Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà chúng được tạo dựng nên do đó các điều kiện về địa lý, địa hình sẽ ảnh hưởng không c
Trang 2
Lời nói đầu
Lĩnh vực Đầu tư xây dựng cơ bản đã và đang khẳng định vai trò quan trọng, có tính quyết định đối với quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước thông qua quá trình tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế-xã hội Chúng ta quản lý hoạt động này thông qua việc hình thành và liên tục hoàn thiện một cơ chế quản lý- cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng
Là lĩnh vực hoạt động đòi hỏi phải hy sinh một lượng rất lớn nguồn lực và chi phí xã hội, đồng thời do ảnh hưởng và tầm quan hệ rộng lớn cũng như tính chất phức tạp trong quản lý, cho nên không phảI lúc nào việc hy sinh những nguồn lực, những chi phí này cũng đem lại hiệu quả tích cực cho nền kinh tế-xã hội Thực tế đang đặt ra bàI toán phảI giảI quyết, đó là bàI toán về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB
Nói cách khác, cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng của chúng ta đang đặt ra yêu cầu phảI hoàn thiện Và việc hoàn thiện này là một quá trình liên tục Mỗi cơ chế quản
lý được hoàn thiện, nhưng ngay sau đó việc áp dụng vào thực tế lại phát sinh những mâu thuẫn mới GiảI quyết những mâu thuẫn này sẽ đưa cơ chế hoàn thiện thêm một bước nữa, cứ như vậy, cơ chế luôn vận động, đổi mới, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Trong lĩnh vực đầu tư XDCB, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB chính là mục tiêu mà cơ chế quản lý đầu tư xây dựng hướng tới, cũng như là tiêu thức quan trọng đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế này
Hai vấn đề này có quan hệ mật thiết với nhau Việc giả quyết vấn đề này là hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội Với lý do như vậy, em đã
chọn đề tài: “Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB”
Trang 3I đầu tư phát triển:
1 Đầu tư-khái niệm và vai trò:
Đầu tư, hiểu theo nghĩa chung nhất, là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó, nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó
Đầu tư, là một định nghĩa, một phạm trù, một hành động, nó thể hiện các mối quan hệ nhân quả tồn tại phổ biến trong hiện thực Những mối quan hệ này là tất yếu
do bản chất hoạt động đầu tư, do mối quan hệ tất yếu giữa tính mục đích và sự hy sinh các nguồn lực, do bản thân quá trình thu hút các nguồn lực cũng như thực hiện để đạt được mục đích Mối quan hệ này là tất yếu trong tính toàn diện, phổ quát của hoạt động đầu tư
Định nghĩa đầu tư trên, như vậy, là định nghĩa có nội hàm hẹp nhất mà ở nhiều giác độ, nhiều tiêu thức khác nhau, bằng cách làm phong phú thêm nội hàm, ta có thể xác định được nhiều hoạt động khác nhau mang bản chất là hoạt động đầu tư, ví dụ như: đầu tư tăng trưởng, đầu tư phát triển, đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư
mở rộng, đầu tư chiều sâu Các hoạt động đầu tư cần thiết phải hy sinh các nguồn lực,
và các kết quả nhất định sẽ được tạo ra
Nguồn lực dùng để tiến hành hoạt động đầu tư có thể là những tài sản hữu hình như tiền vốn, đất đai, nhà cửa, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thương mại Các doanh nghiệp còn có thể đầu tư bằng cổ phần, trái phiếu, các quyền
sở hữu tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố hoặc các quyền có giá trị về mặt kinh
Trang 4
tế như các quyền thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên các nguồn lực này được kết hợp với nhau trong quá trình đầu tư nhằm tạo ra các tài sản, những giá trị, những kết quả mong đợi, tức là mục tiêu đầu tư nói chung
Những kết quả, những giá trị này có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất chất lượng cao hơn trong nền sản xuất
xã hội Những kết quả đó, và do đó là cách thức tiến hành hoạt động đầu tư đáp ứng được các mục tiêu của chủ thể đầu tư và xã hội đến đâu là tiêu chí quan trọng đánh giá tính hiệu quả, hợp lý và đúng đắn của quyết định đầu tư và quá trình đầu tư
Đầu tư là một hoạt động kinh tế quan trọng ở cấp độ vi mô các cá nhân, tổ chức
và doanh nghiệp cũng như ở cấp độ vĩ mô, ở phạm vi nền kinh tế-xã hội
Đối với một doanh nghiệp, hoạt động đầu tư là công việc khởi đầu quan trọng nhất và cũng là khó khăn nhất của quá trình sản xuất, kinh doanh Những quyết định của ngày hôm nay về lĩnh vực, quy mô, hình thức, thời điểm đầu tư sẽ chi phối quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Do đó, chất lượng của các quyết định đầu tư sẽ quyết định sự thịnh vượng hay xuống dốc của doanh nghiệp
Đối với nền kinh tế nói chung, toàn bộ việc đầu tư được tiến hành ở một thời kỳ nhất định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền kinh tế, tạo ra sản phẩm, dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế-xã hội thời kỳ tiếp theo Xét về lâu dài, khối lượng đầu tư của ngày hôm nay sẽ quyết định dung lượng sản xuất, tốc độ và chất lượng của tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội cũng như mức độ cải thiện đời sống trong tương lai Vai trò này của đầu
tư hay mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng có thể được biểu hiện qua mô hình tăng trưởng nền kinh tế đơn giản sau đây (mô hình Harrod-Domar):
ICOR= I
ΔGDP (1) Trong đó: ICOR là tỉ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế;
Trang 5định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Tỉ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng
kinh tế càng cao và ngược lại
2 Đầu tư phát triển:
2.1/ Khái niệm:
Hoạt động đầu tư phát triển (còn gọi là đầu tư phát triển) là quá trình sử dụng
vốn đầu tư để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm
tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu
để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội
2.2/ Đặc điểm:
Đầu tư phát triển thường đòi hỏi lượng vốn lớn và vốn này nằm khê đọng
không vận động trong suốt quá trình thực hiện đầu tư
Do đặc điểm này, cần phải tính toán kỹ khi tiến hành công cuộc đầu tư, tránh
những thiệt hại hay tổn thất mà công cuộc đầu tư có thể gặp phải và cần phải bổ vốn
theo tiến độ phù hợp đảm bảo tính liên tục và giảm lượng vốn khê đọng
Hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài, thể hiện:
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của nó
phát huy tác dụng thường kéo dài nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra Trong
quá trình đó những tác động của môi trường đầu tư có thể làm những dự đoán của chủ
Trang 6 Quá trình đầu tư, cũng như kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định theo thời gian và của điều kiện không gian tự nhiên, kinh tế-xã hội
Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng
sẽ hoạt động ở ngay nơi mà chúng được tạo dựng nên do đó các điều kiện về địa lý, địa hình sẽ ảnh hưởng không chỉ tới quá trình thực hiện đầu tư mà còn ảnh hưởng tới sự hoạt động và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư sau này
Đầu tư phát triển, do bản chất của nó, là hoạt động chịu tác động của nhiều yếu tố rủi ro: do đó cần có các biện pháp để hạn chế cũng như ngăn ngừa rủi ro, như nhận diện các yếu tố của rủi ro có thể ảnh hưởng tới dự án, phân tán rủi ro đó bằng các hình thức như bảo hiểm, và quản lý chặt chẽ các rủi ro, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất
2.3/ Vai trò của đầu tư phát triển:
2.3.1/ Đối với nền kinh tế
Đầu tư vừa tác dụng đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế:
Về mặt cầu: Đầu tư là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền
kinh tế (thường chiếm khoảng từ 24 - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới-số liệu của WB) Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn, khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng, kéo theo
Trang 7
sản lượng cân bằng tăng theo và dẫn đến giá và các đầu vào của đầu tư cũng tăng theo Điểm cân bằng cung-cầu dịch chuyển đi lên
Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi
vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
Đầu tư tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế:
Sự tác động không đông thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia
Chẳng hạn, khi đầu tư tăng sẽ tăng công ăn việc làm dẫn đến giảm thất nghiệp, nâng cao đời sống của nhân dân, do đó góp phần làm giảm tệ nạn xã hội Nhưng bên cạnh đó thì do tăng đầu tư đến mức nào đó sẽ dẫn đến lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội
Giảm đầu tư: hạn chế được lạm phát, đời sống nhân dân ổn định, nhưng việc giảm đầu tư, ngược lại cũng làm giảm công ăn việc làm, tình trạng thất nghiệp tăng, làm ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội
Vì vậy trong quản lý cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế
Đầu tư tác động tới tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế:
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-25% so với GDP, tuỳ thuộc vào hệ
số ICOR của mỗi nước Hệ số ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay
Trang 8
đổi theo trình độ phát triển kinh tế, phụ thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế, vào hiệu quả đầu tư trong các nghành, các vùng lãnh thổ cũng như hiệu quả của cơ chế chính sách kinh tế của nước đó nói chung Như công thức (3) ở trên thì, nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư
Đầu tư ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Đầu tư làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với qui luật phát triển, với chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn Từ đó đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế
- Tạo ra được sự cân đối trong phát triển kinh tế-xã hội giữa các ngành các vùng, các lĩnh vực
- Phát huy được lợi thế cạnh tranh của từng vùng, từng ngành
Đầu tư tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước:
Công nghệ về nội dung gồm 4 yếu tố: trang thiết bị, kỹ năng của con người, thông tin, tổ chức thể chế Do đó xét về nội dung thì để tăng cường khả năng khoa học
và công nghệ của đất nước cần phải đầu tư mua sắm trang thiết bị, thu thập thông tin, đào tạo nguồn nhân lực
Xét về phương thức để có công nghệ chúng ta cũng thấy có hai cách đó là tự nghiên cứu triển khai hoặc đi mua, cả hai cách đều phải yêu cầu có vốn để đầu tư
Như vậy, đầu tư có quan hệ chặt chẽ đối với quá trình cải tạo, đổi mới, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của lực lượng sản xuất xã hội, của đất nước
2.3.2/ Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ:
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở Đầu tư, trước hết có vai trò tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào-vị lợi hay vô vị lợi Trong quá trình hoạt động các cơ sở vật chất-kỹ thuật này bị hao mòn, hư hỏng và phải đổi mới để duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường, đồng thời phải luôn đổi mới cho thích ứng với sự tiến bộ của khoa học-kỹ thuật, chống lại những hao
Trang 9
mòn vô hình, đáp ứng lại những nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội Câu trả lời là tiến hành đầu tư
Đầu tư trong các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ là một công cụ cạnh tranh
và hơn thế nữa quyết định sự thành bại của cơ sở Đầu tư làm tăng hiệu quả sản xuất,
hạ giá thành sản phẩm, mở rộng thị trường, tăng lợi nhuận cho đơn vị
Đối với các cơ sở vô vị lợi (hoạt động công ích, không vì mục tiêu lợi nhuận), việc tiến hành đầu tư là tất yếu để duy trì và tăng cường các cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ cho mục tiêu hoạt động bình thường của mình
II đầu tư xây dựng cơ bản:
1 Khái niệm và vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản:
Như vậy, đầu tư XDCB không phải là hoạt động sản xuất vật chất mà là phạm trù kinh tế tài chính xuất hiện trong quá trình tái sản xuất các tài sản cố định Nhưng, XDCB là một nghành sản xuất vật chất, tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho xã hội, nó quyết định đến sự phát triển đất nước và quy mô sản xuất của các nghành có liên quan
1.2/ Vai trò: Đối với bất kỳ một phương thức sản xuất xã hội nào, ở mọi thời
kỳ phát triển đều tương ứng với một cơ sở vật chất-kỹ thuật nhất định và dựa trên cơ
Trang 10
sở vật chất-kỹ thuật ấy Sự hiện đại hoá liên tục cơ sở vật chất-kỹ thuật là điều kiện ban đầu, là cơ sở của mọi biến chuyển kinh tế-xã hội Quá trình hiện đại hoá cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền sản xuất xã hội có được nhờ việc tiến hành các hoạt động đầu tư XDCB
Đầu tư XDCB dù ở lĩnh vực nào, ở nước ta hay trên thế giới, tốc độ và tỷ lệ đầu
tư XDCB ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong đầu tư Quá trình đầu tư XDCB vô cùng phức tạp, liên nghành, do đó đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các
cơ quan chức năng, ban nghành và của nhiều lĩnh vực
Sản phẩm đầu tư XDCB và quá trình đầu tư, do bản chất là hoạt động đầu tư phát triển nên có tác dụng làm thay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường đổi mới công nghệ, tạo ra và liên tục hiện đại hoá cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền sản xuất
xã hội Những thành quả của đầu tư XDCB làm tăng năng lực sản xuất, tạo điều kiện
áp dụng các thành tựu khoa học-kỹ thuật và công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tạo công ăn việc làm, đáp ứng các yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội của đất nước, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước; tạo điều kiện tăng cường hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới
Đầu tư XDCB còn là điều kiện để tạo ra một sự đổi mới trong cơ chế quản lý nền kinh tế-xã hội thích hợp với từng giai đoạn phát triển, và nói chung, đầu tư XDCB còn là một trong những nhân tố quan trọng nhất của quá trình chuyển biến phương thức sản xuất cũng như hình thái kinh tế-xã hội của xã hội
2 Quá trình hình thành công trình xây dựng và các lực lượng tham gia có liên quan:
2.1/ Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa rộng:
Theo nghĩa rộng, quá trình hình thành công trình xây dựng được bắt đầu từ giai đoạn lập chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh thổ đến giai đoạn đưa công trình vào vận hành, sử dụng Quá trình này bao gồm các giai đoạn sau:
Trang 11
Nhà nước tiến hành lập chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh thổ cho các mục đích sản xuất-kinh doanh, dịch vụ và các mục đích sinh hoạt xã hội khác
Trên cơ sở quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh thổ, Nhà nước tiến hành quy hoạch tổng thể về mặt xây dựng các công trình trên toàn lãnh thổ, bao gồm các khu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, các cụm đô thị và nông thôn, các công trình cơ sở
hạ tầng kinh tế và văn hoá-xã hội…
Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh thổ, quy hoạch tổng thể về mặt xây dựng, nhu cầu thị trường và khả năng, thực lực của Nhà nước, của các doanh nghiệp cũng như của các tầng lớp dân cư sẽ hình thành nên các dự án đầu tư xây dựng của Nhà nước, của các doanh nghiệp và dân cư
Như vậy, theo nghĩa rộng, quá trình hình thành công trình xây dựng có thể được mô tả như sau:
Trang 12
Sơ đồ: Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa rộng
2.2/ Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa hẹp:
Theo nghĩa hẹp, quá trình hình thành công trình xây dựng bắt đầu từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng và đưa công trình vào vận hành, sử dụng Theo ” Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” hiện hành thì quá trình đầu tư xây dựng gồm các giai đoạn sau: ( trình tự, thủ tục đầu tư và xây dựng)
2.2.1/ Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, các nhiệm vụ phải thực hiện như sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư
Kết thúc xây dựng đưa công trình vào
sử dụng
Thực hiện đầu
tư (xây dựng công trình)
Chuẩn bị đầu tư
Nhà nước lập quy hoạch tổng thể về mặt xây dựng
Nhà nước lập chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh
Trang 13
- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, nơi tiêu thụ sản phẩm, khả năng cạnh tranh, xem xét các khả năng có thể huy động các nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư
- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
- Lập dự án đầu tư
- Thẩm đinh dự án để quyết định đầu tư
- Gửi hồ sơ dự án đến nơi quy định
2.2.2/ Giai đoạn thực hiện đầu tư, bao gồm các nhiệm vụ:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (đối với các dự án có
- Mua sắm thiết bị và công nghệ
- Thực hiện khảo sát, thiết kế xây dựng
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình
- Tiến hành thi công, xây lắp công trình
