1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ

57 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 441 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vào năm 1872, phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời tại Đại học Harvard, Hoa Kì và sau đó được áp dụng ở nhiều nước khác, trước hết là các nước Tây Âu từ những năm 1960 và hiện nay đã phổ biến trên toàn thế giới. Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi trong mọi trường đại học ở Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình như Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan… Ở Việt Nam, từ năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đại học giảm dần, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chủ trương thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ. Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chế từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản Nha Trang v..v.. Cho đến bây giờ việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ là bắt buộc với tất cả các trường đại học và cao đẳng trên cả nước theo nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa XI, kỳ học thứ sáu của Quốc Hội về giáo dục và Quy chế số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ giáo dục và đào tạo về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ.

Trang 1

MỤC LỤC

TRANG

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ LÀM VIỆC NHÓM

TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TÍN CHỈ 07

1.1 Tổng quan về phương thức đào tào theo tín chỉ

1.2 Nhận thức về làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín

chỉ 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN 28 HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP

2.1 Khái quát về chương trình đào tạo theo tín chỉ ở Học viện

Học viện Nông nghiệp

2.2 Đánh giá hiện trạng làm việc nhóm của sinh viên Học viện 31 Học viện Nông nghiệp theo chương trình đào tạo tín chỉ

2.3 Nhận xét, đánh giá 36

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ LÀM VIỆC NHÓM TRONG

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN 42

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP.

3.1.Giải pháp nâng cao hiệu quả làm việc nhóm trong học tập

đối với sinh viên Học viện Nông nghiệp

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vào năm 1872, phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đờitại Đại học Harvard, Hoa Kì và sau đó được áp dụng ở nhiều nước khác, trướchết là các nước Tây Âu từ những năm 1960 và hiện nay đã phổ biến trên toànthế giới Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi trong mọitrường đại học ở Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thốngtín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình như Bắc

Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan…

Ở Việt Nam, từ năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước vàcủa các trường đại học giảm dần, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chủ trương thựchiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ.Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụnghọc chế tín chế từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học CầnThơ, Đại học Thủy sản Nha Trang v v Cho đến bây giờ việc đào tạo theo hệthống tín chỉ là bắt buộc với tất cả các trường đại học và cao đẳng trên cảnước theo nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa XI, kỳ học thứ sáu của QuốcHội về giáo dục và Quy chế số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ giáo dục vàđào tạo về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

Trên cơ sở nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và các quyđịnh của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Học viện Nông nghiệp đã bắt đầu chuyểnsang chương trình đào tạo theo tín chỉ Đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Họcviên Học viện Nông nghiệp được áp dụng cho hệ đào tạo chính quy từ khóaD44 ngành luật và từ khóa D45 với tất cả các ngành; đào tạo liên thông từ

Trang 3

khóa LT6; Văn bằng 2 ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước Dochỉ mới áp dụng nên chương trình đào tạo tín chỉ của Học viện còn rất mới

mẻ, tồn tại nhiều hạn chế và thiếu xót , đặc biệt là trong việc thay đổi giáo án,hình thức giảng dạy, nâng cấp cơ sở vật chất… cho phù với hệ thống đào tạomới Cùng với đó, vì áp dụng phương thức đào tạo mới nên làm cho sinh viênhoàn toàn bỡ ngỡ và không kịp thích nghi, dẫn tới việc học tập bị ảnh hưởng

và không đạt kết quả cao như mong đợi

Để khắc phục vấn đề trên, Học viện Nông nghiệp đã đề ra nhiều biệnpháp và chủ trương để sinh viên bắt kịp với hình thức học mới Tuy nhiên,hiệu quả chưa cao và việc học vẫn mang tính đối phó là nhiều Qua tìm hiểuchúng tôi nhận thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này làsinh viên chưa có cách học tập đúng đắn, vẫn rất thụ động và phụ thuộc quánhiều vào giảng viên, đây là hệ quả tất yếu của việc đào tạo theo niên chếtrong thời gian dài Đồng thời sinh viên chưa biết cách phối hợp với nhautrong việc học tập, chưa biết sử dụng các kỹ năng học tập nên kết quả học tậpcòn chưa cao

Làm việc nhóm là một kỹ năng rất quan trọng trong học tập nói chung

và trong học tập ở trình độ đại học theo học chế tín chỉ nói riêng Trong đàotạo theo tín chỉ, với phương châm lấy người học làm trung tâm, người họcphải chủ động học tập để nắm bắt kiến thức thì làm việc nhóm là kỹ năng bắtbuộc mọi sinh viên phải nắm rõ và thường xuyên sử dụng

Là một sinh viên của Học viện Nông nghiệp và đang được học tập theochương trình đào tạo tín chỉ Sau một năm học tập, qua số liệu cho thấy kếtquả học tập của sinh viên khóa D45 không cao bằng các khóa trước, nhiềumôn học có số lượng sinh viên thi trượt tăng Chúng tôi cho rằng nguyên nhânlớn nhất dẫn đến tình trạng này là do sinh viên chưa có sự thích nghi vớichương trình đào tạo mới, chưa có phương pháp học tập hiệu quả, chưa có các

kỹ năng cần thiết để phục vụ cho học chế tín chỉ Đối với chương trình đào

Trang 4

tạo tín chỉ, việc sinh viên sử dụng các kỹ năng trong học tập rất quan trọng,đặc biệt là kỹ năng làm việc theo nhóm Phần lớn sinh viên của Học việnNông nghiệp, nhất là từ khóa D45 trở đi, chưa sử dụng tốt kỹ năng này haychưa có kiến thức cơ bản về làm việc nhóm và kết quả là hiệu quả học tậpchưa cao như mong muốn

Từ những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “ làm việc

nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ của sinh viên Học viện Nông nghiệp

” để đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả làm việc nhómcủa sinh viên Học viện Nông nghiệp theo chương trình đào tạo tín chỉ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài có một số công trình khoa học tiếp cận ở nhiềukhía cạnh khác nhau Cụ thể là:

- “Vấn đề làm việc nhóm của sinh viên khoa Kinh Tế - Luật ”, Đại học

Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

- “ Kỹ năng thảo luận nhóm trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ các học

phần lý luận chính trị tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh ”, Trương

Công Hữu

- “ Một số kinh nghiệm tổ chức hoạt động học tập theo nhóm trong

giảng dạy theo học chế tín chỉ ”, Phan Thị Lệ.

