Mục tiêu nghiên cứuHệ thống hóa một số vấn đề lý luận về Ngân hàng, tín dụng, tín dụng hộ sản xuất.Tìm hiểu phân tích đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuấttại chi nh
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, sản xuất nông nghiệp ngày
càng phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7.8%/năm Từ một nước thiếu lươngthực, Việt Nam trở thành nước thứ 2 Thế giới về xuất khẩu lương thực, các sản phẩmnông, lâm, thuỷ hải sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu Có nhiềuyếu tố góp vào thành công đó, trong đó tín dụng ngân hàng có một đóng góp hết sức
to lớn Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn qua kênh tín dụng ngân hàng tăng 30 40%/ năm Một trong những thay đổi cơ bản trong tín dụng ngân hàng đó là đầu tưcho nông nghiệp, nông thôn, chuyển hướng cho vay hộ sản xuất Vốn tín dụng ngânhàng đầu tư cho kinh tế hộ chiếm 60 - 70 % tổng dư nợ cho vay nông nghiệp, nôngthôn Mặt khác cơ chế cho vay với đối tượng này ngày càng được hoàn thiện Thông
-qua các điều luật: Luật các tổ chức tín dụng, quyết định 499A ngày 02/09/1993
Chính sách của Đảng, Chính Phủ ngày càng cởi mở và sát với thực tiễn, được NHNN
cụ thể bằng các cơ chế và NHNo & PTNT hướng dẫn trong các quy định cho vay Cóthể nói, việc mở rộng cho vay kinh tế hộ đã giúp cho hàng triệu hộ sản xuất được tiếpcận với tín dụng ngân hàng, có nhiều cơ hội để xoá đói, giảm nghèo và làm giầu trênmảnh đất quê hương, làm thay đổi cuộc sống người dân và bộ mặt nông thôn ngày
càng đổi mới
Tuy nhiên, trong quá trình Ngân hàng vận động, phát triển theo quy luật của kinh
tế thị trường, quan hệ tín dụng nông dân cũng bộc lộ một số kho khăn Việc nâng caohiệu qủa cho vay không phải lúc nào cũng thuận lợi, dễ dàng Các thủ tục, quy trình
cho vay luôn đòi hỏi phải cải tiến, vừa đảm bảo tiện ích cho người dân nhưng cũng
phải đảm bảo an toàn vốn cho Ngân hàng
Qua quá trình học tập, nghiên cứu và thời gian thực tập tại NHNo&PTNT Huyện
Kim Sơn em quyết định chọn đề tài “Thực trạng và một số giải pháp góp phần nâng cao hi ệu quả cho vay đối với hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Huyện Kim Sơn” làm đề
tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về Ngân hàng, tín dụng, tín dụng hộ sản xuất.Tìm hiểu phân tích đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuấttại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Kim Sơn qua 3 năm 2008-2010
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay hộ sản xuất
tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Kim Sơn trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập chung nghiên cứu hoạt động cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh
NHNo & PTNT Huyện Kim Sơn trong khoảng thời gian 2008 - 2010
4 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: NHNo & PTNT Huyện Kim Sơn
Thời gian: Thực trạng và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả cho vay
hộ sản xuất ở NHNo & PTNT Huyên Kim Sơn trong khoảng thời gian 2008 - 2010
5 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Là phương pháp hỏi trực tiếp cán bộ phòng
tín dụng về những dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu Phương pháp này được sửdụng trong quá trình thu thập số liệu và trong quá trình phân tích biến động của một
số chỉ tiêu mà đề tài nghiên cứu
Phương pháp quan sát: Được tiến hành trong thời gian thực tập tại chi nhánh,quan sát thái độ của khách hàng khi đến vay, cũng như cách thức làm việc, cách ứng
sử và sử lý tình huống của cán bộ tín dụng
Phương pháp đọc tài liệu: Tìm và đọc các tài liệu có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu để từ đó có những kiến thức phù hợp, phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Phương pháp thống kê: Là phương pháp dựa vào số liệu thu thập được, tiếnhành xác định trên các chỉ số, so sánh, đối chiếu và cân đối các chỉ tiêu trong phạm vi
Trang 3tuyệt đối của một giá trị nào đó.
Phương pháp phân tích: Là phương pháp dựa trên những số liệu sẵn có, để
phân tích những biến động và tìm ra nguyên nhân của những biến động đó, từ đó đưa
ra các giải pháp khắc phục một cách hiệu quả nhất
6 Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu Phần này được thiết kế thành 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo &
PTNT huyện Kim Sơn
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại chi
nhánh NHNo & PTNT huyện Kim Sơn
Phần III: kết luận và kiến nghị
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 4PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất lưu thông hàng hoá, Ngân hàng đã hìnhthành, phát triển và trở thành một nhân tố không thể thiếu trong sự phát triển của mỗiquốc gia Có thể nói, Ngân hàng là tổ chức tài chính quan trọng bậc nhất trong nềnkinh tế, là mạch máu của nền kinh tế giúp nền kinh tế vận hành một cách thông suốt,
điều này được chứng minh qua các thành quả và tiện ích to lớn mà ngân hàng đem lại
cho sự phát triển kinh tế, xã hội
Nói về đinh nghĩa Ngân hàng Thì có nhiều định nghĩa về Ngân hàng, tuỳ thuộcvào cách tiếp cận của từng nước mà có những định nghĩa khác nhau:
Ở Mỹ: “ NHTM là một công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong nghành công nghiệp dịch vụ tài chính”
Ở Pháp: “ NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền củacông chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho
chính họ và nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dich vụ tài chính”
Ở Việt Nam: Theo pháp lệnh ngày 23/05/1990 của hội đồng nhà nước Việt Nam
: “ NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí giử từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10/1998: “
NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”
Theo nghị định của chính phủ số 49/2001 NĐ/CP ngày 12/09/2000: “NHTM là
ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động có liên
quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước”.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 51.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa
người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Với chức
năng này NHTM vừa đóng vai trò là người cho vay, vừa đóng vai trò là người đi vay
đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, Ngânhàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
- Đối với người gửi tiền: Họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi củamình dưới hình thức lãi tiền gửi mà Ngân hàng trả, hơn nữa Ngân hàng còn đảm bảocho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi
- Đới với người đi vay: Họ sẽ thỏa mãn nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu,thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian tìm kiếm nơi cung ứngvốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp
- Đặc biệt đối với nền kinh tế , chức năng này có vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản
xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất
Chức năng trung gian tín dụng được xem là quan trọng nhất của NHTM.Vì nóphản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và pháttriển của Ngân hàng Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán
NHTM làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của
khách hàng: Như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa,
dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng thu tiền bán hàng và cáckhoản thu khác theo yêu cầu của họ Ở đây NHTM đóng vai trò là người “thủ quỹ”cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi Ngân hàng là người giữ tài khoản của họ
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chứcTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 6năng trung gian tín dụng Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, Ngân hàng đã mở cho
khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi việc thu, chi Đó chính là tiền đề để kháchhàng thực hiện thanh toán qua Ngân hàng, đặt Ngân hàng vào vị trí trung gian thanh
toán Hơn nữa việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể có nhiều rủi ro Điều này thúc đẩy nhu cầu thanh toán qua Ngân hàng của khách hàng
Việc các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn
đối với nền kinh tế, đồng thời cũng góp phần tăng thêm lợi nhuận cho Ngân hàng
thông qua việc thu phí thanh toán
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền
Khi có sự phân hóa trong hệ thống Ngân hàng, hình thành nên Ngân hàng pháthành và các Ngân hàng trung gian thì Ngân hàng trung gian không còn chức năng pháthành giấy bạc Ngân hàng nữa Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và trung gianthanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng thể hiện trên tài khoản tiền gửithanh toán của khách hàng tại NHTM Đây chính là một bộ phận của lượng tiền đượcthực hiện trong các giao dịch
Với chức năng này NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế,
đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả của xã hội Rõ ràng khái niệm tiền hay tiền giao
dịch không chỉ là tiền giấy do NHTW phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quantrọng là tiền ghi sổ do NHTM tạo ra
Chức năng này chỉ ra mối quan hệ tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Mộtkhối lượng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của NHTM, từ
đó làm tăng lượng tiền cung ứng
1.2 Tín dụng ngân hàng
1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
“Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân
hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định ”
(TS Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại.)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 71.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục đồng thời
góp phần đầu tư phát triển kinh tế
Việc phân phối tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế, tạo điềukiện cho quá trình sản xuất được liên tục Tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và
đầu tư Nó là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu
về vốn cho đầu tư phát triển
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn vốnhình thành nên vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp Tín dụng đã góp phần
động viên vật tư hàng hóa đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến độ khoa khọc kỹ thuật, thúcđẩy quá trình tái sản xuất xã hội
Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất
Hoạt động của Ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ chưa sử dụng, trên cơ sở đó
cho các đơn vị kinh tế vay Mặt khác quá trình đầu tư tín dụng được thực hiện một
cách tập trung chủ yếu là cho xí nghiệp lớn, những xí nghiệp kinh doanh có hiệu quả
Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế chưa phát triển và ngành
kinh tế mũi nhọn
Trong thời gian phát triển nông nghiệp và ưu tiên cho xuất khẩu….Nhà nước đãtập trung tín dụng để tài trợ sự phát triển các nghành đó, từ đó tạo điều kiện phát triểncác nghành khác
Tín dụng góp phần tăng cường chế độ hoạch toán kinh tế của các
doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi
tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sự huy động vốn có hiệu quả.Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả sửdụng vốn, giảm chi phí sản xuất tăng vòng quay sử dụng vốn, tạo điều kiện nâng caolợi nhuận cho doanh nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 8Tạo điều kiện phát triển quan hệ kinh tế với nước ngoài Trong điều kiện kinh tế
“mở”, tín dụng đã trở thành phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau
1.2.3 Các loại tín dụng Ngân hàng
1.2.3.1 Phân loại theo thời gian
- Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống Mục đích của loại cho vay này
thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động
- Tín dụng trung hạn: Từ 1 năm đến 5 năm Mục đích của loại vay này là nhằm
đầu tư vào tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang
thiết bị nhanh chóng hao mòn
- Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ
đầu tư vào các dự án, các công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu đường, máy móc
thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng dài
Phân loại theo thời gian có một ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian
liên quan đến tính an toàn và sinh lợi của món vay cũng như khả năng hoàn trả của
khách hàng
1.2.3.2 Phân loại theo tài sản đảm bảo
- Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cốhoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của khách hàng vay vốn để quyết
định cho vay
- Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo bằng tiền vay
như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của bên thư ba
Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có nguồn thu từ nợ thứhai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất không có hoặc không đủ,giảm thiểu khả năng rủi ro cho Ngân hàng tới mức tối ưu
1.2.3.3 Phân loại theo hình thức vay
- Chiết khấu thương phiếu: Là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng để sở hữu
một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nhận nợ) Về mặt pháp lý thi NgânTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 9hàng không phải cho vay đối với chủ thương phiếu Đây chỉ là hình thức trao đổi Tuy
nhiên đối với Ngân hàng, việc bỏ ra hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương
lai với lãi suất xác định trước được coi như hoạt động tín dụng Ngân hàng ứng trướctiền cho người bán nhưng thực chất là thay người mua trả tiền trước cho người bán
- Cho vay: Là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết là kháchhàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian đã xác định trước
- Bảo lãnh: Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh(khách hàng của Ngân hàng), bên bảo lãnh (Ngân hàng) NHTM đóng vai trò là bênbảo lãnh, dùng uy tín của mình cam kết với bên hưởng bảo lãnh về việc thực hiệnnghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ như đã cam kết Với hoạt động bảo lãnh Ngân hàng sẽ thu được một
khoản phí từ khách hàng của mình gọi là phí bảo lãnh Mặc dù không phải xuất tiền
ra, song Ngân hàng đã cho khách hàng mượn uy tín của mình để thu lợi
- Cho thuê: Là việc Ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theonhững mức thỏa thuận nhất định Sau thời gian nhất định khách hàng phải trả cả gốclẫn lãi cho Ngân hàng
1.2.3.4 Phân loại theo thành phần kinh tế
- Tín dụng doanh nghiêp: Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay
- Tín dụng hộ gia đình, cá nhân: Ngân hàng cho hộ cá nhân, gia đình vay
- Tín dụng hợp tác xã: Ngân hàng cho hợp tác xã vay
1.2.3.5 Phân loại tín dụng theo rui ro
- Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
- Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh: kháchhàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng gặp thiên tai,khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính
1.3 Hộ sản xuất
1.3.1 Khái niệm hộ sản xuất
Đề cập tới sự tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 10thấy rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền sảnxuất nông nghiệp trên thế giới Chúng ta có thể xem xét một số khái niệm khác nhau
về hộ sản xuất, trong một số từ điển chuyên nghành kinh tế và từ điển ngôn ngữ Hộsản xuất là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung và hoạt động kinh tế
chung, được xem như một chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định
Ở Việt Nam theo phụ lục 1 - văn bản 499A ngày 2/9/1993 của NHNo&PTNT
Việt nam“ Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình ”
1.3.2 Đặc điểm hộ sản xuất
- Hộ sản xuất : Là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một
đơn vị tiêu dùng Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất của các hộ sản xuất biểu hiện
trình độ phát triển của hộ, từ cơ chế khép kín, tự cung tự cấp đến sản xuất hàng hoá.Trình độ phát triển của các hộ sản xuất quyết định mối quan hệ của hộ sản xuất với thị
trường
- Về ngành nghề: Hộ sản xuất tiến hành sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực,
nhiều ngành nghề khác nhau rất đa dạng và phong phú Bao gồm nông lâm, ngư, diêmnghiệp và tiểu thủ công nghiệp Thậm chí nhiều hộ sản xuất còn tham gia trong cả lĩnhvực công nghiệp và xây dựng cơ bản Nhưng hiện nay, hoạt động trong lĩnh vực nôngnghiệp là chủ yếu
- Về nhân lực: Hộ sản xuất chủ yếu sử dụng nguồn lao động tự có là chủ yếu.