- Theo dõi, kiểm tra và thực hiện các hợp đồng
- Quản lý kĩ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng
- Vận hành thử nghiệm, nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực hiện bảo hành sản phẩm
2.2.3/ Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác, sử dụng:
Trang 14
- Nghiệm thu, bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình
- Bảo hành công trình
- Quyết toán vốn đầu tư
- Phê duyệt quyết toán Đối với dự án xây dựng các khu tập trung, dự án BOT,
BT, BTO, ngoàI các bước trên thì chủ đầu tư còn phảI làm thủ tục `chuyển giao sau khi kết thúc xây dựng hoặc sau khi hết thời gian khai thác sử dụng theo hợp đồng kinh doanh
2.3/ Các lực lượng tham gia vào quá trình hình thành công trình xây dựng:
Có các lực lượng sau đây tham gia vào quá trình hình thành công trình xây dựng:
- Chủ đầu tư (đóng vai trò chính)
- Các doanh nghiệp tư vấn
- Các doanh nghiệp xây lắp
- Các doanh nghiệp cung ứng thiết bị và vật tư cho dự án
Trang 15
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu các vấn đề kinh tế và quản lý xây dựng cơ bản, cần phảI phân biệt một số kháI niệm về các lĩnh vực và các nghành có liên quan đến đầu tư và xây dựng sau đây:
3.1/ Lĩnh vực đầu tư và xây dựng:
Lĩnh vực đầu tư xây dựng là một lĩnh vực hoạt động liên nghành, bao gồm tất
cả các bộ phận có liên quan đến việc lập và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, trong
đó bao gồm các lực lượng tham gia chủ yếu như: chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng, các nhà thầu xây dựng, các tổ chức cung ứng vật tư, thiết bị cho dự án, các
tổ chức ngân hàng và tài trợ cho dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng
3.2/ Nghành công nghiệp xây dựng:
Nghành công nghiệp xây dựng bao gồm các doanh nghiệp xây dựng chuyên nhận thầu thi công xây dựng cho các chủ đầu tư xây dựng ở mọi lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay nghành công nghiệp xây dựng bị phân tán và do nhiều nghành và Bộ sản xuất quản lý, trong đó Bộ Xây dựng được Nhà nước giao cho nhiệm vụ quản lý chủ yếu
3.3/ Nghành tư vấn đầu tư và xây dựng:
Nghành tư vấn đầu tư và xây dựng chuyên nhận thầu thực hiện các công việc của chủ đầu tư giao như lập dự án đầu tư xây dựng, khảo sát, thiết kế, giám sát công việc xây dựng Đây cũng là một lĩnh vực đòi hỏi những kiến thức chuyên nghành tổng hợp
3.4/ Các nghành sản xuất cung cấp đầu vào cho dự án đầu tư xây dựng:
Các nghành sản xuất cung cấp đầu vào cho dự án đầu tư xây dựng bao gồm các nghành chủ yếu sau:
3.4.1/ Nghành công nghiệp vật liệu xây dựng: Có nhiệm vụ chuyên sản xuất các
loại vật liệu xây dựng, bán thành phẩm và cấu kiện xây dựng để bán cho nghành công
Trang 16
nghiệp xây dựng Về bản chất nghành này phải được coi là một nghành sản xuất riêng biệt ở Việt Nam, nghành này hiện còn được quan lý chung với nghành công nghiệp xây dựng
3.4.2/ Nghành cơ khí xây dựng: Có nhiệm vụ sản xuất các máy móc và thiết bị
xây dựng (bao gồm cả công việc sủa chữa máy móc xây dựng) để cung cấp cho nghành công nghiệp xây dựng
3.4.3/ Các nghành cung ứng vật tư, thiết bị cho dự án đầu tư xây dựng: ở đây
phải kể đến các nghành tài chính, ngân hàng, thông tin, đào tạo phục vụ đầu tư xây dựng
4 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng:
4.1/ Đặc điểm của sản phẩm xây dựng:
Trước hết ta phân biệt các kháI niệm có liên quan sau đây đến sản phẩm xây dựng:
4.1.1/ Sản phẩm đầu tư xây dựng: Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình
đã hào chỉnh (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị, công nghệ ở bên trong) Sản phẩm đầu
tư xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học-công nghệ và tổ chức sản xuất của
xã hội ở một thời kỳ nhất định Nó là một sản phẩm có tính chất liên nghành, trong đó
có những lực lượng tham gia tạo thành sản phẩm chủ yếu: chủ đầu tư; các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh nghiệp tư vấn đầu tư xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho dự án như thiết bị công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng; các tổ chức tổ chức dịch vụ ngân hàng và tàI chính; các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan
4.1.2/ Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng:
Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che, nâng đỡ và phần lắp đặt các thiết bị, máy móc cần thiết của công trình để đưa chúng vào hoạt động
Trang 17
Trong khi đơn vị đo của sản phẩm đầu tư xây dựng là tổng vốn đầu tư thực hiện (nếu tính theo giá trị) hoặc là công suất sản xuất hay năng lực dịch vụ hoặc phục vụ đã đưa vào sử dụng (nếu tính theo hiện vật), thì đơn vị đo của sản phẩm xây dựng của doanh nghiệp xây dựng là giá trị dự toán xây lắp đã hoàn thành bàn giao (nếu tính theo giá trị) hoặc là số m2 hay 3
m khối tích xây dựng (nếu tính theo hiện vật) đã hoàn thành
và bàn giao
Vì các công trình xây dựng thường rất lớn và phảI xây dựng trong nhiều năm, nên để phù hợp với công việc thanh, quyết toán và cấp vốn người ta phân ra sản phẩm xây dựng trung gian và sản phẩm xây dựng cuối cùng Sản phẩm xây dựng trung gian
có thể là các gói công việc xây dựng, các giai đoạn hay đợt xây dựng đã hoàn thành, đã bàn giao thanh toán Sản phẩm xây dựng cuối cùng là các công trình xây dựng hay hạng mục công trình xây dựng đã hoàn thành và có thể bàn giao đưa vào sử dụng
Để phản ánh thực chất và nỗ lực đóng góp của bản thân các doanh nghiệp xây dựng, sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng còn được tính theo chỉ tiêu giá trị sản phẩm thuần tuý của các doanh nghiệp này, tức là đem giá trị dự toán xây lắp trừ đI chi phí vật liệu, năng lượng và khấu hao ở tất cả các khoản mục của giá trị dự toán xây lắp
4.1.3/ Công trình xây dựng:
Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp, được tạo thành bởi vật liệu xây dựng, thiết bị công nghệ, lao động và gắn liền với đất, khoảng không, mặt nước, mặt biển hay thềm lục địa
4.1.4/ Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng:
Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng lớn đến phương thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trong nghành xây dựng, làm cho các công việc này có nhiều đặc điểm khác biệt so với các nghành khác Sản phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng hàon chỉnh thường có các đặc điểm sau:
Trang 18
Sản phẩm xây dựng là những công trình, nhà cửa được xây dựng và sử dụng tại chỗ và phân bố tản mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ Điều này làm cho sản xuất xây dựng có tính lưu động cao và thiếu ổn định
Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương nơI đặt công trình xây dựng Do đó, nó có tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng, cách cấu tạo và cách chế tạo
Sản phẩm xây dựng thường có kích thước và chi phí lớn, có thời gian kiến tạo và thời gian sử dụng lâu dài Do đó, những sai lầm về xây dựng có thể gây nên các lãng phí lớn, tồn tại lâu dàI và khó sửa chữa
Sản phẩm xây dựng thuộc phần kết cấu xây dựng chủ yếu đóng vai trò nâng đỡ và bao che, không tác động trực tiếp lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất, trừ một số loại công trình đặc biệt như đường ống, công trình thuỷ lực, lò luyện gang thép…
Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều nghành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng sản phẩm của xây dựng làm ra
Sản phẩm xây dựng có liên quan nhiều đến cảnh quan và môI trường tự nhiên, do đó liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư địa phương nơI dặt công trình
Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá nghệ thuật và quốc phòng Tuy nhiên lại mang tính cá biệt về ý tưởng thiết kế, giá thành…
4.2/ Đặc điểm của sản xuất xây dựng:
Sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, có tính lưu động cao theo vùng lãnh thổ: vì trong xây dựng, khác với nhiều nghành khác, con người và công cụ lao động luôn phảI di chuyển theo các công trường, còn sản phẩm xây dựng thì cố định một nơi
Trang 19
Vì sản phẩm xây dựng có tính đa dạng, cá biệt cao, có chi phí lớn, nên sản xuất xây dựng phảI tiến hành theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư thông qua đấu thầu hoặc chỉ định thầu cho từng công trình một
Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp đòi hỏi phảI có nhiều lực lượng hợp tác tham gia thực hiện Khác với nhiều nghành khác, trong nghành xây dựng, các đơn vị tham gia xây dựng công trình phảI cùng nhau đến công trường với một diện tích làm việc thường là bị hạn chế để thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian
Sản xuất xây dựng phảI tiến hành ngoàI trời và chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết và các điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội nơI diễn ra quá trình thi công xây dựng
Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do địa điểm xây dựng đem lại Cùng một công trình xây dựng nhưng nếu tiến hành xây dựng ở những nơI có sẵn nguồn vật liệu xây dựng, nhân công và các cơ sở cho thuê may xây dựng thì nhà thầu trong trường hợp này có cơ hội cao hơn để thu được lợi nhuận so với các địa điểm xây dựng khác
Công nghệ xây lắp chủ yếu là quá trình áp dụng các quá trình cơ học để giảI quyết vấn đề vận chuyển ngang và vận chuyển lên cao, hoặc để xâm nhạp vào trong lòng đất Việc áp dụng tự động hoá qúa trình xây lắp phát triển chậm, tỷ lệ lao động thủ công chiếm cao
Những đặc điểm của sản xuất xây dựng trong điều kiện tự nhiên và xã hội của Việt Nam:
- Về điều kiện tự nhiên: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam được tiến hành trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, điều kiện địa chất, thuỷ văn phức tạp, đất nước dàI, hẹp
và còn nhiều nơI chưa được khai phá, có một số nguồn vật liệu xây dựng phong phú
Do đó, các giảI pháp xây dựng ở Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh của các yếu tố này
Trang 20
- Về điều kiện kinh tế: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam được tiến hành trong điều kiện của một nền kinh tế đang phát triển, còn nhiều mặt yếu kém so với các nước trên thế giới Trong bối cảnh hợp tác quốc tế hiện nay, nghành xây dựng của Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng có nhiều nguy cơ và thách thức
- Đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang quyết định phương hướng và tiến độ phát triển của nghành xây dựng Việt Nam
III vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
1 Khái niệm vốn đầu tư XDCB :
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát, qui hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí cho thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán
Vốn đầu tư XDCB được vật hoá để hình thành nên cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế, là điều kiện của tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản
cố định cho nền kinh tế, có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội Nhưng cần lưu ý rằng, có một số công tác mà xét về tính chất lẫn nội dung kinh tế thì thuộc về hoạt động XDCB, nhưng chi phí của chúng thì lại không được tính vào vốn đầu tư xây dựng cơ bản Đó là các hoạt động sau đây:
Hoạt động sửa chữa lớn nhà cửa, vật chất kiến trúc
Các chi phí khảo sát thăm dò tài nguyên, địa chất nói chung trong nền kinh tế mà không liên quan trực tiếp đến việc xây dựng công trình cụ thể nào cả
Mặt khác có một số khoản mục, tuy không làm tăng giá trị tài sản cố định nhưng chi phí của chúng vẫn được tính vào vốn đầu tư XDCB:
Chi phí cho việc mua sắm công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ
Chi phí đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân
Trang 21
2 Bản chất và nội dung kinh tế của vốn đầu tư XDCB:
2.1/ Bản chất và vai trò của vốn đầu tư XDCB:
Tích luỹ là nguồn chủ yếu của tái sản xuất mở rộng Tích luỹ là sử dụng có kế hoạch một phần thu nhập quốc dân để mở rộng sản xuất, để xây dựng xí nghiệp mới, cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các xí nghiệp hiện có, để tăng các tài sản cố định không sản xuất và tạo lập các dự trữ vật tư, tài chính Phần thu nhập quốc dân dùng để tích luỹ được tạo nên bằng sản phẩm thặng dư, được hình thành một cách có kế hoạch và nhịp độ tăng của nó trước hết phụ thuộc vào nhịp độ tăng tuyệt đối khối lượng thu nhập quốc dân Trong những điều kiện như nhau, mức tích luỹ sản xuất phụ thuộc không chỉ vào khối lượng thu nhập quốc dân, mà còn phụ thuộc vào sự phân phối thu nhập quốc dân thành tích và tiêu dùng
Quá trình tích luỹ có tác dụng to lớn đến việc hình thành cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền kinh tế Để nâng cao không ngừng mức tiêu dùng của nhân dân, xã hội cần phải thường xuyên mở rộng sản xuất và do đó cần phải tăng tích luỹ Tích luỹ không chỉ kéo theo những sự thay đổi về số lượng trong các yếu tố vật chất của lực luợng sản xuất, mà còn có tác động đến tất cả moi lĩnh vực hoạt động của con người, tạo điều kiện để giảm nhẹ lao động, nâng cao nhận thức và trình độ nghề nghiệp của mọi người lao động
Tích luỹ trước hết được thực hiện thông qua đầu tư XDCB Theo nội dụng kinh
tế, đầu tư XDCB là sử dụng một phần tổng sản phẩm xã hội, mà trước hết là quỹ tích luỹ để tái sản xuất tài sản xuất tài sản cố định Vốn đầu tư đầu tư XDCB như đã nói ở trên là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát, qui hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí cho thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán Vốn đầu tư đầu tư XDCB và vốn cố định là những khía niệm không giống nhau
cả về nội dung kinh tế lẫn trong sự biểu hiện giá trị Sự khác nhau cơ bản giữa chúng thể hiện ở chỗ, vốn đầu tư đầu tư XDCB là vốn cố định dưới dạng tiềm tàng, còn vốn
cố định là vốn đầu tư XDCB đã được khai thác, sử dụng Biểu hiện vật chất của vốn cố
Trang 22
định là nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, dụng cụ điều chỉnh, đo lường, dụng cụ sản xuất và kinh doanh có giá trị và thời gian sử dụng ở mức quy định
Như vậy, ngoài phần vốn đầu tư XDCB huy động từ nước ngoài, thì vốn đầu tư XDCB ở nước ta được hình thành từ việc phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Phần lớn thu nhập quốc dân được sử dụng để tích luỹ, điều đó làm tăng khả năng đầu tư XDCB vào nền kinh tế và tăng năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế ở Việt Nam cơ sở vật chất-kỹ thuật đã được xây dựng ngay từ những năm kháng chiến chống Pháp, Mĩ Trong khu vực sản xuất vật chất, chúng ta đã tập trung đầu tư XDCB
và hình thành nên cơ sở vật chất-kỹ thuật của 2 nghành là nông nghiệp và công nghiệp, trong khu vực phi sản xuất vật chất, vốn đầu tư được tập trung nhiều vào các nghành giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, khoa học Những cơ sở công nghiệp quan trọng như điện, than, cơ khí, luyện kim, hoá chất, dệt, may mặc, các công trình thuỷ lợi, hệ thống đường giao thông, các trường học, bệnh viện Sau ngày thống nhất, việc xây dựng cơ
sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế tiếp tục được đẩy mạnh, nguồn vốn đầu tư XDCB
đã được huy động cả ở những khu vực không phải là kinh tế Nhà nước, đặc biệt là vốn đầu tư thu hút từ đầu tư nước ngoài đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta Đầu tư tập trung, đúng hướng đã làm tăng năng lực sản xuất của nhiều nghành kinh tế quốc dân Đó là các cơ sở của nghành điện ( thuỷ điện Hoà Bình, Trị An, nhiệt điện Phả Lại, và hiện nay là nhà máy thuỷ điện có tầm cỡ thế giới-thuỷ điện Sơn La đang được xây dựng), mạng lưới điện đã được phủ hầu hết trên phạm vi cả nước Đó là cơ sở của nghành vật liệu xây dựng (xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, ); giấy BãI Bằng, Tân mai…các công trình giao thông với hệ thống các cầu (Thăng Long, Chương Dương, cầu Mỹ Thuận, Hoàng Long, đường Hồ Chí Minh xuyên quốc gia đang được tiến hành xây dựng sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước); các nhà máy sợi, máy dệt, hàng vạn hecta cao su, cà phê, và đặc biệt là các dàn khoan đã cho hàng triệu tấn dầu thô, các trung tâm viễn thông, hệ thống truyền hình, phát thanh, các trung tâm nghiên cứu khoa học cùng với cơ sở vật chất-kỹ thuật của nghành dịch vụ:
Trang 23
ngân hàng, tài chính, viễn thông, thương mại, du lịch, hàng không, các khu công nghiệp, khu đô thị, nhiều vùng kinh tế mới được hình thành đã tạo nên sức phát triển lớn mạnh của nền kinh tế nước ta, đẩy lùi khoảng cách trong phát triển kinh tế-xã hội của nước ta so với thế giới
2.2/ Nội dung kinh tế của vốn đầu tư XDCB:
Như ta biết, để tiếp tục quá trình sản xuất, khi phân phối tổng sản phẩm xã hội, người sản xuất phải tính toán khôi phục các tư liệu sản xuất (bao gồm cả tư liệu lao động và đối tượng lao động) đã tiêu hao trong quá trình sản xuất Đối tượng lao động (nguyên, nhiên vật liệu) có đặc tính tham gia một lần, toàn bộ vào một chu kỳ một chu
kỳ sản xuất và sau quá trình sản xuất nó hoàn toàn thay đổi hình thái vật chất của mình
để trở thành sản phẩm, khi sản phẩm được tiêu thụ, toàn bộ giá trị của đối tượng lao động trở lại dưới hình thái tiền tệ Nhằm khôi phục đối tượng lao động, người ta phải tích và trích ra một lượng tiền từ doanh số bán hàng-ngang bằng với giá trị của đôi tượng lao động đã di chuyển vào sản phẩm để mua sắm, dự trữ nguyên liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo Tư liệu lao động (chủ yếu là tài sản cố định), có đặc tính tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và không thay đổi về mặt hình thái hiện vật ban đầu Cuối mỗi chu kỳ sản xuất, tài sản cố định bị hao mòn và phần giá trị tương đương với mức hao mòn đó được chuyển vào giá trị sản phẩm sản xuất ra Khi sản phẩm được tiêu thụ, phần giá trị tài sản cố định hao mòn đó lại trở về hình thái tiền tệ, gọi là vốn khấu hao tài sản cố định Vốn khấu hao được tích luỹ theo thời gian sử dụng của tài sản cố định hình thành quỹ khâu hao Quỹ khấu hao được chia ra hai phần: Quỹ khâu hao cơ bản và quỹ khấu hao sửa chữa lớn Quỹ khấu hao sửa chữa lớn tài sản cố định được dùng sửa chữa lớn nhằm phục hồi và duy trì tính năng, công dụng của tài sản cố định Quỹ khấu hao cơ bản được dùng để tái tạo lại toàn bộ giá trị của tài sản cố định qua con đường đầu tư XDCB, có nghĩa là tái sản xuất giản đơn tài sản cố định Quỹ khấu hao TSCĐ chỉ ngang bằng giá trị TSCĐ khi nào TSCĐ đó hết thời hạn sử dụng Trong điều kiện tập trung quỹ khấu hao của nhiều TSCĐ, cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học-kỹ thuật và năng suất lao động xã hội ngày càng được nâng cao thì
Trang 24 Nguồn vốn này có giới hạn bởi giá trị ban đầu của TSCĐ
Chủ yếu được dùng để tái sản xuất giản đơn TSCĐ
Tống sản phẩm xã hội sau khi bù đắp các tư liệu sản xuất đã tiêu hao được gọi
là thu nhập quốc dân Thu nhập quốc dân được chia ra thành quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng Quỹ tích luỹ là nguồn vốn để tái sản xuất mở rộng, trong đó chủ yếu là tái sản xuất mở rộng TSCĐ ở các đơn vị, xí nghiệp thu nhập quốc được tạo ra dưới hình thức quỹ tiền lương và thu nhập thuần tuý Một phần thu nhập thuần tuý được để lại xí nghiệp, một phần được tập trung vào ngân sách Nhà nước dưới hình thức thuế Một phần thu nhập thuần tuý của xí nghiệp và một phần trong số chi của ngân sách Nhà nước được dùng làm nguồn vốn đầu tư đầu tư XDCB, để tạo ra TSCĐ trong nền kinh
tế quốc dân Giữa TSCĐ và thu nhập quốc dân có mối quan hệ biện chứng phụ thuộc lẫn nhau: Tăng TSCĐ sản xuất sẽ dẫn tới tăng thu nhâp quốc dân Tăng thu nhập quốc dân sẽ có điều kiện để tái sản xuất mơ rộng TSCĐ TSCĐ tăng thêm trên cơ sở tăng thêm vốn đầu tư XDCB Khối lượng vốn đầu tư XDCB tăng lên khi thu nhập quốc dân tăng lên và tăng phần tích luỹ trong thu nhập quốc dân
Nguồn vốn đầu tư XDCB được hình thành từ quỹ tích luỹ có các tính chất cơ bản sau:
Được hình thành từ việc phân phối kết quả của sản xuất kinh doanh
Mức tăng của nguồn vốn này phụ thuộc mức tăng thu nhập quốc dân, chính sách đầu tư phát triển sản xuất của Đảng, Nhà nước và việc hiải quyết mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng
Trang 25
Chủ yếu được dùng để tái sản xuất mở rộng TSCĐ
Trong điều kiện quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế một bộ phận thu nhập quốc dân nước ngoài được di chuyển vào nước ta dưới hình thức viện trợ, cho vay và trực tiếp đầu tư của chính phủ và các tổ chức, cá nhân nước ngoài Nguồn vốn đầu tư này
có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế nước ta là không thể phủ nhận, tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất-
kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn coi nguồn vốn đầu tư trong nước (khấu hao cơ bản và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân) là nhân tố chủ yếu,
có tính chất quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của mình
3 Phân loại vốn đầu tư XDCB:
Vốn đầu tư XDCB chủ yếu được phân loại theo một số tiêu thức sau: theo nguồn hình thành, theo cơ cấu nghành, cơ cấu công nghệ và cơ cấu tái sản xuất
3.1/ Vốn đầu tư XDCB phân theo nguồn hình thành: Bao gồm vốn ngân sách Nhà nước cấp, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước (hai nguồn này đã bao gồm nguồn ODA), vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, vốn đầu tư của tư nhân và dân
cư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
3.2/ Vốn đầu tư XDCB phân theo cơ cấu nghành: Thể hiện sự phân phối vốn đầu tư XDCB giữa các nghành của nền kinh tế quốc dân
3.3/ Vốn đầu tư XDCB phân theo cơ cấu công nghệ: Cơ cấu công nghệ thể hiện mối tương quan của vốn đầu tư XDCB theo công dụng Tức là thể hiện mối tương quan giữa các phần chi phí cho các công tác xây dựng cơ bản, đó là: vốn cho công tác xây dựng và lắp đặt, cho công tác mua sắm máy móc và thiết bị và vốn đầu tư XDCB cho các công tác kiến thiết cơ bản khác
Hoàn thiện cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư có nghĩa là tăng tương đối phần chi mua thiết bị, công cụ Sự thay đổi cơ cấu vốn đầu tư XDCB theo hướng tăng chi phí mua thiết bị phản ánh tiến bộ kỹ thuật của sản xuất và có ý nghĩa kinh tế quan
Trang 26
trọng Việc hoàn thiện cơ cấu công nghệ vốn đầu tư sẽ ảnh hưởng tích cực đến cải tiến
cơ cấu kỹ thuật của TSCĐ , bằng việc tăng phần máy móc, thiết bị Hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng, chất lượng và trình độ sử dụng các máy móc thiết bị, cho nên nâng cao tỷ trọng chi phí thiết bị, tăng bộ phận tích cực của TSCĐ là một trong những phương hướng quan trọng của hoàn thiện cơ cấu vốn đầu tư
3.4/ Vốn đầu tư XDCB phân theo hình thức tái sản xuất: Có bốn hình thức tái sản xuất TSCĐ: Xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các cơ sở hiện
có
Trong những giai đoạn nhất định của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, việc xác định tỷ lệ tối ưu giữa các hình thức tái sản xuất TSCĐ có ý nghĩa quan trọng Xây dựng mới cho phép áp dụng dễ dàng kỹ thuật mới và thay đổi sự phân bố các nghành bằng cách bố trí các công trình xây dựng mới tại những nơi hợp lý, bảo đảm khai thác đầy đủ hơn các tài nguyên thiên nhiên Khi nhấn mạnh các ưu điểm trên, từ góc độ hiệu quả toàn bộ nền sản xuất xã hội, xây dựng mới có những nhược điểm nhất định: Đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phần đáng kể vốn đầu tư được hướng vào xây dựng nhà xưởng và các công trình phục vụ, xây dựng mới là yếu tố phát triển sản xuất theo chiều rộng, còn cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các xí nghiệp hiện có là yếu tố phát triển sản xuất theo chiều sâu
Có thể đạt được hiệu quả đáng kể nhờ cải tạo và trang bị lại các xí nghiệp hiện
có Điều đó gắn liền với hàng loạt các yếu tố, trước hết là nhờ sử dụng các TSCĐ sẵn
có, đặc biệt là bộ phận nhà xưởng, vật kiến trúc Những mối liên hệ sản xuất đã được xác lập, với cán bộ chuyên môn đã có và kinh nghiệm của họ sẽ góp phần tăng sản xuất sản phẩm với chi phí vốn đầu tư tương đối ít và trong một thời gian ngắn hơn so với xây dựng các xí nghiệp mới Nâng cao năng lực sản xuất bằng cách cải tạo và trang
bị lại các xí nghiệp hiện có, áp dụng thiết bị kỹ thuật hiện đại hơn sẽ dẫn đến nâng cao
tỷ trọng bộ phận tích cực của TSCĐ (nâng tỷ trọng máy móc, thiết bị) và giảm thời hạn thu hồi vốn đầu tư Cải tạo và trang bị lại kỹ thuật các xí nghiệp không chỉ có ý nghĩa
Trang 274 Các nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB:
Vốn đầu tư XDCB được hình thành từ các nguồn sau:
Vốn ngân sách Nhà nước được hình thành từ một phần tích luỹ trong nước, một phần vốn khấu hao cơ bản do các đơn vị nộp Nhà nước, một phần vốn vay trong nước thông qua việc phát hành tín phiếu Nhà nước, một phần vốn vay nợ và viện trợ không hoàn lại của nước ngoài bao gồm cả phần vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Vốn ngân sách Nhà nước được cấp theo kế hoạch Nhà nước đã giao
Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách Nhà nước: hình thành từ ngân sách Nhà nước, vốn thu nợ các năm trước, vốn chính phủ vay nợ nước ngoài theo mục tiêu