Tuy nhiên, những đề tài trên mới chỉ nghiên cứu về làm việc nhómtrong học tập nói chung, trong phạm vi nhỏ ở một chuyên ngành hay mộtkhoa hoặc chương trình đào tạo theo tín chỉ ở một trường cụ thể ngoài ngànhCông an Cho đến nay chưa có đề tài nào nói về vấn đề làm việc nhóm trongchương trình đào tạo tín chỉ của sinh viên Học viện Nông nghiệp

Xuất phát từ thực tiễn trên, nhóm chúng tôi đã quyết định nghiên cứu

về làm việc nhóm trong đào tạo tín chỉ của sinh viên Học viện Nông nghiệpnhằm bổ sung, đóng góp thêm đề tài nghiên cứu liên quan đến chương trìnhđào tạo của Nhà trường

Trang 5

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng làm việc nhómcủa sinh viên Học viện Nông nghiệp trong chương trình đào tạo theo tín chỉ

và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả làm việc nhóm của sinh viên Học việnNông nghiệp

Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ nhận thức cơ bản về làm việc nhóm trong chương trình đàotạo tín chỉ của sinh viên Học viện Nông nghiệp Giúp cho sinh viên đang họctập theo chương trình tín chỉ có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về hệthống đào tạo mới của nhà trường

- Đánh giá thực trạng làm việc nhóm của sinh viên Học viện Nôngnghiệp, chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả làm việc nhómtrong chương trình đào tạo tín chỉ của Học viện Nông nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lýluận và thực tiễn về làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ của sinhviên Học viện Nông nghiệp

Phạm vi nghiên cứu:

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về làm việc nhóm trong học tập củasinh viên khóa D45 Học viện Nông nghiệp trong chương trình đào tạo theohọc chế tín chỉ

Nhằm đảm bảo tính cấp thiết của đề tài nhóm nghiên cứu lựa chon thời

từ năm 2013 đến nay và địa bàn nghiên cứu là Học viện Nông nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học củachủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chínhsách của Đảng về giáo dục và đào tạo

Trang 6

Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp tổng kết thực tiễn

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp thống kê toán học

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

đề tài được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Nhận thức cơ bản về làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ.

Chương 2: Thực trạng làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ của sinh viên Học viện Nông nghiệp.

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ của sinh viên Học viện Nông nghiệp.

CHƯƠNG 1

Trang 7

NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ LÀM VIỆC NHÓM TRONG CHƯƠNG

TRÌNH ĐÀO TẠO TÍN CHỈ

1.1 Tổng quan về phương thức đào tạo theo tín chỉ.

1.1.1 Khái quát về phương thức đào tạo theo tín chỉ

Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời vào năm 1872 tại Đạihọc Harvard, Hoa Kì và sau đó được áp dụng ở nhiều nước khác, trước hết làcác nước Tây Âu từ những năm 1960 và hiện nay đã phổ biến trên toàn thếgiới

Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống tín chỉ được sử dụng rộng rãi là:

Hệ thống Tín chỉ của Hoa Kỳ (the United States Credit System - USCS), đượcthực hiện từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX và Hệ thống Chuyển đổi Tínchỉ của Châu Âu (the European Credit Transfer System - ECTS) được xâydựng từ khoảng năm 1985 và được Hội đồng Châu Âu công nhận như là một

hệ thống thống nhất dùng để đánh giá kiến thức của sinh viên trong khuônkhổ các nước thành viên EU từ năm 1997 ECTS là hệ thống phát triển rộngrãi nhất và được sử dụng cả ở các nước không thuộc Hiệp hội Châu Âu

Có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ Có định nghĩa coi trọng khíacạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩanhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học Một định nghĩa về tín chỉ được cácnhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất làcủa học giả người Mỹ gốc Trung Quốc James Quann thuộc trường đại họcWashington

Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại họcKhoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả JamesQuann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau: “ Tín chỉ học tập là mộtđại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để

Trang 8

học một môn học cụ thể, bao gồm thời gian lên lớp; thời gian ở trong phòngthí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóabiểu; và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặcchuẩn bị bài…; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp(với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần;đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong mộttuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việctrong một tuần”

Tín chỉ theo định nghĩa nói trên gắn với học kỳ 4 tháng (semester) được

sử dụng phổ biến nhất ở Mỹ Ngoài ra còn có định nghĩa tương tự cho tín chỉtheo học kỳ 10 tuần (quarter) được sử dụng ở một số ít trường đại học Tỷ lệkhối lượng lao động học tập của hai loại tín chỉ này là 3/2 Để đạt bằng cửnhân (Bachelor) sinh viên thường phải tích luỹ đủ 120 - 136 tín chỉ (Hoa Kỳ),

120 - 135 tín chỉ (Nhật Bản), 120 - 150 TC (Thái Lan), v.v Để đạt bằng thạc

sĩ (master) sin viên phải tích luỹ 30 - 36 TC (Mỹ), 30 TC (Nhật Bản), 36 TC(Thái Lan) Theo ECTS của EU người ta quy ước khối lượng lao động họctập ước chừng của một sinh viên chính quy trung bình trong một năm họcđược tính bằng 60 tín chỉ

Ở Việt Nam, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã ban hành “ Quy chế Đào tạo

đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” Theo đó, Quy chế đã

nêu rõ định nghĩa và cách hiểu về đào tạo theo tín chỉ của đại học nước ta Cụthể là tại điều 3 khoản 3 quy định: “ Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượnghọc tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết;

30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơsở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp.Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thuđược một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân Hiệutrưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho

Trang 9

phù hợp với đặc điểm của trường Đối với những chương trình, khối lượngcủa từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trìnhđược quy đổi thành 1 tín chỉ Một tiết học được tính bằng 50 phút”

Như vậy có thể thấy chương trình đào tạo tín chỉ của nước ta khá tươngđồng so với các nước trên thế giới

Hiện nay các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giớinhư Mỹ, Anh, Úc hay Singapore đều áp dụng cách tính điểm theo hệ chữ gồm

5 mức cơ bản A, B, C, D, F Ở từng quốc gia lại có cách chia nhỏ mỗi mứcthành các mức điểm khác nhau như A+, A, A-… cách quy đổi này hạn chế tối

đa "range" (khoảng cách giữa 2 mức điểm) và giúp cho sinh viên được xếploại đúng hơn Tại Trường Đại học Quốc gia Singapore, điểm của sinh viên sẽđược qui đổi từ hệ 10 hoặc 100 sang hệ điểm chữ A, B, C… Điều này cónghĩa, thông thường điểm của sinh viên vẫn được tính theo hệ 10 hoặc 100.Điểm này được gọi là raw mark (điểm thô) Đến cuối kỳ, điểm của sinh viên

sẽ được quy ra theo hệ A, B, C… nhằm mục đích xếp loại Mục đích chuyển

từ hệ 10 hoặc 100 sang hệ chữ A, B, C… là nhằm mục đích xếp hạng, điều

mà hệ điểm số không phản ánh hết

Nếu như thang điểm chữ A,B,C,D dùng để xếp hạng thì hệ 4.0 dùng đểtính điểm trung bình cho sinh viên, đơn giản cho việc xét học bổng, điều kiệntốt nghiệp hay xếp loại tốt nghiệp Ở một số nước không sử dụng thang điểm