Tuy nhiên do quy mô sản xuất ngày càng lớn khi cần hộ sản xuất thuê thêm lao động,
có thể thường xuyên hoặc thời vụ
- Về quy mô sản xuất: Hộ sản xuất thường hoạt động với quy mô nhỏ tức là quy
mô gia đình và trang trại là chủ yếu Do điều kiện về nguồn, khả năng quản lý, sức
cạnh tranh trên thị trường…nên hộ sản xuất rất khó mở rộng quy mô Tuy nhiên trong
tương lai kinh tế hộ sản xuất sẽ phát triển với quy mô lớn
- Về khả năng quản lý: Khả năng quản lý của các hộ sản xuất còn rất nhiều hạn
chế, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tích luỹ trong cuộc sống
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 11- Nguồn vốn kinh doanh: Vốn để sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất chủ
yếu được hình thành từ ba nguồn cơ bản: Vốn tự có, vốn được tài trợ từ các nguồnvốn của các tổ chức phi chính phủ, và vốn từ các tổ chức tín dụng
1.3.3 Vai trò của kinh tế hộ sản xuất với nền kinh tế.
Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế
xã hội Là động lực khai thác các tiềm năng, tận dụng các nguồn vốn, lao động, tài
nguyên đất đai vào sản xuất làm tăng sản phẩm cho xã hội Là đối tác cạnh tranh của
kinh tế quốc doanh trong quá trình đó để cùng vận động và phát triển Hiệu quả đógắn liền với hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiết kiệm được chi phí, chuyển hướng sảnxuất nhanh tạo được quỹ hàng hóa cho tiêu dùng và xuất khẩu, tăng thu cho ngân sáchNhà Nước
Xét về lĩnh vực tài chính tiền tệ thì kinh tế hộ sản xuất tạo điều kiện mở rộng thị
trường vốn, thu hút nhiều nguồn đầu tư
Cùng với các chủ chương chính sách của Đảng và nhà nước đã tạo điều kiện chokinh tế hộ sản xuất phát triển, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và tạo
công ăn việc làm cho người lao động đồng thời góp phần đảm bảo trật tự an ninh xã
hội, nâng cao trình độ dân trí Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng dân chủ, văn minh.” Kinh tế hộ được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo ra
bước phát triển mạnh mẽ, sôi động: Sử dụng đất đai, lao động, vốn nhàn rỗi, công
nghệ và lợi thế sinh thái từng vùng có hiệu quả hơn Kinh tế hộ sản xuất cùng với một
bộ phận kinh tế trang trại đang trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu về lương thực,thực phẩm cho công nghệ chế biến nông, lâm, thủy sản: Sản xuất các ngành thủ côngphục vụ trong nước và xuất khẩu
1.4 Tín dụng ngân hàng với hộ sản xuất.
Trang 12quan hệ tín dụng với ngân hàng Đây cũng là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng điềukiện vay vốn của ngân hàng.
1.4.2 Quy trình cho vay của tín dụng hộ sản xuất.
Căn cứ vào nghị định số 14/CP ngày 02/03/1993 của thủ tướng chính phủ vàthông tư số 01/TT - NH ngày 26/03/1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ViệtNam hướng dẫn thực hiện nghị định “về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn và phát
triển nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và kinh tế nông thôn” Với mục đích tạo điều kiện
và khuyến khích những hộ vay vốn sản xuất kinh doanh để phát triển sản xuất hàng
hoá nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, công nghiệp, mở ngành nghề mới và kinh doanh
dịch vụ có hiệu quả thiết thực, tạo công ăn việc làm, góp phần xây dựng xã hội văn
minh, dân giàu nước mạnh
Nông nghiệp nông thôn là ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp, rủi ro, cho nên để
đảm bảo chất lượng đối với hộ sản xuất ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên
tắc tín dụng quy định: Hộ phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết trong hồ sơxin vay, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi có sai phạm trong quá trình sử dụngvốn, vốn phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn
Đối tượng cho vay của NHNo & PTNT Việt Nam gồm có:
- Cho vay ngắn hạn: Để tài trợ cho các hộ sản xuất mua sắm vật tư, chi phí trồngtrọt, chăn nuôi, chi phí các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp; vật tư, hàng hoá đối với
hộ làm dịch vụ và kinh doanh thương nghiệp
- Cho vay trung hạn: Đối tượng cho vay là chi phí mở rộng diện tích canh tác, chi
phí xây đắp ao hồ, xây dựng chuồng trại, chi phí đổi mới, cải tiến công nghệ, chi phí
sửa chữa lớn công cụ lao động
- Cho vay dài hạn: Đối tượng là chi phí xây dựng mới đồng ruộng, đồi cây, ao
hồ, nhà xưởng, phương tiện vận tải vừa và lớn, chi phí trồng và chăm sóc cây côngnghiệp, cây lâu năm, cây công nghiệp
Thủ tục cho vay căn cứ vào từng loại hộ vay và thời hạn cho vay, cụ thể là:
- Đối với cho vay ngắn hạn: Thủ tục vay vốn gồm giấy đề nghị vay vốn có xácnhận của chính quyền địa phương và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ xinvay theo mẫu của ngân hàng nông nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 13- Đối với cho vay trung, dài hạn: Ngoài các thủ tục trên còn phải có thêm luậnchứng kỹ thuật, sơ đồ mặt bằng, dự toán chi phí công trình, thiết kế, hợp đồng thi công(nếu có).
- Quy trình cho vay trực tiếp hộ sản xuất: Sau khi thủ tục đã được hoàn tất vàkhông có sai sót nào thì cán bộ tín dụng phụ trách viết phiếu hẹn khách hàng chậmnhất 15 ngày phải giải quyết Trưởng phòng tín dụng cử cán bộ tín dụng đi thẩm định.Khi cán bộ tín dụng thẩm định xong trình trưởng phòng tín dụng, nếu không phải tái thẩm
định thì trình giám đốc phê duyệt và thông báo cho khách hàng biết Khi đã có quyết định
cho vay, hồ sơ được chuyển cho cán bộ tín dụng để hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vayvốn sau đó bộ phận tín dụng chuyển hồ sơ cho bộ phận kế toán để tiến hành giải ngân vàsau mỗi định kỳ cán bộ tín dụng phải kiểm tra việc sử dụng vốn vay
- Quy trình cho vay qua tổ tín chấp: Tổ trưởng nhận giấy đề nghị vay vốn, lập
danh sách thành viên được chọn đề nghị ngân hàng cho vay, cán bộ tín dụng cùng tổtrưởng trực tiếp thẩm định hộ vay vốn, hướng dẫn làm hồ sơ, kiểm tra việc sử dụng
vốn vay, ngân hàng trực tiếp giải ngân đến từng hộ sản xuất và thu nợ trực tiếp khi