dự án phải thoả thuận với nước ngoài Việc bố trí đầu tư cho các dự án này do chính phủ quyết định cụ thể cho từng đối tượng trong thời kỳ kế hoạch Vốn vay này được hưởng lãi suất ưu đãi hoặc không tuỳ theo dự án, công trình do chính phủ quyết định
Vốn tín dụng thương mại áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả, và thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư và điều kiện vay trả vốn Vốn tín dụng thương mại được ngân hàng Nhà nước cho vay trực tiếp các chủ đầu tư theo các hình thức vay ngắn hạn, dài hạn với lãi suất bình thường
Trang 28
Vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nước: vốn này hình thành từ lợi nhuận để lại, sau khi đã nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước, tiền từ thanh lý tài sản, từ vốn khấu hao được Nhà nước cho để lại, từ vốn cổ phần, vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác và từ các quỹ của doanh nghiệp có thể huy động được, cũng như các khoản tự vay khác mà doanh nghiệp tự có
Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Vốn này là của các tổ chức cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam bằng tiền nước ngoài hoặc bằng tài sản thiết bị máy móc, nguyên liệu được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
Vốn góp của nhân dân: là vốn huy động nhân dân đóng góp bằng tiền, hiện vật hoặc bằng công lao động cho các dự án đầu tư, chủ yếu sử dụng vào việc xây các công trình phúc lợi công cộng phục vụ trực tiếp cho người góp vốn theo điều kiện cam kết khi huy động vốn
Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh: là vốn đầu tư của các chủ đầu tư là các đơn vị tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn công ty cổ phần dùng vào đầu
tư xây dựng cơ bản, vốn này có thể là vốn tự có hoặc vốn vay
Những nguồn vốn khác: ngoài những nguồn vốn nói trên, còn có vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các cơ quan nước ngoài khác được phép xây dựng trên nước ta
IV Kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư XDCB :
1 Kết quả của hoạt động đầu tư XDCB:
Kết quả hoạt động đầu tư thể hiện ở khối lượng vốn đầu tư đã được thực hiện, ở các tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất kinh doanh phục vụ tăng thêm
Trang 29
1.1/ Khối lượng vốn đầu tư thực hiện:
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc, để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo qui định của thiết kế dự toán và được ghi trong
dự án đầu tư được duyệt
1.2/ Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm:
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc tiến hành hoạt động dịch vụ cho xã hội đã được ghi trong dự án đầu tư) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt
động được ngay
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động vào sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo qui định được ghi trong dự án đầu tư
2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư XDCB:
Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội Điều cơ bản trước tiên của việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư là việc chọn phương án đầu tư có lợi nhất, đảm bảo tăng sản phẩm nhiều nhất trên một đồng vốn đầu tư, rút ngắn thời hạn thu hồi vốn cũng như đáp ứng các tiêu chí khác về kinh tế-tài chính cũng như kinh tế-xã hội mà một dự án đầu tư phải có
Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cũng có nghĩa là tăng năng suất lao động, tăng khối lượng sản phẩm, giảm giá thành, cảI tiến chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, phục vụ việc thực hiện các chủ trương chính sách cũng như đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của Nhà
Trang 30tế vốn đầu tư XDCB Các chỉ tiêu đó rất cần thiết khi xem xét tính hợp lý của đầu tư XDCB ở các giai đoạn kế hoạch hoá, nghiên cứu xem xét các biện pháp hoàn thiện kỹ thuật, cảI tạo và trang bị lại kỹ thuật các cơ sở hiện có Nhiệm vụ tính toán ở giai đoạn thiết kế là chọn các phương án tối ưu xây dựng các cơ sở, các công trình, đáp ứng được tốt nhất các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế-tài chính Xác định hiệu quả ở giai đoạn lập kế hoạch đối với các bộ, nghành giúp cho việc lựa chọn đúng hướng đầu tư XDCB, đảm bảo thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, tăng phúc lợi vật chất tinh thần của nhân dân…tức là đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các chỉ tiêu hiệu quả trên phạm vi nền kinh tế-hiệu quả kinh tế-xã hội Như vậy, hiệu quả của vốn đầu tư XDCB phảI được xem xét và tính toán đông thời trên cả hai phạm vi: ở khâu cơ sở, nơI dự kiến thực hiện đầu tư vốn đầu tư và trên bình diện nền kinh tế và xã hội
ở các đơn vị, hiệu quả vốn đầu tư XDCB được thể hiện tập trung ở các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế-tàI chính, đó là:
Các chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án đầu tư XDCB: Đây là
các chỉ tiêu phản ánh quy mô lãI của dự án
chỉ tiêu: Hệ số hoàn vốn hay tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư: Chỉ tiêu này nói lên mức độ thu hồi vốn đầu tư ban đầu từ lợi nhuận thuần thu được hàng năm
Chỉ tiêu: Tỷ số lợi ích trên chi phí: Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ tương đối giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra
Trang 31NgoàI ra, ở phạm vi này, việc đánh giá hiệu quả vốn đầu tư còn được thực hiện qua nhiều công cụ, chỉ tiêu khác nữa, ví dụ như: Chỉ tiêu điểm hoà vốn, chỉ tiêu đánh giá độ an toàn của dự án…
ở phạm vi nền kinh tế, hiệu quả vốn đầu tư XDCB được đánh giá thông qua các tiêu chí cơ bản sau đây:
Nâng cao mức sông nhân dân: Được thể hiện gián tiếp thông qua các số liệu
cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc gia, mức gia tăng thu nhập, tốc độ tăng trưởng
Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ: Những nước đang phát triển không chỉ nghèo
mà còn là nước nhập siêu Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu qua việc đầu tư đúng hướng, hợp lý là những mục tiêu quan trọng nhằm tích luỹ và tiết kiệm ngoại tệ cho quốc gia
Một số chỉ tiêu khác phản ánh hiệu quả kinh tế-xã hội vốn đầu tư XDCB: Như tạo điều kiện khai thác tàI nguyên hợp lý, nâng cao năng suất lao động, nâng cao trình độ lao động, chuyển giao công nghệ tiên tiến cho công nghiệp hoá-hiện đại hoá
Trang 32
đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế-xã hội các địa phương nghèo, các vùng mà điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn…
V Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng và hiệu quả vốn đầu tư XDCB:
1 Cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng:
Cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng là công cụ quản lý mà chủ thể quản lý hình thành và sử dụng nhằm tác động, điều chỉnh và định hướng đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (đối tượng quản lý) Cơ chế đó là sản phẩm chủ quan của chủ thể quản lý, nhưng được hình thành và vận dụng dựa trên các quy luật khách quan, chủ yếu là các quy luật kinh tế, phù hợp với bản chất, đặc điểm và những điều kiện cụ thể của hoạt động đầu tư XDCB
Cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng được thể hiện ở các hình thức tổ chức quản lý và phương pháp quản lý hoạt động đầu tư XDCB
Các bộ phận cấu thành chủ yếu của cơ chế này là hệ thống tổ chức bộ máy quản
lý và quá trình điều hành quản lý, hệ thống kế hoạch hoá đầu tư, hệ thống quản lý tàI sản của đầu tư XDCB, hệ thống chính sách và đòn bẩy kinh tế, hệ thống pháp luật có liên quan đến đầu tư và xây dựng; các quy chế, thể lệ, các chế độ, hệ thống chuẩn mực, định mức, đơn giá…và các thể lệ khác trong quản lý đầu tư và xây dựng
2 Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng và hiệu quả vốn đầu tư XDCB:
Như đã trình bày ở trên, đầu tư xây dựng cơ bản là lĩnh vực hoạt động có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế-xã hội Là một dạng hoạt động đầu tư phát triển, đầu tư XDCB có chức năng tạo ra và không ngừng đổi mới, hoàn thiện cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế, từ đó mà có tác động quyết định đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội Song, như trình bày ở trên ta đã thấy, quá trình hình thành một dự án đầu tư và xây dựng, tức là quá trình hình thành một công trình xây dựng là hết sức phức tạp, mang tính chất liên nghành, có sự tham gia của rất nhiều chủ thể, từ những chủ thể mang quyền lực Nhà nước đến các đơn vị cơ sở thực hiện đầu tư xây dựng cũng như các nghành, các lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật có liên quan Do đó, quản lý đầu tư XDCB có thể nói là một lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm, đòi hỏi sự phối hợp