4 mà sử dụng thay thế bằng thang điểm 5

Ở Việt Nam, theo Quy chế của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, khối lượngkiến thức tích được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D được chuyểnthành điểm chữ như sau: Loại đạt: gồm: Giỏi A (8,5 - 10), Khá B (7,0 - 8,4),Trung bình C (5,5 - 6,9), Trung bình yếu D (4,0 - 5,4) Loại không đạt: Kém F(dưới 4,0) Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại họcphần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc

D Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy

Trang 10

của toàn khóa học, như sau: loại Xuất sắc: từ 3,6 đến 4; loại Giỏi: từ 3,2 đến3,59; loại Khá: từ 2,5 đến 3,19; loại Trung bình: từ 2 đến 2,49.

1.1.2 Sự khác biệt cơ bản giữa hình thức đào tạo theo tín chỉ và hình thức đào tạo theo niên chế

Đào tạo theo niên chế là phương thức đào tạo theo chương trình địnhsẵn, bố trí chương trình học tập cụ thể cho sinh viên theo một quy trình đượccho là tối ưu với mục tiêu đào tạo đã xác định Sinh viên tiếp thu một cách thụđộng chương trình đào tạo đã quy định, các tổ chức Đoàn, Hội sinh viên đượcsinh hoạt theo khoá học Một chương trình đào tạo đại học gồm 210 đơn vịhọc trình Môn học có thể gồm 1 hay vài học phần (học phần có thể là bắtbuộc, lựa chọn hoặc tự do) Kết quả học phần tự do không được dùng để tíchluỹ và tích điểm trung bình cộng học tập Với phương thức này, sinh viên chủyếu tiếp thu kiến thức trên lớp và từ bài giảng của giảng viên

Đào tạo theo tín chỉ: Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thờigian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, baogồm thời gian lên lớp, thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc cácphần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu và thời gian dành cho đọcsách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài Đào tạo theo tínchỉ không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chứcđào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học nhấtđịnh không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức của sinh viên,sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấp bằngtốt nghiệp đại học, được ra trường

Đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ đều có mục đích hướngdẫn sinh viên học tập, nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên và theo tổchức của nhà trường nhằm đạt tới một mục tiêu đào tạo cụ thể Cả hai phươngthức này đều yêu cầu sử dụng các phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giátiên tiến Tuy nhiên, giữa hai phương thức này cũng có sự khác biệt nhất định:

Trang 11

Xem người học là trung tâmcủa quá trình đào tạo.

2 Tổ chức

lớp học

Sinh viên tham gia với vaitrò bị động, cùng lớp họcchung giảng đường, chungmột chương trình, môn học,thời khoá biểu do nhàtrường đã xây dựng từ khinhập học đến khi ra trường

Chương trình môn học nàyđược sắp xếp theo một trật

tự nhất định Việc tự họcđược khuyến khích nhưngkhông bắt buộc

Các trường sẽ xây dựng lịchhọc các học phần, sinh viênđược lực chọn đăng kí họctừng học phần phù hợp vớibản thân Sinh viên chủđộng tham gia vào môitrường cộng tác dạy – học,

có thể chủ động sắp xếpthời gian, đăng kí lịch học

và số môn học cho một kì

Tự học là một yêu cầu trong

cơ cấu giờ học của sinhviên

Tổ chức theo học kỳ, mộtnăm có thể có hai hoặc bahọc kỳ, sinh viên tích lũykiến thức theo học phần,tích lũy số tín chỉ theo họckỳ

Trang 12

4 Tổ chức

đào tạo

Chương trình học tập củasinh viên là thời khoá biểu

áp dụng thống nhất cho tất

cả các sinh viên cùng nămhọc, lớp học do nhà trườngsắp xếp Sau mỗi năm học,sinh viên được xét lên lớpphụ thuộc vào kết quả họctập và rèn luyện của nămhọc đã tích luỹ Việc khôngđược lên lớp do nợ một sốmôn nhất định gây ra thiệtthòi cho sinh viên, nhiềusinh viên dừng hẳn mộtnăm học để học lại nhữnghọc phần chưa đạt Ngoài

ra thời gian rỗi không đượctham gia đăng kí nhữngmôn học mới

Tạo thuận lợi cho ngườihọc trong việc điều chỉnhmục tiêu, nội dung và thiết

kế kế hoạch học tập riêng.Chương trình đào tạo đượcthiết kế thành nhiều họcphần khối lượng tín chỉkhác nhau, thông thườngmột học phần có từ hai đến

4 tín chỉ Sinh viên đượcphép lựa chọn nội dung,phương thức học tập, kếhoạch học để đạt tới mụctiêu đã chọn Căn cứ vàocác yêu cầu khác nhau vàtrên cơ sở khả năng của bảnthân, sinh viên có thể thayđổi mục tiêu, nội dung,phương pháp học tập

Các học phần được thiết kếthành mođun trọn vẹn vềkiến thức, sinh viên đỗ đạtthường không phải thi lại

6 Tổ chức

tuyển sinh

Việc tuyển sinh và tốtnghiệp chỉ có thể thực hiện

ở đầu hoặc cuối năm học

Sau mỗi học kì đều có thểtiếp nhận sinh viên mới

Trang 13

Qua phân tích những khác biệt cơ bản giữa hình thức đào tạo theo niênchế và đào tạo theo tín chỉ cho thấy hình thức đào tạo theo tín chỉ là hình thứcđào tạo tiên tiến nhất hiện nay Việc nắm rõ những điểm khác biệt này giúpsinh viên có định hướng và phương pháp học tập đúng đắn, từ đó nâng cao kếtquả học tập khi nhà trường áp dụng chương trình đào tạo theo tín chỉ.

