Theo đó: Về chức năng quản lý: Khi đó, nhà nước can thiệp quá sâu vào các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, tập trung trong tay mình 3 loại quyền là: quyền quản lý nhà nước về hành
Trang 1NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ
1 Khái niệm cơ chế quan lý kinh tế
1.1 Khái niệm cơ chế
Cơ chế là bộ máy theo nghĩa cơ học cùng với những quy tắc vận hạnh bộ máy đó Hay hiểu một cách ngắn gọn cơ chế là quy tắc, trong chính sách phát triển kinh tế, mỗi quốc gia đều có hoạch định những quy tắc phù hợp với hoàn cảnh thực tế của quốc gia và bối cảnh của quốc tế ở từng giai đạn khác nhau Các tổ chức kinh tế, liên minh hay khu vực kinh tế thế giới đều đặt ra quy tắc chung cho mọi hoạt động của các thành viên của mình, nhưng phải phù hợp với thông lệ quốc tế
1.2 Cơ chế kinh tế
Cơ chế kinh tế làbản thân nền kinh tế cùng với phương thức vận hành của nền kinh tế đó Hay Cơ chế quản lý kinh tế là Toàn bộ hệ thống pháp quy của Nhà nước quy định về quản lý và điều hành nền kinh tế Vì vậy, để quản lý và điều hành kinh tế có hiệu quả thì phải thường xuyên đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế Xét khía cạnh này thì có ba loại hình cơ chế quản lý kinh tế:
Một là: Cơ chế kinh tế thị trường, đây là cơ chế do nhà kinh tế học Cổ
Điển A Smith xây dựng cho nhân loại Nội dung chủ yếu của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường là: Nền kinh tế vận hành theo các quy luật kinh tế, các cơ chế kinh tế chứ không chịu sự điều tiết của nhà nước (Ban ay vô hình)
Hai là: Nền kinh tế tập trung, đây là mô hình kinh tế do nhà kinh tế học
tân Cổ Điển John Maynard Keynes xây dựng cho nhân loại Nội dung chủ yếu của nền kinh tế đó là ông chú trọng đến sự điều tiết nền kinh tế của nhà nước (Ban tay hữu hình)
Ba là: Nền kinh tế hỗn hợp, là mô hình kinh tế do nhà kinh tế học hiện
đại ông P.A Samueleson xây dựng Đây là mô hình kinh tế kết hợp giữa nền
Trang 2kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với nền kinh tế vận hành theo sự điều tiết của nhà nước Ông cho rằng vỗ tay thì phải bằng hai bàn tay mới kiêu Vì vậy, để nền kinh tế hoạt động bình thường thì phải kết hợp giữa mô hình kinh tế thị trường và nền kinh tế có sự điều tiết của nhà nước.
1.3 Khái niệm cơ chế quản lý kinh tế.
Bộ máy quản lí nhà nước về kinh tế là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều
cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm bảo đảm tổ chức và quản lí có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế, các hoạt động kinh tế trong xã hội
Cơ chế quản lý kinh tế là các quy tắc điều chỉnh các hành vi, hoạt động
kinh tế của các cá nhân và tổ chức kinh tế; là hệ thống các biện pháp, hình thức, cách thức tổ chức, điều khiển nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế phát triển phù hợp với những quy luật kinh tế khách quan theo mục tiêu đã xác định trong những điều kiện kinh tế xã hội của từng giai đoạn phát triển Cơ chế quản lý kinh tế tác động sâu sắc đến hiệu quả phát triển của nền kinh tế quốc dân; do vậy, hiệu quả kinh tế xã hội là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đánh giá tính đúng đắn của cơ chế quản lý kinh tế Các cơ chế kinh tế gồm cơ chế kinh tế thị trường, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung và cơ chế kinh tế hỗn hợp Cơ chế quản lý kinh tế có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau: trong hệ thống kinh tế vĩ mô tồn tại khái niệm cơ chế thị trường và cơ chế kế hoạch tập trung, cơ chế điều tiết vĩ mô; tầm vi mô tồn tại cơ chế tự điều tiết…
II THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1 Các giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
1.1 Giai đoạn trước Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV) tháng 8/1979 1.1.1 Đặc trưng của cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
Trang 3Trước Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV) nước ta hoàn toàn vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đặc trưng của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được thể hiện rõ.
