Mục đích của công tác đầm nén đất nền đường là để cải thiện kết cấu của đất, bảo đảm cho nền đường đạt được độ chặt cần thiết, ổn định dưới tác dụng của trọng lượng bản thân, tải trọng xe chạy và của các nhân tố khí hậu thời tiết. Công tác hoàn thiện có hai nội dung chính là sửa sang bề mặt của nền đường và đào đắp đất để sửa sang nền, rãnh, thùng đấu cho đúng với hình dạng và độ cao thiết kế.
Trang 1Chương5 ĐẦM NÉN ĐẤT, HOÀN THIỆN VÀ NGHIỆM THU NỀN ĐƯỜNG
5.1 Mục đích, tác dụng đầm nén đất nền đường
5.1.1 Mục đích
Mục đích của công tác đầm nén đất nền đường là để cải thiện kết cấu của đất,bảo đảm cho nền đường đạt được độ chặt cần thiết, ổn định dưới tác dụng của trọnglượng bản thân, tải trọng xe chạy và của các nhân tố khí hậu thời tiết
5.1.2 Tác dụng
- Nâng cao cường độ của nền đường: Làm cho các lớp trên của nền đường cómô đun biến dạng cao nhất, giảm bớt chiều dầy mặt đường mà không ảnh hưởng tớicường độ của nó
- Tăng cường sức kháng cắt của đất, nâng cao độ ổn định của ta luy nền đường,làm cho nền đường khó bị sụt lở
- Giảm tính thấm nước của đất, nâng cao tính ổn định của đất đối với nước,giảm nhỏ chiều cao mao dầu, giảm nhỏ độ co rút của đất khi khô hanh
- Mang lại hiệu quả kinh tế nhất định do tiết kiệm vật liệu làm mặt đường hoặcgiảm bớt khối lượng đất đắp ta luy
5.2 Bản chất vật lý của việc đầm nén đất
- Đất là loại vật liệu đặc biệt, do vô số hạt có hình dáng, kích thước khác nhauhợp thành Đất ở trạng thái chặt hay tơi xốp là do các hạt đất có xít chặt với nhau haygiữa các hạt có nhiều khe hở Quá trình đầm nén đất là quá trình tác dụng của tảitrọng tức thời và tải trọng chấn động để sắp xếp lại trật tự các hạt trong đất đẩy cáchạt nhỏ lấp đầy khe hở giữa các hạt lớn làm tăng bề mặt tiếp xúc và lực dính kết giữacác hạt trong đất, kết quả làm cho sức chịu đựng của đất dưới tác dụng của tải trọngcũng tăng lên, độ thấm nước giảm và đất ổn định hơn dưới tác dụng của nước
- Để nén chặt đất thì tải trọng đầm nén phải lớn hơn cường độ giới hạn của đất;cường độ giới hạn có thể tra theo qui phạm, nó phụ thuộc vào mức độ phân tán độẩm, độ chặt và tốc độ biến dạng của đất; Tuy nhiên nếu áp lực đầm nén lớn hơncường độ giới hạn của đất quá nhiều thì đất sẽ bị trồi dưới công cụ đầm nén
- Khi tải trọng đầm nén tác dụng lên đất xốp, rời thì các hạt đất sẽ chuyển vịvà độ chặt của đất sẽ tăng lên Độ chặt của đất sẽ tiếp tục tăng lên, nếu ứng suất xuấthiện trong khu vực tiếp xúc giữa các hạt đất lớn hơn trị số giới hạn của lực ma sát vàlực dính (hình 5.1)
Trang 2Hình 5.1: Mô tả vật liệu trước và sau khi đầm nén
-Trong đất dính (ásét, sét) các hạt đất được ngăn cách nhau bởi các màng nước,nếu đất đã có một độ chặt ban đầu nhất định và lượng không khí còn lại trong đất rất