1.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ

1.1.3.1 Ưu điểm

- Phương thức đào tạo theo tín chỉ lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học.Người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy,nên phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Trong phương thứcđào tạo theo tín chỉ, hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coitrọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình Người học làngười tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo ra kiếnthức, đáp ứng những yêu cầu của công việc trong tương lại, thị trường laođộng ngoài xã hội

Mọi phương thức đào tạo đều lấy quá trình dạy – học làm trọng tâm.Tuy nhiên, trong phương thức đào tạo truyền thống, vai trò của người dạyđược coi trọng (lấy người dạy làm trung tâm) Ngược lại, trong phương thứcđào tạo theo tín chỉ, vai trò của người học được đặc biệt coi trọng (lấy ngườihọc làm trung tâm) Đường hướng lấy người học làm trung tâm được quántriệt từ khâu thiết kế chương trình, biên soạn nội dung giảng dạy và sử dụngphương pháp giảng dạy

- Phương thức đào tạo theo tín chỉ có độ mềm dẻo và linh hoạt về mônhọc Chương trình được thiết kế theo phương thức đào tạo tín chỉ bao gồmmột hệ thống những môn học thuộc khối kiến thức chung, những môn họcthuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc khối kiến thức cận

Trang 14

chuyên ngành Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn học lớn hơn sốlượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; sinh viên có thể thamkhảo giáo viên hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp vớimình, để hoàn thành những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ chonghề nghiệp tương lai của mình

Mặt khác, học chế tín chỉ cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngànhchuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại

từ đầu Các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàngkhi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựachọn ngành nghề của sinh viên Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả nhữngkiến thức và khả năng tích luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng,khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đạihọc một cách thuận lợi

Về phương diện này có thể nói học chế tín chỉ là một trong những công

cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa thành nền đại họcmang tính đại chúng

- Về phương pháp học tập, sinh viên có thể phát huy tối đa năng lực tựnghiên cứu và kỹ năng làm việc theo nhóm Việc quy định số tiết học sinhviên tự nghiên cứu ở nhà giúp sinh viên có thể phát huy tối đa năng lực tựnghiên cứu cũng như nâng cao ý thức học tập của mình Hơn nữa, ở hầu hếtcác môn học sinh viên được tự nghiên cứu, thảo luận và làm việc theo nhómvới những đề tài khác nhau Đặc biệt, việc phải thuyết trình về đề tài của cácnhóm giúp sinh viên tự tin hơn khi làm việc trước đám đông

- Phương thức đào tạo theo tín chỉ có sự linh hoạt về thời gian ratrường Sinh viên được phép kéo dài chương trình học trong một khoảng thờigian nhất định theo quy định của trường Sinh viên được cấp bằng khi đã tíchlũy được đầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định; do vậy họ có thể

Trang 15

hoàn thành những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực(thời gian, tài lực, sức khỏe, v.v.) của cá nhân.

- Phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ tạo được sự liên thông giữa cáccấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau của cùng một trườngđại học hay xa hơn nữa là giữa các cơ sở đào tạo đại học giữa quốc gia nàyvới các quốc gia khác trên thế giới Khi sự liên thông được mở rộng, nhiềutrường đại học công nhận chất lượng đào tạo của nhau, người học có thể dễdàng di chuyển từ trường đại học này sang học ở trường đại học kia (kể cảtrong và ngoài nước) mà không gặp khó khăn trong việc chuyển đổi tín chỉ.Kết quả là, áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ khuyến khích sự dichuyển của sinh viên, mở rộng sự lựa chọn học tập của họ, làm tăng sự minhbạch của hệ thống giáo dục, và giúp cho việc so sánh giữa các hệ thống giáodục đại học trên thế giới được dễ dàng hơn

- Phương thức đào tạo theo tín chỉ đạt hiệu quả cao về mặt quản lý vàgiảm chi phí đào tạo Với học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên đượctính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng mộthọc phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, sinh viên không bị buộcphải quay lại học từ đầu Chính vì vậy chi phí đào tạo theo học chế tín chỉthấp hơn so với đào tạo theo niên chế

- Phương thức đào tạo theo tín chỉ vừa là thước đo khả năng học tậpcủa người học, vừa là thước đo hiệu quả về thời gian làm việc của giáo viên.Phương thức đào tạo theo tín chỉ có lợi cho cả việc tính toán ngân sách chitiêu nội bộ của nhà trường và việc tính toán để xin tài trợ từ nguồn ngân sáchnhà nước và các nhà tài trợ khác

- Phương thức đào tạo theo tín chỉ là cơ sở để báo cáo các số liệu củatrường đại học cho các cơ quan cấp trên và các đơn vị liên quan, việc sử dụng

nó như là một phương tiện để giám sát bên ngoài, để báo cáo và quản lí hànhchính sẽ cực kỳ hiệu quả

Trang 16

1.1.3.2 Nhược điểm

Năm nhược điểm quan trọng của học chế tín chỉ là:

- Việc đăng ký, lựa chọn các tín chỉ phù hợp đối với sinh viên khôngphải dễ dàng Hoạt động đăng ký đòi hỏi sinh viên phải có khả năng tự chủcao trong việc nắm thông tin về chương trình học tập cũng như việc sắp xếplịch trình học tập của mình cho hợp lý theo đúng quy trình đào tạo Thực tếcho thấy hoạt đông đăng ký tín chỉ hiện nay được tiến hành chủ yếu qua cổngthông tin mạng của nhà trường Ở nhiều trường do số lượng sinh viên quá lớn,trong khi trang web nhà trường chưa được nâng cấp đủ mạnh để đáp ứng nhucầu đăng ký của sinh viên Cho nên còn tình trạng sinh viên không đăng kýđược các môn học, hoặc đã đăng ký nhưng lại không có kết quả

- Phương pháp giảng dạy theo niên chế đã “ăn sâu, bám rễ” vào một sốgiảng viên gắn bó lâu năm, nên việc giảng dạy theo phương pháp mới - theotín chỉ - vẫn chưa hoàn toàn thuyết phục được họ, việc đổi mới chỉ mới dừng

ở tính hình thức và đối phó mà thôi Cho nên khi giảng dạy nhiều giảng viênvẫn giảng theo hình thức đọc chép của niên chế, làm mất đi bản chất của đàotạo tín chỉ Từ đó dẫn đến tình trạng chung của nhiều sinh viên là ỷ lại, dựadẫm vào giảng viên, không hề có sự nỗ lực, phấn đấu trong học tập

- Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu nhiều hơn ở sinh viên đòihỏi nhà trường phải đáp ứng nguồn giáo trình và tài liệu học tập, tham khảomột cách đầy đủ, phong phú và đa dạng cho người học Bên cạnh đó là nhữngkhó khăn về cơ sở vật chất, điều kiện phòng học (nhiều phòng học còn chậtchội so với số lượng sinh viên theo học, dãy nhà điều kiện cách âm chưa tốt,ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài giảng của sinh viên…), chưa trang bị đầy đủtrang thiết bị phục vụ giảng dạy theo phương pháp mới như máy chiếu,projector, mic ở các giảng đường Ở nhiều nhà trường hiện nay tuy đãchuyển sang hình thức đào tạo tín chỉ nhưng vẫn còn mang dáng dấp của đàotạo niên chế, chưa chuyển được hoàn toàn, đây là một điểm cần phải lưu ý

