1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tài liệu mua bán sáp nhập (3)

29 386 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 249,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục 13 Quy định nội dung và thời hạn nộp các báo cáo lên SEC Mục 14 Quy định về công khai thông tin trong trường hợp ủy quyền Mục 16a Quy định về giao dịch nội gián và người trong nội bộ

Trang 1

Khung pháp lý của hoạt động mua bán, sáp nhập

I Luật pháp về M&A tại Hoa Kỳ

Các vụ vi phạm về giao dịch chứng khoán liên quan đến hoạt động M&A luôn là đề tàinóng hổi trên các báo Chẳng hạn, một câu chuyện trên tạp chí Wall Street Journal ngày10/05/1996 về việc giải quyết vụ giao dịch nội gián liên quan đến lời đề nghị thầu bấtthành của Microsoft nhằm mua lại Intuit Ủy ban chứng khoán (SEC) buộc tội vợ củagiám đốc tài chính Intuit đã tiết lộ cho người thân về đề nghị của Microsoft Để giảiquyết vụ này, sáu bị cáo đã đồng ý trả 472.342 USD tiền phạt mà không thừa nhận haychối cãi lời buộc tội Chương này sẽ trình bày chi tiết các quy luật của cuộc chơi liênquan đến giao dịch chứng khoán và hoạt động M&A

1 Các quy định về chứng khoán

Các luật chứng khoán Liên bang

Luật chứng khoán (1933) Ngăn chặn việc chào bán cổ phiếu ra công chúng khi chưa

có hồ sơ đăng ký; quy định những tài liệu bắt buộc phảinộp và chế tài cho hành vi không tuân thủ

Luật giao dịch chứng

khoán (1934)

Lập ra Ủy ban chứng khoán (SEC) nhằm quản lý hoạtđộng giao dịch chứng khoán Trao cho SEC quyền hủyđăng ký của một chứng khoán nếu công ty phát hành viphạm bất kỳ điều khoản nào của Luật

Mục 13 Quy định nội dung và thời hạn nộp các báo cáo lên SEC

Mục 14 Quy định về công khai thông tin trong trường hợp ủy

quyền

Mục 16(a) Quy định về giao dịch nội gián và người trong nội bộ

Mục 16(b) Quy định các quyền hạn của nhà đầu tư trước những giao

dịch nội gián

Trang 2

Đạo luật William (1968) Điều chỉnh các vụ M&A dưới dạng đề nghị thầu

Mục 13D Quy định về công khai thông tin

Đạo luật Sarbanes-Oxley

(2002)

Đưa ra những cải cách sâu rộng về pháp lý liên quan đếncông khai số liệu tài chính, quản lý, các chuẩn mực kiểmtoán, các báo cáo tài chính và giao dịch nội gián

Các luật chống độc quyền Liên bang

Đạo luật Sherman (1890) Chính thức coi việc “cản trở kinh doanh” là bất hợp pháp

Thiết lập khung hình phạt cho những hoạt động hạn chếcạnh tranh

Mục 1 Coi các vụ sáp nhập dẫn tới độc quyền hay thống lĩnh thị

trường là bất hợp pháp

Mục 2 Áp dụng cho những công ty có tầm ảnh hưởng lớn trên thị

trường nhằm ngăn cảnh những công ty này có những hành

vi cản trở thương mại hay hạn chế cạnh tranh

Đạo luật Clayton (1914) Bổ sung thêm các hành vi bị cấm cho Đạo luật Sherman

như chính sách phân biệt giá, các hợp đồng độc quyền, cáchợp đồng trói buộc và đưa ra những chế tài dân sự chohành vi cản trở cạnh tranh bất hợp pháp Đạo luật cũng đưa

ra các quy định về quản lý trong các vụ sáp nhập

Đạo luật

Hart-Scott-Rodino (1976)

Yêu cầu một khoảng thời gian chờ đợi trước khi mộtthương vụ M&A có thể hoàn thành và nêu ra các dữ liệupháp lý cần đệ trình

Mục I Quy định các tài liệu cần đệ trình

Mục II Quy định xem ai và khi nào sẽ đệ trình

Mục III Cho phép các luật sư đại diện những bên có lợi ích bị xâm

hại có quyền kiện và đòi bồi thường gấp ba lần tổn thất mà

họ phải gánh chịu

Trang 3

1.1 Các luật chứng khoán chính

Luật chứng khoán 1933 (Securities Act of 1933 - SA)