ít thì quá trình nén chặt đất xẩy ra chủ yếu là do sự ép các màng nước giữa các hạtđất và do sự ép không khí trong đất Khi đó sự tiếp xúc giữa các hạt đất không tănglên bao nhiêu nhưng lực ma sát và lực dính giữa các hạt đất tăng lên rất nhanh dochiều dầy của màng nước mỏng đi Các màng nước có tính nhớt nên việc ép mỏngchúng đòi hỏi phải có thời gian nhất định Thời gian tác dụng của các công cụ đầmlèn như lu, đầm, rất ngắn (thường không quá 0,05÷0,07s trong một lần tác dụng) Vìvậy muốn tăng độ chặt của đất thì cần phải tác dụng tải trọng lặp lại trên đất nhiềulần Dung trọng khô của đất tăng lên theo số lần tác dụng tải trọng “ N” của phươngtiện đầm lèn được xác định theo công thức:
Trong đó:
δ1: Độ chặt ban đầu của đất
α: Hệ số đặc trưng cho khả năng nén chặt của đất
Khi số lần tác dụng tải trọng “N” lớn, thì dùng công thức:
δ=δmax(δmax−δ0)eβN ( 5.2 )
δmax: Độ chặt cực đại của đất
δ0: Độ chặt khi đầm nén ở độ ẩm tốt nhất
β: Hệ số đặc trưng cho khả năng nén chặt của đất
- Từ hai công thức trên ta thấy quan hệ giữa độ chặt và công tiêu hao để đạtđược độ chặt đó là mối quan hệ của hàm số logarít, nghĩa là khi vượt quá độ chặt nhấtđịnh nào đó thì dù có tăng số lần đầm nén lên, độ chặt của đất hầu như cũng khôngtăng lên Trong trường hợp này cần phải tăng trọng lượng của lu hoặc đầm để tăng độchặt của đất
5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đầm nén đất nền đường
- Độ ẩm hay lượng nước chứa trong đất là một trong những nhân tố quan trọngnhất ảnh hưởng đến quá trình đầm nén đất đắp nền đường Để thấy rõ ảnh hưởng của
Trang 3độ ẩm đến quá trình đầm nén, ta hãy phân tích đường cong điển hình biểu diễn quanhệ giữa độ chặt và độ ẩm của đất đắp trong điều kiện tiêu hao công đầm nén nhưnhau, tìm được qua thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn.
- Quan hệ giữa độ ẩm và độ chặt (hình 5.2), lúc đầu độ ẩm tăng thì độ chặttăng cho đến điểm cực đại Nhưng nếu cứ tiếp tục tăng độ ẩm lên thì độ chặt của đấtsẽ giảm xuống; tại điểm B có độ chặt lớn nhất, độ ẩm tương ứng với độ chặt đó gọi làđộ ẩm tốt nhất Như vậy độ ẩm của đất cho dung trọng khô lớn nhất (độ chặt lớn nhất)ứng với một công đầm nén nhất định, gọi là độ ẩm tốt nhất
- Độ ẩm tốt nhất cũng có thể được xác định theo công thức gần đúng :
- Trong đó:
W0: Độ ẩm tốt nhất
WT: Độ ẩm của đất ở giới hạn chảy
α: Hệ số phụ thuộc vào loại đất (á sét α=0,55; Sét α=0,5)
Hình 5.2: Biểu đồ quan hệ giữa độ chặt với số lượt đầm nén
- Rút ra nhận xét:
+ Trong điều kiện hao phí số công đầm nén như nhau thì đầm nén ở độ ẩm tốtnhất sẽ cho ta độ chặt lớn nhất và bảo đảm độ ổn định của nền đường đối với nước,phát huy được tác dụng của nước đảm bảo đầm nén dễ dàng
+ Nếu đầm nén đất ở độ ẩm W>W0 thì tác dụng tức thời của công cụ đầm nénkhông thực hiện được mà phải nhờ vào tác dụng lâu dài của tải trọng
+ Nếu đầm nén đất ở độ ẩm W<W0 cho đến độ chặt yêu cầu thì cường độ đókhông ổn định và sẽ giảm xuống nhanh nếu nền đường bị ẩm ướt lâu ngày