Trang 17

- Phần lớn các môđun trong học chế tín chỉ được quy định tương đốinhỏ, cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức mộtcách đầy đủ, bài bản theo một trình tự diễn biến liên tục, từ kiến thức bị cắtvụn, truyền đạt đến sinh viên không đầy đủ

- Vì sinh viên có thể tự do lựa chọn môn học nên các lớp học theomôđun không ổn định (lớp học phần), khó xây dựng các tập thể gắn kết chặtchẽ như các lớp theo khóa học Ngoài ra, một khó khăn nữa chưa thể khắcphục được đó là tổ chức đoàn thể, tổ chức lớp học có thể bị phá vỡ khi sinhviên được tổ chức học thành các “nhóm” và hoàn toàn chủ động trong cáchhọc cũng như thời gian học Chính vì nhược điểm này mà có người nói họcchế tín chỉ khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng

1.2 Nhận thức về làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ.

1.2.1 Nhóm và làm việc nhóm

Con người là một cá thể của xã hội, để tồn tại và phát triển con ngườicần phải gắn kết và kết hợp lại với nhau trong một nhóm làm việc Thực tế đãchỉ rõ một cá nhân thường chỉ đảm nhiệm được một hai việc cụ thể nhưngnhóm lại có thể làm được nhiều việc cùng một lúc với hiệu quả cao hơn

Nhóm là tập hợp một hay nhiều người, cùng thực hiện một công việcnào đó hay mục tiêu chung, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và biết hướng tới kếtquả mong muốn đạt được Các thành viên trong nhóm luôn tương tác vớinhau, hành vi của mỗi thành viên bị chi phối bởi hành vi của thành viên khác

Nhóm làm việc là tập hợp nhiều cá nhân cùng có chung mục đích, côngviệc, sở thích, tính cách , … nhằm thực hiện các chung công việc, nhiệm vụ

mà nhóm đó mong muốn có được hay làm được, hướng đến kết quả chungcho cả nhóm làm việc

1.2.2 Làm việc nhóm trong học tập

Trang 18

Có rất nhiều hình thức nhóm khác nhau như nhóm học tập, nhóm bạncùng sở thích, nhóm năng khiếu, nhóm kỹ năng, các câu lạc bộ, các nhóm làmviệc theo dự án, nhóm làm việc trong tổ chức, v.v Tuy nhiên, trong bàinghiên cứu này chúng tôi chỉ quan tâm đến làm việc nhóm trong học tập.

Theo quan điểm của chúng tôi “ làm việc nhóm trong học tập là một

phương pháp học tập, trong đó các thành viên cùng phối hợp chặt chẽ với nhau để giải quyết một vấn đề học tập cụ thể, mà mục đích là thu nạp kiến thức, tạo ra các sản phẩm của trí tuệ tập thể và nâng cao thành tích trong học tập ”.

Nhờ làm việc nhóm trong học tập, mỗi học sinh, sinh viên vừa pháttriển những kỹ năng cá nhân, thu nạp kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân,vừa đạt được kết quả cao trong học tập

Yêu cầu của làm việc nhóm trong học tập là phải xây dựng trên tinhthần đồng đội, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau, ngoài ra chúng ta còn phải tạo

ra một môi trường mà các thành viên trong nhóm cảm thấy tự tin, thoải mái

để cùng nhau làm việc, hợp tác và hỗ trợ nhau để đạt đến mục tiêu đã đặt ra.Điều quan trọng là phải giúp cho các thành viên trong nhóm học tập tin rằng

sự cống hiến của mình cho tập thể được đánh giá đúng đắn, chính xác và sảnphẩm thu được đáp ứng được yêu cầu của quá trình học tập và kết quả đó sẽđược ghi nhận vào thành tích của mỗi người

Nhóm làm việc về học tập có thể hình thành theo nhiểu cách khácnhau: Các nhóm học tập có khi hình thành do sự chỉ định của thầy cô, do yêucầu chương trình đào tạo của nhà trường, tham gia các cuộc thi tìm hiểu, bàinghiên cứu khoa học… Vì thế, có những nhóm học tập hình thành và gắn kếtrất lâu, nhưng cũng có những nhóm chỉ hoạt động cùng nhau trong một thờiđiểm nào đó

1.2.3 Vai trò, tầm quan trọng của làm việc nhóm trong đào tạo theo tín chỉ

Trang 19

Tiếp cận với phương pháp làm việc nhóm là tiếp cận với phương pháphọc tập tiên tiến, hiện đại Sử dụng hiệu quả phương pháp này sẽ mang lại chosinh viên nhiều lợi ích thiết thực:

- Giúp sinh viên hình thành và phát triển các kỹ năng mềm như kỹ nănggiao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giải quyết các vấn đề… Đây là những

kỹ năng cơ bản nhưng rất quan trọng với mọi sinh viên, giúp sinh viên có đủkhả năng để hoàn thành tốt mọi hoạt động học tập, mọi nhiệm vụ được giảngviên giao và nhất là có thể đáp ứng các yêu cầu khi ra công tác, làm việc

- Đem lại cho sinh viên những bài học kinh nghiệm quý giá như tính kỷluật, hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của tập thể và nhất là luôn có tráchnhiệm với tập thể Do mỗi thành viên trong nhóm được phân công thực hiệnmột vai trò nhất định, một công việc và trách nhiệm cụ thể Các thành viêntrong nhóm không thể trốn tránh trách nhiệm hoặc dựa vào công việc củangười khác Trách nhiệm của mỗi thành viên là yếu tố quyết định việc thànhcông hay thất bại của nhóm

- Học tập được những ưu điểm của các thành viên khác trong nhóm,đồng thời tránh được các nhược điểm của các thành viên để tập thể nhómngày càng hoàn thiện Khi các thành viên cùng góp sức giải quyết một vấn đề,

họ có thể học hỏi từ nhau cách tiếp cận, cách giải quyết vấn đề; tiếp thu kinhnghiệm quý báu từ những thành viên khác Đây chính là môi trường để mỗi cánhân hoàn thiện bản thân, phát triển năng lực, phát huy năng lực tiềm ẩn

- Hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong quá trình học tập vì phát huy đượctrí tuệ tập thể Một cá nhân dù có xuất sắc đến đâu cũng chỉ có thể giải quyếtmột số nhiệm vụ nhất định, còn đối với những nhiệm vụ học tập đòi hỏi khốilượng kiến thức cao thì làm việc nhóm là yêu cầu bắt buộc Nhóm học tập làtập hợp nhiều cá nhân có trình độ lại với nhau, trí tuệ của các thành viên sẽđược phát huy để hoàn thành nhiệm vụ học tập của nhóm