Trang 33là nhằm vào mục đích ngày càng nâng cao hiệu quả quá trình sử dụng vốn đầu tư XDCB Vì rằng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB cũng chính là cách để tạo ra và hoàn thiện cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế-xã hội
Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII đã ghi rõ: “ Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư XDCB để ngăn chặn tiêu cực, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư nhất là các khâu thiết kế, xác định đơn giá xây dựng, nghiệm thu công trình, sử dụng dịch vụ thẩm định chất lượng, giá cả thiết bị vật
tư nhập khẩu và kiểm toán của các công ty trong và ngoàI nước có uy tín trong lĩnh vực này Mỗi công trình đều phảI có người làm cụ thể; nếu là công trình phảI thu hồi vốn thì phảI thu hồi đủ và đúng hạn cho Nhà nước Khai thác mọi khả năng tiết kiệm
và tự đầu tư phát triển của nhân dân, của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế bằng mọi hình thức sao cho mọi tiềm năng đều được huy động, mọi đông vốn đều được sinh lời…” Qua đó ta có thể thấy tính chất phức tạp của hoạt động này, tính đa nghành, tính đa diện trong quản lý cũng như vấn đề hiệu quả vốn đầu tư XDCB luôn
có tính chất thời sự Điều này cũng thể hiện vai trò tác động quan trọng của cơ chế quản lý đối với việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB
Trang 34
Như vậy, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng hoạt động và đóng vai trò như một lực tác động tổng hợp lên quá trình đầu tư XDCB, đảm bảo cho việc thực hiện đầu tư xây dựng diễn ra thuận lợi, nói cách khác một cơ chế quản lý phù hợp sẽ là tác nhân hết sức quan trọng đối với quá trình thực hiện và vật chất hoá vốn đầu tư XDCB để trở thành cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế, tức là đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư XDCB
Chương II:
Qúa trình chuyển biến cơ chế quản lý đầu tư xây dựng và hiệu quả vốn đầu
tư XDCB thời gian qua
và gần đây nhất, vào năm nay (2003) là Nghị định 07/2003/NĐ-CP của Chín Phủ, cùng với các văn bản hướng dẫn của các Bộ: Kế hoạch đầu tư, TàI Chính, Xây dựng, Quỹ hỗ trợ đầu tư Mục tiêu của quá trình hoàn thiện này không ngoàI lý do là nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB thông qua các biện pháp chông lãng phí, tiêu cực và đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng Có thể nói, quá trình này là sự vận dụng tích cực đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước và những phương pháp quản lý tiên tiến của khu vực và quốc tế trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng vào thực tế nước ta
Trang 35
Kết quả là, việc quản lý đầu tư XDCB cho đến nay đã hình thành một cơ chế rõ ràng và có hệ thống, tuy nó chưa đáp ứng được những yêu cầu kịp thời và cụ thể cho từng lĩnh vực, song nó có tác dụng tăng cường quản lý đầu tư, chống thất thoát, hạn chế lãng phí, thực hiện tiết kiệm, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB và càng đẩy nhanh tốc độ và quy mô đầu tư, đặc biệt là chiến lược đầu tư được tập trung cho những công trình trọng điểm, có tác dụng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Quá trình chuyển biến cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng có thể được kháI quát trên một số mặt chính sau đây:
1 Đã có bước chuyển đổi cơ bản từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trong đầu tư và xây dựng sang “cơ chế quản lý theo dự án”
Với cơ chế này đòi hỏi phảI từng bước thay đổi cách quản lý từ khâu lập dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng, lãnh thổ; quy hoạch phát triển nghành; quy hoạch xây dựng đô thị-nông thôn; quy hoạch chi tiết các trung tâm đô thị
và quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai Các quy hoạch này đều có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, đó là những ràng buộc về không gian, thời gian, quy mô, địa điểm, môi trường, tài nguyên…
Trong 5 năm 1996-2000 Nhà nước đã tập trung chỉ đạo việc lập và phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội cho hầu hết các vùng, đông thời với việc xây dựng quy hoạch phát triển nghành, các khu công nghiệp tập trung…riêng đồ án quy hoạch đô thị và các khu công nghiệp tập trung được duyệt là cơ sở pháp lý để quản
lý đô thị, tiến hành công tác đầu tư xây dựng; lập kế hoạch cải tạo, xây dựng đô thị hàng năm, ngắn hạn và dài hạn thuộc các nghành và địa phương Nếu như trước năm
1990, hầu như cả nước chưa có quy hoạch chung đô thị được duyệt, thì đến nay 86 thành phố, thị xã đã có quy hoạch chung được duyệt đến năm 2010 và hiện đang trong giai đoạn điều chỉnh đến năm 2020 Đối với 457 thị trấn và gần 9000 xã, Bộ Xây dựng
đã cùng UBNN các tỉnh thành phố trực thuộc TW chủ động lập, xét duyệt được nhiều quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết Cho đến năm 2000, đã có khoảng 2/3 số thị trấn
có quy hoạch được duyệt, số còn lại đã được hoàn tất trong năm 2002 Việc lập quy hoạch chi tiết đã được triển khai khẩn trương, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư xây dựng
Trang 36
của các chủ đầu tư thuộc mọi đối tượng: Nhà nước, nhân dân, nước ngoài…hiện nay
đã có bản hoàn thành việc lập kế hoạch chi tiết xây dựng 66 khu công nghiệp tập trung trong cả nước và quy hoạch chi tiết sử dụng đất tỷ lệ 1/2000-1/500 đối với các đô thị loại I, II và một số loại III Tất cả mặt bằng dự án đầu tư xây dựng các khu đô thị đều phảI có quy hoạch chi tiết được duyệt và đây là điều kiện tiên quyết, là cơ sở ban đầu quan trọn nhất để bố trí và lựa chọn dự án đầu tư phát triển, để các cấp có thẩm quyền
ra quyết định đầu tư, hoặc cho phép đầu tư NgoàI ra, các khu kinh tế cửa khẩu, một số vùng kinh tế trọng điểm cũng đã được lập quy hoạch, trong số đó có nhiều quy hoạch được cấp có thẩm quyển phê duyệt
Nói chung, các quy hoạch phát triển bước đầu là cơ sở tin cậy để xác lập công tác chuẩn bị đầu tư, kêu gọi các nhà đầu tư và là công cụ quản lý Nhà nước, các tổ chức tài trợ Đầu tư theo quy hoạch đã hạn chế đầu tư theo phong trào trước đây, đã cơ bản xác định được thị trường tiêu thụ, đã sử dụng có hiệu quả hơn tài nguyên, năng lực sản xuất cảu mỗi nghành, tạo ra sự phân bổ hợp lý hơn về năng lực sản xuất, điều kiện
tự nhiên, lực lượng lao động của mỗi vùng, mỗi địa phương trong phát triển nền kinh
tế quốc dân, có tác dụng quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB
2 Việc phân loại theo quy mô và tính chất của các dự án theo hướng tăng cường trách nhiệm và quyền hạn cho các nghành địa phương và cơ sở cùng với việc phân chia các dự án Nhà nước theo 3 loại nguồn vốn:
Vốn NSNN cấp phát cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn; vốn NSNN đầu tư cho các dự án có khả năng thu hồi vốn, thông qua nguồn vốn tín dụng Nhà nước, hoặc tín dụng có bảo lãnh của Nhà nước và đặc biệt là các dự án đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, băng các nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp, bao gồm cả vốn khâu hao để lại cho doanh nghiệp Đây là bước đổi mới rất cơ bản nhằm thiết lập mối quan hệ chủ yếu giữa người đi vay và tổ chức cho vay trong quyết định đầu tư Tạo thế chủ động cho các doanh nghiệp tiếp cận nhanh và và đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường, đối với các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra…
Như vậy, với cơ chế này, đối tượng và phạm vi sử dụng nguồn vốn đầu tư XDCB đã có sự thay đổi căn bản theo hướng thu hẹp dần tình trạng bao cấp tràn lan
Trang 37
trong lĩnh vực sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB Theo đó, vốn đầu tư từ NSNN chỉ dành cho việc đầu tư phát triển các dự án hạ tầng kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, các dự án không có khả năng thu hồi vốn, hoặc đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, hỗ trợ cho các quỹ đầu tư quốc gia và các quỹ đầu tư địa phương…Đồng thời chuyển một bộ phận vốn đầu tư XDCB tập trung của NSNN cho đối tượng là các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có khả năng thu hồi vốn một cách trực tiếp sang cơ chế cho vay để đầu tư; khuyến khích các doanh nghiệp tự đầu tư, tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả vốn đầu tư XDCB Rõ ràng, sự chuyển biến này của cơ chế tài chính trong lĩnh vực đầu tư XDCB đối với hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB là hiện thực và đã được chứng minh