đến hạn và xử lý các vi phạm
1.4.3 Vai trò của tín dụng hộ sản xuất đối với nền kinh tế
1.4.3.1 Vai trò của tín dụng hộ sản xuất đối với bản thân khu vực kinh tế hộ.
- Tín dụng hộ sản xuất góp phần hình thành thị trường tài chính tín dụng, đáp
ứng nhu cầu vốn cơ bản cho sản xuất, chế biến, lưu thông hàng hoá của hộ sản xuất:
+ Là cầu nối giữa hộ thừa và thiếu vốn, thúc đẩy hạch toán, tiết kiệm chi phí vànâng cao hiệu quả sử dụng vốn
+ Hỗ trợ kịp thời vốn cho các hộ sản xuất, lưu thông hàng hoá trên địa bàn nông thôn
- Tín dụng hộ sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là tronglĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Chỉ có cơ cấu kinh tế phù hợp mới có khả năng nângcao hiệu quả kinh tế một cách bền vững của các đơn vị kinh tế nói chung và các hộsản xuất nói riêng
+ Tín dụng hộ sản xuất có thể tham gia vào tất cả các khâu của quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế NHTM cho các hộ sản xuất vay vốn trang bị máy móc công cụ,TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 14đổi mới giống cây trồng vật nuôi để mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và
chất lượng sản phẩm, cho vay để luân chuyển vật tư, tiêu thụ sản phẩm, từ đó tạo sự
cân đối hợp lý trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn
+ Tín dụng hộ sản xuất góp phần cải tạo cơ sở hạ tầng nông thôn, các cơ sơ chếbiến, tiêu thụ sản phẩm, tạo tiền đề cho kinh tế hộ phát triển
+ Tạo điều kiện nâng cao trình độ dân trí, chuyển giao công nghệ kỹ thuật sảnxuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
- Tín dụng hộ sản xuất giúp các hộ sản xuất nâng cao trình độ sản xuất, tăng
cường hạch toán kinh tế
Các hộ sản xuất khi vay tiền Ngân hàng, buộc phải tính toán thu, chi và tìm cách
bán được sản phẩm của mình để có tiền trả nợ Ngân hàng đúng hạn Điều đó thúc đẩy
việc hạch toán kinh tế, khai thác cao nhất các điều kiện sản xuất, tìm và chọn ra
phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả nhất, với chi phí thấp nhất Tín dụng Ngânhàng đã thúc đẩy các hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hànghoá theo cơ chế thị trường
- Tín dụng hộ sản xuất góp phần giảm tệ nạn cho vay nặng lãi, bán sản phẩm
chưa đến thời điểm thu hoạch ở nông thôn Nếu làm tốt công tác tín dụng hộ sản xuất
thì nguồn vốn Ngân hàng sẽ kịp thời giúp các hộ sản xuất bổ sung các chi phí vượtngoài khả năng tài chính của mình, có đủ thời gian để chọn thời điểm tiêu thụ sảnphẩm có lợi hơn Ngoài ra tín dụng hộ sản xuất sẽ góp phần tạo thêm công ăn việc
làm, tăng thu nhập và đẩy lùi các tệ nạn xã hội ở nông thôn
1.4.3 2 Vai trò của tín dụng hộ sản xuất đối với các Ngân Hàng Thương Mại
- Trải qua hơn 20 năm chuyển sang cơ chế thị trường, các NHTM Việt Nam đã
có những thay đổi nhanh chóng và tích cực, đem lại lợi nhuận cho bản thân đồng thời
giúp nhà nước thực hiện những chính sách của mình Trong đó hỗ trợ vốn cho nông
nghiệp nông thôn là một trong những vấn đề mà các cấp các ngành đang quan tâm
- Mặt khác hộ sản xuất nói riêng, thị trường tài chính tiền tệ ở khu vực nông thônnói chung là một thị trường vô cùng rộng lớn, đầy tiềm năng để mở rộng và phát triểncác hoạt động ngân hàng Nhu cầu vốn để phát triển nông nghiệp, nông thôn còn rấtTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 15lớn, các hoạt động dịch vụ sản phẩm mới của ngân hàng dường như chưa triển khai,các yêu cầu, đòi hỏi của khách hàng không cao, tính cạnh tranh không gay gắt… Điều
đó phần nào phù hợp với khả năng và trình độ của NHTM Việt Nam, nhất là tronggiai đoạn chủ động tham gia hội nhập quốc tế của các NHTM Việt Nam hiện nay Đó
chính là thị trường ổn định, thị trường "hậu phương" cho các NHTM cạnh tranh vớiNgân hàng quốc tế ngay trên đất nước Việt Nam
- Tín dụng hộ sản xuất hiện nay còn là một thị trường rất lớn tiêu thụ các nguồnvốn nhàn rỗi mà các NHTM đã và đang huy động đươc ở các đô thị lớn, nơi mà những
năm gần đây có nhiều nguồn vốn quốc tế hỗ trợ Điều đó góp phần thực hiện chủtrương của Đảng, của Chính Phủ về việc khai thác triệt để các nguồn nội lực để đẩy
nhanh quá trình xây dựng đất nước
1.4.3.3 Vai trò của tín dụng hộ sản xuất của NHTM xét trên phạm vi nền kinh tế.
- Tín dụng hộ sản xuất góp phần thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, góp phần xâydựng hạ tầng cơ sở ở nông thôn, cải thiện bộ mặt nông thôn, tức là góp phần thúc đẩymột phần - phần đông dân nhất của nền kinh tế phát triển
- Tín dụng hộ sản xuất góp phần mở rộng, hoàn thiện thị trường tài chính tiền tệtrên toàn quốc, khai thác có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực ở nông thôn, tạo thị
trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp, tạo môi trường nghiên cứu, triển khai các thành
tựu mới của khoa học kỹ thuật, tạo thêm nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp
và xuất khẩu
- Tín dụng hộ sản xuất tạo điều kiện khôi phục các ngành nghề truyền thống, tạo
thêm công ăn việc làm, tạo thêm nhiều sản phẩm xuất khẩu, nâng cao đời sống nhân dân,
giảm bớt các tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội
- Tín dụng hộ sản xuất còn góp phần tích cực trong việc thực hiện đường lốiCNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng, triển khai các chính sách kinh tế xãhội của Chính Phủ trong nông thôn, tạo thêm niềm tin cho lực lượng dân cư đông đảonhất, là cơ sở để tạo nên sự ổn định chính trị đất nước
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 161.5 Hiệu quả cho vay hộ sản xuất của Ngân Hàng Thương Mại
1.5.1 Quan điểm về hiệu quả tín dụng
Hiệu quả tín dụng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnh
vực Ngân hàng, nó phản ánh chất lượng của các hoạt động tín dụng Ngân hàng Đó là khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế
xã hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn mang lại lợi nhuận của NHTM từ nguồn tích lũy do đầu tư tín dụng và do đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế Trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng.
Vì vậy, hiệu quả tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế phù hợp phản ánh khả năngthích nghi của tín dụng Ngân hàng với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan (khả năngquản lý, trình độ của cán bộ quản lý), khách quan (mức độ an toàn vốn tín dụng, lợinhuận của khách hàng, sự phát triển kinh tế xã hội….) Do đó hiệu qua tín dụng là kếtquả của mối quan hệ biện chứng giữa Ngân hàng và khách hàng vay vốn, nền kinh tế
xã hội, cho nên khi đánh giá hiệu quả tín dụng cần xem xét cả 3 phía: Ngân hàng,khách hàng và nền kinh tế
1.5.2 Các nhân tố ánh hưởng đến hiệu quả tín dụng
1.5.2.1 Nhân tố khách quan
* Chất lượng của cán bộ tín dụng
Trong quá trình cho vay cán bộ tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất, họ là
người trực tiếp, tiếp xúc, phân tích khách hàng, kiểm tra tư cách khách hàng, thẩmđịnh dự án xin vay của khách hàng,
Chất lượng cán bộ tín dụng thể hiện ở trình độ nghiệp vụ và khả năng giao tiếp,kiến thức tổng hợp cũng như kiến thức về marketing, tin học, hiểu biết về kinh tế – xãhội…có trách nhiệm trong công việc và có tư tưởng đạo đức lành mạnh Cán bộ tíndụng đủ năng lực, trình độ sẽ giúp cho việc cho vay đạt hiệu quả cao vì chỉ có thế việcphân tích, kiểm tra, giám sát, thẩm định khách hàng, phương án sản xuất kinh doanhmới chính xác, an toàn và hiệu quả được
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 17* Cơ sở vật chất trang thiết bị ngân hàng
Là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng nói chung và tớichất lượng cho vay nói riêng Với trang thiết bị hiện đại có thể giúp ngân hàng thựchiện nghiệp vụ, cho vay một cách nhanh chóng
Ngân hàng được trang bị hệ thống máy tính hiện đại nối mạng thì khách hàngđến với ngân hàng sẽ được quản lý trong mạng máy tính, các thông tin liên quan đượclưu trữ nhanh chóng và hiệu quả Ngoài ra các trang thiết bị của ngân hàng có thể tạo
tâm lý tin tưởng hay không tin tưởng vào hoạt động của ngân hàng Như vậy yếu tốtrang thiết bị ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng, đảm bảo việc cho vay
được tốt hơn
Tuy nhiên, các trang thiết bị của ngân hàng cũng phải phù hợp với khả năng tài
chính, địa bàn hoạt động và quy mô của ngân hàng
* Thông tin tín dụng:
Là các thông tin liên quan đến khách hàng bao gồm những thông tin về tình hình
tài chính, năng lực của khách hàng Thông tin tín dụng có thể khai thác từ nhiềunguồn như trực tiếp từ khách hàng, từ bạn hàng của khách hàng, từ chính quyền địa
phương nơi khách hàng sinh sống hoặc kinh doanh … số lượng, chất lượng của thông
tin thu thập được có liên quan đến mức độ chính xác trong phân tích tín dụng, thông
tin càng đầy đủ, chính xác, toàn diện thì chất lượng cho vay càng được nâng cao do
ngân hàng có thể căn cứ vào thông tin đó để phòng ngừa rủi ro
.* Năng lực tài chính của khách hàng
Năng lực tài chính của khách hàng thể hiện ở mức vốn tự có của khách hàng
tham gia vào dự án sản xuất kinh doanh, tài sản thế chấp, tài sản đảm bảo lớn Nănglực tài chính của khách hàng cao khả năng thu hồi vốn của ngân hàng lớn thì chất
lượng cho vay tăng
* Phương án sản xuất kinh doanh
Phương án vay vốn có khả năng thực thi cao, có khả năng tạo lợi nhuận lớn, ít rủi
ro thì khả năng trả nợ của khách hàng được đảm bảo Mặt khác, khách hàng sử dụngtiền vay đúng đối tượng, đúng mục đích thì mới có giá trị thực tiễn, việc thu nợ gốc vàTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 18lãi sẽ khả thi Như vậy, chất lượng của khoản vay sẽ tốt nếu phương án vay vốn củakhách hàng khả thi và khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích.