Quốc hội Mỹ ban hành Luật chứng khoán 1933 sau những hậu quả tai hại của sự sụp đổthị trường chứng khoán năm 1929 và thời kỳ Đại khủng hoảng 29-33 Đạo luật này điềuchỉnh việc chào bán chứng khoán mới ra công chúng Theo đó, tất cả chứng khoántrước khi chào bán ra công chúng phải được đăng ký với chính phủ Việc đăng ký đòihỏi nhưng không đảm bảo chắc chắn những thông tin cung cấp trong tài liệu đăng ký vàbản cáo bạch là xác đáng và tin cậy Tất cả những người liên quan đến việc chuẩn bịcác báo cáo đăng ký đều chịu trách nhiệm pháp lý nếu các báo cáo sai sự thật hoặc bỏsót thông tin thiết yếu Chế tài cho việc đưa ra những tài liệu sai lệch có thể là phạt tiền,phạt tù thậm chí cả hai Các thông tin cần cung cấp bao gồm mô tả về công ty và chứngkhoán phát hành, thông tin về ban điều hành và báo cáo tài chính đã được kiểm toán.Đạo luật có trách nhiệm chính đối với việc ghi nhận thông tin Mục 5 ngăn cấm việcbán chứng khoán ra công chúng mà chưa có bản đăng ký Mục 8 quy định về đăng ký

và cho phép bản đăng ký tự động có hiệu lực 20 ngày sau khi nộp cho cơ quan quản lý,hiện nay là Ủy ban Chứng khoán (Stock Exchange Commission - SEC) Tuy nhiên SEC

có quyền hoãn hoặc dừng quy trình đăng ký bằng cách yêu cầu cung cấp thêm thôngtin

Luật giao dịch chứng khoán 1934 (SEA)

SEA mở rộng các yêu cầu công khai thông tin, không chỉ áp dụng cho các chứng khoánmới phát hành như trong SA mà còn bao gồm cả những chứng khoán đang giao dịchtrên các Sở Năm 1964, phạm vi áp dụng được mở rộng bao gồm cả những chứngkhoán đang giao dịch trên thị trường OTC Ngoài ra, đạo luật cấm các công ty môi giớicấu kết với công ty phát hành và những người có liên quan thực hiện các hành vi giandối, chẳng hạn như giao dịch nội gián Đạo luật đã thành lập nên Uỷ ban chứng khoánliên bang (SEC) để quản lý thị trường và điều chỉnh các hoạt động mua, bán chứng

Trang 4

khoán theo luật Cũng chính đạo luật đã cung cấp cơ sở cho những sửa đổi được ápdụng cho các hoạt động sáp nhập công ty

Yêu cầu đăng ký khi tiến hành M&A

Các công ty có tài sản hơn 10 triệu USD và nhiều hơn 500 cổ đông sẽ phải đăng ký khithực hiện M&A Ngay cả khi các bên tham gia thương vụ đều là công ty phi đại chúng,thương vụ M&A vẫn phải chịu điều tiết của Luật chứng khoán Liên bang nếu một phầncủa giá trị mua được tài trợ bởi một vụ phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO)hay phát hành trái phiếu của công ty mua

Mục 13 Các báo cáo định kỳ

Mẫu 10K hay báo cáo thường niên thực hiện tóm tắt và dẫn các số liệu về tình hình tàichính của công ty trong năm trước đó Bốn báo cáo tài chính cốt yếu cần phải đính kèmbao gồm bảng cân đối kế toán, cáo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo thu nhập giữ lại vàbáo cáo lưu chuyển tiền tệ Các báo cáo này phải được dẫn chứng đầy đủ về chế độ kếtoán, quy trình, tính toán và các thương vụ ở bên dưới mỗi báo cáo Mẫu 10K cũng mô

tả tương đối cụ thể về doanh nghiệp, về thị trường hoạt động, các sự kiện lớn và tácđộng của chúng tới doanh nghiệp, các đối thủ cạnh tranh chính và mức độ cạnh tranhcủa thị trường Mẫu 10Q tương tự mẫu 10K nhưng là báo cáo theo quý và nội dung súctích hơn

Nếu một vụ mua lại được nhận định là quan trọng, Mẫu 8K phải được nộp cho SECtrong vòng 15 ngày Mẫu 8K mô tả những tài sản được mua, giá kỳ vọng và cung cấpthông tin về người mua chúng Đồng thời, trong Mẫu 8K cũng có thông tin về bên cungcấp vốn cho thương vụ mua lại và các báo cáo tài chính của công ty mua Một vụ mualại được coi là có tính quan trọng nếu quyền lợi của cổ đông trong tài sản được mua haygiá mua vượt quá 10% giá trị sổ sách của tài sản đó

Mục 14 Các thông báo mời ủy nhiệm

Trước các cuộc họp cổ đông, họ phải được cung cấp một báo cáo uỷ nhiệm có chứa cácthông tin cụ thể Theo Quy tắc 14a-8 của SEA, bất kỳ người nắm chứng khoán nàocũng có thể yêu cầu ban quản lý đưa các đề xuất của mình để thực hiện trong báo cáo

Trang 5

uỷ nhiệm Nếu nhà quản lý phản đối đề xuất đó, họ phải đưa vào tài liệu uỷ nhiệm mộtbáo cáo không quá 200 từ của người nắm chứng khoán.