- Ngoài độ ẩm ra, thành phần hạt của đất cũng là một yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến quá trình đầm nén đất; Theo sự lớn nhỏ của hạt, người ta phân các hạt đấtthành cát (đường kính hạt từ 2÷0,05mm), bụi (0,05÷0,002mm), và sét (< 0,002mm).Trong ba loại trên các hạt sét có một ảnh hưởng rất lớn đến tính chất và công tác đầmnén đất (đòi hỏi đầm nén đến độ chặt yêu cầu cao)
- Ngoài ra thành phần cấp phối của các hạt đất cũng ảnh hưởng đến độ ổn địnhcủa đất; nếu các hạt đất có kích thước gần bằng nhau, tỉ lệ khe hở trong đất sẽ lớn vàkhó lèn chặt
5.4 Một vài số liệu cần biết trong quá trình đầm nén đất
5.4.1 Độ chặt của đất và hệ số đầm nén đất
- Khi đầm nén, các hạt đất càng xít chặt lại với nhau, làm cho khe hở trong đấtgiảm đi và trọng lượng một đơn vị thể tích đất sẽ tăng lên; người ta dùng trọng lượng
Trang 4đơn vị thể tích khô của đất (dung trọng khô) để biểu thị trạng thái chặt của đất và gọilà độ chặt của đất “δc”, được xác định theo công thức:
δw: Dung trọng ẩm của đất (g/cm3)
W: Độ ẩm của đất (%)
- Cùng với một công đầm nén qui định, độ chặt lớn nhất của đất đạt được gọi làđộ chặt tiêu chuẩn (độ chặt tốt nhất) “δmax”, xác định theo công thức:
δc: Độ chặt của đất sau khi đầm nén (dung trọng khô của đất sau khi đầm nén)
δmax: Độ chặt tiêu chuẩn của đất (dung trọng khô lớn nhất)
- Từ công thức (5.5) ta nhận thấy: “K” càng lớn chứng tỏ đất càng được đầmchặt Việc chọn và qui định hệ số đầm nén “K” rất quan trọng vì: Nếu “K” không đủthì đất không bảo đảm độ chặt cần thiết cho độ ổn định của nền đường, chất lượngcông trình sẽ không bảo đảm, nhưng nếu chọn hệ số “K” cao quá yêu cầu thì lãng phícông sức đầm nén Độ chặt cần thiết của đất để bảo đảm cho nền đường ổn định gọilà độ chặt yêu cầu (δyc) Nếu có điều kiện thì nên đầm nén cho độ chặt yêu cầu bằnghoặc xấp xỉ với độ chặt tiêu chuẩn (tốt nhất) Tuy nhiên để đầm nén đất đến độ chặttốt nhất phải tốn rất nhiều công, vì vậy thông thường chỉ cần đầm nén đất nền đườngđến độ chặt yêu cầu nhỏ hơn độ chặt tốt nhất một ít Xác định độ chặt yêu cầu “δyc”có nhiều phương pháp : Phương pháp xác định theo độ chặt tự nhiên của đất, phươngpháp xác định theo hệ số thấm thấu, theo hệ số chặt tương đối, xác định theo đườngcong nén, phương pháp đầm nén tiêu chuẩn của ProcTor (Phần này Cơ học đất đã giớithiệu)
+ Nếu ta thay độ chặt yêu cầu “δyc” vào công thức (5.5 ) ta sẽ xác định được hệsố đầm nén yêu cầu “ Kyc”
max
yc yc
5.4.2 Hệ số lèn chặt tương đối
- Hệ số lèn chặt tương đối “Ktđ” là tỉ số giữa độ chặt của đất sau khi đầm nén ởvùng đắp và độ chặt của chính loại đất đó trên vùng đào, được xác định theo côngthức:
đắp
đào đắp
Vđào : Khối lượng đất cần đào để đắp
Vđắp : Khối lượng đất đắp đã lèn chặt
Trang 5- Từ công thức (5.7) xác định được khối lượng đất thực tế cần đào, đắp.