* Uy tín của khách hàng
Khách hàng có uy tín sẽ luôn tìm cách để hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả
nợ ngân hàng đúng hạn, không chây ì, lừa đảo gây tổn thất cho ngân hàng Đạo đức,
uy tín của khách hàng ảnh hưởng đến độ xác thực trong thông tin cung cấp cho cán bộthẩm định của ngân hàng, là yếu tố tác động tới tính chính xác trong hoạt động thẩm
định và quyết định cho vay của ngân hàng
1.5.2.2 Nhân tố chủ quan
Ngoài yếu tố chủ quan chất lượng cho vay còn phụ thuộc vào yếu tố khách quan
như môi trường tự nhiên xã hội, môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, chủ trương
chính sách của Nhà nước
* Môi trường tự nhiên xã hội
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay của Ngân hàng đặc
biệt là những khoản cho vay hộ sản xuất
Yếu tố tự nhiên thuận lợi, ít bị thiên tai, hạn hán, lũ lụt sẽ tác động tốt tới hoạt
động sản xuất kinh doanh, tăng năng suất, hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh, giảm thiệt hại cả về người và của cho mọi người Ngược lại điều kiện tự nhiên,khí hậu khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn, chịu ảnh hưởng nhiều của thiên tai,
địch hoạ sẽ tác động xấu đến sản xuất kinh doanh của khách hàng, khách hàng làm ăn
thua lỗ, mất khả năng trả nợ cho Ngân hàng
Điều kiện xã hội ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của Ngân hàng như phong
tục tập quán, thói quen, niềm tin, trình độ dân trí, trật tự an ninh xã hội, các chính sáchphát triển kinh tế xã hội, mật độ dân số…
Nếu Ngân hàng hoạt động ở địa bàn có mật độ dân số và trình độ dân trí cao, cácchính sách phát triển kinh tế xã hội ổn định thì hoạt động sẽ đạt hiệu quả và chất
lượng cao Ngược lại, Ngân hàng hoạt động trên địa bàn có trình độ dân trí, mật độ
dân số thấp, phong tục tập quán lạc hậu, môi trường và các chính sách xã hội bất ổn
định sẽ ảnh hưởng xấu tới chất lượng hoạt động Ngân hàng Các doanh nghiệp và hộ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 19sản xuất kinh doanh trong điều kiện bất ổn sẽ không mang lại hiệu quả và từ đó thiếukhả năng trả nợ Ngân hàng, trình độ dân trí thấp dẫn đến thiếu hiểu biết trong hoạt
động kinh doanh, làm ăn kém hiệu quả, không am hiểu pháp luật và nhận thức kém về
trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng điều đó ảnh hưởng trực tiếp đếnchất lượng cho vay của Ngân hàng
* Môi trường kinh tế
Mọi thành phần kinh tế hoạt động trong môi trường kinh tế đều chịu ảnh hưởngcủa các yếu tố vĩ mô như các chính sách kinh tế, quy luật cung cầu, quy luật giá trị,tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát…
Môi trương kinh tế ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,
các chủ thể kinh tế trong đó có cả Ngân hàng Nếu hoạt động trong môi trường kinh tếphát triển tốc độ cao, ổn định, cạnh tranh lành mạnh, giá cả ổn định… sẽ tác động tíchcực đến hoạt động kinh doanh, khả năng kinh doanh tốt, đem lại lợi nhuận cao sẽ tác
động tích cực tới hoạt động của Ngân hàng Ngược lại trong tình hình kinh tế suy
thoái, lạm phát cao, giá cả bất ổn định sẽ tác động xấu tới hoạt động sản xuất kinhdoanh ảnh hưởng xấu tới chất lượng cho vay của Ngân hàng, lạm phát cao thì lãi suấtthực của Ngân hàng giảm, lãi suất cao Ngân hàng gặp khó khăn trong cho vay, chất
lượng cho vay giảm
Môi trường pháp lý hoàn thiện có tác dụng kích thích hoạt động kinh doanh của
các chủ thể kinh tế, ngược lại luật pháp chông chéo, không nhất quán, thủ tục hànhchính phiền hà, an ninh trật tự không ổn định… kìm hãm hoạt động kinh doanh tự đó
tác động đến chất lượng hoạt động Ngân hàng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 201.5.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng
1.5.3.1 Doanh số cho vay
Doanh số cho vay là tổng số tiền mà Ngân hàng cho khách hàng vay trong mộtthời kì nhất định ( thường tính theo năm tài chính là 1 năm) Đây là con số mang tínhthời kì, phản ánh một cách khái quát tình hình hoạt động của Ngân hàng trong năm tàichính Chính vì vậy, doanh số cho vay càng lớn, đạt tỷ lệ càng cao và tăng so với năm
trước chứng tỏ hiệu quả cho vay của Ngân hàng tôt và ngày càng được mở rộng Đối
với cho vay hộ sản xuất, doanh số cho vay là tổng số tiền mà Ngân hàng cho các hộsản xuất vay trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.Chỉ tiêu này gồm cả về tuyệt đối và tương đối Chỉ tiêu này càng lớn phản ánh hoạt
động cho vay hộ sản xuất tăng trưởng nhanh và hiệu quả
1.5.3.2 Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là tổng số tiền mà khách hàng đã trả cho Ngân hàng tính đếnmột thời điểm nhất định Chỉ tiêu này thể hiện chất lượng thẩm định xét duyệt cáckhoản vay của cán bộ tín dụng, đồng thời nói lên hiệu quả của các phương án sản xuấtkinh doanh của các hộ vay, thể hiện qua khả năng trả nợ của khách hàng, từ đó có thể
đánh giá được chất lượng tín dụng
1.5.3.4 Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn Nợ quá hạnbao gồm các khoản nợ từ nhóm 2 (trừ nhữn khoản nợ đã được cơ cấu lại kì hạn trả nợ)
đến các khoản nợ thuộc nhóm 5 Đây là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng
tín dụng của Ngân hàng trong một thời kì nhất định, phản ánh hiệu quả cho vay củaNgân hàng qua chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 211.5.3.5 Nợ xấu
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 quy định trong các điều khoản củaquyết định 493/2005/QĐ – NHNN của chính phủ Cũng tương tự như chỉ tiêu nợ quáhạn, chỉ tiêu dung để đánh giá chất lượng tín dụng trong một thời kỳ nhất định, phảnánh qua tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
1.5.3.6 Chỉ tiêu phân tích nguồn vốn cho vay HSX
được bao nhiêu đồng vốn
Tổng dư nợ trên Nguồn vốn huy động
Tổng dư nợ HSX
Vốn huy độngChỉ số này xác định hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy động Nó giúp cho
nhà phân tích so sánh khả năng cho vay đối với HSX của Ngân hàng với nguồn vốn HĐ
Nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ quá hạn HSX
Tổng dư nợChỉ tiêu này đánh giá mức độ rủi ro của Ngân hàng và phản ánh rõ nét kết quả hoạt
động của Ngân hàng trong cho vay với HSX
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 22CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ
SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNo & PTNT HUYỆN KIM SƠN
2.1 Tổng quan về NHNo & PTNT thôn Huyện Kim Sơn.
NHNo & PTNT Huyện Kim Sơn được thành lập sau năm 1975 trực thuộc NHNo
& PTNT tỉnh Hà Nam Ninh với nhiệm vụ chủ yếu là thu hút tiền gửi tiết kiệm và vốnnhàn rỗi trong xã hội, để cho vay với kinh tế tập thể nhằm phát triển kinh tế theo kếhoạch hóa nhà nước
Ngày 01/04/1992 Ngân hàng kim sơn được bàn giao trả lại NHNo tỉnh Ninh Bình,sau khi tỉnh Hà Nam Ninh được tách thành 3 tỉnh: Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định
Trải qua mấy chục năm hoạt động NHNo & PTNT Huyện Kim Sơn khôngnhững hoàn thành tôt nhiệm vụ của một NHTM mà còn đạt được nhiều thành tích tolớn, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của tỉnh, đối với hộ sản xuất Ngân hàng là
nơi cung cấp vốn kịp thời, đảm bảo với lãi xuất phù hợp, đồng thời cung cấp thêm
nhiều dịch vụ như thanh toán, nhân tiền gửi tiêt kiệm ….góp phần thay đổi bộ mặtnông thôn ngày nay
Hiện nay NHNo & PTNT Huyện Kim Sơn là một Ngân hàng cấp 2 loại 3 cóquyền tự chủ kinh doanh, có con dấu riêng, có bảng cân đối tài khoản theo quy địnhcủa NHNo & PTNT Việt Nam Đến nay NHNo & PTNT Huyện Kim Sơn có 2 chi
nhánh và 1 văn phòng giao dịch trải khắp cả huyện phục vụ các đối tượng khách hàng
bao gồm: Các doanh nghiệp, cá nhân, HTX … Thuộc mọi thành phần kinh tế Từ khi
được thành lập đến nay uy tín, chất lượng của Ngân hàng ngày một được củng cố và
phát triển, luôn là người đồng hành tin cậy của khách hàng
Tình hình phát triển kinh tế Huyện Kim Sơn trong thời gian qua:
Những năm vừa qua cùng với nền kinh tế nước ta nói chung, Huyện Kim Sơn đã
và đang bước vào thời kì cải cách, chuyển đổi nền kinh tế, từng bước xóa đói giảm
nghèo, bỏ mô hình kinh tế tập chung, chuyển sang kinh tế thị trường có sự điều tiếtquản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, đã và đang đi dần vào thế ổn định, và
đạt tốc độ tăng trưởng cao Kim Sơn đã dần thay đổi và thích ứng với nền kinh tế hàng
hóa, tốc độ đô thi hóa và công nghiệp hóa trên địa bàn diễn ra nhanh chóng Tuy nhiênTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 23kinh tế hộ sản xuất trên địa bàn vẫn có một vị trí nhất định, tồn tại và phát triển chủyếu trong làng, xã Vấn đề tài chính tiền tệ cũng được chấn chỉnh và đổi mới.
Kim Sơn đã thoát khỏi suy thoái, phát triển liên tục với tốc độ nhanh, mức tăngtrưởng ổn định và có sự gia tăng liên tục, có được điều này là do Đảng và Nhà Nước
ta đã ban hành nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, chính
sách tín dụng ngân hàng mở rộng đã tháo gỡ được nhiều khó khăn vướng mắc về vốncho hộ sản xuất Tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh, đời sống nhân dân
được nâng cao
2.2 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
2.2.1 Cơ cấu tổ chức
2.2.2 Chức năng của các phòng ban
Phòng tín dụng
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng và
đề xuất các chính sách ưu đãi đối với khách hàng nhằm mở rộng theo hướng đầu tư tín
dụng khép kín, sản xuất, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu và gắn tín dụng sản xuất, lưuthong và tiêu dung
- Phân tích kinh tế theo nghành, nghề kĩ thuật, danh mục khách hàng lựa chọnbiện pháp cho vay an toàn đạt hiệu quả cao
- Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án kinh tế theo phân cấp ủy quyền
- Thẩm định các dự án, hoàn thiện hồ sơ trình NHNo & PTNT cấp trên theo phâncấp ủy quyền
Phòng TD
NH cấp III BM
Phòng GDNH
ân hòa
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 24- Tiếp nhận thực hiện các nguồn vốn trong nước và ngoài nước Trực tiếp làmnhiệm vụ ủy thác nguồn vốn thuộc Chính Phủ, Bộ, Ngành khác và các tổ chức kinh tế
cá nhân trong và ngoài nước
- Giúp giám đốc chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng của các chi nhánh NHNo &
và của NHNo & PTNT Việt Nam quy định
- Tham mưu cho ban giám đốc trong việc sử lý các nhiệm vụ của phòng có chất
lượng và hiệu quả
- Thực hiện nhiệm vụ kế toán của Ngân hàng
- Tham mưu cho ban giám đốc trong triển khai thực hiện các chính sách, chế độ,thể lệ nhà nước của ngành, của địa phương và thực tiễn kinh doanh của Ngân hàng
liên quan đến nhiệm vụ của ngành
- Lập báo cáo về công tác tín dụng, báo cáo về hoạt động sản xuất kinh doanh
- Quản lý trực tiếp và bảo quản Việt Nam Đồng, ngân phiếu thanh toán, cácngoại tệ, chứng từ có giá, các loại ấn chỉ quan trọng, các hồ sơ thế chấp cầm cố kí gửitheo chế độ quản lý kho quỹ trong hệ thống NHNo & PTNT hiện hành
- Bộ phận vi tính có trách nhiệm lưu trữ số liệu, quản lý về thông tin, cập nhậtcông nghệ cao cho Ngân hàng
