Toán là một môn học đặc biệtquan trọng đối với tất cả học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng.Chính vì vậy nên ngay từ lớp 1, giáo viên phải dạy cho các em nắm thật chắcn
Trang 1I Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Học sinh tiểu học nói chung và đặc biệt học sinh lớp 1 nói riêng là khởiđầu cho việc hình thành tri thức cho các em Do đó, việc dạy học cho các emnắm chắc các kiến thức cơ bản là rất cần thiết Toán là một môn học đặc biệtquan trọng đối với tất cả học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng.Chính vì vậy nên ngay từ lớp 1, giáo viên phải dạy cho các em nắm thật chắcnhững kiến thức cơ bản, và để làm được điều đó, chúng ta nên đưa thiết bị đồdùng dạy học vào trong tiết dạy Như chúng ta đã biết, con đường nhận thứccủa học sinh lớp 1 là từ “ Trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tưduy trừu tượng đến thực tiễn” Dạy học với thiết bị là một trong những nguyêntắc của lí luận dạy học Việc dạy học này, không những làm cho quá trình nhậnthức của học sinh được dễ dàng, mà nó còn góp phần rèn luyện tư duy độc lập,sáng tạo, gây hứng thú cho học sinh trong học tập Đặc biệt đối với học sinh lớp
1, khi các em còn mang tính trực quan cụ thể, những gì mà các em nhìn thấyđược, sờ mó được sẽ in sâu vào trí óc của các em hơn mà những gì các em phải
tự tưởng tượng và hình dung Áp dụng thiết bị trong dạy học Toán hiện nay làtác động vào người học, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo củahọc sinh Vì vậy, người giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, đối tượnghọc sinh, tìm tòi và thử nghiệm các phương pháp khác nhau trong suốt quá trìnhdạy học của mình Tôi nhận thấy việc dạy cho học sinh lớp 1 biết “ Giải toán cólời văn” là rất khó Giải toán có lời văn là một trong bốn mạch kiến thức cơ bảncủa môn Toán lớp 1
Là một giáo viên dạy lớp 1, bản thân tôi nhận thấy môn Toán là một trongnhững phân môn có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là học sinh lớp 1 lại càng quantrọng hơn Môn Toán cung cấp những kiến thức cơ bản về số, những phép tínhtrong đại lượng và khái niệm cơ bản về hình học, bên cạnh đó nó còn góp phầnvào phát triển tư duy, khả năng suy luận, phát triển ngôn ngữ, trau dồi trí nhớ,kích thích cho các em trí tưởng tượng, óc khám phá, hình thành nhân cách chocác em
Trang 2Thấy được tầm quan trọng của môn Toán nên tôi đã đi sâu tìm hiểu, họchỏi và nghiên cứu ra những biện pháp mới để giảng dạy môn Toán thật tốt giúphọc sinh chủ động tiếp thu môn Toán một cách nhẹ nhàng thông qua hoạt độnghọc tập Để “học mà chơi - chơi mà học”, đó cũng là nhằm nâng cao chất lượngdạy học ở Tiểu học nói chung và dạy học môn Toán lớp 1 nói riêng
Thực tế, tôi nhận thấy học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường rấtchậm so với các dạng bài tập khác Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giảicho phép tính, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưngkhông làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đềtoán đặt ra Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơnnhiều so với dạy thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số Việc đặt lời giải làmột khó khăn lớn đối với học sinh nhất là những bài đầu dạy toán có lời văn.Một số em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câuhỏi do giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Những nguyênnhân trên không thể đổ lỗi về phía học sinh được mà một phần lớn đó chính làcác phương pháp, cách áp dụng, truyền đạt của những người thầy
Mục tiêu của dạy học giải toán có lời văn lớp 1 nhằm giúp các
em nhận biết:
toán
- Biết giải và trình bày cách giải
- Bước đầu phát huy tư duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện phương pháp giải toán, có khả năng diễn đạt, phân tích vấn đề, giải quyết vấn đề, trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói và viết, bám sát mục tiêu của giải toán có lời văn.
- Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của học sinh Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học, vận dụng vào giải toán có lời văn kết
Trang 3hợp với kiến thức Tiếng Việt, để giải quyết vấn đề trong toán học, từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc – hiểu, để biết hướng giải và đưa ra phép tính, câu trả lời và đáp số của bài toán.
- Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kĩ năng diễn đạt, tính tích cực, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, rèn luyện ý chí vượt khó, cẩn thận, kiên trì và lòng tự tin.
Cũng chính vì những lí do nêu trên, mà tôi đã chọn đề tài:
“Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 1 giải bài toán có lời văn” mong
tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn chohọc sinh lớp 1 nói riêng và trong môn toán 1 nói chung
2 Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc giải quyết đề tài này tôi mong muốn được trao đổi kinhnghiệm, nâng cao nghiệp vụ sư phạm, năng lực nghề nghiệp của bản thân Vàđây cũng là dịp để tôi có cơ hội đánh giá chính xác sự nắm bắt thực tế của họcsinh trong quá trình học tập Từ đó, giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn trongquá trình giải các bài toán có lời văn, và rèn cho học sinh cách giải bài toán cólời văn Mặt khác, nghiên cứu đề tài nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học môntoán nói chung và giải toán có lời văn ở lớp 1 nói riêng đạt kết quả cao hơn Để
từ đó, các em có thể thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó và phứctạp ở các lớp trên
Cụ thể:
+ Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của một bài toán có lời văn lớp 1.+ Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán
+ Giải toán đơn về thêm (bớt) bằng một phép tính cộng (trừ)
+ Trình bày bài giải gồm câu lời giải, phép tính, đáp số
+ Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau
3.Thời gian- địa điểm:
- Thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ tháng 8 năm học 2015 - 2016
Trang 4- Địa điểm : Trường Tiểu học Hải Lạng – Tiên Yên - Quảng Ninh
+ Giới hạn đối tượng nghiên cứu:
Giải bài toán có lời văn ở lớp 1
Để giúp học sinh thực hiện được các hoạt động trên có hiệu quả giáo viênkhông làm thay hoặc áp đặt cách giải, mà hướng dẫn để học sinh từng bước tìm
ra cách giải bài toán (tập trung vào 3 bước):
- Tóm tắt bài toán để biết bài toán cho biết gì? hỏi gì ?
- Tìm cách giải, thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của đề bài với phép tínhtương ứng
- Trình bày bài giải, viết câu lời giải, phép tính giải và đáp số
Ngoài các giải pháp mà lâu nay đã sử dụng dạy toán có lời văn, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp mới góp phần tích cực vào việc giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn mà nhiều sáng kiến khác chưa chỉ ra được và nhiều giáo viên chưa nhận thấy khi giảng dạy trên lớp:
+ Tổ chức cho học sinh học nhóm cộng tác: có thể cho học sinh làm việc trong nhóm đôi hoặc nhóm bốn học sinh nhằm giúp học sinh xây dựng mối quan hệ giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với bài học, từ đó tìm ra cách giải bài toán có lời văn.
+ Đổi mới việc đánh giá học sinh: Giáo viên thường xuyên kiểm tra việc giải toán có lời văn của học sinh qua từng
Trang 5bài toán, từng hoạt động học tập, đánh giá nhận xét tỉ mỉ để các em tiến bộ hơn.
+ Giáo viên có thể mời cha mẹ học sinh đến cùng dự giờ xem con học bài, cùng giáo viên giúp đỡ học sinh trong thời gian đầu mới học giải toán có lời văn.
II Phần nội dung
ở dạng hình vẽ hay sơ đồ) Như vậy, các hình ảnh trực quan làm một bộ phậncủa hoạt động nhận thức, hoạt động tư duy của học sinh khi học toán nói chung,học giải toán nói riêng Đặc biệt là với học sinh tiểu học
Trong nội dung chương trình môn toán lớp 1 Trước khi "chính thức" họcgiải toán có lời văn (sẽ học ở học kỳ 2) học sinh có giai đoạn "chuẩn bị" cho họcgiải toán có lời văn (học kỳ I) Trong giai đoạn "chuẩn bị" này học sinh đượclàm quen với các "tình huống" qua tranh vẽ từ đó nêu thành "bài toán có lời văn"(nêu miệng bài toán và bước đầu có hướng "giải quyết bài toán" (ở mức độ nêuphép tính thích hợp) trong sách giáo khoa Toán 1 có rất nhiều dạng bài này.Sang học kỳ II học sinh "chính thức" được giải toán có lời văn thông qua các bàihọc mang tính chất "làm quen" đó là: "bài toán có lời văn" với giải toán có lời
Trang 6văn thì bước đầu hình thành ở học sinh kỹ năng giải các bài toán đơn về thêm(bớt) một số đơn vị.