- Hệ số “Ktđ” lại phụ thuộc vào loại đất và hệ số đầm nén yêu cầu “Kyc”
5.4.3 Hệ số ngót của đất khi đầm nén:
- Nếu ta gọi
+ h1: Chiều dầy lớp đất rải trước khi đầm nén
+ h2: Chiều dầy lớp đất sau khi đầm nén
- Hệ số ngót của đất “β” được xác định theo công thức:
a) Các loại lu thường dùng lu nền đường
Là phương pháp phổ biến và có hiệu quả nhất Để lu lèn thường dùng các loại
lu bánh cứng, lu bánh lốp và lu chân cừu Lu chân cừu khác với lu bánh cứng là trênmặt con lăn có các chân cừu có thể cắm sâu vào đất khi lăn nén; lu bánh lốp có bánhđàn hồi vì vậy vệt bánh lu có thể áp chặt với đất và áp lực phân bố tương đối đều đặctheo chiều sâu so với lu bánh cứng Các loại lu có thể là do máy kéo kéo theo hoặc làtự hành và có trọng lượng khác nhau Tác dụng chung của các loại bánh lu là vừa lănvừa truyền lên nền đường một áp lực nhất định làm xuất hiện biến dạng dư trong đấtvà do đó đất được lèn chặt
Hình 5.3: Các loại lu thường dùng
b) Đầm đất bằng đầm rơi tự do
Đầm là một phương pháp nén chặt đất có hiệu quả, khi đầm tiếp xúc với mặtđất thì bắt đầu hiện tượng va chạm và trong đất sẽ xuất hiện trạng thái ứng suất biếndạng Sau khi va chạm, động lượng của đầm sẽ mất đi trong khoảnh khắc, còn ứngsuất ở mặt tiếp xúc giữa đầm và đất sẽ phát triển rất nhanh và lan truyền trong khốiđất làm đất chặt lại Tốc độ lan truyền của sóng ứng suất biến dạng trong đất đạt đến200÷360m/s, và tác dụng trên chiều sâu 10÷20m Như vậy quá trình đầm đất là quá
Trang 6trình động học xẩy ra nhanh chóng, được đặc trưng bằng thời gian tác dụng, ứng suấtrất ngắn và chiều sâu lan truyền trạng thái ứng suất biến dạng thì lại rất sâu.
c) Đầm nén đất bằng chấn động
- Chấn động là phương pháp thích hợp để đầm nén đất rời Khi chấn động cáchạt và các cục đất bị dao động phân ly, lực ma sát và lực dính giữa các hạt và các cụcđất giảm xuống Dưới tác dụng của tải trọng bản thân và trọng lượng của bộ chấnđộng, các hạt đất sẽ dịch chuyển theo hướng thẳng đứng và sắp xếp lại chặt chẽ hơn.Chấn động thích hợp để đầm nén đất rời vì tác dụng tương hỗ giữa các hạt của đất rờichủ yếu là do lực ma sát
- Khi chấn động các hạt đất được tách rời ra làm cho lực ma sát động xuất hiệnkhi các hạt chuyển vị sẽ nhỏ hơn nhiều so với lực ma sát tĩnh Với đất dính thì lựcdính do các màng nước giữa các hạt sinh ra trong khi chấn động giảm rất ít, vì vậy sứckháng của đất khi chấn động giảm xuống không đáng kể, do đó hiệu quả đầm nénbằng chấn động rất thấp Hiệu quả của đầm nén bằng chấn động phụ thuộc vào tầnsố, biên độ dao động, gia tốc và tải trọng tác dụng
Hình 5.4: Đầm chấn động, lu chân cừu
5.5.2 Kỹ thuật đầm nén đất nền đường
a) Xử lý độ ẩm