2.3 Tình hình nguồn lực của ngân hàng
2.3.1 Tình hình lao động.
Lao động là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong bất cứ lĩnh vực hoạt động
nào Việc bố trí, sắp xếp và sử dụng lao động ảnh hưởng đến kết quả hoạt động củaTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 25chi nhánh Trong những năm qua do ý thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lựcnên NHNo & PTNT Huyện Kim Sơn đã chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ,sắp xếp bố trí cán bộ vào các vị trí phù hợp với chuyên môn và năng lực nhằm nângcao hiệu quả công việc.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 26Bảng 1: Tình hình lao động của chi nhánh NHNo & PTNT huyện Kim Sơn qua 3 năm 2008-2010
2 Lao động gián tiếp 5 5 5 0 0.0 0 0.0
1 Đại học và trên đại học 21 23 24 2 9.5 1 4.3
2 Cao đẳng, trung cấp 8 8 9 0 0.0 1 12.5
1 Lao động nam 16 14 13 -2 -12.5 -1 -7.1
2 Lao động nữ 19 22 24 3 15.8 2 9.1
(Nguồn từ phòng kế toán của ngân hàng)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 27Nhận xét: Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy số lượng lao động ở chi nhánh it biến
động và hầu như biến động đều Năm 2008 tổng số lao động la 35 người, năm 2009 là
36 người tăng lên 1 người tương ứng với tỷ lệ tương đối là 2.9% so với năm 2008.Đến năm 2010 tổng số lao động là 37 người tăng 1 người tương với tỷ lệ 2.8% so vớinăm 2009 Với địa bàn 26 xã và 1 thị trấn thì số lượng cán bộ công nhân viên của
Ngân hàng như vậy phải sử lý một khối lượng công việc rất lớn
Về phân loại theo tình hình lao động, số lượng lao động trực tiếp tăng qua các
năm, năm 2008 số lao động trực tiếp là 32 người, chiếm 85.7%, năm 2009 là 31 người
chiếm 86.1% tăng về lượng tuyệt đối là 1 và tỷ lệ tương đối là 3.3% so với năm 2008
Đến năm 2010 số lao động trực tiếp là 32 người tăng 1 người chiếm 3,2% so vớinăm 2009 Với hoạt động cho vay là chủ yếu Ngân hàng bố trí sắp xếp LĐTT tăngqua các năm cho thấy Ngân hàng luôn luôn quan tâm đến hoạt động tín dụng, luôn
chú trọng nâng cao chất lượng CBCNV nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cho vay
Đối với lao động gián tiếp thì do quy mô của Ngân hàng không thay đổi, những laođộng này thường là lao động phổ thông cho nên số lượng ít biến động trong 2 năm qua
số lượng lao động này không tăng cũng không giảm qua các năm
Xét về trình độ, số nhân viên có trình độ đại học cao đẳng ngày càng tăng lên
qua các năm, năm 2008 -2009 cán bộ có trình độ đại học tăng 1 người tương ứng với9,5%, năm 2009-2010 tăng 1 người chiếm 4,3%, đối với nhân viên sơ cấp và chưa quađào tạo giảm qua các năm năm 2008-2009 giảm 1 người chiếm 16,7%, năm 2009-
2010 giảm 1 người chiếm 20% Qua đây cho thấy ngân hàng rất chú trọng đến việcnâng cao trình độ của CBCNV để đáp ứng nhu cầu công việc nâng cao chất lượngcông việc của Ngân hàng trong thời gian tới
Xét về gới tính lao động nam có xu hướng giảm qua các năm, năm 2008 là 16
người chiếm 45,7%, đến năm 2009 giảm còn 14 người chiếm 38,9% Nhưng số cán bộ
nữ tại chi nhánh lại biến động tăng dần, tăng 3 người trong năm 2008-2009 chiếm
15,8% tăng 2 người năm 2009-2010 chiếm 9,1% Mặc dù số lao động nữ nhiều nhưng
không làm giảm hiệu quả công việc, cán bộ vẫn tích cực làm việc, nâng cao trình độ
để đáp ứng công việc.Nhìn chung lao động của ngân hàng có chất lượng tốt và phân
bố hợp lý Tuy nhiên, Ngân hàng vẫn phải chú trọng tới việc nâng cao trình độ, bồi
dưỡng chuyên môn vững chắc nhằm đáp ứng nhu cầu công việc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 28Trong những năm qua NHNo & PTNT Huyện Kim Sơn đã không ngừng nângcao trình độ trang thiết bị kỹ thuật công nghệ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ CBCNV Nhờ đó Ngân hàng đã thu hút được nhiều nguồn vốn thuộc mọi thànhphần kinh tế trên địa bàn với số lượng ngày càng tăng
Bảng 2: Tình hình huy động vốn của chi nhánh NHNo & PTNT
huyện Kim Sơn qua 3 năm 2008-2010
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2008
Năm 2009
Năm
2010 So sánh 09/08 So sánh 10/09
trị (%) Giá trị (%)Tổng nguồn vốn
85172 89195 139774 4023 4.7 50579 56.7
1 Nội tệ
69271 70604 115400 1333 1.9 44796 63.4Tiền gửi không
Tiền gửi < 12 T
23611 22599 44355 -1012 -4.3 21756 96.3Tiền gửi từ 12 T -
(Nguồn từ trưởng phòng tín dụng NHNo & PTNT huyện Kim Sơn)
Qua bảng số liệu trên ta nhân thấy: Tổng nguồn vốn huy động tăng đều qua các
năm, năm 2008 tổng nguồn vốn huy động là 85.172 triệu, năm 2009 tổng vốn huy
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 29huy động vốn Không chỉ dừng lại ở đó năm 2010 số vốn huy động của Ngân hàng là
139.774 triệu, tăng so với năm 2009 một lượng 50.579 triệu tương ứng với tỷ lệ 56,7
% Đây là một sự vượt bậc trong công tác huy động vốn của Ngân hàng qua đây cho
thấy Ngân hàng đã có sự cải tiến trong công tác huy động vốn, mở rộng quy mô đồngthời tạo được lòng tin của khách hàng đối với Ngân hàng
Góp phần vào sự gia tăng của tổng vốn huy động ta phải nói tới các nhân tốsau: Tiền gửi nội tệ: Tiền gửi nội tệ tăng mạnh qua các năm, năm 2009 tiền gửi nội tệ
tăng một lượng 1.333 triệu tương ứng với 1,9%, đến năm 2010 con số này đã lên đến
44.796 triệu tương ứng với tỷ lệ 63,5 % , trong đó tiền gửi không kì hạn góp phần lớnnhất của tiền gửi nội tệ, năm 2009 tiền gửi không kì hạn tăng 6,1 % so với năm 2008,
nhưng đến năm 2010 mức tăng đã là 45,1% đây là một con số rất lớn thể hiên thànhtích vượt bậc của Ngân hàng Sở dĩ có được điều này là do, trước đây người dân dư
tiền thường đem cho vay lấy lãi, song hình thức cho vay này không an toàn, và họ chỉ
có thể lấy được tiền khi hết hạn cho vay, với điều kiện người vay có thiện chí trả tiền,tuy nhiên khi gửi Ngân hàng thì người dân ngoài việc nhận lãi có thể rút tiền bất cứlúc lào họ cần, tạo tính thanh khoản cho khoản tiền gửi Đồng thời khi gửi tiền vàoNgân hàng thì khoản tiền gửi đó luôn được đảm bảo an toàn
Bên cạnh đó hiện tại trên địa bàn xuất hiện rất nhiều doanh nghiệp sản xuất đâychính là nguyên nhân dẫn đến sự tăng vượt bậc của các khoản tiền huy động được Vìcác doanh nghiệp hoạt động thường xuyên lên thường có các khoản tiền nhàn rỗitrong một thời gian ngắn, đồng thời họ cũng cần một phương thức để thanh toán tiềncho khách hàng, khi gửi tiền vào Ngân hàng họ không những có thêm một phươngthức thanh toán hiệu quả mà còn có thêm một khoản lãi cho số tiền gửi
Tuy nhiên với tiền gửi dưới 12 tháng và từ 12 tháng đến 24 tháng lại có sự biến
