1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ĐỀ TÀI NCKH LỚP 3

27 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 229 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đề xuất phương hướng ứng dụng một số phương pháp dạy học vào việchình thành những hiểu biết ban đầu và rèn luyện kĩ năng sử dụng phép so sánh trongphân môn Luyện từ và câu cho học sinh

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 8

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 13

C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

PHỤ LỤC 22

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua Đảng, Nhànước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục Một trong những nhiệm vụ cơbản của giáo dục đào tạo hiện nay là: hình thành và phát triển nhân cách cho họcsinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ côngnghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhâncách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp học trên Là nhữngchủ nhân tương lai của đất nước, đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức cần thiết.Giúp học sinh có vốn kiến thức đó, nhiệm vụ của môn tiếng Việt ở tiểu học nhằmtrang bị cho các em những kiến thức về hệ thống tiếng Việt, chuẩn tiếng Việt, rèncho học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Trong đó phân môn "Luyện

từ và câu" là một trong những phân môn quan trọng có ý nghĩa to lớn trong chươngtrình tiểu học Luyện từ và câu giúp học sinh mở rộng, hệ thống hoá vốn từ và trang

bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu Rèn cho học sinh một số kĩnăng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu Bồi dưỡng cho học sinh thói quendùng từ đúng, nói - viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giaotiếp, rèn luyện phát triển tư duy, bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp cho học sinh

Qua phân môn luyện từ và câu Phương pháp so sánh có khả năng khắc họahình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, mặtkhác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn đạtđược mọi sắc thái biểu cảm So sánh còn là phương thức bộc lộ tâm tư tình cảm mộtcách kín đáo và tế nhị Như vậy đối với tác phẩm văn học nói chung so sánh mangchức năng nhận thức và biểu cảm Nhờ những hình ảnh bóng bảy, ước lệ, dùng cáinày để đối chiếu cái kia nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh được sửdụng phổ biến trong thơ ca, đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi So sánh giúp các emhiểu và cảm nhận được những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang tri thức

Trang 3

làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quýTiếng Việt giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt cho học sinh

Từ thực trạng trên, việc nghiên cứu tìm ra một số biện pháp hữu hiệu để giảiquyết vấn đề trên là hết sức cần thiết Bản thân là một GV, tôi mạnh dạn tiến hành

nghiên cứu và chọn đề tài: "Giúp học sinh lớp ba nhận biết phương pháp so sánh trong phân môn luyện từ và câu".

2 Mục đích nghiên cứu.

- Đề xuất phương hướng ứng dụng một số phương pháp dạy học vào việchình thành những hiểu biết ban đầu và rèn luyện kĩ năng sử dụng phép so sánh trongphân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3

- Thiết kế quy trình dạy học các dạng bài tập về phép so sánh trong phânmôn Luyện từ và câu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu phương pháp so sánh trong phân môn: "Luyện từ và câu" củachương trình SGK lớp 3 phục vụ cho việc giảng dạy

-Khái quát những vấn đề lí luận cơ bản về năng lực sử dụng vốn từ, kĩ năngdùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu của học sinh lớp 3

-Thực tiễn và tình hình dạy Luyện từ và Câu cho học sinh lớp 3 Trường tiểuhọc

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

- Phương pháp so sánh trong phân môn Luyện từ và câu của chương trìnhSGK lớp 3

4.2 Khách thể nghiên cứu.

- Quá trình dạy và học phương pháp so sánh trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3,trường Tiểu học Krông Pa

5 Phạm vi nghiên cứu.

Trang 4

- Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê phân tích các hướng Kiếnthức lý thuyết về so sánh được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phânmôn: "Luyện từ và câu", từ đó đưa ra các giải pháp để rèn học sinh nhận biết phươngpháp so sánh trong phân môn Luyện từ và câu.

-Phương pháp thống kê toán học

7 Giả thuyết khoa học.

Chúng tôi giả định rằng, nếu áp dụng những phương pháp dạy học mới vàoviệc dạy học phép so sánh trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 thì hiệu quả củaviệc dạy học sẽ được nâng cao

Nắm vững cách so sánh các em sẽ có khả năng diễn đạt các vấn đề trong đờisống hàng ngày, tăng hiệu quả giao tiếp giúp các em vững vàng tự tin trong cuộcsống

8 Cấu trúc của đề tài.

- Ngoài các phần danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của đề tàigồm :

* Phần 1: Mở đầu

* Phần 2: Nội dung

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Chương 2: Phương pháp dạy học về phép tu từ so sánh ở lớp 3

- Chương 3: Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm

* Phần 3: Kết luận và khuyến nghị

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận.