Cơ chế kế hoạch tập trung có đặc trưng cơ bản là mọi hoạt động kinh tế
xã hội đều theo một kế hoạch thống nhất từ trung tâm, nhấn mạnh quan điểm hiện vật, không coi trọng các quy luật kinh tế, xem nhẹ hạch toán kinh doanh
Trong giai đoạn trước đổi mới vào năm 1986, chúng ta thực hiện quản
lý theo cơ chế tập trung đến mức quan liêu Nhà nứơc là người quản lý tất cả, nắm trong tay quyền “cho”, chi phối mọi vấn đề trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội Cơ chế này làm cho nền kinh tế trì trệ trong một thời gian dài, các doanh nghiệp không được tự chủ, không năng động sáng tạo Theo đó:
Về chức năng quản lý: Khi đó, nhà nước can thiệp quá sâu vào các
lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, tập trung trong tay mình 3 loại quyền là: quyền quản lý nhà nước về hành chính kinh tế, quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với các doanh nghiệp và quyền điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp
Về nguyên tắc quản lý: thực hiện nguyên tắc tập trung cao độ Điều
này dẫn đến tệ nạn quan liêu, cửa quyền của nhà nước và tính thụ động, ỷ lại, nạn hối lộ, móc ngoặc của các đơn vị kinh tế
Về hình thức quản lý: Đó là nền kinh tế hiện vật theo kiểu “cấp phát
– giao nộp” bằng hiện vật các nguyên liệu đầu vào và các sản phẩm đầu ra Thực hiện “cơ chế xin-cho” về tài chính
Về phương pháp quản lý: dựa chủ yếu vào phương pháp mệnh lệnh
hành chính
Về công cụ quản lý: chủ yếu sử dụng công cụ kế hoạch pháp lệnh
mang tính áp đặt từ trên xuống trong việc giao nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh bằng hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh
Trang 4Cũng chính vì những cơ chế trên nên sinh ra cơ chế “xin – cho” Như vậy cơ chế “xin – cho” trong trường hợp nào đó ngụ ý nói đến:
Quan hệ bất bình đẳng giữa nhà nước và công dân: quan hệ cai trị
Đặt ra nhiều thủ tục hành chính rườm rà , hành dân để thể hiện quyền lực nhà nước Không dựa trên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức,
cá nhân trong xã hội trong việc tiếp cận những dịch vụ nhà nước cung cấp; không dựa trên những tiêu chí, biểu mẫu và quy trình cụ thể có thể theo dõi được để những cá nhân, tổ chức xã hội có nhu cầu có thể đăng ký với cơ quan
để thực hiện quyền của mình (một trong những biện pháp khắc phục là đấu thầu công khai trong các dự án xây dựng để ngăn chặn hiện tượng “chạy” dự án)
Tư duy cũ trong quản lý: ban phát chứ không phải là dịch vụ hành chính cho xã hội, thể hiện trong cung cách phục vụ nhân dân của một bộ phận công chức nhà nước
Tính tùy tiện, không kiểm soát chặt chẽ được từ phía nhà nước và nhân dân đối với người “cho” và sự “chạy chọt” của người “xin” để xin được và được nhiều
Là mối quan hệ cứng nhắc trong hệ thống hành chính nhà nước: làm cho các cơ quan nhà nước
không phát huy được tinh
Trang 5những biện pháp để phần nào khắc phục tình trạng này, điển hình là phân cấp quản lý ngân sách cho các địa phương.
* Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu:
- Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư,
hàng hóa thấp hơn giá trị trên thị trường do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
- Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối
vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu Nó đã thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
- Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách nhưng không có
chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị cấp vốn; nó làm tăng gánh nặng ngân sách, sử dụng vốn kém hiệu quả
1.1.2 Kết quả, ý nghĩa và hạn chế của quá trình thực hiện cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp
Trang 6Tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân thực tế hàng năm.
