụ hiện đại, phứctạp nên đòi hỏi đội ngũ nhân viên Ngân hàng phải có trình độ chuyên môn cao mới có thể tư vấncho các doanh nghiệp; đồng thời việc quảng bá, giới thiệu của Ngân hàng đến doanh nghiệp chưarộng rãi, nên doanh nghiệp chưa biết hoặc không mặn mà với các dịch vụ mới về công cụ pháisinh của Ngân hàng Hơn nữa, tỷ giá USD/VNĐ đang có xu hướng ổn định trong những năm vừaqua, đặc biệt là nữa năm đầu của năm 2010 và những tháng đầu năm 2012 cũng là một lý do.Mặc dù tỷ giá USD/VNĐ biến động thường xuyên qua các năm theo chiều hướng đồng Việt