1.1 Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học.

1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học Tiếng Việt.

- Trong khoa học giáo dục và lí luận dạy học bộ môn, chưa có một định nghĩa hoặccách giải thích hoàn toàn thống nhất về thuật ngữ phương pháp dạy học Có quanniệm cho rằng: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy giáo và HS,nhờ đó mà HS nắm vững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, hình thành thế giới quan vàphát triển năng lực” Lại có quan niệm coi phương pháp dạy học là “những hình thứckết hợp hoạt động của GV và HS hướng vào việc đạt mục đích nào” Nhìn chung,nhiều người tán thành quan điểm thứ nhất nhưng có cách hiểu “cách thức” rất khácnhau nên dẫn đến các hệ thống phương pháp khác nhau

- Đó là hệ thống có tính chất khái quát và tổng hợp Từng bộ môn lại vận dụng hệthống đó trên cơ sở đặc trưng môn học và những đặc thù của quá trình tổ chức dạyhọc dạy học môn học đó

- Trên tinh thần chung như vậy, có thể quan niệm phương pháp dạy học tiếng Việt làcách thức làm việc của thầy giáo và HS nhằm làm cho HS chủ động chiếm lĩnh trithức, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo tiếng Việt

1.1.2 Các phương pháp dạy học tiếng Việt thường được sử dụng ở tiểu học

- Để việc dạy học tiếng Việt có hiệu quả, cần sử dụng các phương pháp dạy họcnhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS Các phương pháp đặc trưng của mônhọc: phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp rèn luyện theo mẫu,phươngpháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp trò chơi học tập tiếng Việt, phương phápthảo luận nhóm, các phương pháp dạy học khác như: diễn giải, thảo luận, sử dụngphương tiện trực quan vẫn được vận dụng phối kết hợp với các phương pháp đượcnêu trên một cách hợp lí để dạy tiếng Việt

Trang 6

- Sau đây tôi xin trình bày một số phương pháp dạy học mà tôi cho rằng sẽ có tácdụng rất tích cực trong quá trình dạy học về phép so sánh và ứng dụng các phươngpháp này vào việc dạy phép so sánh cho HS lớp 3.

* Phương pháp phân tích ngôn ngữ

- Như vậy, thực chất của phương pháp này là từ việc quan sát, phân tích các hiệntượng ngôn ngữ theo các chủ đề nhất định và tìm ra những dấu hiệu đặc trưng củacác hiện tượng ấy Phương pháp phân tích ngôn ngữ tiến hành qua các thao tác cơbản sau:

+ Phân tích - phát hiện

+ Phân tích - chứng minh

+ Phân tích - phán đoán

+ Phân tích - tổng hợp

+ Phương pháp rèn luyện theo mẫu

+ Phương pháp thực hành giao tiếp

+ Tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho HS.+ Phương pháp thảo luận nhóm

+ Phương pháp trò chơi học tập tiếng Việt

- Trên đây, là một số phương pháp đặc thù cho việc dạy tiếng Việt nói chung và dạyphép tu tù so sánh nói riêng ở tiểu học Tuy nhiên, trong thực tế dạy học, các phươngpháp này không hoàn toàn tách biệt nhau Mỗi phương pháp có những yếu điểmriêng của nó, người GV cần phải vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo mới có thểthu được hiệu quả mong muốn

1.2 Phép so sánh và cách dạy học phép so sánh trong phân môn Luyện từ

và câu lớp 3.

- Nội dung về phép so sánh chiếm một dung lượng không lớn trong chương trìnhTiếng Việt lớp 3 Tất cả chỉ có 7 tiết học khoảng 1/5 tổng số thời gian của phân mônLuyện từ và câu và 1/35 tổng số thời gian của môn Tiếng Việt

Trang 7

- Phép so sánh được dạy ở học kì I, cứ 2 tuần một tiết Có thể thống kê nội dung dạyhọc về phép so sánh cụ thể như sau:

Bảng 1: Thống kê nội dung dạy học phép so sánh trong phân môn Luyện từ và câu:

3 Mái ấm Tìm hình ảnh so sánh và nhận biết các

từ chỉ sự so sánh

24

5 Tới trường So sánh hơn kém, cách thêm các từ so

sánh vào những câu chưa có từ sosánh

43

7 Cộng đồng So sánh sự vật với con người 58

10 Quê hương Làm quen so sánh âm thanh với âm

Trang 8

So sánh: Âm thanh - Âm thanh

Tác giả SGK đã giúp học sinh nhận diện dạng, loại và phân biệt hiệu quả so sánhqua các dạng bài tập