Những quy định về giao dịch nội gián

Giao dịch nội gián là việc những cá nhân mua hoặc bán chứng khoán dựa trên thông tinkhông công khai với công chúng Xét về lịch sử, giao dịch nội gián đã được kiểm soátbởi SEA 1934 Mục 16a định nghĩa những “người trong nội bộ” là các nhân viên công

ty, ban điều hành và bất kỳ ai sở hữu 10% cổ phiếu của công ty trở lên Đạo luậtSarbanes-Oxley (SOA) năm 2002 đã sửa đổi và bổ sung Mục 16a của SEA bằng cáchbắt buộc những “người trong nội bộ” nếu có thay đổi về tỷ lệ sở hữu phải công khaitrong vòng 2 ngày làm việc kể từ thời điểm giao dịch, thay vì 1 tháng như quy định củaSEA trước kia Ngoài ra, SOA còn yêu cầu những thay đổi về tỷ lệ sở hữu đó phải được

đệ trình bằng cả các phương tiện điện toán, chứ không chỉ trên giấy Ủy ban chứngkhoán (SEC) buộc phải đăng đệ trình đó lên mạng Internet trong vòng 01 ngày kể từthời điểm nhận được

SEC là cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra về hoạt động giao dịch nội gián Quy tắc10(b)-5 do SEC ban hành dưới quyền hạn được chấp nhận bởi SEA 1934 nghiêm cấmcác hoạt động gian dối liên quan đến các hoạt động kinh doanh chứng khoán

Quy tắc 10(b)-5: “Việc sử dụng bất kỳ phương thức hay công cụ thương mại giữa các

bang, hoặc sử dụng thư từ, hoặc các trang thiết bị của bất kỳ thị trường chứng khoánquốc gia nào để làm những việc sau đây sẽ bị coi là trái pháp luật:

(1) áp dụng bất kỳ phương sách, mưu kế hoặc thủ đoạn nào để gian dối

(2) đưa ra thông tin sai lệch về một thực tế hoặc để bỏ qua việc khai báo về một thực

tế cần thiết

(3) tham gia vào bất kỳ hành động gian lận hoặc dối trá liên quan đến việc mua hoặcbán bất kỳ chứng khoán nào

Ngoài ra, SEC đã thông qua Quy tắc 14(e)-3 để áp dụng cho việc giao dịch nội gián,

đặc biệt trong khuôn khổ một đề nghị thầu Cụ thể: cấm “các giao dịch về chứng khoántrên cơ sở các thông tin không công khai trong khuôn khổ các đề nghị thầu” Khi một

Trang 6

đề nghị thầu bắt đầu có hiệu lực, quy tắc này cấm việc mua bán của bất kỳ người nàotrên cơ sở các thông tin không công khai mà người này biết hoặc có lý do để biết, và đó

là các thông tin được mua trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đề nghị thầu, người pháthành chứng khoán, nhân viên, giám đốc hay bất kỳ người nào thay mặt cho người đềnghị thầu Việc mua bán sẽ bị cấm đến một thời điểm thích hợp sau khi thông tin đó đãđược công bố công khai

Mục 16 Công khai thông tin do người trong cuộc

Phần 16 của Đạo luật trao đổi chứng khoán năm 1934 có mục đích hạn chế những muabán nội bộ thông qua việc yêu cầu những người trong cuộc có thẩm quyền báo cáo tất

cả mọi giao dịch chứng khoán và cấm người trong cuộc giữ lại lợi nhuận từ bất kỳ vụmua và bán chứng khoán của công ty mình trong thời gian 6 tháng Những thay đổi tựnguyện về sở hữu cổ phiếu phải được công khai chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ cuốitháng diễn ra giao dịch này

Đạo luật Williams (1968)

Quy định về đề nghị thầu

Trước những năm 60, hầu hết các vụ kết hợp tổ hợp đều là các vụ sáp nhập mang tính