- Đất đào dùng để đắp trước khi đầm nén phải có độ ẩm bằng hoặc xấp xỉ độẩm tốt nhất “W0” Để có biện pháp xử lý, cần xác định độ ẩm tự nhiên của đất “W”,độ ẩm tốt nhất “W0” và độ chặt tiêu chuẩn (tốt nhất) của đất dùng để đắp (xác địnhbằng thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn)
+ Nếu W>W0, tức độ ẩm tự nhiên của đất lớn hơn độ ẩm tốt nhất, đất quá ướt,phải đình chỉ việc đầm nén; tiến hành xới tơi đất, phơi khô đất, thay đất hoặc trộnthâm vôi khô để độ ẩm tự nhiện của đất giảm xuống xấp xỉ với độ ẩm tốt nhất (Tùytheo độ ẩm tự nhiên của đất “W” mà có thể dùng lượng vôi từ 1 ÷ 4% trọng lượngđất); tuyệt đối không trộn đất khô với đất ướt để đầm nén
+ Nếu W<W0, đất quá khô, phải tưới thêm nước trước khi đầm nén Nước tướithêm làm nhiều lần để đảm bảo cho đất ngấm nước đều, tốt nhất là tưới thêm nướcngay tại nơi lấy đất, lượng nước tưới thêm được tính theo công thức
Q=δc(W0–W+WB.h ) (5.10)
Trong đó:
Q: Lượng nước cần tưới thêm tính cho 1m3 đất (Tấn)
δc: Dung trọng khô của đất (Tấn/m3 )
W: Độ ẩm tự nhiên của đất ở nơi đào (%)
Trang 7W0: Độ ẩm tốt nhất (%).
WBh: Độ ẩm bay hơi trong quá trình thi công (%)
- Ví dụ: Để tưới cho 1m3 đất, có δc=1,7 T/m3 ; đất nơi đào có W=15%; W0=20%;
WBh=3%
Lượng nước tưới thêm:
Q=1,7.(0,2–0,15+0,03)=0,136 tấn
b) Làm nhỏ đất:
Sau khi đổ đất, phải tiến hành san đất băm nhỏ đất để đất được đầm nén đồngđều, kích thước tối đa của các hòn, cục đất: Khi đầm nén thủ công ≤4cm, khi lu lènbằng lu bánh cứng ≤7cm, lu bằng lu bánh lốp, lu chân cừu ≤10cm
* Chú ý:
Để độ ẩm khỏi thay đổi nhiều, cần tổ chức thi công để đất rải trên nền sẽ đượcđầm nén xong ngay trong ngày; trong mùa mưa lại càng phải cố gắng, rút ngắn thờigian đắp; Đất đá rải mà trời sắp mưa, trước khi nghỉ để buổi sau đầm tiếp thì cần cốgắng đầm nén đạt một nửa số lượt lu lèn yêu cầu
c) Xác định chiều dầy từng lớp đất rải và số lượt lu lèn mỗi lớp
- Việc xác định chiều dầy lớp đất có ảnh hưởng tới chất lượng và giá thànhđầm nén (thường lớp đất lu lèn 30÷50cm cho chất lượng đầm nén cao và giá thànhthấp, khi chiều dầy lớp đất lu lèn ≥60÷100cm thì giá thành lu lèn rất lớn)
- Sau khi đã xử lý đất, người thi công căn cứ vào phương pháp đầm nén đất đãlựa chọn, căn cứ vào tính năng tác dụng của từng loại máy thi công mà xác định chiềudầy lớp đất rải, số lượng lượt lu lèn (đầm) và tốc độ lu (đầm) để đạt được độ chặt yêucầu, chiều dầy lớp đất rải thích hợp và số lượt lu (đầm) cần thiết có thể xác định theocông thức tính toán hoặc tiến hành lu (đầm) thí nghiệm ngay tại hiện trường
- Việc đầm nén được tiến hành theo 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu dùng lu nhẹ lu(đầm) sơ bộ (30÷40% số lượt lu (đầm); giai đoạn sau mới dùng lu (đầm) nặng hơn,cho đầm rơi cao hơn (vì cường độ của đất lúc bắt đầu lu (đầm) nhỏ hơn so với giaiđoạn sau Nếu sử dụng lu (đầm) nặng ngay thì sẽ phá hoại cố kết của đất, ép trồi đấtdưới bánh lu (đầm)