Sản xuất tuy tăng hơn trước, nhưng còn chậm so với khả năng sẵn có và công sức bỏ ra; chưa đáp ứng được yêu cầu cần nhanh chóng ổn định đời sống của nhân dân cũng như yêu cầu tích lũy để công nghiệp hoá và củng cố quốc phòng Một số chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch 5 năm (sản xuất lương thực, xi măng, than, gỗ, vải, hàng xuất khẩu ) không đạt đã ảnh hưởng không tốt đến toàn bộ hoạt động kinh tế và đời sống của nhân dân
Hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp Các xí nghiệp công nghiệp nhìn chung chỉ sử dụng được một nửa công suất thiết kế; năng suất lao động giảm, chất lượng sản phẩm sút kém
Tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt, lại bị sử dụng lãng phí, nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng; môi trường sinh thái bị phá hoại
Lưu thông chưa thông suốt, phân phối không hợp lí, vật giá tăng nhanh, gây tác động xấu đến sản xuất, đời sống và xã hội Những mất cân đối lớn trong nền kinh tế (giữa cung và cầu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, năng lượng, nguyên liệu, vận tải , giữa thu và chi, giữa xuất khẩu và nhập khẩu ) chậm được giảm nhẹ, thậm chí có mặt gay gắt hơn trước
Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố Thành phần kinh tế quốc doanh không phát huy được vai trò chủ đạo trong khi các thành phần kinh tế khác chưa được sử dụng và cải tạo tốt
Trang 7Đời sống của nhân dân, nhất là công nhân viên chức, các vùng sâu, vùng xa, vùng gặp thiên tai còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Nhiều người lao động chưa có hoặc chưa đủ việc làm Nhiều nhu cầu tối thiểu của nhân dân
về đời sống vật chất và văn hoá chưa được bảo đảm
Hiện tượng tiêu cực trong xã hội chưa được ngăn chặn, thậm chí còn phát triển Công bằng xã hội bị vi phạm Pháp luật, kỉ cương không nghiêm Những hành vi cửa quyền, tham ô, "móc ngoặc" của một số cán bộ và nhân viên nhà nước, những hoạt động làm ăn phi pháp… chưa bị xử lí kịp thời và nghiêm khắc
Thực trạng nói trên làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ quan Nhà nước
* Ý nghĩa:
Tuy vậy, trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điểu kiện cụ thể, đặc điểm trong quá trình công nghiệp hóa theo xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên, nông dân ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ được khuyến khích tham gia sản xuất tập thể
Hội nhập kinh tế thông qua triển khai các hiệp định hợp tác với các nước
xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế từ năm 1978
1.2 Giai đoạn từ Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV) tháng 8/1979 đến nay
1.2.1 Tính tất yếu khách quan của việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Trang 8Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trong nền kinh tế nói chung, do đã bị kéo dài quá lâu và không còn hợp với thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội trong thời bình nên về hình thức thì tập trung cao độ nhưng về nội dung thì Nhà nước ngày càng không thể kiểm soát hết và càng không thể bao cấp hết
Viễn cảnh: Nền kinh tế có hai hệ thống giá, hai hệ thống phân phối và
phân phối lại Vào thập niên 80 của thế kỷ 20, trong Ngân hàng thì thiếu tiền mặt nghiêm trọng, bên ngoài thì lạm phát liên tục gia tăng mà đỉnh cao là năm
1986 lạm phát lên tới 774,7% do những tác động trễ của nhiều nhân tố từ 10 năm sau chiến tranh dồn lại! Do tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 - Đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối lưu thông mà biểu hiện tập trung của nó được phản ánh trên ba lĩnh vực nhạy cảm nhất: Giá - Lương – Tiền! Nhà nước Việt nam đã phải quyết định tiến hành một cuộc tổng điều chỉnh Giá - Lương - Tiền với các mục đích: Điều chỉnh sức mua của đồng tiền, điều tiết thu nhập của một bộ phận không nhỏ những người làm ăn bất chính, huỷ bỏ tiền mà kẻ địch đang có trong tay làm phương tiện phá hoại kinh tế Đồng thời đổi tiền để tổng kiểm tra tồn quỹ tiền mặt của các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp và tổ chức kinh tế
Theo đó, đúng 6 giờ sáng ngày 14/9/1985 Nhà nước đã phải công bố lệnh đổi tiền lần thứ tư kể từ khi thành lập NHQG VN (1951) với tỷ lệ: một đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới bằng mười đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũ Tuy vậy, do nhiều nhân tố không thể lường trước được nên ngay sau cuộc đổi tiền, chẳng những không hạn chế được bớt lượng tiền mặt trong lưu thông mà còn phải phát hành thêm với số lượng lớn phục vụ nhu cầu trả lương, thu mua nắm nguồn hàng và trang trải bội chi ngân sách Nhà nước Chỉ trong vòng hơn ba tháng kể từ sau ngày đổi tiền, Ngân hàng đã phải phát hành thêm một khối lượng gấp 1,38 lần tổng giá trị tiền mới phát hành cho cuộc đổi tiền trước đó Nhu cầu chi tiêu sau đó lại tiếp tục gia tăng, tiền phát ra thì nhiều,
Trang 9quay về NHTW thì ít mà phần lớn số tiền tín dụng không quay về đã bị "tài chính hoá" Bức tranh về khủng hoảng kinh tế cũ do đó càng trầm trọng hơn: Thiếu tiền trong Ngân hàng, lạm phát trong lưu thông; Vật tư, hàng hoá chủ yếu vẫn tuột dần khỏi tay Nhà nước; Những mạch "kinh tế ngầm" vẫn chảy dữ dội: hụi, họ, chợ đen, cho vay nặng lãi, “khoán chui”, "phá rào", "núp bóng" v.v là những cụm từ và là những hiện tượng nhức nhối đã từng xuất hiện phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội Việt nam từ những năm trước lại tái diễn và có phần nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1985, đầu năm 1986.