1.2.4 Các kỹ năng làm việc nhóm cần thiết

Trang 20

Kỹ năng làm việc nhóm là năng lực hay khả năng của một cá nhân kếthợp với các thành viên khác trong một nhóm làm việc, thực hiện thuần thụcmột hay một chuỗi hành động trên cơ sở kiến thức và kinh nghiệm nhằm tạo

ra sản phẩm trí tuệ của nhóm

Thực tế cho thấy cá nhân dù có xuất sắc tới đâu cũng không thể giảiquyết tất cả mọi vấn đề, mọi công viêc, kế hoạch… cho nên cần phải có sựtrợ giúp của những cá nhân khác, cần phải tập hợp nhiều người lại trong mộtnhóm làm việc Để nhóm làm việc đạt hiệu quả cao, các thành viên trongnhóm cần có các kỹ năng cần thiết đó là:

- Kỹ năng lắng nghe:

Các thành viên trong nhóm phải biết lắng nghe ý kiến của nhau, lắngnghe những lời phê bình, góp ý của các thành viên khác về bản thân để nângcao kỹ năng bản thân Kỹ năng này cũng phản ánh sự tôn trọng giữa các thànhviên trong nhóm

Lắng nghe không chỉ là sự tiếp nhận thông tin từ người nói mà còn phảibiết phân tích, nhìn nhận theo hướng tích cực và phản hồi bằng thái độ tôntrọng những ý kiến của người nói dù đó là ý kiến hoàn toàn trái ngược vớiquan điểm của bản thân Đồng thời, mỗi thành viên trong nhóm còn thể hiện

sự tôn trọng ý kiến những người khác qua việc động viên, hỗ trợ nhau, nỗ lựcbiến chúng thành hiện thực

Khi các thành viên trong nhóm biết lắng nghe, tôn trọng lẫn nhau nghĩa

là đang đóng góp sức mình vào thành công chung của cả nhóm

- Kỹ năng chất vấn, phản biện

Thực tế đây là một kỹ năng khó mà không phải ai cũng có thể họcđược Việc chất vấn, phản biện người khác dễ gây nên mâu thuẫn hay bấtđồng, do đó phải có sự khéo léo Chất vấn bằng những câu hỏi thông minh

Trang 21

dựa trên những lý lẽ tán đồng hay phản biện chặt chẽ, khoa học, hoàn toànkhách quan Điều này đòi hỏi mức độ tư duy cao và tinh thần xây dựng chonhóm

Tuy nhiên, điều quan trọng là trong nhóm cần có sự cởi mở để khuyếnkhích mọi người có thể tiếp nhận những ý kiến trái chiều và tiến hành phảnbiện trên tinh thần xây dựng tập thể Người chất vấn và phản biện cũng phải

sử dụng những lời lẽ mềm mại, lịch sự và tế nhị, không xoáy vào những điểmyếu lên tiếng phê phán hay chê bai để dẫn đến sự tranh luận vô ích

- Kỹ năng giao tiếp

Một nhóm làm việc hiệu quả không thể thiếu hoạt động giao tiếp, traođổi giữa các thành viên Các thành viên trong nhóm phải thường xuyên traođổi, thảo luận, suy xét những ý tưởng, quan điểm đã đưa ra Việc các thànhviên trong nhóm thường xuyên giao tiếp thể hiện mọi hoạt động của nhómđang trơn tru và các thành viên đang nỗ lực cùng nhau hoàn thành mục tiêu

Đồng thời họ cần biết tự bảo vệ và thuyết phục người khác đồng tìnhvới ý kiến của mình Khi thuyết phục, ta phải dựa vào chính những ý kiếnchung, chính xác để củng cố hay làm cho nó trở nên hợp lý hơn chứ khôngchỉ dựa vào lý lẽ cá nhân Nhất là không thể dựa vào vị trí hay tài năng củamình để buộc người nghe phải chấp nhận, như vậy dễ gây nên mâu thuẫnkhông đáng có

- Kỹ năng chia sẻ:

Các thành viên đưa ra ý kiến và chia sẻ kinh nghiệm của mình khi gặpcác tình huống tương tự trước đó Trong nhóm đang thảo luận, người nàocàng chia sẻ được nhiều kinh nghiệm quý giá của mình, hoặc đưa ra các ýkiến sáng suốt cho nhóm, thì sẽ càng nhận được sự yêu mến và vị nể của cácthành viên còn lại

Trang 22

Ngoài ra, chia sẻ với toàn nhóm những điểm mạnh, yếu của bản thân,

sở thích, cách nghĩ về cuộc sống còn là chìa khóa để các thành viên hiểu nhauhơn, gắn kết hơn

- Kỹ năng chung sức:

Mỗi thành viên phải đóng góp trí lực cùng nhau thực hiện kế hoạch đã

đề ra Có nghĩa là, cả nhóm cần phải hiểu rõ mục đích của nhóm cần đạt được

là gì, và có cùng chung khao khát hoàn thành nó “Hãy tưởng tượng, chúng tađang cùng ở trên một con thuyền, tất cả đều phải cùng chèo để đưa conthuyền về đến đích!”

Các thành viên còn phải biết giúp đỡ nhau vì trong một nhóm, có ngườimạnh lĩnh vực này, nhưng người khác lại mạnh lĩnh vực khác Và nhiều khi,vấn đề mà nhóm đang phải giải quyết cần kiến thức ở nhiều lĩnh vực, mức độ

và đòi hỏi các kỹ năng khác nhau Cho nên các thành viên phải luôn sẵn sànggiúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành tốt công việc được giao

- Kỹ năng giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề là một kỹ năng rất cần thiết trong học tập và làmviệc… Khi một nhóm tiến hành làm việc, rất nhiều vấn đề sẽ nảy sinh và xảy

ra Điều đầu tiên mà toàn nhóm cần là tìm ra các vấn đề và khoanh vùngchúng lại Sau đó trưởng nhóm và các thành viên sẽ cùng nhau thảo luận, traođổi nhằm tìm ra biện pháp giải quyết, cách thức điều chỉnh sao cho hợp lí.Sau khi giải quyết xong vấn đề đó, nhóm cần kiểm tra xem cách giải quyết đó

có tốt không và có đưa tới những ảnh hưởng không mong muốn nào không.Những bài học rút ra được ở khâu đánh giá sẽ là bài học kinh nghiệm quý báucho nhóm làm việc, giúp nhóm không để đó những vấn đề đó xảy ra lại lầnnữa, tiết kiệm thời gian và chi phí cho nhóm