2 Cơ sở thực tiễn.

2.1 Về sách giáo khoa:

Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 hiện nay nói chung và phân môn Luyện từ vàcâu nói riêng còn tồn tại một số điểm chưa hợp lý: mặc dù SGK đã chú trọngphương pháp thực hành nhưng những bài tập sáng tạo vẫn còn ít, đơn điệu, kiến thứcdạy học sinh còn mang tính trừu tượng nên học sinh còn gặp nhiều khó khăn trongquá trình lĩnh hội các kiến thức mới

2.2 Về phía giáo viên:

Người giáo viên còn gặp không ít khó khăn như cơ sở vật chất, phương tiệndạy học và tài liệu tham khảo còn ít Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chútrọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn củamôn Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phânmôn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt Kiến thức về phong cách học của

GV còn hạn chế GV chưa biết vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạyhọc nên kết quả học tập của HS chưa cao Bên cạnh đó, GV phần lớn chỉ chú trọngđến việc dạy cho HS cách nhận diện phép so sánh mà chưa quan tâm nhiều tới việcdạy HS cách cảm nhận và vận dụng các kiến thức về so sánh vào việc nói và viết

2.3 Về phía học sinh:

- Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quannên việc cảm thụ nghệ thuật so sánh còn hạn chế Vốn kiến thức văn học của họcsinh còn rất hạn chế Đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số khi mà số lượng học sinh dântộc chiếm gần 80% Một số em nhận biết về nghệ thuật còn hạn chế, học sinh chỉmới biết một cách cụ thể Vốn từ tiếng Việt còn hạn chế nên khi tiếp thu về nghệthuật so sánh rất khó khăn

Trang 9

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

2 Giải pháp thay thế.

- Qua quá trình tìm hiểu một số phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học và nghiêncứu tính khả thi của chúng trong việc dạy phép so sánh cho HS lớp 3, tôi đưa ra một

số giải pháp thay thế như sau:

2.1 Thực hiện soạn bài kế hoạch bài học dạy luyện từ và câu một cách nghiêm túc, chu đáo

Soạn bài dạy luyện từ và câu là công việc của GV Bản chất của hoạt động soạn bàitập là một kế hoạch thực hiện bài học đảm bảo tính khả thi với từng đối tượng HS.Xác định mục tiêu của bài về các phương diện kiến thức, kĩ năng, thái độ Cần chỉ rõcác hoạt động dạy học cụ thể sẽ thực hiện trong giờ học, cụ thể là từng hoạt động HSlàm gì, kết quả cần đạt ra sao, cần củng cố cho HS những kiến thức và kĩ năng nào?

2.2 Đặt phân môn luyện từ và câu nằm trong mối quan hệ giữa các phân môn khác của Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập đọc

Học sinh muốn làm đúng bài tập thì phải hiểu được yêu cầu của đề bài Trongcác giờ Tập đọc, tập làm văn chúng ta nhấn mạnh các hình ảnh so sánh có trong cácbài đọc để học sinh hiểu thêm về biện pháp so sánh

2.3 Soạn một số bài tập phù hợp với đặc điểm của học sinh.

Để thực hiện tốt mục tiêu của phân môn luyện từ và câu và tránh áp đặt khôngcần thiết trong nội dung dạy học, cần chuẩn bị những bài tập phù hợp với HS lớpmình, tương ứng với những phần dạy học trong từng bài học Công việc soạn bài tậpđòi hỏi GV phải thống kê được những lỗi sai mà HS thường mắc, soạn bài tập dướinhiều dạng để tạo hứng thú cho học sinh

Vì trong SGK có ít bài tập sáng tạo và còn đơn điệu, kiến thức còn mang tínhtrừu tượng nên giáo viên cần phải sưu tầm nhiều dạng bài sáng tạo và kiến thức cụthể nói theo tình huống Vì khi giáo viên đưa, cần đưa lệnh bài tập rõ ràng để họcsinh hiểu được mục đích yêu cầu của bài tập

* Ví dụ 1: Bài tập 1 (trang 6): Tìm các từ ngữ chỉ sự vật trong khổ thơ sau:

Trang 10

"Tay em đánh răng

Răng trắng hoa nhài

Tay em chải tóc

Tóc ngời ánh mai"

Ta có thể đặt lệnh bài như sau:

a Tìm các từ ngữ chỉ sự vật trong các khổ thơ sau:

b Tìm các từ ngữ chỉ vật mà em thường gặp hàng ngày (đồ dùng học sinh)

Để học sinh sáng tạo kể tên các sự vật thường gặp

* Ví dụ 2: Bài tập 2: (Trang 117)

Lệnh của bài: Tìm các từ chỉ đặc đặc điểm trong những câu thơ sau:

Ta có thể thay lệnh: Tìm các từ chỉ đặc điểm của sự vật trong những câu thơ sau.Khi dạy các phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt người giáo viên cần lồng ghép giữacác phân môn trong môn Tiếng Việt với nhau Như khi dạy bài Tập đọc: "Hai bàntay em" SGK Tiếng Việt tập I (Trang 7) Trong bài này có rất nhiều hình ảnh so sánhgiáo viên cần nhấn mạnh để gây hứng thú cho tiết tiếp theo của môn: "Luyện từ vàcâu"

Để học sinh học tốt môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn: "Luyện từ và câu"dạng bài so sánh học sinh cần nắm và làm theo các yêu cầu sau: Đọc kỹ đề bài, xácđịnh đúng yêu cầu của bài sau đó mới làm bài

Muốn học sinh của mình có một kỹ năng nhận biết biện pháp so sánh vững vàng đòihỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới như:

Trang 11

"Cánh diều như dấu á

Ai vừa tung lên trời"

Để làm tốt bài tập này học sinh phải nắm chắc các từ chỉ sự vật, từ đó học sinh

sẽ tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn trên là:

+ "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành"

+ "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ"

+ "Cánh diều" so ánh với "dấu á"

+ "Dấu hỏi" so sánh với "vành tai nhỏ"

Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với "Hoa đầucành"hay vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó giáo viên phảihướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳnghạn:

+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa

+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp

+ Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á

(Giáo viên có thể vẽ lên bảng "Cánh diều" và "Dấu á")

+ Dấu hỏi cong cong, mở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai

Trang 12

(Giáo viên có thể cho học sinh nhìn vào vành tai bạn)

* Mô hình 2:

- So sánh: Sự vật - Con người

Dạng của mô hình so sánh này là:

A như B: +A có thể là con người

"Bà như quả ngọt chín rồi

Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng"

(Võ Thanh An)Với dạng bài tập này học sinh sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con người nhưngcác em chưa giải thích được "Vì sao?" Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinhtìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:

"Trẻ em" giống như "búp trên cành" Vì đều là những sự vật còn tươi non đang pháttriển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng

"Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến độ giàgiặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng

Trang 13

Nó cao lớn lênh khênh

Chân đi như đập đất "

(Trần Đăng Khoa) + "Cao cao, cao mãi

Tàu vươn giữa trời

Như tay ai vẫy

Hứng làn mưa rơi"

(Ngô Viết Dinh)Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó họcsinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau Chẳng hạn:

+ Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như"

* Mô hình 4:

- So sánh: Âm thanh - Âm thanh:

Mô hình này có dạng sau:

A như B +A là âm thanh thứ 1

+ B là âm thanh thứ 2

* Ví dụ: Tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong mỗi câu thơ, văn dướidây:

Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và

âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ "như" Chẳng hạn:

+ "Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai"

(Nguyễn Trãi)

"Tiếng suối" được so sánh với "Tiếng đàn cầm" qua từ "như"

Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so sánh: Ngangbằng và hơn kém Chẳng hạn:

+ Trong câu:"Cháu khỏe hơn ông nhiều!"

(Phạm Cúc)

Ngày đăng: 07/09/2021, 23:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thực nghiệm theo thời khóa biểu của nhà trường - ĐỀ TÀI NCKH LỚP 3
Bảng th ực nghiệm theo thời khóa biểu của nhà trường (Trang 16)
Bảng 1: Kiểm chứng T-test độc lập để xác định các lớp tương đương. - ĐỀ TÀI NCKH LỚP 3
Bảng 1 Kiểm chứng T-test độc lập để xác định các lớp tương đương (Trang 16)
Bảng 2. Kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu. - ĐỀ TÀI NCKH LỚP 3
Bảng 2. Kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu (Trang 17)
Bảng 3. Kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu. - ĐỀ TÀI NCKH LỚP 3
Bảng 3. Kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu (Trang 17)
Bảng 4. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động - ĐỀ TÀI NCKH LỚP 3
Bảng 4. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động (Trang 18)
BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG - ĐỀ TÀI NCKH LỚP 3
BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG (Trang 26)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w