“thân thiện”, khi các bên đều đồng ý kết hợp Trong làn sóng kết hợp tổ hợp(conglomerate wave) những năm 60, việc thâu tóm mang tính thù địch bắt đầu diễn ra.Một số vụ diễn ra một cách thân thiện và không khác nhiều so với sáp nhập Trong khi

có rất nhiều vụ mang tính thù địch và gây chia rẽ trong cộng đồng kinh doanh

Tháng 10/1965, thượng nghị sĩ Harrison Williams đã đưa ra một dự luật nhằm bảo vệcác công ty mục tiêu Những nỗ lực ban đầu này đã thất bại nhưng nỗ lực thứ hai củaông đưa ra năm 1967 đã thành công Đạo luật Williams dưới hình thức các bổ sung choĐạo luật trao đổi chứng khoán 1934 (SEA) đã trở thành luật ngày 29/7/1968 Mục tiêucủa nó là bảo vệ các cổ đông công ty mục tiêu khỏi các vụ tiếp quản nhanh chóng và bímật theo ba cách:

Trang 7

- Cung cấp nhiều thông tin trong quá trình tiếp quản để các cổ đông và nhà quản

lý công ty mục tiêu có thể sử dụng để đánh giá các đề nghị giá tốt;

- Yêu cầu có một thời hạn tối thiểu bắt buộc phải công khai đề nghị thầu, do đó sẽtrì hoãn được việc thực hiện đề nghị thầu;

- Cho phép các công ty mục tiêu có quyền kiện các công ty tham gia thầu

Mục 13(d) và 14(d) là 2 mục chủ yếu tác động tới hoạt động M&A trong Đạo luật Cácquy định trong đạo luật được áp dụng cho tất cả các dạng đề nghị thầu bao gồm: đềnghị thầu có sự thỏa thuận với ban điều hành (bear hug), đề nghị thầu mua lại chính cổphiếu công ty mình hoặc đề nghị thầu bị phản đối bởi công ty mục tiêu

Các yêu cầu công khai tỷ lệ sở hữu

Mục 13(d) yêu cầu bất kỳ người nào đã mua 10% hoặc nhiều hơn số cổ phiếu của mộtcông ty đại chúng phải nộp một bản báo cáo lên SEC trong vòng 10 ngày kể từ ngàyvượt ngưỡng 10% Từ năm 1970 ngưỡng 10% giảm xuống còn 5%, và về cơ bảnngưỡng này cung cấp cho cổ đông một hệ thống cảnh báo sớm

Trong Mục 13(g), cổ phiếu tích lũy bởi các bên liên quan như các nhà môi giới hay cácngân hàng đầu tư làm đại diện cho cá nhân hay công ty đều bị tính vào ngưỡng 5%.Điều này ngăn ngừa một vụ mua lại thông qua việc tích lũy hơn 5% cổ phiếu của cácbên liên quan nhằm tránh quy định phải công bố

Thông tin yêu cầu cung cấp trong Mục 13(d) bao gồm thông tin về người mua, nghềnghiệp, nguồn tài chính để mua và mục đích của việc mua lại Nếu mục đích là để kiểmsoát công ty mục tiêu, người mua phải tiết lộ kế hoạch kinh doanh dự kiến cho công tymục tiêu Kế hoạch đó có thể là giải thể công ty, ngừng trả cổ tức, sự tái điều chỉnh vốnhoặc ý định sáp nhập với một công ty khác Mặt khác, việc mua lại cổ phiếu cũng cóthể chỉ đơn thuần vì mục đích đầu tư

Mục 14(d) Khuôn khổ pháp lý cho các vụ đề nghị thầu

Trang 8

Mặc dù Mục 14(d) của Đạo luật William chỉ liên quan đến các vụ đề nghị thầu, song nó

có thể được áp dụng cho bất kỳ hình thức mua lại nào, bao gồm cả ngưỡng cảnh báo5%

Nghĩa vụ của bên mua: Mục 14(d) quy định khi một công ty tiến hành đề nghị thầu để

mua lại công ty khác, phải trình bày rõ trong Báo cáo đề nghị thầu những dự định và kếhoạch kinh doanh đối với công ty mục tiêu cũng như bất kỳ quan hệ hay thoả thuận nàogiữa hai công ty Kế hoạch này phải được nộp cho SEC ngay ngày bắt đầu đề nghị thầu.Các bản sao phải được trao tận tay tới công ty mục tiêu và tới bất kỳ đối thủ thầu cạnhtranh nào; thậm chí cả các thị trường chứng khoán có liên quan cũng phải được thôngbáo qua điện thoại và gửi thư sau đó