Như vậy, năng lực tư duy của học sinh được nâng dần thông qua việc họcgiải toán với mức độ khó khăn tăng dần theo từng lớp
- Giải toán có lời văn giúp học sinh hiểu được nội dung bài toán, biết trìnhbày một bài giải theo 4 bước:
Bước 1: Đọc bài toán – tóm tắt
Bước 2: Phân tích tìm ra cách giải
Bước 3: Trình bày bài giải
Bước 4: Thử lại ( Tìm cách giải toán )
Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của học sinh Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào giải toán kết hợp với kíên thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học.
Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc - hiểu - biết hướng giải đưa ra phép tính kèm câu trả lời và đáp số của bài toán.
Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học
Đó là nguyên nhân chính mà tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Phương pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1”.
1.2.Cơ sở thực tiễn:
Trong chương trình Toán Tiểu học thì mạch kiến thức: “Giải toán có lời văn” là khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một Bởi vì đối với lớp Một: ngôn ngữ nói chưa mạch lạc, nhiều học sinh
Trang 7đọc còn ê a, vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay là nói chung học sinh chưa biếtcách học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế cho thấy, các em thực sự lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phéptính, viết sai đáp số Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại thì không biết để trả lời Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn Giáo viên phải mất rất nhiều công sức khi dạyđến phần này.
Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đọc thông viết thạo nên khi đọcxong bài toán rồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những
em đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán Không hiểu các thuậtngữ toán học như: thêm, bớt, cho đi, mua về, bay đi, chạy đến, và câu hỏi: Cótất cả bao nhiêu? Còn lại bao nhiêu? Nên không biết làm tính cộng hay trừdẫn đến nói sai, viết sai phép tính, sai đơn vị, viết sai đáp số Vì vậy học sinhkhông làm đúng cũng là điều dễ hiểu
Đối với trẻ là học sinh lớp 1, môn toán tuy có dễ nhưng
để học sinh đọc -hiểu bài toán có lời văn quả không dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản Bởi vậy nỗi băn khoăn của giáo viên là hoàn toàn chính đáng.
Trang 8Vậy làm thế nào để giáo viên nói - học sinh hiểu , học sinh thực hành - diễn đạt đúng yêu cầu của bài toán.
Vì vậy đây cũng là một vấn đề mà chúng tôi luôn luôn trao đổi, thảo luận trongnhững buổi sinh hoạt chuyên môn, tích luỹ nghiệp vụ do tổ chuyên môn và nhàtrường tổ chức Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt,nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và
sự nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp
2 Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu.
2.1 Thực trạng
2.1.1 Khảo sát
Năm học 2014 - 2015 tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp1A1 trường Tiểu học Hải Lạng Tổng số có 27 học sinh, trong đó:
- Con cán bộ công chức: 6 em
- Con gia đình nông nghiệp: 16 em
- Con gia đình làm nghề tự do: 5 em
- Nam: 11 em; nữ: 16 em
Các em ở rải rác khắp các thôn trong xã, có nhiều học sinh ở xa trường nênviệc đi lại gặp rất nhiều khó khăn điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng học tập của các em Bên cạnh đó, các em chủ yếu là học sinh con nhàthuần nông, điều kiện gia đình còn nhiều khó khăn nên ít được bố, mẹ tạo điềukiện trong học tập vì vậy các em còn hạn chế về nhiều mặt nhất là khả năng diễnđạt
a Vị trí của dạy học môn Toán.
Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán cóvai trò quyết định vì:
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hìnhdạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó học sinh có phương pháp nhận
Trang 9thức một số mặt của thế giới xung quanh, biết cách hoạt động có hiệu quả trongđời sống.
- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suynghĩ Suy luận, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suynghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo Góp phần quan trọng vào việc hình thành cácphẩm chất cần thiết, quan trọng của người lao động
- Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụngtrong đời sống, rất cần thiết cho người lao động, để học tiếp các môn học khác ởTiểu học và học tiếp môn Toán ở Trung học
b Nhiệm vụ của dạy học môn Toán.