động lên xuống, năm 2009 cả hai hình thức cho vay này đều giảm với tỷ lệ 4,3% và
4,1% so với năm 2008, còn tiền gửi trên 24 tháng thì vẫn tăng với 1 lượng không lớn,
năm 2010 các hình thức này đều tăng với một tỷ lệ tương đối cao song giá trị trong
tổng số vốn huy động không lớn Do tình hình thị trường tiền tệ và đặc biệt là thị
trường vàng tăng giá mạnh thu hút sự chu ý của cả nền kinh tế nên các hình thức cho
vay dài hạn không được ưa chuộng Tuy thế thì các hình thức này cũng đã góp phầnTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 30năm 2009 là 18591 triệu, tăng 2.609 triệu so với năm 2008 tương ứng 16,9% , đếnnăm 2010 tiền ngoại tệ là 24074 triệu tăng 1 lượng 5783 triệu so với năm 2009 tươngứng với tỉ lệ 31,1% Tiền ngoại tệ gửi tại Ngân hàng chủ yếu là tiền gửi kì hạn dưới 12tháng do trên địa bàn có các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng mây tređan, nên khi đối tác thanh toán qua Ngân hàng thì doanh nghiệp có một lượng ngoại tệ
trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của mình
Có thể nói công tác huy động vốn của Ngân hàng trong 3 năm qua đã đạt đượckết quả rất khả quan Ngân hàng luôn quan tâm tới công tác huy động vốn tại chỗ, như
đề ra các biện pháp đẩy mạnh tăng trưởng vốn, chỉ đạo CBCNV nắm chặt địa bàn, nắm
rõ nhu cầu nhân dân để huy động nguồn vốn nhàn rỗi làm cho thương hiệu AGRIBANK
đứng vững trên địa bàn Đa dạng hóa loại hình dịch vụ là một trong những lỗ lực của
Ngân hàng nhằm cung cấp thêm sự lựa chọn cho khách hàng Cơ cấu loại hình đa dạngbao gồm cả nội, ngoại tệ, ngắn – trung và dài hạn cung cấp mọi tầng lớp nhân dân vàoTCKT Bên cạnh đó là việc kết hợp khéo léo các hình thức khuyễn mãi, ưu đãi, tuyêntruyền sản phẩm dịch vụ trên khắp địa bàn …….Đồng thời định kì phải tổng hợp đánhgiá hoạt động, rútt kinh nghiêm, báo các lên BGĐ để có phương pháp điều chỉnh và đẩymạnh hoạt động trong thời gian tiếp theo
2.3.3 Tình hình sử dụng vốn
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho NHNo &PTNT Huyện Kim Sơn Do đó, công tác nâng cao chất lượng tín dụng nhằm mở rộngthị phần và giảm thiểu rủi ro cho vay là công tác được Ngân hàng luôn quan tâm coitrọng, coi nó là nhân tố khẳng định sự lớn mạnh về quy mô của Ngân hàng và đónggóp vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện nói riêng và của tỉnh nói chung
2.3.3.1 Doanh số cho vay
Qua trên ta thấy kết quả doanh số cho vay của Ngân hàng đã phản ánh phần nàohiệu quả hoạt động cho vay của Ngân hàng, trên cơ sở xuất phát từ nhu cầu của khách
hàng, ngân hàng đã lỗ lực tìm các biện pháp để khai thác và thỏa mãn tôt nhất nhu cầu đó
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 31Bảng 3: Tình hình cho vay vốn của chi nhánh NHNo & PTNT huyện Kim Sơn
(Nguồn từ trưởng phòng tín dụng NHNo & PTNT huyện Kim Sơn)
Biểu đồ 1: Doanh số cho vay
Qua bảng số liệu ta thấy doanh số cho vay của ngân hàng qua 3 năm đều tăngmạnh Năm 2008 doanh số cho vay đạt 148.301 triệu, năm 2009 doanh số cho vay đạt162.188 triệu, tăng 13.887 triệu tương ứng 9.4% so với năm 2008 Năm 2010 doanh
số cho vay là 207.936 triệu tăng 45.748 triệu tương ứng với tỷ lệ tăng 28.2% so với
năm 2009 Đây là kết quả đáng khích lệ của CBTD và BLĐ ngân hàng trong việc
nâng cao doanh số cho vay
Doanh số cho vay tăng là do các nhân tố sau: Doanh số cho vay ngắn hạn năm
2009 tăng 12,9% so với năm 2008, năm2010 tăng 26.9% so với năm 2009 Qua đây
Doanh số cho vay
0 20 40 60 80 100
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 32số cho vay ngắn hạn tăng do Ngân hàng có nhiều chính sách tiếp cận với người dân vàdoanh nghiệp Trước đây người dân và doanh nghiệp muốn vay vốn SXKD thườngphải đi vay nặng lãi, lúc vay được lúc không Do nắm bắt được điều này Ngân hàng đã
mở nhiều hình thức cho vay để phục vụ nhu cầu của người dân với lãi xuất ưu đãi đáp
ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho người dân
Doanh số cho vay trung và dài han cũng tăng qua các năm, năm 2009 tăng0.4% so với năm 2008, năm 2010 tăng 32% so với năm 2009 Doanh số cho vay trung
và dài hạn tăng do trên địa bàn xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp, đồng thời các hộ
nông dân đã và đang xây dựng các làng nghề truyền thống như: Làm miến, nấu rượi,
mây tre đan Do các hộ cần vốn lâu dài để SXKD
2.3.3.2 Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ chỉ được thực hiện khi ngân hàng đã giải ngân hết vốn vay.Tùy theo hình thức vay mà công tác thu nợ sẽ được triển khai khác nhau, thu hồi nợ ở
đây bao gồm cả gốc và lãi
Bảng 4 Tình hình thu nợ của chi nhánh NHNo & PTNT huyện Kim Sơn
qua 3 năm 2008-2010
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2008
Năm 2009
(Nguồn từ trưởng phòng tín dụng NHNo & PTNT huyện Kim Sơn)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Trang 33Doanh số thu nợ
0 20 40 60 80 100 120 140 160
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Qua bảng số liệu ta thấy doanh số thu nợ năm 2008 là 110.058 triệu, năm 2009
là 140.047 triệu tăng 29.999 triệu so với năm 2008 tương ứng với tỷ lệ 27.3% Năm
2010 doanh số thu nợ 193.547 triệu, tăng 53.490 triệu so với năm 2009 tương ứng với
tỷ lệ 38.2 % Doanh số thu nợ tăng đều qua các năm thể hiện sự nỗ lực làm việc củaCBCNV của ngân hàng, đồng thời thể hiện thành ý trả nợ của người vay
Doanh số thu nợ đạt được thành tích như vậy là do các yếu tố sau đây: Doanh
số thu nợ ngắn hạn năm 2009 tăng 20.8% so với năm 2008 Năm 2010 tăng 34.3% sovới năm 2009 Như chúng ta đã biết doanh số thu nợ phụ thuộc vào tình hình sản xuấtkinh doanh của người dân và doanh nghiệp, qua những số liệu ở trên ta thấy tình hìnhthu nợ của Ngân hàng ngày càng tăng cho thấy kết quả kinh doanh của các đối tượng
trên địa bàn là khá tôt
Doanh số thu nợ trung và dài hạn năm 2009 tăng 46.6% so với năm 2009 Năm
2010 tăng 47.8% so với năm 2009 doanh số thu nợ tăng nhanh cho thấy việc ăn nên
làm ra của các doanh nghiệp, trong những năm trước tình trạng khủng hoảnh kinh tế
đã ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình làm ăn của các doanh nghiệp, song nhờ có sự
trợ giúp của nhà nước, đồng thời Ngân hàng cũng thấy rằng đây chỉ là sự cố tạm thờicủa doanh nghiệp nên đã đưa ra nhiều biện pháp giúp đỡ doanh nghiệp, khi tình hinh
đã ổn định doanh nghiệp đã trả nợ cho ngân hàng cho thấy thành ý trả nợ của các
doanh nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