Nghĩa vụ của công ty mục tiêu: Đặc biệt trong Mục 14(d) quy định ban điều hành công

ty mục tiêu bị cấm tư vấn các cổ đông của họ về cách phản ứng với một đề nghị thầucho đến khi chính họ nộp báo cáo (gọi là báo cáo khuyến nghị) lên SEC Trước thờiđiểm đó, họ chỉ có thể tư vấn các cổ đông trì hoãn việc bán cổ phiếu trong khi các nhàquản lý đang cân nhắc đề nghị thầu Các công ty tự nhận thấy mình có nguy cơ bị thâutóm thường đề phòng bằng cách chuẩn bị sẵn một mẫu kế hoạch dưới dạng “điền vàochỗ trống” để có thể nộp ngay lập tức khi phát hiện bất kỳ một mối đe doạ thâu tómnào, nhờ đó các nhà quản lý có thể nhanh chóng đưa ra khuyến nghị đối với các cổđông

Quyền của cổ đông: Mục 14(d) (4)-(7) Lời đề nghị thầu phải được mở trong ít nhất 20

ngày giao dịch Công ty mua phải chấp nhận mua tất cả cổ phiếu mà các cổ đông đồng

ý bán trong thời gian này Công ty đưa ra đề nghị thầu có thể kéo dài thời hạn 20 ngàynếu chưa mua đủ số lượng cần thiết Công ty mua sẽ phải mua cổ phiếu với giá đã đềnghị, ít nhất là với tỷ lệ đã chào mua, trừ phi công ty không nhận được đủ lượng cổphiếu yêu cầu Vụ đề nghị thầu còn phụ thuộc vào việc liệu nó có giành được sự ủng hộcủa các cơ quan như Bộ Tư pháp (DoJ) và Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) haykhông Các cổ đông cũng có quyền rút các cổ phiếu mà họ đã đồng ý bán trước đó,miễn là trong khoảng thời gian lời đề nghị thầu còn hiệu lực Luật cũng quy định rằng,

Trang 9

nếu có thêm một lời đề nghị thầu từ một bên thứ ba, cổ đông công ty mục tiêu phải cóthêm 10 ngày để cân nhắc.

Quy tắc “giá tối ưu”: Quy tắc này đòi hỏi trong một vụ đề nghị thầu, công ty mua phải

trả cùng một mức giá cho các cổ đông công ty mục tiêu Quy tắc “giá tối ưu” khôngnhất thiết phải áp dụng trong các vụ đề nghị thầu mà một cổ đông lớn, một nhóm trongban điều hành hay một bên thứ ba đưa ra lời đề nghị mua lại tất cả cổ phiếu đang lưuhành với một tỷ lệ tối thiểu cần mua Một khi đã đạt được ngưỡng tối thiểu này, bênmua có thể thực hiện một vụ sáp nhập nhanh chóng và mua đứt những cổ phần còn lại.Trong những trường hợp như thế, các tòa án đưa ra một thông lệ rằng cổ đông đa sốkhông bắt buộc phải mua nốt số cổ phiếu còn lại bằng mọi giá, trừ phi có bằng chứngchứng minh các thông tin cụ thể liên quan đến vụ đề nghị thầu đã bị che giấu hay bị bópméo Các công ty mua thường đặt giá mua hai bậc, theo đó cổ đông công ty mục tiêu sẽbán được với giá cao hơn nếu họ chấp nhận bán ngay ở bậc đầu tiên Quy tắc “giá tốiưu” trong trường hợp này đơn giản chỉ quy định những cổ đông đã đồng ý bán cổ phiếu

ở bậc thứ nhất phải cùng được trả theo giá đề nghị ở bậc thứ nhất và những cổ đôngđồng ý bán ở bậc thứ hai thì cùng được trả theo giá chào ở bậc thứ hai

Đạo luật trừng phạt giao dịch nội gián năm 1984 (Insider Trading Sanctions Act of

1984 – ITSA)

Đây cũng là một đạo luật bổ sung cho SEA 1934 Những người mua bán thông tin chưađược công khai có thể bị buộc phải nộp lại khoản lợi nhuận phi pháp và trả mức phạtgấp ba lần số tiền mà họ thu được nhờ các hoạt động phi pháp của mình