* Nhiệm vụ chung:
Môn Toán ở Tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh:
- Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, đơn giản, có nhiều ứng dụngtrong đời sống về số học các số tự nhiên, các số thập phân bao gồm cả cách đọc,cách viết, so sánh các số tự nhiên
- Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt một số hình học thường gặp
- Biết cách giải và trình bày giải với những bài toán có lời văn Nắm chắc,thực hiện đúng quy trình bài toán
- Có những đóng góp ban đầu, thiết thực về các đại lượng cơ bản như độdài, khối lượng, thời gian, Biết sử dụng các dụng cụ để thực hành đo lường,biết ước lượng các số đo đơn giản
- Thông qua những hoạt động học tập toán để phát triển đúng mức một sốkhả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng nhất như: so sánh, phân tích, tổnghợp
- Hình thành phong cách học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, cókiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập, sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩnthận, kiên trì, tự tin
* Nhiệm vụ cụ thể:
- Kiến thức: Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực vềphép đếm, về các số tự nhiên trong phạm vi 100, phép cộng, phép trừ không nhớ
Trang 10trong phạm vi 100, độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20cm, về tuần lễ và ngàytrong tuần, đọc giờ đúng trên đồng hồ, một số hình học, bài toán có lời văn
- Kĩ năng: Học sinh được rèn luyện các kĩ năng thực hành: đọc, đếm, sosánh, ghi lại cách đọc các số, giá trị vị trí các chữ số, cấu tạo của số có hai chữ
số trong phạm vi 100 Thực hành nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn,đoạn thẳng, điểm, vẽ đoạn thẳng có độ dài đến 10cm, giải một số bài toán đơn
về cộng, trừ, bước đầu biết diễn đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơngiản của bài học và thực hành Tập đếm, so sánh, phân tích, tổng hợp, trìu tượnghoá, khát quát hoá trong phạm vi của nội dung chương trình toán lớp 1
c Những yêu cầu cơ bản của việc dạy học môn Toán ở lớp 1.
* Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng:
- Biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên từ 0 đến 10
- Thuộc các bảng tính đã học Biết thực hiên các phép tính cộng, trừ khôngnhớ trong phạm vi 100 Biết tên gọi, kí hiệu đơn vị đo độ dài và biết dùng dụng
cụ đo độ dài, biết xem ngày tháng trong một số trường hợp đơn giản Nhận dạng
và gọi đúng tên, dùng thước để vẽ các hình đã học Giải và trình bày bài toán cólời văn
* Trình độ tối thiểu cần đạt:
- Học sinh phải đọc, viết, so sánh được các số trong phạm vi 100
- Thực hiện phép tính: nhanh, chính xác, nắm chắc thứ tự khi thực hiệnphép tính có nhiều dấu phép tính cộng, trừ
- Tìm thành phần chưa biết của phép tính ở mức độ đơn giản (dạng điền sốthích hợp vào ô trống)
- Đọc, biết vẽ, đo đoạn thẳng có độ dài cho trước (cm) Xem lịch, đồng hồ
- Yếu tố hình học: Nhận biết, gọi đúng tên điểm, đoạn thẳng các hình đãhọc
- Giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn không quá 3 bước vớicấu trúc đơn giản
d Nội dung chương trình dạy Toán lớp 1.
Môn Toán được chia làm 4 giai đoạn
Trang 11- Giai đoạn 1: Từ tuần 1 đến tuần 6 Học sinh được học các số đến 10,hình vuông, hình tròn, hình tam giác.
- Giai đoạn 2: Từ tuần 7 đến tuần 17 Học sinh học về phép cộng, phép trừtrong phạm vi 10 Giai đoạn này lần đầu tiên học sinh được làm quen với dạngtoán: nhìn hình vẽ, nêu thành bài toán ở mức độ đơn giản rồi nêu phép tính
- Giai đoạn 3: Từ tuần 18 đến hết tuần 28 Giai đoạn này học sinh học vềcác số trong phạm vi 100, đo độ dài, giải bài toán Đặc biệt là tiết 84 tuần 21 họcsinh học về giải toán có lời văn
- Giai đoạn 4: Từ tuần 29 đến hết tuần 35 Học sinh học về phép cộng,phép trừ trong phạm vi 100, đo thời gian Giai đoạn này học sinh thường xuyênđược rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn
+ Để kiểm tra sự hiểu biết của các em về "giải toán có lời văn" tôi đã khảo
sát học sinh lớp mình giải bài toán sau:
Lúc đầu tổ em có 5 bạn, sau đó có thêm 4 bạn nữa Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?