1.2.5 Các yếu tố tác động tới hiệu quả của làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ

Trang 23

Mục tiêu của sinh viên khi tiến hành làm việc nhóm đó là đạt được hiệuquả cao, gặt hái được kết quả như mong muốn trong quá trình học tập Tuynhiên, trong chương trình đào tạo tín chỉ, có rất nhiều yếu tố tác động và chiphối hiệu quả nhóm làm việc của sinh viên Nhóm nghiên cứu đã đưa ra một

số yếu tố chung tác động đến hiệu quả của mọi nhóm làm việc:

- Bối cảnh, môi trường làm việc nhóm

Bối cảnh ở đây là nói đến điều kiện làm việc, cách quản lý điều hành,các quy định về thưởng phạt… Trong một nhóm học tập, điều kiện làm việc

vô cùng quan trọng, việc tạo ra được một môi trường hòa hợp, gần gũi sẽ giúpcho các thành viên trong nhóm thoải mái để làm việc Ngoài ra đảm bảo cácđiều kiện về cơ sở vật chất, nguồn tài liệu… cũng giúp cho công việc củanhóm suôn sẻ, hiệu quả hơn Hiện nay cở sở vật chất, phương tiện học tập củanhiều trường đại học đang được nâng cấp, bổ sung nhằm phục vụ tốt nhất chochương trình đào tạo tín chỉ, nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà hoạtđộng này còn đang rất chậm và ảnh hưởng ít nhiều đến các nhóm học tập

Quản lý điều hành là yếu tố then chốt giúp cho mọi hoạt động củanhóm trở nên quy củ, kỷ luật Người trưởng nhóm phải có cách điều hành hợp

lí, dung hòa được tất cả thành viên trong nhóm, không để xảy ra mâu thuẫnhay bất đồng trong nhóm, đồng thời phải thưởng phạt phân minh, không được

nể nang hay bao che cho bạn bè Trong môi trường của một nhóm làm việc,quản lý được tập thể là một yêu cầu rất quan trọng, cho nên người đứng đầuphải có tầm nhìn và uy tín để quản lý, điều hành

- Quy mô của nhóm

Số lượng thành viên hay quy mô của nhóm là một yếu tố quan trọng,góp phần vào sự thành công hay thất bại của nhóm làm việc Hiệu quả, chấtlượng của nhóm có số lượng thành viên ít sẽ khác với nhóm có số lượngthành viên nhiều

Trang 24

Đối với nhóm từ 3 đến 5 người, đây là một nhóm nhỏ, dễ quản lí, tổchức, các thành viên trong nhóm đều được nói và đóng góp ý kiến của mìnhvới tập thể, đảm bảo sự đoàn kết và công bằng trong nhóm học tập Quy mô

từ 3 đến 5 người thường là các nhóm nghiên cứu khoa học, các nhóm học tập

cụ thể, đây là nhóm yêu cầu cao về kiến thức và nỗ lực của các thành viên

Nhóm từ 35 đến 50 người, sẽ chỉ có khoảng 5 đến 10 người tham giatích cực và thường xuyên nói, từ 3 đến 8 người hoặc nhiều hơn chút tham giacác nhiệm vụ của câu lạc bộ những người còn lại sẽ thỉnh thoảng nói hoặckhông nói gì cả, chỉ nghe theo Còn lại là những sinh viên cơ hội, không thamgia hoạt động mà chỉ nhờ vào kết quả chung của nhóm để nâng cao thành tích

cá nhân Việc nói ít hay nói nhiều tỉ lệ thuận với sự đóng góp của các thànhviên trong nhóm

Nhóm từ 50 đến 80 người, đây là nhóm có số lượng thành viên đông.Với quy mô lớn như vậy, sự tham gia của các thành viên là không đảm bảo và

sẽ có tình trạng thành viên không tham gia được hoạt động của nhóm Sốlượng thành viên lớn dẫn tới tình trạng khó quản lí nhóm một cách chặt chẽ,khoa học, không tập hợp được năng lực của tất cả các thành viên Nhómtrưởng phải nhờ các tổ trưởng quản lí và điều hành giúp mọi công việc Việcphân mảnh như vậy làm cho công việc của nhóm chỉ có thể giao cho một sốthành viên cốt cán, có năng lực và khả năng để hoàn thành nhiệm vụ củanhóm

Ngoài ra, tùy theo mục đích, hoàn cảnh, nhiệm vụ, yêu cầu của chươngtrình đào tạo tín chỉ mà nhóm làm việc trong học tập có thể thành lập với quy

mô khác nhau Nhưng nhóm nghiên cứu cho rằng nhóm làm việc nên chútrọng vào chất lượng của các thành viên hơn là chỉ coi trọng việc tăng sốlượng thành viên nhóm

- Vai trò và sự đa dạng của thành viên nhóm

Trang 25

Sự đa dạng ở đây là đa dạng về trình độ học vấn, tuổi tác, năng lực,mức độ hiểu biết… Theo quan điểm của nhóm chúng tôi, một nhóm học tậpmuốn đạt hiệu quả cao phải là một tập hợp đa dạng về thành viên Nhóm làmviệc nếu là tập hợp của nhiều người trong lớp, hay cùng độ tuổi, trình độ sẽ cóhiệu quả khác với tập hợp của nhiều người khác nhau về học vấn, độ tuổi,năng lực.

Thực tế chỉ rõ, một nhóm làm việc trong học tập muốn có hiệu quả caophải hội tụ nhiều loại thành viên, không nên có sự tương đồng quá lớn Khi đónhững thiếu sót của những thành viên ít tuổi hơn, thiếu kinh nghiệm thực tiễn

sẽ được những thành viên có kinh nghiệm cao, lớn tuổi bổ sung và khắc phục

- Sự lãnh đạo

Sự lãnh đạo có ảnh hưởng gần như đến tất cả các khía cạnh của cơ cấu

và hành vi nhóm, như là quy mô, thành viên và vai trò của họ, chuẩn mực,mục tiêu và bối cảnh

Một nhóm làm việc muốn hoạt động hiệu quả thì phải có một ngườinhóm trưởng có năng lực, trình độ cao để tập hợp thành viên, tổ chức quản línhóm và phân bố công việc của nhóm một cách hợp lí Nếu không có được sựlãnh đạo thường xuyên từ nhóm trưởng, nhóm làm việc sẽ kém hiệu quả vàđứng trước nguy cơ tan rã Chúng tôi đánh giá sự lãnh đạo là yếu tố tác độnghàng đầu đến một nhóm làm việc trong học tập, quyết định thành công haythất bại của một nhóm làm việc