Cho đến nay SEC vẫn chưa đưa ra định nghĩa về giao dịch nội gián Do đó hiện naySEC có 3 phần lớn có quy định về giao dịch nội gián, gian lận hay lợi nhuận bất hợppháp Quy tắc 10(b)-5 nhấn mạnh vào gian lận và dối trá Quy tắc 14(e)-3 áp dụng trựctiếp hơn cho các đề nghị thầu Đạo luật trừng phạt mua bán nội bộ năm 1984 áp dụngcho các giao dịch nội gián một cách tổng quát hơn Sự nhập nhằng về ba nguồn quyềnlực mà SEC có thể sử dụng trong các quy định về giao dịch nội gián đã cho phép SEC

có thể tự ý quyết định khởi tố bất kỳ hành động hay vụ việc nào

Trang 10

Đạo luật Sarbanes – Oxley (Sar-box, 2002)

Đạo luật Sarbanes-Oxley được ký sau những vụ bê bối lớn tại những tập đoàn khổng lồnhư Enron, MCI WorldCom, ImClone, Qwest, Adelphia và Tyco Đạo luật đề cập đếnnhiều vấn đề, từ công khai tài chính đến các hoạt động kiểm toán và cả vấn đề quản trịdoanh nghiệp Mục 302 của đạo luật yêu cầu các Giám đốc điều hành (CEO) và Giámđôc tài chính (CFO) phải công khai sự quản lý và các thủ tục, đông thời phải cùng kýxác nhận vào báo cáo tài chính hàng quý của công ty Mục này bắt đầu có hiệu lực từtháng 9/2002

Mục 404 yêu cầu các công ty đại chúng hàng năm phải chứng nhận hệ thống kiểm soátnội bộ được thiết kế và hoạt động hiệu quả, Mục này bắt đầu có hiệu lực từ 15/11/2004.Luật này kết hợp với những điều kiện niêm yết ở các Sở giao dịch chứng khoán, yêucầu phải có nhiều hơn các thành viên trong Ban điều hành không làm việc cho công ty(được gọi là những thành viên độc lập) Ngoài ra, đạo luật quy định hội đồng kiểm toánphải có ít nhất một chuyên gia tài chính trong khi toàn bộ hội đồng phải xem xét lại cácbáo cáo tài chính hàng quý sau khi CEO và CFO đã ký xác nhận Các thành viên độclập trong ban điều hành được khuyến khích hoạt động tách biệt khỏi hoạt động quản lýthường xuyên

Coates (2007) tranh luận rằng SOA đưa ra một khả năng để giảm thiểu những rủi rothua lỗ trong đầu tư do sự gian dối hay biển thủ thông tin Đạo luật đồng thời cũng làmgia tăng độ tin cậy của các thông tin tài chính được công bố và tăng tính minh bạchtrong các báo cáo tài chính cũng như trách nhiệm giải trình của các công ty Điều nàygiúp các công ty giảm chi phí vốn và nền kinh tế sẽ được lợi nhờ việc phân bổ vốn hợp

lý hơn Tuy nhiên, những hoạt động thái quá của một số các định chế tài chính (nhưAIG, Bear Stearns và Lehman Brothers) trong những năm gần đây làm dấy lên nghingại về việc SOA liệu đã thực sự hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu về minhbạch và trách nhiệm giải trình

Trang 11

Những chi phí liên quan đến việc thực hiên SOA là khá lớn Ngày càng nhiều bằngchứng cho thấy những chi phí giám sát quy định bởi SOA đã trở thành một nhân tốđáng kể trong nhiều công ty nhỏ từ khi đạo luật được thông qua.

Ảnh hưởng của SOA đến M&A

Mặc dù đạo luật không đề cập trực tiếp song nó có những tác động đáng kể đến hoạtđộng M&A Các công ty mua sẽ thực hiện rà soát kỹ càng hơn với những công ty mụctiêu có hệ thống kiểm soát nội bộ yếu Việc rà soát chắc chắn sẽ phức tạp và đòi hỏinhiều thời gian hơn Điều này đặc biệt đúng với những công ty mục tiêu có ý nghĩa lớnvới công ty mua Thời gian yêu cầu báo cáo xác nhận trong Mục 302 và 404 càng làmtăng thêm độ chậm trễ trong việc kết thúc thương vụ Việc một công ty không tuân theoMục 302 và 404 có thể làm suy giảm sự tín nhiệm của ban điều hành và SEC có thể tiếnhành điều tra

1.2 Các yêu cầu công khai thông tin khác

Các quy định và luật đã được áp dụng cho tất cả các giai đoạn của một hoạt động muabán chứng khoán nói chung Tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu các khía cạnh khác của việccông khai thông tin trong đó có việc giải thích và thực hiện các quy định