Sau khi tiến hành kiểm tra, tôi thu được kết quả sau:
Viết đúng đápsố
Giải đúng cả 3bước
2.1.2 Đánh giá thực trạng:
Vào lớp 1, lần đầu tiên trẻ được tiếp xúc với toán học với tư cách là 1 mônhọc, rèn luyện với các thao tác tư duy như là so sánh, quan sát, phân tích, .Thật là một thử thách lớn đối với học sinh trong khi các em đọc chưa thông, viếtchưa thạo Làm sao để trẻ tập trung chú ý vào để học Chủ yếu do 1 số nguyênnhân sau:
+ Tư duy của học sinh còn mang tính trực quan là chủ yếu
+ Đọc được đề bài nhưng chưa hiểu đề bài, chưa biết thế nào là tìm hiểubài toán có lời văn
Trang 12+ Không biết tìm hiểu bài toán như: bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?+ Không hiểu các thuật ngữ toán học như: thêm, bớt, cho đi, mua về, bay
đi, chạy đến, và câu hỏi: Có tất cả bao nhiêu? Còn lại bao nhiêu?
+ Không biết tóm tắt bài toán, lúng túng khi nêu câu lời giải, có khi họcsinh nêu lại câu hỏi của bài toán Không hiểu thuật ngữ toán học nên không biếtnên cộng hay trừ dẫn đến nói sai, viết sai phép tính, sai đơn vị, viết sai đáp số + Một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết trả lời Chứng tỏcác em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn
+ Khi về nhà học sinh lại chưa được bố mẹ quan tâm đến bài vở của con
do đi làm vất vả hoặc muốn quan tâm nhưng không biết dạy con sao cho đúngphương pháp dẫn đến giáo viên rất vất vả khi dạy đến dạng bài toán có lời văn
Ngoài ra học sinh lớp 1 còn gặp khó khăn trong vấn đề phương pháp giảitoán Đối với các em bài toán dễ hay khó còn phụ thuộc vào việc học sinh đãgiải bài toán nào tương tự hay chưa Nếu khi giải một bài toán mới học sinh biếtdẫn dắt bài toán đó về một bài toán mà các em đã biết thì vấn đề trở nên dễdàng Nhưng nếu gặp các bài toán mà trước đó các em chưa giải những bài toántương tự với nó thì học sinh thường lúng túng không làm được
Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp 1, tôi nhận thấy hầu nhưgiáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp 1 HSrất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phéptính, viết sai đáp số Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ cókhoảng 20% số HS biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số Số còn lại làrất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khiviết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lạilại không biết để trả lời Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắncách giải bài toán có lời văn GV phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phầnnày
Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em họcsinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường,tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy và đó cũng là
Trang 13động cơ khiến tôi tìm tòi nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm để giúp học sinh giảitoán có lời văn tốt hơn.
2.2 Các giải pháp
1 Đối với giáo viên
Nói một cách khách quan đối với học sinh lớp 1, khi học đến dạng giải toán
có lời văn, phần lớn giáo viên và học sinh đều cho là khó Nhưng mà nói khó thì
nó cũng khó thật, vì đây là bước đầu các em đang tập làm quen với dạng toánnày, làm sao mà không khó được Như chúng ta đã biết, khi chúng ta bắt tay vàotập làm bất cứ cái gì thì lần đầu ai mà tránh khỏi bỡ ngỡ, sai sót Và tất nhiên,các em học sinh lớp 1 của chúng ta cũng vậy mà thôi, nên chúng ta cứ từngbước, từng bước một, tập và hướng dẫn cho các em từ từ, không vội vàng,không nôn nóng, tránh áp đặt cho các em, vì nếu chúng ta làm như vậy thì erằng các em sẽ trở nên sợ dạng toán này, các em sẽ không hứng thú với dạngtoán này nữa, và muốn làm được điều đó, giáo viên phải chuẩn bị thật kĩ cho các
em khi dạy những bài trước đó như bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp.Đối với những bài này, hầu như tất cả các em điều làm được nên giáo viên tỏ rachủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm, nên chỉ dạy lướt qua mà chỉ tậptrung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán cho học sinh mà thôi Giáo viên quênrằng đó là những bài toán làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có lờivăn sau này Đối với giáo viên dạy lớp 1, khi dạy dạng bài: “ Nhìn hình vẽ viếtphép tính thích hợp” giáo viên cần cho học sinh quan sát tranh, tập nêu bài toán
và thường xuyên rèn cho các em có thói quen nhìn hình vẽ nêu đề toán Cứ nhưvậy trong một khoảng thời gian chuẩn bị cho đến lúc học phần giải toán có lờivăn, thì chắc chắn học sinh sẽ không ngỡ ngàng, mà ngược lại các em sẽ dễ dàng
Trang 14tiếp thu bài, hiểu và giải đúng bài toán một cách nhanh chóng và chính xácnhất.
Ngoài yếu tố trên, thì vẫn còn một số giáo viên khi dạy còn chưa phát huyđược tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, dạy theo phương phápthuyết trình kết hợp với đàm thoại, nhưng thật chất vẫn là: “Thầy truyền thụ, tròtiếp thu’’ và cũng còn một số giáo viên còn ngại sử dụng đồ dùng dạy học.Vâng, dạy theo phương pháp một chiều như thế thì hỏi làm sao mà các em pháthuy hết được năng lực, tư duy độc lập sáng tạo cơ chứ ? Với kiểu dạy này, các
em sẽ tiếp thu bài một cách máy móc, thụ động…
Về mặt nhận thức, giáo viên còn coi việc dạy học giải toán có lời văn là đơngiản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp dạy hiệu quả
Vốn từ, vốn kiến thức của các em học sinh lớp 1 còn rất hạn chế nên khi dạygiáo viên cần chú trọng diễn đạt thật chậm, thật kĩ, hướng dẫn từ từ, nếu cảmthấy chỗ nào các em vẫn còn chưa hiểu, vẫn còn mơ hồ, thì chúng ta nên hướngdẫn lại thật kĩ cho đến khi nào các em hiểu thì thôi Và cứ thế lập đi lại nhiều lầnthì chắc chắn rồi các em sẽ hiểu bài và làm được bài tốt hơn
Như chúng ta đã biết, đối với học sinh lớp 1 là thích được khen hơn là đượcchê, giáo viên nắm bắt được tâm lí này của học sinh và đặc biệt hạn chế chê các
em trong học tập và rèn luyện Tuy nhiên, nếu chúng ta không biết kết hợp tâm
lý từng học sinh mà cứ quá khen thì sẽ không có tác dụng kích thích Còn đốivới những em chậm tiến bộ, rụt rè, tự ti thì giáo viên nên gần gũi, động viên,nhắc nhở và quan tâm các em nhiều hơn Chỉ cần các em có một chút tiến bộnhỏ là tôi tuyên dương ngay để từ đó các em sẽ lạc quan, mạnh dạn hơn Cònđối với những em giỏi phải có những biểu hiện vượt bậc, có tiến bộ rõ rệt mớikhen Chính sự khen chê kịp thời, đúng lúc thì chắc chắn sẽ có tác dụng
*Biện pháp 1: Nắm bắt kiến thức, nội dung chương trình Toán 1 và dạy “Giải toán có lời văn” ở lớp 1 theo từng mức độ.
Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, ''Giải toán có lời văn” nói riêng,điều đầu tiên là mỗi giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình, sách giáokhoa Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểu học, và đặc biệt toán lớp 1 thì ai cũngdạy được Đôi khi chính giáo viên trực tiếp giảng dạy cũng rất chủ quan và cónhững suy nghĩ tương tự như vậy Qua dự giờ một số đồng chí giáo viên tôinhận thấy giáo viên dạy bài nào cốt chỉ khai thác kiến thức của bài ấy, còn cáckiến thức cũ có liên quan giáo viên nắm không thật chắc
Trang 15*Mức độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ
nhìn hình vẽ - viết phép tính Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ,suy nghĩ chọn phép tính thích hợp
a, Trong chương trình toán lớp 1 giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữnên chưa thể đưa ngay ''Bài toán có lời văn” Mặc dù đến tuần 23, học sinh mớiđược chính thức học cách giải ''Bài toán có lới văn” song chúng ta đã ngầmchuẩn bị từ xa cho việc làm bài này ngay từ bài ''Phép cộng trong phạm vi 3” ởtuần 7
*Bắt đầu từ tuần 7 cho đến tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phépcộng trong phạm vi 10 đều có các bài tập thuộc dạng ''Nhìn tranh nêu phép tính”
ở đây học sinh được làm quen với việc:
- Xem tranh vẽ
- Nêu bài toán bằng lời
- Nêu câu trả lời
- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)
Trang 16*Mức độ 2:
Từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt rồi nêu đề toánbằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số cùng phép tính thích hợp vào dãy 5 ôtrống để có phép tính đúng mà không nhìn vào tranh vẽ nữa Việc ngầm chuẩn
bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn là chuẩn bị cho học sinh cả vềviết câu lời giải và viết phép tính Chính vì vậy, ngay sau các bài tập “Nhìn tranhviết phép tính thích hợp giáo viên nên đặt câu hỏi để các em trả lời miệng
Ví dụ: (Luyện tập chung - Tiết 4) ở tuần 17
Có : 5 con cá
Thêm : 2 con cá
Có tất cả : con cá?
Trang 17*Mức độ 3:
Trước khi chính thức học “Giải toán có lời văn” học sinh được học bài nói
về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm hai phần chính là những cái đã cho(đã biết) và những cái phải tìm (chưa biết) Vì khó có thể giải thích cho học sinh
“ Bài toán là gì?” nên mục tiêu của tiết này là chỉ giới thiệu cho các em hai bộphận của một bài toán:
+ Những cái đã cho (dữ kiện )
+ Cái phải tìm (câu hỏi )
Ví dụ: Bài toán 2 trang 115 SGK Toán 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm
để có bài toán Có con thỏ, có thêm con thỏ đang chạy tới Hỏi có tất cả
bao nhiêu con thỏ?
Các loại bài toán có lời văn trong chương trình chủ yếu là hai loại toán''Thêm- Bớt” thỉnh thoảng có biến tấu một chút:
Bài toán ''Thêm” thành bài toán gộp, chẳng hạn: ''An có 4 quả bóng, Bình
có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng? ”, dạng này khá phổ biến
Bài toán ''Bớt” thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn: ''Lớp 1A có 35 bạn,trong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam? ”, dạng này ít gặp vìhơi khó
- Về hình thức trình bày bài giải, Học sinh phải trình bày bài giải theo quyđịnh thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5:
+ Câu lời giải
Trang 18+ Phép tính giải.
+ Đáp số
*Biện pháp 2: Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học:
Hiện nay bộ đồ dùng trang bị đến các lớp đã khá nhiều nhưng thực sự vẫnchưa đủ, đặc biệt là đối với dạy “Giải toán có lời văn” thì về đồ dùng tranh ảnhchưa nhiều Vì vậy giáo viên cần sưu tầm thêm vật thật, tranh ảnh, tự làm đồdùng dạy học dùng chung trong tổ khối và dùng riêng cho lớp của mình như:Bảng gài đa năng; Bông hoa trí tuệ; Ô của bí mật; để tạo thêm hứng thú họctập cho học sinh
Trang 20*Biện pháp 3: Nhận biết cấu tạo bài toán có lời văn.
+ Đọc và tìm hiểu đề toán: Muốn học sinh hiểu và giải được bài toán thì
điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán.Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kĩ đề toán, hiểu rõ một số từ khóa quantrọng như “thêm, và, tất cả, ….” Hoặc “bớt, bay đi, cho, bán, trong đó, còn lại,
…” Giáo viên nên kết hợp cho học sinh quan sát tranh vẽ để hổ trợ thêm chocác em hiểu đề Để học sinh dễ hiểu đề bài, khi hướng dẫn tìm hiểu đề giáo viênnên gạch chân dưới các từ ngữ chính trong đề bài và nên dùng phấn màu khác đểcho dễ nhìn Tiết 84- bài 3: Bài toán có lời văn
Có 1 gà mẹ và có 7 gà con
Hỏi ?