Vậy là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã không còn phù hợp với điều kiện xây dựng kinh tế thời bình - Không thể làm xoay chuyển được sức ỳ của nền kinh tế vốn đang chờ đợi một cách khách quan những động lực khác: Đó là
tư duy mới, cơ chế mới, tri thức mới và một kiểu dũng cảm mới - Dũng cảm nhận chân sự thật, đánh giá đúng sự thật và những giải pháp xử lý tận gốc những sự thật bất cập đang hoành hành lúc đó Nhờ “tư duy đổi mới và một cơ chế vận hành thông thoáng hơn”, kể từ cuối năm 1986 trở đi, nền kinh tế nước
ta đã dân thoát ra được cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra trước đó (1975-1985)
Giữa lúc Việt Nam chính thức quyết định tiến hành công cuộc đổi mới, trên thế giới cũng diễn ra nhiều biến đổi quan trọng Những biến đổi ấy vừa có ảnh hưởng tới Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam
có thể tham khảo với các mức độ khác nhau Đó là:
1 Công cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc theo hướng thị trường - mở cửa bắt đầu diễn ra từ năm 1978 Tiếng vang của những thành tựu cải cách nổi bật mà Trung quốc thu được đã được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm
do có sự tương đồng nhiều mặt về các điều kiện kinh tế - xã hội giữa hai nước, mặc dù trong thời gian này quan hệ Việt Nam - Trung quốc vẫn còn căng thẳng, chưa được bình thường hoá
Trang 102 Sự không thành công của công cuộc cải tổ đã dẫn tới sự sụp đổ của CNXH ở Liên xô và nhiều nước Đông âu là một bài học phản diện Sự sụp đổ
đó là bằng chứng về sự thất bại của con đường cải tổ theo kiểu "phủ định sạch trơn", sử dụng "liệu pháp sốc", giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế
và chính trị trong quá trình cải tổ Cái giá phải trả là rất đắt
3 Thành công của các nước "công nghiệp mới" ở Đông á đưa ra những gợi ý về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ những nước nông nghiệp và có quan hệ xã hội theo kiểu những giá trị văn hoá phương Đông Đó là những thành công của các chiến lược phát triển: phát huy mạnh nội lực, thị trường - mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài
4 Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang từng bước thay thế
xu hướng đối đầu và xung đột Tình huống này buộc các quốc gia phải định hướng lại tư duy về các vấn đề phát triển Khác hẳn trước đây, trong hoàn cảnh phát triển mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành nhu cầu tự thân bên trong đối với nền kinh tế nông nghiệp vốn mang đậm tính chất khép kín, tự cấp tự túc của Việt Nam
Toàn bộ tình hình trên đây, ở trong cũng như ngoài nước đã tác động đến Việt Nam về cả hai phương diện Một mặt, nó đòi hỏi phải đổi mới tư duy phát triển, đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế theo một phương thức mới Mặt khác,
nó tạo ra các cơ hội và điều kiện để sự thay đổi đó diễn ra thuận lợi Đó là điểm khởi đầu cả về lịch sử lẫn lý luận của quá trình đổi mới
1.2.2 Nội dung của quá trình đổi mới
1.2.2.1 Giai đoạn từ Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV) tháng 8/1979 đến 1985
Trang 11Các chủ trương, chính sách đổi mới từng phần từ năm 1979 đến năm
1985 và nhu cầu phải đổi mới triệt để cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp
Dưới áp lực của tình thế khách quan, nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội, chúng ta đã có những bước cải tiến theo hướng thị trường, tuy nhiên còn chưa hoàn thiện, triệt để Đó là khoán sản phẩm trong nông nghiệp theo chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa IV; bù giá vào lương ở Long An; Nghị quyết TW8 khóa V (1985) về giá – lương – tiền, thực hiện Nghị đinh
25 và Nghị đinh 26-CP của Chính phủ… Tuy vậy, đó là những căn cứ thực tế
để Đảng đi đến quyết định thay đổi về cơ bản cơ chế quản lý
Đề cập đến sự cần thiết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI khẳng định: "Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay ko tạo đc động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế XHCN, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội" Vậy nên việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách
1.2.2.2 Giai đoạn từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến nay
Xét về thời gian, dưới góc độ kinh tế thị trường, tư duy của chúng ta cũng được đổi mới qua nhiều bước.