Các yêu cầu công khai của thị trường chứng khoán

Bên cạnh các yêu cầu thông báo và công khai thông tin theo các quy định về chứngkhoán của liên bang, bản thân các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) cũng có nhữngyêu cầu riêng về công khai thông tin đối với các công ty niêm yết Nhìn chung các quyđịnh này rốt cuộc đều yêu cầu thông báo cho SGDCK kịp thời các diễn biến quan trọng

có thể có ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng mua bán hay giá cả cổ phiếu của các công

ty niêm yết

Thông thường các Sở giao dịch thường lưỡng lự trong việc tạm ngừng giao dịch một cổphiếu, chủ yếu vì các tổ chức đầu tư vẫn có thể trao đổi trên “thị trường thứ ba” tronggiai đoạn đó Tuy nhiên đôi khi họ làm như vậy để cho công chúng có đủ thời gian đểlĩnh hội được các thông tin có thể gây ra sự mất cân đối trong các lệnh trên thị trường

Trang 12

chứng khoán Đôi khi chính các công ty lại chủ động đề nghị sự tạm ngừng giao dịchnày và coi đây như một chiến lược phòng thủ để có thêm thời gian tìm ra một nhà thầukhác (một “hiệp sĩ áo trắng”) hoặc để đẩy giá thầu ban đầu lên cao hơn Kết quả làSGDCK New York đã thực thi một chính sách hạn chế thời gian của việc tạm ngừngnhư vậy Khi có yêu cầu tạm ngừng, một công ty có 30 phút để công bố tin tức củamình, sau đó Sở giao dịch chứ không phải công ty sẽ quyết định thời điểm giao dịch trởlại.

Công khai về các cuộc thương lượng sáp nhập

Ngày 4/4/1988, Toà án tối cao Hoa Kỳ đã thông qua quy định với tỷ lệ 6-0, theo đó cácnhà đầu tư có thể đòi bồi thường thiệt hại từ một công ty đã cố tình phủ nhận việc mình

có tham gia vào các thương lượng dẫn tới một vụ sáp nhập sau đó Sự phủ nhận đó cóthể coi là việc đưa thông tin sai lệch về một vụ sáp nhập sắp diễn ra, điều này sẽ đem lạicho các nhà đầu tư, những người đã bán cổ phiếu đi trong giai đoạn này, một căn cứ đểgiành được tiền bồi thường từ công ty

Năm 1976, các thành viên Ban giám đốc của Combustion Engineering bắt đầu thươngthảo nhằm mua lại Basic Inc Các cuộc thương lượng đã diễn ra trong suốt năm 1977 vàsang đầu 1978 khi cổ phiếu của Basic được bán với giá chưa đầy 20 USD/cổ phiếu Giá

cổ phiếu bắt đầu tăng lên để phản ứng lại với những lời đồn đại về vụ sáp nhập, Basic

đã đưa ra ba tuyên bố công khai trong đó khẳng định lãnh đạo công ty không biết gì vềbất cứ lý do nào khiến giá cổ phiếu tăng lên Họ đưa ra lời phủ nhận vào cuối tháng11/1978

Vào tháng 12/1978, Ban giám đốc của Basic đã bỏ phiếu thông qua việc bán lại công tycho Combustion Engineering với giá 46 USD/cổ phiếu Một số cổ đông đã phát đơnkiện Ban giám đốc của Basic vì cho rằng những thông tin sai lệch đã khiến cho họ bán

cổ phiếu của mình với giá thấp trước vụ sáp nhập Một thẩm phán Toà án quận ởCleverland đã khước từ vụ kiện nhưng năm 1986, một toà phúc thẩm liên bang đã dựnglại vụ kiện này với lập luận những tuyên bố của công ty đó rất quan trọng nhưng lại sailệch Toà Tối cao đã đưa vụ này về cho Toà án quận để giải quyết Quyết định của ToàTối cao do thẩm phán Blackmun viết đã nêu rõ các luật về chứng khoán của liên bang

Trang 13

đều quy định các nhà đầu tư phải được thông báo “về những diễn biến quan trọng”.