- Tốc độ của lu chạy cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng, năng suất và giáthành đầm nén nhưng nếu tăng tốc độ thì hiệu quả lu lèn lại giảm cho nên tốc độ luchạy các lần cuối cần được giảm dần
d) Chọn và sử dụng phương tiện đầm nén
Phụ thuộc vào loại đất, độ chặt yêu cầu, vào chiều sâu, khối lượng đất đắp vàđịa hình nơi đắp, để chọn phương pháp đầm, phương tiện đầm nén thích hợp:
- Lu bánh cứng: Được dùng để lu lèn cả với đất dính và đất rời, tạo được bềmặt khá bằng phẳng, thích hợp cho lu bề mặt và lu các lớp mỏng
- Nhược điểm là chiều sâu tác dụng nhỏ (thường không quá 20÷22cm), số lần
lu đi qua một chỗ để đạt độ chặt yêu cầu cần nhiều (ví dụ để đạt độ chặt Kyc=0,95 cần
lu 4÷6 lượt với đất rời và 8÷12 lượt với đất dính)
Trang 8- Lu chân cừu: Dùng thích hợp cho loại đất dính, đất cục, không thích hợp chođất ít dính, nhất là đất rời Được sử dụng nhiều cho lu các lớp dưới, nhưng lượt lu cuốicùng của mỗi lớp phải dùng lu bằng (bánh cứng, bánh lốp).
- Lu bánh lốp: Diện tiếp xúc giữa bánh lốp và mặt đất lớn, ứng suất thẳng đứngtác dụng sâu, tắt chậm nên bảo đảm lu lèn chất lượng các lớp có chiều dầy tới40÷50cm, cho năng suất cao hạ giá thành, thích hợp cho các loại đất, được sử dụngrộng rãi
- Xe xích dùng để lu lèn đất cát, lu các loại đất cần độ chặt <0,90 và rất thíchhợp ở những nơi địa hình hẹp, máy lu khó quay đầu; nhược điểm: Áp lực tác dụng lênmặt đất nhỏ, chiều sâu lu lèn nhỏ, số lượt lu lèn cần nhiều, năng suất thấp giá thànhcao
- Phương pháp đầm: Sử dụng thích hợp ở nơi thi công chật hẹp, khó sử dụngcác phương tiện đầm nén khác, có thể dùng để đầm các lớp đất dầy ≥50÷100cm đầmđất cục; năng suất thấp và giá thành cao hơn so với lu lèn
- Phương pháp đầm nén đất bằng chấn động: Thích hợp với các loại đất tơi, rờihoặc ít dính
- Đầm nén đất thủ công: Dùng khi không có các phương tiện xe máy, khi độchặt yêu cầu nhỏ 80÷90% Khi mặt bằng thi công chật hẹp, khi khối lượng đầm nén ít
đ) Tổ chức thi công đầm nén
- Trước khi thi công đồng loạt đơn vị cần tiến hành thi công thí điểm một đoạn(hoặc sử dụng kết quả của đơn vị khác trên tuyến) với chiều dài từ 100÷150m Việcthi công nhằm mục đích xác định công lu lèn, loại lu và trình tự lu lèn hợp lý tươngứng với mỗi loại đất đắp để đạt độ chặt yêu cầu
- Các thiết bị đầm lèn phải được TVGS kiểm tra, chấp thuận và phù hợp vớicông nghệ thi công
- Việc đầm lèn thí điểm tại hiện trường được tiến hành cho đến khi TVGS chấpthuận về các thao tác cần thiết để đạt được độ chặt yêu cầu
- Sau khi hoàn thành công tác thi công đoạn thí điểm các thông số kỹ thuật sauphải được thống nhất và được sự chấp thuận của TVGS:
+ Loại lu, trình tự lu và số lượt lu yêu cầu tương ứng với mỗi loại đất và tươngứng với chiều dầy lớp đầm nén
+ Độ ẩm tốt nhất tương ứng với mỗi loại vật liệu đắp và tương ứng loại lu.+ Chỉ được thi công đồng loạt khi công tác thi công đoạn thí điểm đã được Chủđầu tư, TVGS nghiệm thu, chấp thuận
e) Ví dụ xử lý đắp nền K=0,98
- Xử lý phần trên dầy 30cm đạt độ chặt K=0,98: Khi đào đến cao độ áo đáyđường mà tại vị trí đó nền đất tự nhiên không đạt được độ chặt cần thiết K=0,98, đơn
vị thực hiện xử lý 30cm trên cùng để đạt độ chặt K=0,98 như sau:
+ Dùng máy ủi có lắp răng bừa cày xới 30cm trên cùng lên, việc cày xới đượcthực hiện khi mặt nền đã tương đối bằng phẳng nên chỉ cần lấy cữ chính xác và chomáy chạy là được
Trang 9+ Đất sau khi được xới đảm bảo độ dày và độ rời rạc phải thực hiện ngay côngtác kiểm tra độ ẩm tại hiện trường, nếu độ ẩm không đạt thì thực hiện các giải phápsau:
+ Đất quá khô sử dụng ô tô tưới nước tưới qua ô roa tạo sương mù để tăng độẩm
MẶT BẰNG THI CÔNG Hướng thi công
Ô tô tự đổ Máy gạt (san) Xe tưới nước Lu bánh thép Lu rung
Hình 5.4: Công nghệ thi công nền đường đạt độ chặt K=0,98
+ Đất quá ướt phải hong đất ra nắng hoặc ra gió để giảm lượng nước
+ Dùng máy san gạt phẳng đất đã xới, dùng máy lu tiến hành lu:
+ Lu sơ bộ bằng lu bánh thép 6T÷8T lu từ 4÷5 lượt/điểm nhằm cho mặt nềntương đối ổn định không bong bật khi chịu tải trọng động
+ Lu lèn chặt bằng lu rung 14T÷25T và đầm lốp 16T÷20T lu từ 10÷18lượt/điểm (số lượt lu xác định qua thi công thí điểm)
+ Lu hoàn thiện bằng lu bánh thép 8T÷10T
- Thi công lớp đắp trên cùng dầy 30cm đạt độ chặt K=0,98:
+ Để cho các lớp nền đắp, độ dốc dọc, độ dốc ngang theo đúng yêu cầu kỹthuật của bản vẽ, đội khảo sát sẽ cắm các cọc tại vai đường, tim đường trên mỗi mặtcắt ngang và khống chế cao trình bề mặt cho mỗi lớp san
+ Để đảm bảo độ chặt đồng bộ, lớp đỉnh nền sẽ được thi công thành hai lớp,mỗi lớp có chiều dày sau khi lu lèn là 15cm
+ Trong quá trình san vật liệu, đơn vị cần tiến hành điều chỉnh độ ẩm theo độẩm tối ưu của vật liệu (đã xác định trước) bằng cách cầy xới phơi khô hoặc tưới thêmnước bằng téc nước có vòi tạo mưa nhân tạo
+ Chỉ được thi công lớp vật liệu tiếp theo khi lớp vật liệu thi công trước đó đãđạt về độ chặt khô theo đúng thiết kế
+ Phải đảm bảo lớp đất cũ và lớp đất mới liên kết chắc với nhau, đảm bảo sựliên tục và đồng nhất của khối đất đắp
f) Một số chú ý khi lu lèn
- Vệt lu sau phải đè lên vệt lu trước từ 25÷50 cm
- Lu lèn vật liệu theo hướng từ thấp đến cao
Trang 10- Để đầm đất dính phải sử dụng đầm bánh hơi, đầm chân dê, máy đầm nện Đểđầm các loại đất không dính phải sử dụng các máy đầm rung, đầm nện chấn động vàđầm bánh hơi.