Bước I: Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta
là kinh tế thị trường Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý chứ
không phải nói về toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh tế Do
đó, trong khi phê phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp
và đề ra chủ trương đổi mới quản lý kinh tế (một bộ phận của đường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định: “thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế
Trang 12là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” Phát triển thêm một bước, Đại hội VII (qua Cương lĩnh) đã xác định nền kinh tế của ta là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước”.
Bước II: Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa
tư bản, không đối lập với chủ nghĩa xã hội Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) nhận định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phầ đang hình thành Và cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ chế vận hành của nền kinh tế Có nghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, còn có chế vận hành của nền kinh tế đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Gần cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, tại một nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận đã nhận định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại” Theo nhận định này, thị trường, kinh tế thị trường đã từng tồn tại và phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau Nó có trước chủ nghĩa tư bản, trong chủ nghĩa tư bản và cả sau chủ nghĩa tư bản Nếu trước chủ nghĩa tư bản
nó vận động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ở trình độ thấp thì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho người ta nghĩa rằng nó chính
là chủ nghĩa tư bản Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu Vấn đề ở đây là liệu kinh
tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không, và liệu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên một nền kinh tế hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận động theo
Trang 13các quy luậtd dặc thù của chủ nghĩa xã hội hay không? Câu trả lời là không Quan điểm này cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII (1996) khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng, xã hội chủ nghĩa”
Bước III: Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình
kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ Đại hội IX của Đảng (2001)
ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính
là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối
Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Theo Nghị quyết của Đại hội IX, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần đó bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài
Hội nghị Trung ương 5 khóa IX ra Nghị quyết: Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, đẩy mạnh CNH, HĐH
Trang 14nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010; khẳng định kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là Hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể liên kết rộng rãi người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không giới hạn quy mô, lĩnh vực, địa bàn; phân phối theo lao động, vốn và mức độ tham gia dịch vụ Phát triển kinh tế tư nhân
là chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; kinh tế tư nhân được phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm, không hạn chế về quy mô; những đảng viên đang làm chủ các doanh nghiệp tư nhân chấp hành tốt Điều lệ Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước thì vẫn là đảng viên của Đảng; Đại hội IX cũng nhấn mạnh việc phát triển nền kinh tế nước ta ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, phải tạo ra bước tiến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế Những chủ trương chính sách kinh tế mới của Đại hội IX và các Nghị quyết Trung ương (khóa IX)
đề ra đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng tích cực tạo nhiều
cơ hội cho nền kinh tế vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân trong 5 năm (2001 - 2005) là 7,51% và phát triển tương đối toàn diện; lương thực xuất khẩu hàng năm từ 4 đến 5 triệu tấn gạo Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, đặc biệt là thành tựu về xóa đói giảm nghèo, chúng
ta đã đạt chuẩn quốc tế vào năm 2003
Bước IV: Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trương
toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và đầy đủ hơn Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006) đã xác định 5 năm (2006 - 2010) có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm đầu của thế kỷ XXI và đề ra mục tiêu phương hướng tổng quát trong lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đổi mới nền kinh tế Đó là, nâng cao năng lực lãnh
Trang 15đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH, HĐH đất nước sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Từ mục tiêu tổng quát trên trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội X chỉ rõ một số quan điểm lớn về đổi mới như: Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức Đây là thể hiện bước tiến về nhận thức của Đảng ta, bắt kịp xu thế phát triển mới của thế giới Đại hội X chủ trương phát triển nhanh hơn công nghiệp
và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hóa; tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ; tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại Đảng tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới kinh tế, đổi mới đất nước trong giai đoạn mới
Như vậy,sau đổi mới, tư duy của chúng ta về cơ chế quản lý kinh tế có nhiều sự phát triển so với trước Nhìn khái quát đã có những sự thay đổi lớn như sau:
- Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) đã đi đến quan niệm nền kinh tế của ta hiện nay và sau này có ba chế độ sở hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư nhân, trên cơ sở đó, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế
tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải nhanh chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh
tế cá thể tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đến quan niệm rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải ưu tiên phát triển lực lượng
Trang 16sản xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất.
- Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu đã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở thành nền tảng vững chắc thì phải trải qua một quá trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển với những bước thích hợp; trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tư nhân, coi như thành phần này là động lực quan trọng của phát triển kinh tế và phát triển lực lượng sản xuất
- Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung, thống nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trên bình diện vĩ
mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh
- Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân phối theo lao động đã đi đều quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội Công bằng xã hội thể hiện không phải ở chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là ở chỗ phân phối hợp lý tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đến có cơ hội
Trang 17phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình Không ngăn cấm mọi sự làm giàu
mà trái lại khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theo đúng pháp luật, đồng thời thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế phân cực quá đáng hai đầu
Qua hơn 25 năm đổi mới, tư duy về kinh tế thị trường của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn Nếu ở Đại hội VI, Đảng ta mới khẳng định sự cần thiết phải sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ dưới chủ nghĩa xã hội thì đến Đại hội VII và Đại hội VIII Đảng đã khẳng định cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội IX tiếp tục đánh dấu thêm một bước phát triển mới trong đổi mới tư duy lý luận kinh tế của Đảng, đã xác định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đại hội
X làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại hình thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh Nền kinh tế không chỉ độc tôn bàn tay kế hoạch của Nhà nước, mà phải được vận hành bởi hai bàn tay: thị trường
và Nhà nước Thực hiện cơ chế thị trường đã khuyến khích sự làm giàu hợp pháp, tháo gỡ sự kìm hãm sản xuất và lưu thông Cơ chế thị trường cũng đã góp phần phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng, các khu vực trong nước, giữa thành thị và nông thôn, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi, cải thiện đời sống nhân dân Sự phá bỏ độc quyền, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp phát huy tính năng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Thực tiễn những thành công kinh tế Việt Nam đạt được như ngày hôm nay đã thể hiện tính đúng đắn, khách quan và phù hợp của chủ trương, chính
Trang 18sách Nền kinh tế tiếp tục có tốc độ tăng trưởng khá nhanh Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng bước đầu Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quan trọng Tiềm lực kinh tế,
cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường đáng kể; khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế được nâng lên Văn hóa - xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật Chính trị - xã hội ổn định Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và
an ninh quốc gia được giữ vững Thế và lực của đất nước vững mạnh thêm, vị thế quốc tế của đất nước được nâng lên rõ rệt
Thực tế cuộc sống cho thấy, đang có xu hướng bằng lòng với những thành tựu đạt được Ngược lại với xu hướng trên, lại có biểu hiện nóng vội, quá chú trọng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà chưa quan tâm, chú trọng đúng mức đến phát triển bền vững và chất lượng Hơn nữa, có nơi còn có biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm cho lãnh đạo cấp trên, xem đổi mới tư duy là trách nhiệm của những người lãnh đạo, của các nhà quản lý Đổi mới tư duy kinh tế của chúng ta chưa theo kịp với những biến đổi nhanh chóng của thời đại, chưa giải quyết thỏa đáng những đòi hỏi từ thực tiễn đặt ra Do vậy, để giải quyết tốt những vấn đề từ thực tiễn cuộc sống, cũng như lý luận kinh tế thì trong thời gian tới cần phải tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế
Trong bối cảnh mới, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào môi trường khu vực và quốc tế, cần phải nhận thức được rằng: luôn luôn chủ động, sáng tạo và dựa vào nội lực Để từ đó thấy rằng: mọi chủ trương chính sách tiếp tục đổi mới kinh tế phải coi ưu tiên số một là giải phóng lực lượng sản xuất và mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của xã hội nhằm tất cả vì mục tiêu phát triển
Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng đại hàng đầu, là nhiệm
vụ trung tâm