“Quan trọng” là gì còn phụ thuộc vào các tình tiết của vụ án, nhưng Ban giám đốc công

ty không được phủ nhận về các cuộc thương lượng sáp nhập khi đã tới thời điểm Bangiám đốc ra nghị quyết, công ty đã có những hướng dẫn gửi các ngân hàng đầu tư vàcác cuộc thương lượng thực tế giữa hai bên Trong lời chú thích, thẩm phán Blackmun

ám chỉ rằng việc từ chối bình luận có thể bảo vệ cho Ban giám đốc Rõ ràng im lặngkhông phải là đưa thông tin sai lệch theo quy định của Quy tắc 10(b)-5 của Đạo luậttrao đổi chứng khoán 1934 Điều này được giải thích là hoặc Ban giám đốc phải giấukín thông tin đến mức không thể có một tin đồn nào nảy sinh, hoặc khi thông tin bị rò

rỉ, Ban giám đốc phải có những tuyên bố chính xác về thông tin đó Quy định này xem

ra là rất nhất quán với tinh thần của các luật và quy định liên bang điều chỉnh các giaodịch chứng khoán Sáp nhập rõ ràng là một lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt bởi nóthường đi kèm những dao động lớn về giá cả

1.3 Các trường hợp ra tòa và quy định của SEC

Đến đây ta đã tìm hiểu về các quy định chính của luật pháp Hoa Kỳ nêu rõ các yếu tốcủa các vụ gian lận và giao dịch nội gián liên quan đến những giao dịch chứng khoán

và hoạt động M&A Ý nghĩa đầy đủ của các đạo luật này được thể hiện qua cách giảithích của Toà án và các quy định của SEC nhằm thực hiện quyền lực mà các đạo luậtnày quy định cho SEC

Trách nhiệm theo Quy tắc 10(b)-5

Như đã nêu ở trên, Quy tắc 10(b)-5 do SEC ban hành theo thẩm quyền có được thôngqua SEA 1934 Quy tắc này là một quy định rất rộng, mạnh và tổng quát về chống gianlận chứng khoán Nhìn chung để áp dụng Quy tắc 10(b)-5 phải có sự liên quan của ítnhất một chứng khoán (bao gồm cả chứng chỉ quỹ), và khi đó tất cả các giao dịch đềuchịu sự điều chỉnh của Quy tắc này cho dù là giao dịch trực tiếp hay qua sàn Một sốyếu tố dẫn đến tố tụng được đặt ra trong mối quan hệ với Quy tắc 10(b)-5 như sau:

Trang 14

 Phải có sự gian lận, báo cáo sai lệch, bỏ sót thông tin quan trọng hoặc lừa dốiliên quan đến việc mua hoặc bán chứng khoán.

 Việc báo cáo sai lệch hoặc bỏ sót thông tin phải liên quan đến một sự thật tráingược với báo cáo Tuy nhiên, những dự báo không chính xác về sô tiền kiếmđược cũng có thể bị coi là báo cáo sai lệch và việc không công khai các diễn biếntương lai cũng có thể bị thách thức

 Việc báo cáo sai hoặc bỏ sót thông tin phải mang ý nghĩa quan trọng đối vớiquyết định của nhà đầu tư

 Cần phải có chứng cứ rõ ràng là bên nguyên đã thực sự tin vào những báo cáosai lệch và coi đó là một nhân tố quan trọng để ra quyết định giao dịch

 Bên nguyên phải là một người mua hoặc người bán thực tế để có thể tham gia tốtụng

 Sự gian lận hay lừa dối của bị cáo phải có mối quan hệ gần gũi đủ để Tòa án coigian lận của bị cáo “có liên quan” đến việc mua hay bán của nguyên đơn

 Nguyên đơn phải chứng minh được rằng bị cáo đã “cố ý” chứ không phải là “sơsuất” Tức là bị cáo có hiểu biết nhất định đủ để cá nhân mình chịu trách nhiệm

về hậu quả mà hành động của mình gây ra và người này thực sự có ý đồ lừa dốihoặc gian lận

Những yếu tố nói trên chính là những điều kiện cho một vụ kiện thành công theo Quytắc 10(b)-5 Một số yếu tố đã được phát triển thêm trong quá trình đưa ra quyết định củaTòa án Đối tượng chính của Quy tắc 10(b)-5 là gian lận và lừa dối

Ngoài việc được sử dụng trong các vụ án về gian lận hoặc lừa dối, một số vụ án thú vịcũng cho thấy ý nghĩa và tính ứng dụng của Quy tắc 10(b)-5 trong các vụ giao dịch nộigián Cho đến nay giao dịch nội gián vẫn chỉ được coi là việc một số người thực hiệnmua hoặc bán những thông tin mà người họ làm ăn cùng hoặc những nhà đầu tư nóichung không có được Tuy nhiên còn có nhiều quyết định của tòa án về nội dung giaodịch nội gián và đã có rất nhiều đề án gửi Quốc hội để làm rõ ý nghĩa của thuật ngữnày

Ngày đăng: 24/10/2016, 20:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w