Nhóm trưởng các nhóm học tập thường là những sinh viên năm cuối,

đã trải qua thời gian dài học tập, rèn luyện, có kinh nghiệm nhiều trong quản

lý, tổ chức nhóm Nhờ đó thành tích của những nhóm này luôn cao hơn cácnhóm có nhóm trưởng là sinh viên năm hai, năm ba, chưa có nhiều kinhnghiệm

- Các mục tiêu của nhóm

Trang 26

Sự hình thành của một nhóm gắn liền với mục tiêu của nhóm, là cáiđích mà nhóm làm việc muốn đạt tới Khi đã có mục tiêu, mục đích muốn đạtđược, nhiều cá nhân mới tập hợp lại với nhau thành một nhóm để thực hiệnmục tiêu đó

Các nhóm làm việc của sinh viên chủ yếu phục vụ học tập, nên yêu cầuhàng đầu là các nhóm phải xác định rõ mục tiêu cuối cùng phải đạt đượctrong học tập là gì, để từ đó toàn nhóm phối hợp với nhau thực hiện Việcnhóm có mục đích mập mờ, không phục vụ lợi ích cho tập thể sẽ xảy ra tìnhtrạng mâu thuẫn nội bộ, bất đồng quan điểm giữa các thành viên và cuối cùng

là tan rã

Nói tóm lại, có rất nhiều yếu tố tác động tới hiệu quả của một nhómlàm việc Tùy theo từng trường hợp, từng nhóm làm việc mà các yếu tố tácđộng ở mức độ khác nhau Thông qua việc đưa ra các yếu tố, nhóm nghiêncứu mong rằng sẽ giúp các nhóm làm việc khắc phục hiệu quả sự tác độngcủa các yếu tố và đưa nhóm phát triển mạnh, đạt được mục tiêu cuối cùng củanhóm

Kết luận chương 1

Trang 27

Ở chương 1, chúng tôi đã nêu tổng quan về phương thức đào tạo theotín chỉ như lịch sử hình thành, khái niệm, nội dung, cách thức tính điểm, hiệuquả mà nó mang lại… Từ đó, liên hệ đến quá trình áp dụng chương trình đàotạo tín chỉ của các trường đại học ở Việt Nam Chúng tôi cũng làm rõ sự khácbiệt cơ bản giữa đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ, để từ đó rút ranhững ưu điểm và nhược điểm của đào tạo theo tín chỉ, giúp trả lời câu hỏi vìsao hình thức đào tạo theo tín chỉ là hình thức đào tạo tiên tiến nhất hiện nay.

Tiếp đó, chúng tôi trình bày nhận thức chung về nhóm, làm việc nhómtrong đào tạo theo tín chỉ, các quan điểm của nhóm về làm việc nhóm tronghọc tập và làm việc nhóm trong đào tạo tín chỉ của sinh viên Học viện Nôngnghiệp Bên cạnh đó, những kỹ năng cần thiết mà sinh viên cần biết khi làmviệc nhóm cũng được nêu lên nhằm giúp cho người đọc mở rộng nguồn kiếnthức

Nói tóm lại, chương 1 đã làm rõ nhưng mặt lí luận, thực tiễn liên quanđến đào tạo theo tín chỉ và làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ

CHƯƠNG 2

Trang 28

THỰC TRẠNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP

2.1 Khái quát về chương trình đào tạo theo tín chỉ ở Học viện Nông nghiệp.

Trên cơ sở quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT và thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Kếhoạch số 149/KH-BCA-X11 ngày 4/12/2009 về việc triển khai thí điểm đàotạo Đại học theo hệ thống tín chỉ trong giáo dục đại học Công an Nhân dân

Từ kế hoạch của Bộ Công An, Học viện Nông nghiệp đã nhanh chóngtriển khai chương trình đào tạo theo tín chỉ, áp dụng cho hệ đào tạo chính quy

từ khóa D44 ngành luật và từ khóa D45 với tất cả các ngành; đào tạo liênthông từ khóa LT6; Văn bằng 2 ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhànước

Việc chuyển sang phương pháp đào tạo tín chỉ là một đòi hỏi kháchquan không chỉ riêng Học viện Nông nghiệp mà còn ở nhiều trường Công anNhân dân khác Xuất phát từ tình hình thực tiễn, tình hình tội phạm ngày càngdiễn biến phức tạp, yêu cầu mà nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìntrật tự an toàn xã hội đặt ra hết sức nặng nề Cho nên việc nâng cao chấtlượng đào tạo của sinh viên trong các trường Công an Nhân dân ngày càngquan trọng, cấp thiết hơn nhằm nâng cao sức chiến đấu của lực lượng Công

an Nhân dân trong tình hình mới

Việc triển khai áp dụng chương trình đào tạo tín chỉ tại Học viện Nôngnghiệp có những thuận lợi và khó khăn cơ bản sau đây:

- Về mặt thuận lợi

Một là, cơ sở pháp lý cho việc triển khai áp dụng chương trình đạo tínchỉ tại Học viện Nông nghiệp tương đối toàn diện

Ngày đăng: 20/10/2016, 14:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Thị Thanh Thủy, “ Những nét cơ bản về học chế tín và đào tạo theo học chế tín chỉ”, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét cơ bản về học chế tín và đào tạotheo học chế tín chỉ
2. Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo, ngày 15 tháng 8 năm 2007, “ Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quychế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
3. Viện Khoa học Xã hội Nhân văn, tái bản năm 2010, “Từ điển Tiếng Việt”, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa ấn hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển TiếngViệt
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa ấn hành
4. Thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân Thủy, số đặc biệt 3/2012, “ Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ”, Tạp chí Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹnăng tự học cho sinh viên đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tínchỉ
6. Lê Công Triêm ( chủ biên), Nguyễn Đức Vũ,Trần Thị Tú Anh (2002),“Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học đại học”, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học đại học
Tác giả: Lê Công Triêm ( chủ biên), Nguyễn Đức Vũ,Trần Thị Tú Anh
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
Năm: 2002
7. John C.Maxwell , “ 17 nguyên tắc vàng trong làm việc nhóm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: 17 nguyên tắc vàng trong làm việc nhóm
8. Nguyễn Thị Oanh (2007), “ Làm việc theo nhóm”, Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm việc theo nhóm
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2007
9. Nguyễn Kỳ ( chủ biên), 1995, “ Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm”, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực lấyngười học làm trung tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
10.Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, “Vấn đề làm việc nhóm của sinh viên khoa Kinh Tế - Luật ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề làm việc nhómcủa sinh viên khoa Kinh Tế - Luật
5. Tuyển tập Báo cáo Hội nghị sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thừ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w