- Việc đầm nén khối đất đắp phải tiến hành theo dây chuyền từng lớp với trìnhtự đổ, san và đầm sao cho thi công có hiệu suất cao nhất, chiều dày của lớp đầm phảiđược quy định phù hợp với mỗi loại đất đắp, điều kiện thi công và các thiết bị sửdụng
g) Kiểm tra chất lượng đầm nén đất
- Sau đầm nén từng lớp theo đúng độ ẩm tốt nhất và số lượt lu (đầm) cần thiết,lúc này cần tiến hành kiểm tra chất lượng đầm nén từng lớp xem đầm nén như thế đãđạt hệ số đầm nén yêu cầu (Kyc) chưa; để quyết định thôi lu (đầm) hay lu (đầm) tiếp.Các bước tiến hành như sau:
+ Thí nghiệm tìn dung trọng ẩm của đất sau khi đầm nén (δw)
+ Thí nghiệm tim độ ẩm của đất (W)
+ Tính toán dung trọng khô của đất sau khi đầm nén (δc)
W
w c
+ Nếu Ktt<Kyc thì phải đầm nén tiếp
+ Nếu Ktt≥Kyc thì thôi đầm nén
- Yêu cầu đối với công tác kiểm tra đầm nén: phải xác định chính xác, kịp thời
2 chỉ tiêu độ ẩm W và dung trọng ẩm của đất sau khi đầm nén; để bảo đảm tiến độ thicông và có biện pháp xử lý thích đáng trong trường hợp cần thiết
- Một số phương pháp kiểm tra ở hiện trường
+ Phương pháp dùng dao đai, đốt cồn
+ Phương pháp dùng phễu rót cát
+ Phương pháp dùng phao Kavaliép
+ Phương pháp cân trong nước
+ Phương pháp dùng chất đồng vị phóng xạ
5.6 Công tác hoàn thiện nền đường
5.6.1.Công tác hoàn thiện
- Công tác hoàn thiện có hai nội dung chính là sửa sang bề mặt của nền đườngvà đào đắp đất để sửa sang nền, rãnh, thùng đấu cho đúng với hình dạng và độ caothiết kế
- Trong quá trình thi công phải thường xuyên kiểm tra khuôn đường, độ dốcmái ta luy, hạn chế tình trạng thừa thiếu bề rộng nền đường để sửa chữa kịp thời, khinền đắp bị thiếu bề rộng trước khi đắp thêm phải đánh cấp; Những chỗ nền đào cònthiếu chiều rộng cần kết hợp với bạt mái ta luy mở rộng thêm với việc sửa chữanhững chỗ lồi lõm lớn mà mắt thường trông thấy được
Trang 11- Những mái ta luy đào đắp cần bạt gọt dần từng bước trong quá trình làm đất.Chiều cao mỗi lần bạt gọt phụ thuộc vào công cụ hoặc máy dùng để bạt gọt ta luy:
+ Để bạt ta luy nền đào thường dùng máy san tự hành, máy xúc có gầu bàohoặc nhân lực (hình 5.5)
Hình 5.5: Máy san tự hành để hoàn thiện ta luy nền đào theo từng cấp
+ Để hoàn thiện nền đào có thể tiến hành theo phương pháp chừa các bậc rộng3÷4m ở gần mái ta luy, rồi dùng máy ủi vạn năng ủi thành lớp để đào các bậc đó vàmáy ủi có chân lưỡi ủi nối dài để hoàn thiện mái ta luy Đất do máy ủi đào ra sẽ đượcgạt xuống bậc để sau đó dùng máy xúc chuyển đi (hình 5.6)
Hình 5.6: Máy ủi hoàn thiện ta luy nền đào bằng phương pháp chừa bậc
+ Để bạt ta luy nền đắp thường dùng máy san tự hành và máy san có lắp thêmlưỡi phụ, máy san có thiết bị gầu bào hoặc nhân lực (hình 5.8)
1/3
Hình 5.7: Máy san hoàn thiện mái ta luy