3 Việc chấp hành trình tự đầu tư và xây dựng đã đạt được những tiến bộ rất rõ rệt:
Đặc biệt trong các khâu: Lập-thẩm định dự án và quyết định đầu tư; lập-thẩm định và phê duyệt hồ sơ thiết kế, dự toán, tạo điều kiện và làm căn cứ quan trọng để ghi kế hoạch vốn đầu tư, mở tài khoản thanh toán, giao nhận thầu hoặc tổ chức đấu thầu…thể hiện qua chất lượng hồ sơ dự án, hồ sơ thiết kế dự toán có nhiều tiến bộ Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư XDCB, nhanh chóng đưa công trình vào khai thác sử dụng, phát huy hiệu quả trong nền kinh
tế, đẩy nhanh quá trình thu hồi vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB trong nền kinh tế
4 Về lĩnh vực quản lý chất lượng công trình xây dựng đã có những tiến bộ đáng kể:
Trong nhận thức, chúng ta đều thấy rõ: Quản lý chất lượng công trình xây dựng
là một trong những khâu rất quan trọng Sản phẩm xây dựng có phản ánh đúng với giá trị đích thực của nó hay không, tiến độ công trình có đảm bảo đúng với kế hoạch đề ra hay không, vốn đầu tư XDCB có đảm bảo đúng với tổng mức đầu tư đã được phê duyệt hay không, một phần cũng phụ thuộc vào công tác quản lý chất lượng công trình
Để tăng cường công tác quản lý này, đặc biệt là với các công trình sở hữu Nhà nước thời gian vừa qua, các văn bản qui định, hướng dẫn qui trình, hệ thống tổ chức
Trang 38
quản lí chất lượng xây dựng đã được ban hành ở các bộ, nghành, địa phương, từng dự
án đã có các tổ chức giám sát, nghiệm thu chất lượng công trình Mô hình quản lý chất lượng thông qua các tổ chức tư vấn, giám sát thay cho mô hình cũ do chủ đầu tư tự tổ chức giám sát được áp dụng rông rãi các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước về chất lượng công trình đã thường xuyên phổ biến, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các tổ chức giám sát chất lượng ở các công trường Năng lực đội ngũ quản lý chất lượng công trình từng bước được nần cao, trang thiết bị phục vụ công tác giám định được đổi mới, nâng cấp Do vậy, công tác quản lý chất lượng công trình đã đi vào nề nếp và có tiến bộ rõ rệt Trong 5 năm 1996-2000 đã xét công nhận 828 công trình đạt chất lượng cao và 262 sản phẩm xây dựng có chất lượng cao Nhiều đơn vị đã và đang
tổ chức mô hình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 Đến năm 2000, toàn nghành đã có 16 đơn vị được cấp chứng chỉ ISO 9002 Sự phát triển của lĩnh vực quản lý này tất yếu tạo ra cơ sở để tin chắc rằng các công trình đầu tư xây dựng sẽ ngày càng có chất lượng cao hơn, vốn đầu tư XDCB bỏ ra sẽ mau chóng được thu hồi
5 Về lĩnh vực quản lý chi phí dự án đầu tư – xây dựng :
Đây là một trong những vấn đề được các nghành, các cấp và xã hội quan tâm
Nó gắn liền với chủ trương chông lãng phí và thất thoát, thực hành tiết kiệm, nâng cao hiệu quả kinh tế–xã hội một cách thiết thực và trực tiếp nhất Việc hình thành giá cả và chi phí qua các giai đoạn, tổng mức đầu tư ( trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư), tổng dự toán (trong giai đoạn thiết kế kĩ thuật), đến giá thành quyết toán (trong giai đoạn hoàn thành đua công trình vào sử dụng) đã được quy định trong quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Cụ thể Nhà nước thực hiện quản lý chi phí đầu tư – xây dựng thông qua việc ban hành các chế độ, chính sách về giá, các nguyên tắc, phương pháp lập dự toán, các căn cứ để xác định tổng mức đầu tư của dự án, tổng dự toán công trình và dự toán hạng mục công trình (suất đầu tư, chi phí chuẩn, hệ thống định mức dự toán…); còn giá thanh toán là giá trúng thầu và các điều kiện ghi trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu Như vậy , giá dự toán được lập và được phê duyệt sẽ là căn cứ để xét thầu, một trong những tiêu chuẩn quan trọng để lựa chọn đơn vị trúng thầu
6 Quản lý vốn đầu tư bằng kế hoạch hoá của Nhà nước:
Trang 39đã xây dựng được một số kế hoạch đầu tư phát triển 5 năm cho một số vùng lãnh thổ
và một số nghành (tuy chưa đáng là bao), nhưng hàng năm chúng ta đã thực hiện việc quản lý vốn đầu tư bằng các kế hoạch hàng năm, đó là các kế hoạch đầu tư cho các vùng, lãnh thổ (địa phương) và các nghành, lĩnh vực kinh tế-xã hội Quản lý vốn đầu tư thông qua các kế hoạch hàng năm, chủ yếu được xác lập và tiến hành đối với các nguồn vốn đầu tư Nhà nước Bằng các kế hoạch vốn đầu tư hàng năm, Nhà nước sử dụng các nguồn vốn của mình để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội hàng năm Kế hoạch vốn đầu tư hàng năm có một ưu thế nổi bật là: Phân bổ vốn đầu tư của Nhà nước cân bằng với các dự án đầu tư đang triển khai dơ dang năm trước, đảm bảo nguồn vốn đối ứng trong nước để tiếp nhận giảI ngân nguồn vốn ODA, các dự án đầu
tư mới phù hợp với quy hoạch và kế hoạch phát triển
Quá trình kế hoạch hoá này đã làm cho công tác đầu tư XDCB được động không những về vốn, chủ động trong mỗi bước đi, mà còn trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong từng giai đoạn và từng bước nâng cao hiệu quả của công tác đầu tư Nền kinh tế nước ta khi chuyển đổi cơ chế, phát triển với tốc độ nhanh, kéo theo công tác đầu tư XDCB thay đổi trên nhiều phương diện Để có vốn đáp ứng được yêu cầu đổi mới và yêu cầu phát triển đất nước cần phảI kế hoạch hoá một cách chặt chẽ vốn đầu tư
II Đánh giá về kết quả quá trình đổi mới cơ chế quản lý đầu tư xây dựng trong quản lý và thực tế hoạt động đầu tư XDCB:
A.Trong quản lý đầu tư XDCB:
Qúa trình chuyển đổi cơ chế quản lý, với việc ban hành Luât đầu tư nước ngoài, việc cải cách và hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư XDCB cũng được chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn có nhiều khó khăn, phức tạp với nhiều dự án đầu tư trong ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế với kỹ thuật hiện đại, tiên tiến và yêu cầu
Trang 40
quản lý ngày càng cao, cùng với sự cạnh tranh gay gắt trong qúa trình thi công xây dựng công trình Tuy vậy, công tác quản lý đầu tư XDCB của nước ta đã có những chuyển biến tích cực như sau:
1 Các công trình XDCB đều có dự án đầu tư được duyệt:
Trước những năm 1990, các công trình XDCB ở nước ta trước khi đầu tư chỉ có luận chứng kinh tế kỹ thuật và khái toán với nội dụng quá đơn giản Nhưng từ năm
1991 trở lại đây, các công trình XDCB đều phải có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt Các công trình XDCB được chia làm 2 loại: Đối với những công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, tính chất quan trọng, thì trình tự lập dự án đầu
tư được tiến hành theo 2 bước: Bước nghiên cứu tiền khả thi và bước nghiên cứu khả thi Còn đối với các công trình khác thì việc lập dự án đầu tư chỉ tiến hành một bước-bước nghiên cứu tiền khả thi
Chính những quy định và cách quản lý đối với từng loại dự án dự án như vậy đã đem lại những kết quả mới trong thực tế quản lý và đầu tư xây dựng các công trình
2 Công tác đầu tư XDCB được kế hoạch hoá dài hạn và ngắn hạn ở cả hai cấp vĩ mô và vi mô và được cân đối nguồn vốn cho từng dự án đầu tư:
Trong những năm qua, công tác đầu tư XDCB ở nươc ta đã đựoc kế hoạch hoá dài hạn và ngắn hạn một cách chặt chẽ trên cả phương diện của Nhà nước, của nghành
và của từng doanh nghiệp
Công tác kế hoạch hoá này đã làm cho công tác đầu tư XDCB đựoc chủ động không những về nguồn vốn, chủ động trong mỗi bước đi, mà còn trong việc điều chỉnh
cơ cấu kinh tế trong từng giai đoạn và từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư Nền kinh tế nước ta từ khi chuyển đổi cơ chế đã phát triển với tốc độ nhanh, kéo theo công tác đầu tư XDCB thay đổi trên nhiều phương diện Một trong những chuyển biến quan trọng là việc kế hoạch hoá và cân đối nguồn vốn cho từng công trình đã được thực hiện khá đầy đủ, do đó đã đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu vốn cho phát triển đát nước
3 Việc tổ chức quản lý các công trình thuộc các dự án có sự phân chia phù hợp giữa các dự án với điều kiện của chủ đầu tư và hình thức quản lý: