Nguyên nhân của thực trạng trên ngoài nguyên nhân khách quan, còn do những bất cập trong hoạch định chính sách và tổ chức phát triển vùng; các chính sách kinh tế - xã hội chưa tạo ra đượ
Trang 1Häc viÖn chÝnh trÞ - hµnh chÝnh quèc gia hå chÝ minh
-
b¸o c¸o tæng hîp kÕt qu¶ nghiªn cøu khoa häc
§Ò tµi khoa häc cÊp bé n¨m 2008
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU: 3
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ
CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI PHÁT TRIỂN VÙNG 10
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH 10
1.1.1 Khái niệm chính sách 10
1.1.2 Phân loại chính sách 12
1.1.3 Quy trình ban hành và tổ chức thực hiện chính sách 14
1.2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ASEAN 15
1.2.1 Khái niệm về vùng và phát triển vùng 15
1.2.2 Chính sách phát triển vùng và kinh nghiệm thực hiện chính sách vùng của các nước ASEAN 20
1.3 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG VÀ CÁC VÙNG MIỀN NÚI 28
1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÁC TỈNH THUỘC VÙNG TÂY BẮC TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 31
1.4.1 Đặc điểm địa - kinh tế 31
1.4.2 Đặc điểm xã hội - nhân văn 37
1.4.3 Đặc điểm an ninh - quốc phòng 42
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH THUỘC VÙNG TÂY BẮC NƯỚC TA THỜI GIAN QUA 45
2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC THỜI GIAN QUA 45
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 45
2.1.2 Tăng trưởng của các ngành 47
2.1.3 Hạ tầng cơ sở nông thôn và việc tiếp cận thị trường 49
2.1.4 Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 50
2.1.5 Đầu tư FDI 51
2.1.6 Các hoạt động kinh tế vùng biên giới, xuất nhập khẩu, phát triển và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế 51
2.1.7 Nguồn nhân lực và lao động 52
2.1.8 Vấn đề xoá đói, giảm nghèo 53
2.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC 55
2.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính sách kinh tế - xã hội phát triển các tỉnh vùng Tây bắc 55
2.2.2 Đánh giá tác động của cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội đến sự phát triển các tỉnh vùng Tây Bắc 63
2.2.3 Các địa phương triển khai thực hiện chính sách 99
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC 102
2.3.1 Kết quả thực hiện chính sách hiện hành 102
Trang 32.3.2 Những hạn chế của hệ thống chính sách đang hiện hành 103
2.3.3 Nguyên nhân 103
Chương 3: ĐỔI MỚI CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH THUỘC VÙNG TÂY BẮC NƯỚC TA 105
3.1 TIỀM NĂNG, HẠN CHẾ, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC 105
3.1.1 Tiềm năng 105
3.1.2 Hạn chế 107
3.1.3 Cơ hội 109
3.1.4 Thách thức 111
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ QUAN ĐIỂM VỀ ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC 112
3.2.1 Quan điểm và định hướng phát triển các tỉnh vùng Tây Bắc 112
3.2.2 Đổi mới hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh vùng Tây Bắc 114
3.3 ĐỔI MỚI HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC NƯỚC TA 118
3.3.1 Rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch tổng thể chiến lược phát triển các tỉnh vùng Tây Bắc 118
3.3.2 Đổi mới chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 120
3.3.3 Đổi mới chính sách về phát triển các ngành trên địa bàn các tỉnh vùng Tây Bắc 122
3.3.4 Chính sách và giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng 139
3.3.5 Chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực và những vấn đề
xã hội 141
3.3.6 Củng cố hệ thống chính trị vững mạnh từ cơ sở, kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ quốc phòng an ninh 156
3.3.7 Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện chính sách cho cán bộ và sử dụng cán bộ hợp lý ở địa phương 160
3.3.8 Chính sách phát triển khoa học công nghệ 161
3.3.9 Giải pháp bảo vệ môi trường vùng Tây Bắc 164
3.3.10 Chính sách và giải pháp về tài chính và đầu tư 168
3.3.11 Đẩy mạnh mối quan hệ kinh tế liên vùng và hợp tác phát triển 171
KẾT LUẬN 175
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 176
PHỤ LỤC 178
Trang 4DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 PGS.TS Nguyễn Cúc Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
6 PGS.TS Nguyễn Cảnh Hoan Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
7 PGS.TS Kiều Thế Việt Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
8 TS Nguyễn Đăng Thảo Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
16 TS Nguyễn Thế Thuấn Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
20 Th.S Nguyễn Hồng Phong Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
21 Th.S Nguyễn Văn Dũng Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
22 Th.S Lê Hữu Thành Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
23 Th.S Đặng Hồng Trung Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
24 TS Hoàng Văn Hoan Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
25 TS Nguyễn Vĩnh Thanh Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
26 Th.S Ninh Thị Minh Tâm Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
27 Th.S Vũ Xuân Bình Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
28 Th.S Nguyễn Mạnh Hùng Đại học Knh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
29 Th.S Hoàng Ngọc Hải Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
33 Hồ Thanh Thủy Học viện CTHC Quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Các tỉnh vùng Tây Bắc1 gồm Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình với diện tích tự nhiên hơn 3.563,7 nghìn km2, chiếm gần 12% diện tích cả nước, dân số gần 3 triệu người Đây là vùng có nhiều có nhiều tiềm năng, lợi thế về nông, lâm nghiệp, thuỷ điện, tài nguyên khoáng sản, kinh tế cửa khẩu, du lịch; có nhiều đồng bào các dân tộc sinh sống, đoàn kết gắn bó lâu đời và có truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng kiên cường chống giặc ngoại xâm
Trong những năm qua, nhất là trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước
đã thường xuyên quan tâm đến vùng miền núi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, thông qua những chủ trương và chính sách quan trọng cùng nguồn lực đầu tư đáng kể nhằm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Quyết định số
72 của HĐBT (nay là Chính phủ), Quyết định 186/TTg, Quyết định 138/TTg, Quyết định 120/TTg, Chương trình 135, thành lập Ban chỉ đạo Tây Bắc ) Nhờ đó, vùng Tây Bắc có nhiều chuyển biến, đạt được những kết quả khả quan về phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng và phong trào quần chúng Trong lĩnh vực kinh tế, nổi bật nhất trong những năm qua là, tốc độ tăng trường kinh tế đạt trung bình 11,2%, trong đó có tỉnh đạt hơn 12%; tỷ trọng nông - lâm nghiệp giảm còn 40,3%; công nghiệp - xây dựng 25,3%, dịch vụ 34,4% trong GDP, Sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá, đạt 16% (năm 2005) (Sơn La tăng 29,7%, Hoà Bình 18%, Lai Châu 16,7%) Đặc biệt, đã khởi công xây dựng Nhà máy Thuỷ Điện Sơn La đúng kế hoạch, cùng với nhiều dự án thuỷ điện khác cũng được khởi công xây dựng, đánh dấu bước phát triển mới trong khai thác thế mạnh về nguồn thuỷ năng của vùng Tây Bắc (chiếm 60% cả nước) Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, năng lực sản xuất mới được tăng thêm Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển trên toàn vùng năm 2005 tăng 25% so với năm 2004, Thương mại, dịch vụ phát triển khá, đóng góp tích cực cho chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, cải thiện đời sống nhân dân, tỷ lệ đói nghèo giảm Có những tỉnh trong vùng đã bắt đầu sản xuất hàng hoá bằng phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và chăn nuôi Nạn phá rừng làm nương đã giảm, rừng đang được khôi phục, độ che phủ đã tăng lên Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - thông tin, phát thanh, truyền hình được củng cố và phát triển Phần lớn đồng bào vùng cao, vùng
Trang 6sâu đã được nghe đài, xem phim, xem truyền hình, được đọc báo Công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được bảo đảm, Hoạt động đối ngoại phát triển, cùng nhau xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác, ổn định lâu dài, cùng phát triển, vì lợi ích của hai bên, Việc xây dựng hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường
Tuy nhiên trong quá trình phát triển, vùng Tây Bắc vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, đó là: Điểm xuất phát thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa vững chắc, chưa tương xứng tiềm năng của vùng, quy mô kinh tế còn nhỏ bé, chưa
đủ tạo ra tích luỹ từ nội bộ kinh tế vùng để tăng cường cho đầu tư phát triển Sản xuất ở các tỉnh Vùng Tây Bắc vẫn còn lúng túng trong việc xác định phương hướng sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và thị trường tiêu thụ sản phẩm Phương thức sản xuất chủ yếu vẫn là tự cung, tự cấp, vùng núi cao còn chịu ảnh hưởng của kinh
tế tự nhiên Nhiều rừng cây đồng bào trồng đã đến ngày khai thác mà chưa có nơi tiêu thụ; Cơ sở hạ tầng cũng như các hoạt động dịch vụ về văn hoá, giáo dục, y tế, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều yếu kém, bất cập
Nguyên nhân của thực trạng trên ngoài nguyên nhân khách quan, còn do những bất cập trong hoạch định chính sách và tổ chức phát triển vùng; các chính sách kinh tế - xã hội chưa tạo ra được những điều kiện cần thiết cho các tỉnh vùng Tây Bắc phát triển Thiếu sự tham gia của người dân và các bên hữu quan trong việc đề xuất các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của vùng; chưa có sự coi trọng và kế thừa các tri thức bản địa trong các chương trình Các chính sách còn dừng ở mức vĩ mô, được áp dụng cho nhiều vùng, trong khi cần có những chính sách đặc thù phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng Các chương trình, dự án chú trọng nhiều đến đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng mà chưa chú ý đúng mức đến đầu tư cho nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân trong vùng phát triển bền vững
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn vấn đề “Đổi mới cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta” làm chủ đề
nghiên cứu hy vọng có một số đóng góp vào chủ đề quan trọng này
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay ở nước ta, vấn đề đổi mới chính sách kinh tế - xã hội cho các tỉnh vùng Tây Bắc nước ta chưa được đề cập và nghiên cứu một cách đầy đủ; mặc
dù lý thuyết về phát triển vùng địa phương, xây dựng hệ thống chính sách trong phát
Trang 7triển kinh tế vùng địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi đã được nhiều nhà kinh tế học, các chuyên gia trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
- Vấn đề phát triển kinh tế vùng địa phương: xung quanh vấn đề phát triển kinh tế vùng phát triển vùng đã được nhiều học giả đề cập đến, như:
+ Lý thuyết phát triển vành đai nông nghiệp của I.G.Thunen (Đức, 1833)
Lý thuyết này cho rằng: Do ảnh hưởng của thành phố (trung tâm thị trường), dẫn đến phân chia lãnh thổ của một quốc gia thành các vùng sử dụng đất khác nhau Cơ
sở của mô hình này dựa trên nguyên tắc của cực tiểu hoá chi phí và cực đại hoá lợi nhuận Lý thuyết này coi thành phố là những nút trọng điểm của lãnh thổ có sức ảnh hưởng lan toả lớn
+ Lý thuyết về điểm trung tâm của Christaller (Mỹ, 1933) Lý thuyết này cho rằng: Vùng nông thôn chịu cực hút của thành phố và coi thành phố là cực hút và hạt nhân của sự phát triển Từ đó đối tượng đầu tư có trọng điểm cần được xác định trên
cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và ảnh hưởng của một trung tâm và cũng sẽ xác định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm của trung tâm Trong giới hạn bán kính vùng tiêu thụ, xác định giới hạn của thị trường ngoài ngưỡng giới hạn không có lợi trong việc cung cấp hàng hoá của trung tâm Điểm đáng lưu ý của lý thuyết điểm trung tâm là đã xác định được quy luật phân bố không gian tương ứng giữa các điểm dân cư từ đó có thể áp dụng quy hoạch các điểm dân cư, trên lãnh thổ mới khai thác
+ Lý thuyết cực phát triển của F.Perroux (Pháp) Lý thuyết cực phát triển được F.Perroux đưa ra vào những năm 1950 Lý thuyết này cho rằng, một vùng không thể phát triển kinh tế đều đặn ở tất cả các điểm trên lãnh thổ của nó có những điểm phát triển nhanh trong khi ở những điểm khác lại chậm phát triển hoặc trì trệ Các điểm phát triển nhanh này là những trung tâm có lợi thế so sánh với toàn vùng Như vậy, có thể chú trọng tác động vào những khu vực trọng điểm làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ Đó là ngành công nghiệp và dịch vụ có vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng của vùng và đi kèm theo với điểm tăng trưởng là một ngành công nghiệp then chốt Ngành công nghiệp then chốt phát triển thì lãnh thổ được phân bố cũng phát triển
+ Lý thuyết về phân bố doanh nghiệp trong phát triển lãnh thổ của A.Schoon (Universite Libre de Bruxelles), thuyết Fordisme cho rằng, ở địa phương tồn tại một hoặc nhiều doanh nghiệp coi như động lực phát triển và quanh đó người ta tập trung một số doanh nghiệp khác thường là nhỏ hơn trong mối quan hệ kỹ thuật hay quan
Trang 8đến phát triển các doanh nghiệp thông qua các luật, đầu tư cơ sở hạ tầng, cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Quá trình phát triển nhằm tạo ra trung tâm tăng trưởng vùng, đồng thời sẽ có tác động đến các vùng khác và các vùng khác có nguy cơ là không được hưởng sự quan tâm và sẽ rơi vào tình trạng kém phát triển Sau những năm 1980, vai trò doanh nghiệp trong vùng có sự thay đổi, phát triển vùng lãnh thổ
có tính ưu tiên cao hơn và vai trò của vùng lãnh thổ theo đúng tên gọi của thực địa, của môi trường Mục tiêu bây giờ không còn tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp mà tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp vào lãnh thổ mong muốn Từ đó vai trò hỗ trợ của chính quyền, các địa phương ngày càng trở nên quan trọng Chính quyền cũng phải sáng tạo để hỗ trợ, cổ vũ sự sáng tạo của doanh nghiệp Đồng thời, các doanh nghiệp lại đặt các vùng vào tình thế cạnh tranh với nhau theo các tiêu chí như nhân công tại chỗ, dịch vụ cho các doanh nghiệp, cơ
sở hạ tầng
Trong thực tế ở một số quốc gia cũng đã thành công với việc phát triển kinh
tế vùng, như Vùng Baden - Wurttemberd, Đức; Thành phố công nghiệp Worcester, Masachusett, (Mỹ); Mô hình đặc khu kinh tế Thẩm Quyến và Hải Nam, (Trung Quốc)
+ Kỳ họp thứ 53 của Đại Hội đồng LHQ tháng 11/1998, Liên Hợp Quốc tuyên bố lấy năm 2002 là Năm Quốc tế về Miền núi, kêu gọi Chính phủ các nước, các tổ chức Phi Chính phủ, các tổ chức quốc tế tự nguyện đóng góp và tập trung quan tâm đến phát triển bền vững miền núi Từ đó có nhiều dự án, đề tài nghiên cứu
về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi trên thế giới
- Ở nước ta vấn đề xây dựng hệ thống chính sách kinh tế - xã hội trong phát triển các tỉnh thuộc vùng miền núi: xung quanh vấn đề này đã có nhiều hội thảo, đề
án, công trình và các học giả đề cập đến, như:
+ Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001 -2010 cũng đã định rõ phương hướng và kế hoạch phát triển cho tất cả các vùng, cho Tây bắc, Đông bắc, Tây nguyên và Tây Nam bộ Đồng thời, có nhiều công trình, sách chuyên khảo của các nhà khoa học, các tổ chức đã được công bố xoay quanh vấn đề phát triển các vùng miền núi như:
1 Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị các tỉnh miền núi nước
ta hiện nay (2003), do PGS.TS Tô Huy Rứa, PGS.TS Nguyễn Cúc, PGS.TS Trần Khắc Việt (đồng chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia
2 Đa dạng hoá thu nhập và nghèo ở vùng núi và trung du Bắc bộ Việt Nam - hình thức, xu hướng và kiến nghị chính sách (2003), do Ngân hàng hợp tác Quốc tế
Trang 9Nhật bản tài trợ cho nghiên cứu và xuất bản và cơ quan Hợp tác Phát triển Thuỵ Sĩ tài trợ cho Ông Michaen Epprech
3 Đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay (2006), do PGS.TS Nguyễn Cúc, PGS.TS Ngô Ngọc Thắng,
TS Đoàn Minh Huấn (đồng chủ biên), Nxb lý luận Chính trị
4 Văn hoá các dân tộc Tây Bắc - Thực trạng và những vấn đề đặt ra (2004),
do Trần Văn Bính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
5 Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi (1996),
do Bế Văn Đẳng (chủ biên), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội
6 Chính sách cơ cấu vùng, kinh nghiệm quốc tế và sự vận dụng ở Việt Nam (1996), Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
7 Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp (2000), do Tô Đức Hạnh và Phạm Văn Linh (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia
8 Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta (2000), do Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
9 Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - Thực trạng
và giải pháp (2002), do Hà Quế Phẩm (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
10 Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2005), do TS Lê Phương Thảo, PGS.TS Nguyễn Cúc (chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội
Ngoài ra, còn có hàng loạt các đề tài, bài viết, các cuộc Hội thảo, hội nghị liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế - xã hội miền núi nói chung, vùng tây bắc nói riêng, như: “Hội nghị công tác khoa giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc”;
“Hội nghị đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Bắc” của Ban chỉ đạo Tây Bắc; Đề án “Phát triển công nghiệp vùng Tây Bắc”, và hàng loạt bài viết khác của các tác giả trong nước có liên quan đến vùng Tây Bắc nước ta Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và tổng kết thực tiễn thực trạng cơ chế chính sách kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đổi mới chính sách kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta thời gian tới, thì chưa có công trình nào nghiên cứu thấu đáo Đây chính là hướng
Trang 103 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận về vùng địa phương và chính sách phát triển vùng địa phương, đặc biệt là vùng đặc thù; đề tài đã phân tích thực trạng thực trạng
cơ chế chính sách kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta thời gian qua; từ đó, đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới cơ chế chính sách kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta thời gian tới
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh tế vùng, cơ chế chính sách trong phát triển kinh tế điạ phương, các đặc điểm cơ bản của vùng tác động tới việc xây dựng hệ thống và cơ chế chính sách kinh tế - xã hội nhằm phát triển địa phương; qua đó xác định quy trình và nội dung cơ bản trong hoạch định hệ thống chính sách và cơ chế chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương miền núi
- Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống và cơ chế chính sách kinh tế - xã hội tác động đến các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta thời gian qua, từ đó đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách kinh tế -
xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu cơ bản Ngoài ra, đề tài sử dụng các phương pháp như phân tích hệ thống, tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn
Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng cách điều tra sâu vào các nhóm đối tượng; thực hiện việc khảo sát tại các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta thông qua việc tổ chức một số cuộc đối thoại với người dân và chính quyền địa phương để có những kết luận phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu như sau:
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI PHÁT TRIỂN VÙNG
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH THUỘC VÙNG TÂY BẮC NƯỚC TA THỜI GIAN QUA
Chương 3: ĐỔI MỚI CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH THUỘC VÙNG TÂY BẮC NƯỚC TA
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ
CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI PHÁT TRIỂN VÙNG
Thmas R.Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn: “chính sách công là cái
mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm”
Có rất nhiều khái niệm về chính sách, có thể liệt kê như sau: Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson 2003); Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin 1978); Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992); Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành (Peter Aucoin 1971); Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Peter 1990);
Theo Charles O Jones (1984), chính sách công là một tập hợp các yếu tố gồm: i) Dự định (intentions): mong muốn của chính quyền; 2i) Mục tiêu (goals): dự định được tuyên bố và cụ thể hóa; 3i) Đề xuất (proposals): các cách thức để đạt được mục tiêu; 4i) Các quyết định hay các lựa chọn (decisions or choices); 5i) Hiệu lực (effects); Kraft và Furlong (2004) đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn Theo đó, chính sách công
là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn
đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình
Trang 12Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, “chính sách là chủ trương và các biện pháp của một Đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội: như chính sách đối ngoại của nhà nước, chính sách dân tộc” Giáo trình “Chính sách kinh tế - xã hội” của trường Đại học kinh tế quốc dân, các tác giả đồng nghĩa chính sách công với chính sách kinh tế xã hội và đưa ra định nghĩa: "Chính sách kinh tế -
xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước
sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách thực hiện mục tiêu nhất định theo hướng mục tiêu tổng thể của xã hội”
Có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của chính sách:
- Chính sách là tư tưởng điển hình về kiểu can thiệp của nhà nước vào kinh
tế thị trường
- Chính sách là hành động can thiệp của nhà nước nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề chín muồi Đó là những vấn đề lớn, có tầm ảnh hưởng rộng mang tính bức xúc trong đời sống xã hội
- Chính sách giải quyết những mục tiêu bộ phận, có thể mang tính dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn nhưng phải hướng vào việc thực hiện những mục tiêu chung, mang tính tối cao của đất nước
- Chính sách không chỉ thể hiện kế hoạch của các nhà hoạch định chính sách
mà còn bao gồm những hành vi thực hiện những kế hoạch trên
- Chính sách của nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của nhiều người hoặc của xã hội
- Chính sách là một quá trình do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia
- Chính sách có phạm vi tác động rộng lớn Chính sách có thể tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thể hiện sự cần thiết can thiệp của nhà nước trong các lĩnh vực đó
Khái quát các đặc trưng trên đây, có thể quan niệm: Chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định theo hướng mục tiêu tổng thể của đất nước So với luật pháp, chính sách có độ co giãn
và mềm dẻo, khi đó chính sách là sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhân tố chủ quan với các điều kiện khách quan
Nội hàm của chính sách là các quan điểm định hướng đến mục tiêu, hệ thống giải pháp, biện pháp và các công cụ tác động của Nhà nước Hệ thống giải pháp,
Trang 13biện pháp và các công cụ đó nhằm điều chỉnh các hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội, tương thích với từng thời gian và đối tượng quản lý nhất định
Những yếu tố cơ bản của chính sách bao gồm:
- Chủ thể của chính sách: cơ quan nào chịu trách nhiệm
- Mục tiêu của chính sách: mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể
- Đối tượng tác động của chính sách: ai là người thụ hưởng
- Công cụ và phương tiện để thực hiện chính sách: sử dụng cách thức tác động gì, thông qua hình thức nào
1.1.2 Phân loại chính sách
Phân loại chính sách là một việc làm mang tính quy ước, song có ý nghĩa quan trọng vì nó làm rõ các loại đối tượng mà chính sách cần điều chỉnh mục tiêu
để thực hiện Hiện nay đang tồn tại một số cách phân loại sau:
- Theo lĩnh vực tác động, có các loại chính sách sau:
+ Các chính sách kinh tế, là những chính sách điều tiết các mối quan hệ kinh
tế nhằm tạo ra động lực phát triển kinh tế Các chính sách kinh tế bao gồm nhiều chính sách: (1) Chính sách tài chính; (2) Chính sách tiền tệ, tín dụng; (3) Chính sách phân phối; (4) Chính sách kinh tế đối ngoại; (5) Chính sách cơ cấu kinh tế; (6) Chính sách cạnh tranh; (7) Chính sách phát triển các loại hình thị trường Các chính sách kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của đất nước vì,
nó đóng vai trò tạo ra cơ sở để thực hiện tất cả các chính sách khác
+ Các chính sách xã hội, là những chính sách điều tiết các mối quan hệ xã hội, làm cho xã hội phát triển theo hướng công bằng, văn minh Các chính sách xã hội cơ bản bao gồm: Chính sách lao động và việc làm; Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; Chính sách an sinh xã hội; Chính sách bảo đảm sức khoẻ toàn dân; Chính sách xoá đói, giảm nghèo; Chính sách bảo vệ môi trường
+ Các chính sách văn hoá, là những chính sách nhằm phát triển nền văn hoá với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển xã hội Các chính sách văn hoá cơ bản gồm, chính sách giáo dục và đào tạo; Chính sách phát triển khoa học - kỹ thuật và công nghệ; Chính sách văn hoá thông tin; Chính sách bảo tồn
và phát huy di sản và truyền thống dân tộc
+ Chính sách đối ngoại, là những chính sách điều tiết các mối quan hệ đối ngoại của một đất nước với các quốc gia và các tổ chức trên thế giới Đây là bộ
Trang 14mở cửa và hội nhập, nếu một quốc gia không có những quyết sách đối ngoại đúng đắn thì sẽ bị cô lập và tụt hậu
+ Chính sách an ninh, quốc phòng, bao gồm các chính sách an ninh và các chính sách quốc phòng Đó là những chính sách hướng vào việc tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tạo điều kiện cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
- Theo phạm vi ảnh hưởng và quy mô tác động, có thể chia chính sách thành: + Chính sách vĩ mô, là những chính sách được xây dựng nhằm vận hành nền kinh tế quốc dân, có tác động đến những cân đối tổng thể (vĩ mô) của nền kinh tế -
xã hội, chi phối nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng đến lợi ích của đông đảo nhân dân Các chính sách vĩ mô thường có hiệu lực thực thi trên phạm vi cả nước Ví dụ, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, tín dụng, chính sách phân phối, chính sách kinh tế đối ngoại được coi là những chính sách vĩ mô quan trọng nhất
+ Chính sách trung mô, là những chính sách có quy mô tác dụng lên những
bộ phận hay phân hệ của xã hội Ví dụ như chính sách điều tiết cơ cấu của một ngành kinh tế, chính sách phát triển cơ cấu thành phần kinh tế, chính sách phát triển vùng, chính sách cấp tỉnh
+ Chính sách vi mô là những chính sách tác động lên những chủ thể kinh tế -
xã hội cụ thể như các đơn vị cơ sở hay nhóm người riêng biệt trong xã hội Các chính sách vi mô bao gồm chính sách nhân sự tài chính doanh nghiệp, chính sách thi tuyển công chức Ngay cả những chính sách như chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp cũng có thể được coi là chính sách vi mô vì điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp, các hộ, các cá nhân
Tuy nhiên, mọi sự phân loại chỉ là tương đối Chẳng hạn có quan điểm cho rằng các chính sách ngành vừa là chính sách trung mô vừa là chính sách vi mô Trong thực tế, người ta thường nhắc đến chính sách vĩ mô và chính sách vi mô nhiều hơn, ít nhắc đến chính sách trung mô
- Phân theo thời gian phát huy hiệu lực, có các loại chính sách sau:
+ Chính sách dài hạn, là những chính sách được áp dụng lâu dài nhằm thực hiện những mục tiêu chiến lược, dài hạn của đất nước Một trong những chính sách dài hạn quan trọng của nước ta hiện nay là chính sách phát triển các kinh tế nhiều thành phần Chính sách này có tác dụng khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, yên tâm đầu tư mọi nguồn lực để sản xuất kinh doanh lâu dài, làm giàu cho mình và cho đất nước
Trang 15+ Chính sách trung hạn, là những chính sách có hiệu lực trong khoảng thời gian từ 3 đến 7 năm Những chính sách này tập trung vào những vấn đề có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội, nhưng có thể giải quyết được trong một thời gian nhất định Những chính sách loại này có thể là chính sách chống lạm phát, chính sách xoá đói, giảm nghèo, chính sách chống suy thoái kinh tế
+ Chính sách ngắn hạn, là những chính sách được áp dụng trong khoảng thời gian ngắn, dưới 3 năm nhằm vào những vấn đề có thể giải quyết nhanh chóng Các chính sách ngắn hạn có thể là chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách kiểm soát các ngân hàng cổ phần, chính sách mức giá trần đối với thu mua nông sản phục vụ xuất khẩu
- Phân theo cấp độ của chính sách: Phụ thuộc vào chủ thể quyết định chính sách, có thể chia thành các loại chính sách sau:
+ Nhóm chính sách do Quốc hội ra quyết định;
tế nhằm "cộng hưởng" các tác động đồng hướng, hạn chế các tác động ngược chiều giữa các chính sách
1.1.3 Quy trình ban hành và tổ chức thực hiện chính sách
Có thể nói, chính sách công gắn chặt với bản chất Nhà nước, nền tảng của chính sách công là các chức năng của Nhà nước, cụ thể là tính chính trị với vai trò cân bằng của các nhóm lợi ích, sự can thiệp của Nhà nước vào các thất bại thị trường và sự thể hiện trong các quy định Trên nền tảng đó, thiết kế chính sách công thực chất là việc giải quyết vấn đề, dưới một loạt các ảnh hưởng, điều kiện đã nêu trên Chính sách thành công hay thất bại phụ thuộc vào việc có giải quyết được vấn đề hay không
Các mô hình thể hiện quá trình hoạch định và thực hiện chính sách công như
mô hình M.Guns (1966) và mô hình K.John (1970) Trong đó K.John đã đưa ra mô
Trang 16Nghiên cứu và chuẩn bị Bao gồm các bước hình thành ý tưởng,
nghiên cứu, điều tra thu thập, xử lý thông tin, tham khảo kinh nghiệm
Ban hành chính sách Dự thảo, soạn thảo lấy ý kiến, thẩm tra,
đánh giá, lựa chọn, thông qua và ra chính sách
Tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám
sát việc thực hiện chính sách
Nhanh chóng triển khai, tổ chức lực lượng thực hiện, phổ biến, tuyên truyền, có chế độ và phương pháp kiểm tra, xử lý thông tin phản hồi, điều chỉnh kịp thời và bổ sung quyết định cần thiết
Tổng kết đánh giá việc thực hiện chính
sách
Đánh giá trung thực, cụ thể, chính xác kết quả của chính sách tác động đến đối tượng như thế nào
Quá trình hoạch định chính sách là hết sức quan trọng, cần điều tra, khảo sát thực tế nền kinh tế, xã hội để đưa ra chính sách Chính sách có thể giải quyết một vấn đề bức xúc, một vấn đề mới trong thực tiễn hoặc tạo ra một khuôn khổ để dẫn dắt, khuyến khích các nỗ lực phát triển của xã hội hoặc để phòng ngừa một vấn đề không tốt có thể nảy sinh trong tương lai, Như vậy, cần có chính sách vừa giải quyết vấn đề trước mắt, vừa mang tính lâu dài trong quá trình phát triển nền kinh tế
- xã hội Đồng thời phải có những công cụ khoa học trong việc khảo sát, lấy ý kiến
và tôn trọng ý kiến của nhân dân, để chính sách phù hợp với thực tế, tăng tính khả thi trong quá trình thực hiện
1.2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ASEAN
1.2.1 Khái niệm về vùng và phát triển vùng
1.2.1.1 Khái niệm chung về vùng
Cho đến nay có rất nhiều khái niệm về vùng: “Vùng là một khái niệm được
sử dụng khá phổ biến, song đến nay các ngành khoa học khác nhau lại có cách hiểu không giống nhau Địa lý học coi “vùng” là một đơn nguyên địa lý bề mặt của trái đất; kinh tế học hiểu “vùng” là một đơn nguyên kinh tế tương đối hoàn chỉnh trên phương diện kinh tế; chính trị học thường cho “vùng” là đơn nguyên hành chính thực hiện quản lý hành chính; xã hội học coi “vùng” là khu tụ cư có đặc trưng xã
Trang 17hội tương đồng của một loại người nào đó (ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc, văn hoá) Trong một số trường hợp, chưa phân biệt rõ ràng các thuật ngữ “vùng” “địa bàn”,
“khu vực”, “miền”, “đới”, “dải”, Mặc dù vậy, đa số ý kiến cho rằng vùng là một
bộ phận của lãnh thổ quốc gia, có đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù có thể phân biệt vùng này với các vùng khác Vùng nói chung có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, vùng là một thực thế khách quan, chứ không phải do con người
“thiết kế”, “sáng tạo” ra để phục vụ cho mục đích riêng của mình
Thứ hai, vùng là một không gian địa lý - một lãnh thổ xác định, thuộc quyền
sở hữu của một quốc gia Các lãnh thổ này có vị trí, hình dàng, kích thước và quy
mô xác định Vị trí của từng vùng được xác định qua hệ trục toạ độ, qua sự tiếp giáp với các địa danh hành chính hay tự nhiên Mỗi vùng cũng có hình dáng, kích thước chiều dài, chièu rộng xác định Vùng có nhiều cấp theo quy mô (quy mô về diện tích, dân số, quy mô về các hoạt động kinh tế - xã hội, ) Quy mô và số lượng vùng
có sự thay đổi theo các giai đoạn phát triển khác nhau
Thứ ba, vùng là một thực thể khách quan, trong đó tồn tại những yếu tố tự
nhiên (đất đai, khí hậu, động thực vật, tài nguyên, khoáng sản, nguồn nước, địa hình, sống hồ, thảm động thực vật, ); các yếu tố xã hội (dân cư, nguồn lao động, dân tộc, văn hoá, lịch sử, ) các yếu kinh tế (nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ, và các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ các hoạt động kinh tế đó) Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đó là các yếu tố cấu thành nên vùng
Thứ tư, các yếu tố cấu thành nên vùng có sự tương đối đồng nhất bên trong
(nhưng không đồng chất với nhau) nhưng lại tương đối khác biệt với bên ngoài (tính đồng nhất và khác biệt chính là căn cứ để phân vùng) Nói cách khác, vùng là một
bộ phận của lãnh thổ đặc thù trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Do tính đặc thù, trong thực tế không có bất kỳ một quốc gia nào giống vùng nào
Thứ năm, trong vùng, ở các mức độ khác nhau, liên tục diễn ra các quá trình
tự nhiên, nhân khẩu học, kinh tế và xã hội Các quá trình này có bản chất khác nhau, cùng tồn tại và hoạt động theo những quy luật riêng của mình, nhưng đều là những khâu tất yếu của chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin vận hành liên tục trong không gian và thời gian
Trang 18phương/tỉnh và một quốc gia có một số vùng tuỳ theo cách phân chia trong từng giai đoạn cụ thể
Hệ thống các vùng luôn có sự thay đổi về số lượng và quy mô theo thời gian
vì sự tồn tại của vùng là khách quan nhưng lại được chủ quan hoá, tức là được con người phân định và tổ chức theo nguyên tắc vì con người Nói cách khác, các yếu tố cấu thành vùng không ngừng vận động và phát triển theo các quy luật nhất định Các quá trình vận động phát triển này đều là những khâu cần thiết không thể thiếu trong chu trình trao đổi vật chất năng lượng và thông tin vận hành bên trong vùng
và giữa các vùng Con người cần nắm bắt các quy luật của các quá trình vận động, phát triển và sử dụng những thủ pháp làm cho vùng phát triển một cách có hiệu quả cao phục vụ cho các nhu cầu cuộc sống ngày càng cao của mình Để làm được việc này, con người cần phải quyết định một số hành động can thiệp nhằm tổ chức lại không gian cho phù hợp với đường lối chính trị, kế hoạch phát triển kinh tế, điều kiện công nghệ và kỹ thuật, thậm chí phù hợp với cả tâm lý dân tộc và khiếu thẩm
mỹ vốn có của các cộng đồng người
Xét một cách tổng thể, mục tiêu tác động của con người vào hệ thống vùng nói chung, từng vùng nói riêng là bố trí nhằm khai thác, sử dụng các nguồn lực của các vùng lãnh thổ một cách hợp lý nhằm đạt được sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững (cả về kinh tế - xã hội và môi trường) của mỗi vùng trên cơ sở bảo đảm sự cân đối và hài hoà giữa các vùng trong toàn bộ hệ thống lãnh thổ của quốc gia
Xét từ quan điểm kinh tế, tác động của con người vào hệ thống vùng trong quá trình phát triển phải nhằm đạt được hiệu quả tối ưu cho xã hội, tức là phải sử dụng hiệu quả các nguồn lực khan hiếm đối với toàn bộ hệ thống các vùng của quốc gia
Như vậy, vùng là một bộ phận lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân, có cơ cấu khá phức tạp và tổng hợp, có thể hoạt động một cách độc lập (tuy rằng, tất nhiên, trong hầu hết các trường hợp thực tế, các vùng luôn có mối quan hệ chặt chẽ và hữu
cơ với các vùng còn lại của nền kinh tế) Vùng là đối tượng của tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội, là công cụ không thể thiếu trong việc hoạch định các chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển của nền kinh tế quốc gia và là đơn vị để chúng ta quản lý các quá trình phát triển của quốc gia trên lãnh thổ bảo đảm sự thống nhất trong đa dạng
Trang 191.2.1.2 Phát triển vùng
Phát triển vùng, địa phương là tìm cách pháp huy các mặt mạnh, tìm kiếm và tạo ra những thế mạnh mới, tạo ra các giá trị gia tăng trên phương diện kinh tế xã hội, văn hoá, cơ sở hạ tầng, tài chính, môi trường, con người
Phát triển vùng còn được hiểu đó là việc đề ra cho lãnh thổ một chiến lược phát triển; chiến lược này sẽ thường xuyên được đánh giá và định nghĩa lại theo sự xuất hiện của các tình huống mới, các yếu tố và tác nhân mới, hay theo sự phát triển tình hình; sự thay đổi các yếu tố và các tác nhân hiện thời
Vai trò của tác nhân phát triển kinh tế là phải thu hút các doanh nghiệp từ các vùng khác đến lãnh thổ của mình, giữ chân các xí nghiệp đang tồn tại, đồng thời khuyến khích tạo ra các doanh nghiệp mới Các tác nhân phát triển vùng lãnh thổ bao gồm các cấp quản lý, các doanh nghiệp trong và ngoài lãnh thổ thuộc khu vực Nhà nước và tư nhân, và các tổ chức phi lợi nhuận, các hiệp hội doanh nghiệp
Tại các nước đang phát triển, việc xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế vùng ngày càng được quan tâm và chú trọng hơn Có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển kinh tế vùng Trong đó quan điểm đáng được chú ý của các nhà nghiên cứu và quản lý đó là:
Thứ nhất, phát triển kinh tế vùng bao gồm các hoạt động xây dựng lợi thế
cạnh tranh của vùng và của các doanh nghiệp trong vùng nhằm tạo thu nhập và việc làm Đó là các hoạt động được thực hiện bởi chính quyền địa phương, các hiệp hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp và các đối tượng khác nhằm xoá bỏ những cản trở
và giảm chi phí cho các doanh nghiệp, đẩy mạnh tính cạnh tranh của các doanh nghiệp và tạo ra lợi thế hơn hẳn cho từng địa phương và các doanh nghiệp thuộc vùng đó
Thứ hai, phát triển kinh tế vùng bao gồm tất cả các hoạt động nhằm khuyến
khích đầu tư tại vùng Quan điểm này dẫn tới tập trung thu hút các doanh nghiệp ngoài vùng vào đầu tư Tuy nhiên, nếu quan tâm quá mức tới khuyến khích đầu tư
từ bên ngoài mà thiếu chủ ý đến phát triển các doanh nghiệp địa phương nhất là sự
ra đời của các doanh nghiệp mới thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển vùng
Thứ ba, phát triển kinh tế vùng bao gồm tất cả các hoạt động nhằm cải thiện
phúc lợi của người dân địa phương Quan điểm này quá rộng, phát triển vùng là một vấn đề rộng lớn hơn so với phát triển kinh tế vùng, bởi còn bao gồm cả phát triển cộng
Trang 20Phát triển kinh tế vùng cần hướng tới mối quan hệ giữa chính quyền với khu vực tư nhân và các tổ chức phi lợi nhuận cùng với cộng đồng dân cư ở địa phương Phát triển kinh tế vùng tập trung vào khả năng nâng cao cạnh tranh và sự tăng trưởng bền vững Phát triển kinh tế vùng bao gồm nhiều hoạt động như xây dựng kế hoạch tổng thể, chính sách marketing, các chương trình phát triển kinh tế Nó cũng bao gồm nhiều chức năng khác nhau của chính quyền địa phương và khu vực tư nhân như lập kế hoạch, cung cấp cơ sở hạ tầng, phát triển bất động sản và tài chính Phát triển kinh tế vùng tập trung vào việc nâng cấp môi trường đầu tư tại địa phương đó nhằm tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao thu nhập ngân sách của địa phương
Thứ tư, phát triển kinh tế vùng không chỉ liên quan tới việc thu hút doanh
nghiệp mà còn liên quan tới việc phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh nhằm nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp và khuyến khích sự hình thành các doanh nghiệp mới Một trong những chiến lược chính là tập trung vào năng lực chính và chuyển giao ra ngoài những công việc không mang lại lợi thế cạnh tranh cho họ Điều này làm tăng cầu tại địa phương cho các nhà cung cấp, các tổ chức cung cấp dịch vụ và các tổ chức hỗ trợ Sự cạnh tranh giữa các vùng xuất hiện, do muốn giữ chân hoặc thu hút những doanh nghiệp nhằm tăng nguồn thu thuế và tạo việc làm
Do đó phát triển kinh tế vùng không chỉ liên quan đến việc hội nhập với thị trường bên ngoài mà còn liên quan tới sự xoá bỏ những lỗ hổng bên trong tại vùng
đó, nghĩa là khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm những nhà cung cấp khách hàng ngay tại địa phương của mình, tạo ra sự hợp tác nhằm gia tăng cơ hội kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng
Phát triển kinh tế vùng khác với phát triển kinh tế quốc gia ở một số khía cạnh sau:
Công cụ: Có nhiều công cụ khác nhau nhằm khuyến khích phát triển kinh tế
mà không nằm trong chương trình, sáng kiến của địa phương, vùng Chẳng hạn như tất cả các điều liên quan đến khuôn khổ chung (tỷ giá hối đoái, thuế suất, chính sách chống độc quyền và luật lao động)
Tác nhân: Chương trình phát triển kinh tế quốc gia được hình thành và thực
hiện bởi Chính phủ Các tác nhân phi Chính phủ thường tham gia vào quá trình chính sách Song về vấn đề thực hiện chính sách, họ thường là đối tượng hơn là những người thực hiện Tại cấp độ vùng, địa phương, các đề xuất phát triển kinh tế vùng có thể được đưa ra bởi tư nhân, không có sự tham gia của Chính phủ
Trang 21Quản lý: Trong các chương trình phát triển kinh tế quốc gia, thường xác định
rõ ràng vai trò giữa cơ quan Lập pháp và Hành pháp Các đề xuất và sáng kiến phát triển kinh tế vùng thường liên quan đến việc xác định vai trò các bên, và việc xác định vai trò các bên thường là một trong những thách thức lớn của các chương trình phát triển kinh tế vùng
1.2.2 Chính sách phát triển vùng và kinh nghiệm thực hiện chính sách vùng
của các nước ASEAN
1.2.2.1 Chính sách phát triển vùng
Như đã trình bày ở trên, chiến lược phát triển kinh tế cùng mục tiêu tăng trưởng nhanh đã có tác động lớn đến trật tự không gian kinh tế và tiêu chuẩn sống của con người Sự tập trung hoá các nguồn lực trong đó có yếu tố lao động và vốn cùng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nguyên nhân tạo ra sự khác nhau về phát triển Theo đó đã xuất hiện các trung tâm công nghiệp lớn bên cạnh các vùng chậm phát triển hoặc vùng tụt hậu về kinh tế Kết quả của việc tập trung các nguồn lực đã làm nảy sinh hai vấn đề: một mặt tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế tại vùng phát triển thông qua chuyển địch nguồn lực từ các vùng khác làm tiềm năng sản xuất của vùng này được tăng lên và qua đó thu hút đầu tư, mặt khác làm giảm tiềm lực và sự hấp dẫn thu hút đầu tư của các vùng còn lại dẫn đến chênh lệch về phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng Sự hình thành hai thái cực phát triển đó nếu không được can thiệp bằng các biện pháp kinh tế hữu hiệu sẽ gây lãng phí nguồn lực cho phát triển do không tận dụng được các nguồn lực này một cách tối đa gây nên những áp lực lớn về kinh tế xã hội Để giải quyết vấn đề này các quốc gia đã thực hiện các biện pháp chính sách khác nhau tuỳ theo điều kiện phát triển của mỗi nước, nhưng với mục đích chung là tạo cho các vùng có cơ hội phát triển kinh tế một cách toàn diện chứ không chỉ giới hạn ở một ngành hay một lĩnh vực kinh tế nào
Chính sách phát triển vùng là tổng thể các biện pháp được thực hiện nhằm
hỗ trợ phát triển và kích thích các hoạt động kinh tế - xã hội trong một vùng nhất định có khó khăn về phát triển kinh tế - xã hội do nhiều nguyên nhân gây ra trong
đó có hậu quả của chuyển đổi cơ cấu Qua đó tạo ra điều kiện thuận lợi hơn cho
phát triển kinh tế - xã hội, giảm bớt những bất lợi về địa lý, phát huy tiềm năng của vùng để đạt được các mục tiêu của nó
Chính sách phát triển vùng là một bộ phận của chính sách của quốc gia nên mục tiêu của nó phải nằm trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một nước tuỳ
Trang 22hình phát triển, điều kiện tự nhiên và xã hội, của mỗi nước khác nhau nên mục tiêu chính sách phát triển vùng cũng không đồng nhất giữa các nước Chính sách phát triển vùng có đặc điểm là hướng tới huy động tối đa các nguồn lực của tất cả các yếu
tố cho phát triển, trước hết ưu tiên khai thác và khuyến khích phát triển các tiềm năng sẵn có nhằm đạt ba mục tiêu sau:
Một là, mục tiêu tăng trưởng: Tăng trưởng là mục tiêu quan trọng nhất của
chính sách phát triển vùng Xét dưới góc độ của chính sách phát triển vùng thì tăng trưởng kinh tế vùng không nhất thiết phải bằng hoặc cao hơn tăng trưởng của các vùng đang phát triển mà đó là tăng trưởng kinh tế tương ứng đạt được thông qua phân bố tối ưu các yếu tố tăng trưởng tại vùng đó Tăng trưởng kinh tế vùng do thực hiện chính sách phát triển vùng có thể đạt được bằng cách điều chỉnh các yếu tố sản xuất theo hai cách: i) định hướng theo năng suất; 2i) định hướng theo tiềm năng
Chính sách phát triển vùng định hướng theo năng suất có xu hướng tạo ra các yếu tố sản xuất trong vùng sao cho chúng đạt được năng suất lao động cận biên cao nhất, trong khi chính sách phát triển vùng định hướng tiềm năng lại hướng tới việc tạo cho vùng có được các yếu tố tiềm năng nhất định quyết định đến sự phát triển của vùng Ví dụ xây dựng kết cấu hạ tầng vùng hoặc tăng độ tập trung, để thu hút nguồn vốn và lao động Kết quả của việc thực hiện chính sách phát triển vùng có thể đạt được tăng trưởng kinh tế vùng trong ngắn hạn hoặc dài hạn Một vùng đạt được tăng trưởng trong ngắn hạn nếu khối lượng hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra tăng lên thông qua áp dụng chính sách phát triển vùng, qua đó cải thiện sự phân bổ các nguồn lực và các yếu tố sản xuất Tăng trưởng dài hạn thực tế chỉ đạt được khi nhu cầu sử dụng hàng hoá và dịch vụ của vùng tăng lên hoặc tạo ra được những tiến
bộ về khoa học, công nghệ, Các biện pháp của chính sách phát triển vùng như hỗ trợ đầu tư tư nhân, khuyến khích đầu tư đã đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng trong dài hạn
Hai là, mục tiêu ổn định: Mục tiêu ổn định có ý nghĩa làm giảm những khó
khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu và trước nguy cơ suy thoái của vùng bằng cách tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý Thông qua các biện pháp khác nhau, chính sách phát triển vùng hỗ trợ các hoạt động tạo ra việc làm mới, ổn định việc làm đã có trong các vùng, hỗ trợ các hoạt động đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động Đối với mục tiêu ổn định của chính sách phát triển vùng thì con người là đối tượng và tư bản là công cụ để đạt được mục tiêu Có thể nói nguyên nhân chính dẫn
Trang 23đến di chuyển lao động giữa các vùng chính là do khác nhau về mức tiền lương thực
tế, do thiếu việc làm, vì vậy mục tiêu ổn định góp phần ổn định xã hội trong vùng
Ba là, mục tiêu phân phối thu nhập và cân đối sự phát triển: Mục tiêu này
nhằm nâng cao mức sống của người dân và giảm chênh lệch về thu nhập giữa các vùng Chính sách phát triển vùng giúp tạo ra sự cung cấp đồng đều hơn kết cấu hạ tầng cho các vùng và tạo sự phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng
Do tác động ngoại lai nên ba mục tiêu trên của chính sách phát triển vùng thường không đạt được trong cơ chế thị trường Xét dưới góc độ không gian các tác động ngoại lai thường nảy sinh do sự tập trung các nguồn lực dẫn đến hình thành các trung tâm công nghiệp và đô thị lớn Bên cạnh những ưu điểm như có kết cấu hạ tầng tốt, thị trường tiêu thụ rộng lớn các trung tâm này còn có những nhược điểm như tình trạng ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, sức ép về mật độ dân số, v.v Hơn nữa, sự tập trung nguồn lực quá mức dẫn đến không khai thác một cách hiệu quả các yếu tố sản xuất, đồng thời còn là nguyên nhân gây ra sự khác nhau về thu nhập với các vùng còn lại, qua đó gây mất cân đối về cơ cấu kinh tế vùng và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội Do vậy để giải quyết mặt trái này của cơ chế thị trường tự
do, chính phủ các nước đã can thiệp bằng cách thực hiện chính sách kinh tế vùng nhằm bảo đảm đạt được ba mục tiêu trên
Các biện pháp của chính sách kinh tế vùng đóng vai trò là phía cung tạo ra động lực hỗ trợ cho toàn bộ hoạt động kinh tế trong vùng thông qua các công cụ hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp của nó Từ mục tiêu của chính sách kinh tế vùng cho thấy,
nó còn góp phần bổ sung tích cực cho chính sách tăng trưởng, chính sách thị trường lao động, chính sách nông nghiệp, chính sách công nghệ, giáo dục, giao thông vận tải, cân đối tài chính ngang và dọc, v.v., thúc đẩy phát triển kinh tế và tạo tăng trưởng cho toàn bộ nền kinh tế
1.2.2.2.Kinh nghiệm của một số nước ASEAN về chính sách phát triển vùng
Từ thập kỷ 60 cho đến nay các nước ASEAN đã liên tục đạt được những thành tựu rực rỡ về kinh tế - xã hội, duy trì tăng trưởng kinh tế cao, ổn định kinh tế
vĩ mô, cải thiện đáng kể mức sống của đại đa số dân chúng
Mặc dù thành tựu kinh tế xã hội đã đạt được nhưng các nước này cũng phải đối mặt trước nhiều vấn đề như nghèo đói, di dân, khác biệt về phát triển giữa nông thơn và thành thị, giữa các vùng với mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào chiến lược
Trang 24đuổi chính sách phát triển “Tập trung vào mục tiêu tăng trưởng trước, phân phối lại sau” Với chiến lược phát triển này các nước gần như chỉ tập trung mọi nguồn lực nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá mà không chú trọng đến tác động của nó đến phát triển kinh tế xã hội nói chung và sự phân phối các thành quả lợi ích nói riêng giữa các vùng khác nhau Hu quả của chính sách đó là tạo nên sự mất cân đối trong phát triển vùng, làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế xã hội bao gồm:
- Tăng trưởng kinh tế không đồng đều giữa các vùng,
- Chênh lệch mức sống, tình trạng nghèo đói gia tăng,
- Các vấn đề về ô nhiễm môi trường do tốc độ đô thị hoá nhanh,
- Di dân từ các vùng nông thôn, vùng nghèo đến các thành phố, v.v.,
- Các vấn đề về thị trường lao động như thiếu lao động có kỹ năng để đáp ứng cho quá trình phát triển trong khi dư thừa sức lao động
- Là một trong các nguyên nhân tác động tiêu cực đến quá trình chuyển địch
cơ cấu trong nền kinh tế nói chung, cơ cấu ngành và vùng nói riêng
Trước những vấn đề nảy sinh trên các nước ASEAN đã sửa sai bằng cách thực hiện nhiều biện pháp chính sách khác nhau với mục tiêu chung đó là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại vùng nghèo, giảm sự chênh lệch về thu nhập giữa các vùng
và ngăn chặn tình trạng di dân quá nhiều từ nông thôn ra thành thị, từ các vùng nghèo tới các đô thị giàu hơn, phát triển kinh tế xã hội nông thôn Cái giá mà các nước này phải trả để sửa sai là không nhỏ nhưng không phải nước nào cũng thành công với chính sách của mình Sau đây là kinh nghiệm về phát triển vùng của một
số nước điển hình trong khối ASEAN, các biện pháp chính sách mà các nước đó đã
và đang thực hiện nhằm tiếp cận các mục tiêu của chính sách kinh tế vùng
1.2.2.2.1 Thái Lan
Trong hơn 3 thập kỷ, Thái Lan đã trải qua thời kỳ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tập trung thực hiện chính sách công nghiệp hóa nhanh theo mô hình “tăng trưởng theo cực” với những hoạt động và thành tựu kinh tế tập trung phần lớn ở thủ đô Băng Cốc và các tỉnh xung quanh Vùng thủ đô Băng Cốc chỉ chiếm 16,1% tổng dân số, nhưng chiếm tới 51,8 GDP của cả nước vào năm 1991 Bình quân GDP trên đầu người của vùng này cao gấp 5,6 lần so với vùng Đông Bắc là vùng nghèo nhất Thái Lan Nhằm điều chỉnh sự mất cân đối đó, từ những năm 90, Chính phủ Thái Lan đã có nhiều biện pháp như: Thực hiện chính sách phát triển vùng để khuyến khích thiết lập các cơ sở công nghiệp tại các vùng nghèo, nhằm giảm bớt sự chênh
Trang 25lệch về phát triển giữa các vùng, mặt khác, vẫn duy trì sự quản lý tập trung, đặc biệt tập trung đầu tư dịch vụ công cộng cho thủ đô Băng Cốc, thực hiện chính sách nông nghiệp có lợi cho người tiêu dùng thành thị Việc làm này đã làm cho thủ đô Băng Cốc và các tỉnh lân cận vẫn tiếp tục là trung tâm hấp dẫn đầu tư Ngoài ra, chính sách xuất khẩu lao động của Thái Lan cũng phần nào giải quyết được vấn đề lao động và thu nhập cho số lao động dư thừa, lao động không có tay nghề, qua đó tăng thêm lợi ích cho nền kinh tế nói chung, góp phần vào giải quyết sự mất cân đối về phát triển giữa các vùng Với số lao động xuất khẩu ra nước ngoài, trung bình hàng năm, số tiền chuyển qua ngân hàng xuất khẩu lao động đã đạt khoảng 1 tỷ USD và
có xu hướng tăng lên Nhiều nghiên cứu cho thấy, những người nghèo ở Thái Lan là người được hưởng nhiều nhất từ nguồn chuyển khoản này Chính phủ Thái Lan cũng đã giải quyết những thiếu hụt về lao động có kỹ năng bằng biện pháp du nhập
và khuyến khích lao động có tay nghề cao vào Thái Lan Chính sách này kết hợp với đầu tư cho giáo dục, đào tạo, và đây cũng là một trong những biện pháp dài hạn,
có tác động đến thị trường lao động theo hướng tích cực, gián tiếp ảnh hưởng đến
sự giảm chênh lệch về phát triển giữa Băng cốc và các vùng còn lại
1.2.2.2.2 Philipin
Do đặc thù về lãnh thổ chia cắt ngay từ đầu những năm 60, Chính phủ Philipin đã đưa vấn đề phát triển vùng là mục tiêu phát triển quốc gia Để thực hiện mục tiêu phi tập trung hóa trong việc hoạch định, thực hiện, ra quyết định đầu tư công cộng cho các vùng, Chính phủ Philipin đã thành lập Hội đồng phát triển vùng với chức năng lập kế hoạch phát triển trong từng vùng, Văn phòng phát triển vùng với chức năng giám sát và thực hiện các chương trình phát triển quan trọng do các cơ quan quốc gia thực hiện trong vùng Ngoài ra, còn thành lập một số cơ quan, chương trình
hỗ trợ cho việc xây dựng, thực hiện chính sách vùng, qua đó đã nâng cao hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ
Từ cuối những năm 80-90, Chính phủ Philipin đã thực hiện nhiều biện pháp kinh tế kết hợp thực hiện chính sách xã hội như chương trình xóa đói, giảm nghèo,
áp dụng chính sách khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo thêm việc làm, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng công nghệ sản xuất cần nhiều lao động, đẩy mạnh phát triển công-nông nghiệp ở nông thôn
Năm 1981, Luật đầu tư của Philipin đã khuyến khích thành lập doanh nghiệp tại các vùng kém phát triển dưới hai dạng: Cung cấp tín dụng có giá trị bằng 100%
Trang 26chi phí kết cấu hạ tầng cần thiết chịu thuế quan của doanh nghiệp và giảm thêm thuế thu nhập có giá trị bằng chi phí lao động trực tiếp đối với các hãng xuất khẩu
Từ năm 1989, Chính phủ Philipin đã thực hiện chính sách nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh hoặc hợp tác xã có trụ sở và hoạt động kinh doanh ở vùng nông thôn Các đơn vị kinh tế này sẽ được miễn tất cả các loại thuế của trung ương và địa phương, các loại phí liên quan đến việc cấp giấy phép kinh doanh và xây dựng Ngoài ra, chủ sở hữu hoặc thành viên của doanh nghiệp này còn được miễn thuế thu nhập đối với khoản thu từ hoạt động kinh doanh này, với ưu đãi được kéo dài trong thời gian 5 năm, kể từ khi đăng ký hoạt động Ngoài ra, Chính phủ Philipin còn thiết lập hệ thống ngân hàng nông nghiệp quy mô nhỏ, nhằm phục vụ các hộ nông dân và các doanh nghiệp ở nông thôn Để khuyến khích hoạt động của các ngân hàng này, Chính phủ đã trợ cấp bằng cách miễn thuế, thực hiện tỷ lệ tái chiết khấu thấp hơn so với ngân hàng thương mại, xây dựng nhiều chương trình tín dụng đặc biệt, nhằm phân bổ vốn cho khu vực nông nghiệp, quy định hạn ngạch tín dụng nông nghiệp, trong đó tất cả các ngân hàng phải dành 25% nguồn vốn có khả năng cho vay để phục vụ cho khu vực nông nghiệp Đồng thời thành lập quỹ tín dụng bảo đảm công nghiệp, trong đó, những người vay thuộc vùng chậm phát triển được hưởng tỷ lệ lãi suất ưu đãi thấp hơn 20% so với thị trường, thành lập quỹ tín dụng nông nghiệp tổng hợp, Quỹ tín dụng cho những người hành nghề tự do, Quỹ bảo lãnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ v.v
1.2.2.2.3 Malaixia
Khác với các nước như Thái Lan và Phiiippin, Chính phủ Malaysia đã nhận
ra sự khác biệt về phát triển vùng từ rất sớm và bắt tay vào cải thiện tình trạng đó từ
đầu những năm 70 bằng thực hiện Chính sách kinh tế mới Mục đích của Chính phủ Malaysia trong thực hiện Chính sách kinh tế mới là nhằm tăng trưởng kinh tế, phân
phối lại thu nhập công bằng hơn và tạo điều kiện về khả năng tạo việc làm, bao gồm mục đích tăng tỷ trọng lao động bản xứ trong các khu vực kinh tế lên bằng tỷ trọng lao động của các thành phần khác của cả nước và tăng cổ phần của người Malai trong các công ty cổ phần lên 2,4% từ 1970 đến 1990
Như vậy, hai mục tiêu trên của chính sách kinh tế mới có thể được coi là một công cụ nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận dân cư đang bị bất lợi
là một chính sách kinh tế mang ý nghĩa tác dộng vùng Ngoài ra, chính sách kinh tế mới còn khuyến khích sản xuất nông nghiệp bằng các biện pháp nhằm tăng năng suất trong nông nghiệp Tuy nhiên Chính sách kinh tế mới chỉ tập trung vào giải
Trang 27quyết cuộc sống nghèo khó ở các vùng nông thôn, đối tượng làm nông nghiệp là người bản xứ và ngườl Malai mà không chú ý đến các thành phần lao động khác ở nông thôn như công nhân đồn điền, mỏ không thuộc nhóm người này
Bên cạnh đó, Malaysia đã giải quyết vấn đề phát triển vùng bằng cách tiếp cận toàn diện đó là hỗ trợ phát triển các vùng nông thôn bằng cách khuyến khích hình thành các cơ sở công nghiệp ở cả thành thị và nông thôn Đồng thời Chính phủ
cũng thành lập Cơ quan phát triển đất liên bang Cơ quan này có nhiệm vụ thực
hiện các chương trình di dân có chủ định từ vùng khó khăn đến định cư tại các vùng
có đất đai màu mỡ hơn do cơ quan này thu xếp hoặc thông qua phát triển hoặc khôi phục lại các làng mạc ở nông thôn bằng cách cung cấp đầu vào và kết cấu hạ tầng nhằm tăng sự hấp dẫn và năng suất lao động của vùng Công cụ của Chính phủ để thực hiện chương trình di dân và khôi phục làng mạc là cấp tín dụng cho các cơ quan nhà nước, cung cấp nguồn lực cho các cơ quan này thiết lập các cơ sở công nghiệp thông qua ngân hàng thành một số cơ quan liên bang đảm nhận thực hiện chương trình
Mặc dù theo đuổi chiến lược “tăng trưởng trước, phân phối sau” nhưng việc chú trọng sớm đến sự mất cân đối trong phát triển vùng và thực hiện chính sách phát triển vùng theo cách tiếp cận toàn diện, đã giúp Malaysia tương đối thành công trong việc thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế vùng cho dù phải trả giá
1.2.2.2.4.Indônêxia
Từ những năm 1960 Chính phủ đã thực hiện chính sách tăng cường giáo dục
và tạo việc làm chủ yếu tại các vùng nông thôn, thành lập hệ thống đào tạo hướng nghiệp quốc gia do Viện đào tạo hướng nghiệp đảm nhận Công cụ của chính sách tạo việc làm ở khu vực nông thôn là tiến hành các chương trình quốc gia với nguồn tiền từ ngân sách và tiền viện trợ từ nước ngoài Mục tiêu của chương trình là tăng sản xuất lương thực, tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn và tăng thu nhập góp phần phân phối thu nhập công bằng hơn
Bên cạnh đó, chính phủ cũng xây dựng và cải tạo kết cấu hạ tầng nông thôn như đường sá, hệ thống thuỷ lợi Kết quả thực hiện cho thấy, số việc làm được tạo
ra trong giai đoạn 1969 - 1974 là 678.373 việc làm và giai đoạn 1979 - 1984 là 870.000 việc làm nhưng Chính phủ đã phải trả gần 170 triệu đôla Mỹ từ ngân sách chính phủ và nguồn viện trợ của Chính phủ Mỹ trị giá 11.650 USD Như vậy, chính phủ Inđônêxia đã giải quyết vấn đề phát triển vùng thông qua công cụ chính là thực
Trang 28trong khi chi phí là rất lớn, hơn nữa theo nhiều đánh giá thì chính sách này đã khiến nhiều vùng phụ thuộc nhiều vào các chương trình của Chính phủ, không phát huy được sức nội sinh của vùng đó, do đó tính bền vững của việc làm và thu nhập được tạo ra là thấp
Trong những năm gần đây, chính phủ đã thực hiện chương trình phi tập trung hoá nhằm tăng tính tự chủ hơn cho chính phủ các vùng và khuyến khích các tổ chức phi chính phủ là cơ quan trung gian làm cầu nối giữa Chính phủ và các vùng nghèo, khó khăn và hỗ trợ thực hiện các chương trình của chính phủ
1.2.2.2.5 Những bài học kinh nghiệm
Các phân tích trên cho thấy, các nước ASEAN đều phải đối mặt với vấn đề
về phát triển chênh lệch giữa các vùng và cùng có đặc điểm chung là đã thực hiện các chính sách và chương trình nhằm khắc phục tình trạng này nhưng với các cách tiếp cận rất khác nhau dẫn đến những thành công và thất bại cũng khác nhau Malaysia là nước thành công hơn cả trong việc thúc đẩy tăng trưởng vùng, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động trong các vùng khó khăn hay cho các nhóm người bất lợi hơn Các nước còn lại mặc dù đã có các chính sách kinh tế nhằm cải thiện vị trí địa lý của vùng như đầu tư vào hạ tầng, tăng cường giáo dục đào tạo, chính sách thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, v.v nhưng
do tính yếu kém của các chính sách đó cũng như chính sách ưu tiên cho các trung tâm công nghiệp bằng các chính sách kinh tế khác đã làm cho các biện pháp của chính sách kinh tế vùng không có tác dụng, điển hình là Thái Lan và Philippin Bên cạnh đó có một số chính phủ đã giải quyết vấn đề phát triển vùng bằng cách thực hiện các chương trình quốc gia, chính sách xã hội Tuy nhiên theo các phân tích và đánh giá thì chương trình quốc gia hầu như không đạt hiệu quả cao và tốn kém, kết quả của các chương trình có tính bền vững không cao do nhiều yếu tố Trong đó, các chương trình này ít dựa trên những cơ sở lý luận của việc thu hút đầu tư vùng
do đó không phát huy được tiềm năng và sức mạnh của mỗi vùng Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế vùng, địa phương của các nước ASEAN có giá trị tham khảo đối với nước ta như sau:
- Phát triển kinh tế vùng, địa phương không thể tách rời với phát triển kinh tế của quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế
- Phát triển kinh tế vùng, địa phương phải dựa trên lợi thế so sánh của vùng
và lãnh thổ so với các vùng và lãnh thổ khác Trong đó lợi thế về vị trí địa lý được
Trang 29đánh giá cao Đối với các nước đang phát triển, việc phát triển công nghiệp vẫn là chính sách ưu tiên trong phát triển kinh tế vùng và địa phương
- Phát triển kinh tế vùng và địa phương phải dựa trên cơ sở khai thác được nguồn lực của địa phương đồng thời phải thu hút được các nguồn lực của các vùng và địa phương khác (trong và ngoài nước) và phát triển kinh tế vùng và địa phương xử lý các quan hệ nội lực và ngoại lực
- Mỗi vùng và địa phương cần có chính sách phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm đặc thù của địa phương Phát triển kinh tế của địa phương đi sau cần tránh trở thành nơi thu hút "công nghiệp rác thải" của các đô thị hoặc khu vực kinh tế lớn gần đó Đồng thời các vùng và địa phương muốn đi nhanh hơn và đi trước so với các địa phương khác cần phải có những chính sách riêng thông thoáng hơn nhất là chính sách thu hút đầu tư
- Phát triển kinh tế vùng, địa phương không chỉ thu hút các nhà đầu tư từ bên ngoài mà còn là sự khuyến khích đầu tư, phát triển kinh doanh của dân cư trong vùng
- Phát triển kinh tế địa phương, vùng không thể không quan tâm tới giải quyết các vấn đề về môi trường, các vấn đề xã hội, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để phát triển bền vững
1.3 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG VÀ CÁC
VÙNG MIỀN NÚI
Vùng núi là nơi khởi nguồn của hệ thống sông suối cung cấp nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, đồng thời đây cũng là nơi chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, phục vụ đắc lực cho việc khai phá vì mục đích quốc kế dân sinh của con người Miền núi không những là nơi cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào cho sự sống, mà nó còn là cơ sở, hậu cứ vững chắc cho mọi cuộc kháng chiến dân tộc ta Ngay từ ngàn xưa ông cha ta đã biết dựa núi rừng để sống, để tồn tại, để lập nghiệp, để chiến đấu dựng nước và giữ nước Lịch
sử dân tộc đã để lại cho chúng ta ngày nay biết bao trang sử hào hùng, mà trong đó, thế mạnh của địa bàn hiểm trở và nguồn tài nguyên phong phú của núi rừng, trở thành nguồn dự trữ chiến lược cho các cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm của dân tộc Trong sự nghiệp đấu tranh chống lại 2 kẻ thù hùng mạnh nhất của thế kỷ 20, lại thêm một lần nữa, núi rừng hiểm trở lại trở thành những căn cứ địa vững chắc bảo vệ, chở che, nuôi nấng quân đội và nhân dân ta đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Trang 30Ngày nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò và vị trí miền núi lại càng thêm quan trọng Trong điều kiện thực tế về trình độ và tiềm lực của nền kinh tế Việt Nam, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ các vùng miền núi có ý nghĩa vô cùng
to lớn, nó không chỉ là một nguồn vốn đặc biệt quan trọng, mà còn là các vùng kinh
tế hàng hóa cung cấp nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị cho nền kinh tế Hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc khai thác, chế biến từ các vùng miền núi hàng năm lên đến hàng tỷ USD là một khoản thu tài chính rất lớn cho nền kinh tế, góp phần nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển
Đối với các tỉnh vùng Tây Bắc có vai trò rất quan trọng về địa chính trị, cả
về chính trị kinh tế, an ninh quốc phòng, vùng căn cứ địa cách mạng, nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống nhưng kinh tế kém phát triển, đời sống nhân dân nhiều khó khăn Nhận thức được tầm quan trọng đó, lãnh đạo các tỉnh đã ban hành các nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế- xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu
số Việc triển khai thực hiện các nghị quyết trên trong thực tế đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội vùng miền núi, nhiều địa phương đã thoát được nạn đói, đời sống người dân từng bước được cải thiện
Nhận thức rõ được tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của vùng miền núi đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, việc phát triển kinh tế xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cư dân các dân tộc trên địa bàn là một trong những nhiệm vụ quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã đề ra nội dung cụ thể hóa chính sách dân tộc hiện nay là ra sức giúp đỡ các dân tộc miền núi phát triển kinh tế
và văn hóa, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc đa số, thực hiện bình đẳng và đoàn kết vững chắc giữa các dân tộc để cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội
Tại Hội nghị lần thứ năm Trung ương (7-1961), khi bàn về vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn miền núi trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965)
đã chỉ rõ, “hướng phát triển nông nghiệp miền núi là giải quyết lương thực, đặc biệt phát triển mạnh chăn nuôi gia súc, phát triển các loại cây công nghiệp và cây ăn quả, phát triển việc trồng rừng và khai thác rừng” “biến nền kinh tế vốn tự cấp dần trở thành một nền kinh tế phát triển toàn diện và có nhiều sản phẩm hàng hóa Phát triển nông nghiệp miền núi, phải vừa chú ý vùng thấp, vừa chú ý đặc biệt vùng cao, có kế hoạch thích hợp cho từng vùng” Ngày 23 tháng 2 năm 1963, Bộ Chính
Trang 31trị đã ra Nghị quyết 71-NQ/TW về vấn đề phát triển nông nghiệp miền núi, khi nêu phương hướng phát triển nông nghiệp miền núi Nghị quyết đã chỉ rõ “Tính chất vùng của miền núi rất phức tạp, không những có vùng thấp, vùng giữa, vùng cao,
mà ngay trong mỗi vùng có tình hình khí hậu, đất đai, tập quán và kỹ thuật canh tác, thành phần dân tộc cũng khác nhau rất nhiều Trong khi lãnh đạo nông nghiệp ở miền núi, cần phải chí ý đến sự khác nhau từng vùng đó và phải đặc biệt chú ý đến việc chấp hành đúng chính sách đoàn kết dân tộc"
Sau Nghị quyết 71-NQ/TW (khoá III) của Bộ chính trị, các nghị quyết Trung ương 6 (khóa VI), Nghị quyết 22 (1989), Quyết định 72 (1990), Chỉ thị 525/TTg (1993), Chỉ thị 393/TTg (1996), Quyết định 133/CP Quyết định 135/CP (1998), Quyết định 134/CP (2004) đã xác định phương hướng phát triển kinh tế- xã hội vùng miền núi trong giai đoạn mới với tư tưởng chủ đạo là xây dựng cơ cấu kinh tế miền núi theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa, liên kết chặt chẽ với các vùng đồng bằng, ra sức phát huy thế mạnh vùng, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc sinh sống ở miền núi, đưa miền núi thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và chậm phát triển để hòa nhập chung cùng sự phát triển của đất nước trong sự nghiệp đổi mới, góp phần giữ gìn an toàn trật tự xã hội và an ninh quốc gia Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 7 khóa IX nhấn mạnh, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế- xã hội các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sơ hạ tầng, xóa đói giảm nghèo đế đến năm
2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày ngày 10/4/2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010), tiếp tục thực hiện các định hướng phát triển vùng của Chiến lược 10 năm 2001 - 2010 và các nghị quyết của Bộ Chính trị khoá IX về phát triển các vùng Bằng chính sách thích hợp tạo điều kiện cho tất cả các vùng trong cả nước phát triển nhanh hơn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý mỗi vùng và liên vùng; đồng thời, tạo ra sự liên kết giữa các vùng nhằm đem lại hiệu quả cao, phát triển nhanh và ổn định, có sức cạnh tranh; khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính “Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các vùng khó khăn, nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Bổ sung
Trang 32chính sách, khuyến khích các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh tại các vùng khó khăn”
1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÁC TỈNH THUỘC VÙNG TÂY BẮC TÁC ĐỘNG
ĐẾN VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.4.1 Đặc điểm địa - kinh tế
1.4.1.1 Các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nằm ở một vị trí có ý nghĩa rất quan trọng
trên phương diện địa - chính trị và địa - kinh tế
Vùng Tây Bắc hiện nay gồm 4 tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên Tính đến cuối năm 2007, Tây Bắc có 1 thành phố trực thuộc tỉnh (Điện Biên),
3 thị xã, 33 huyện, 26 phường, 30 thị trấn và 547 xã Tổng diện tích tự nhiên là 3.741.263 ha, chiếm gần 12% diện tích cả nước, là địa bàn cư trú của 2607 nghìn người (2006) gồm 50 dân tộc, chiếm gần 3% dân số cả nước Phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); phía Tây và Tây Nam giáp 2 tỉnh Luông Pha Băng và Phong
Xa lỳ của Lào với gần 2000km đường biên giới với Lào và Trung Quốc, phía Đông bắc giáp các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ; phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Thanh Hoá, Hà Tây
Với vị trí địa lý nêu trên, các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc có khả năng giao lưu kinh tế với Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng Bắc Bộ, có điều kiện mở rộng giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Vị trí địa lý nêu trên cũng đặt ra đặc thù phát triển kinh
tế và xây dựng hệ thống chính trị là phải gắn với bảo vệ an ninh biên giới, chủ quyền lãnh thổ; gắn giữa phát triển kinh tế, củng cố chính trị của từng vùng Tây Bắc
và Đông Bắc với quy hoạch phát triển thống nhất quốc gia, nhất là những liên kết giữa các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và thủ đô Hà Nội, xét trên
cả khía cạnh kinh tế và chính trị; gắn phát triển kinh tế nội địa với mở rộng kinh tế đối ngoại, nhất là quan hệ kinh tế với tỉnh Quảng Tây và tỉnh Vân Nam của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
1.4.1.2 Các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc có địa hình và địa chất phức tạp
Tây Bắc có địa hình hiểm trở, có những dãy núi cao như dãy Hoàng Liên Sơn dài 180 km, rộng 30 km, có đỉnh cao 2.000 m - 3.000 m; phía tây có 2 dãy núi
Pu Đen Đinh và Pu Sam Sao dài hơn 500 km, có đỉnh cao 1.800 m Giữa hai mạch núi này là vùng đồi thấp, nhưng bị chia cắt và dãy núi cao nguyên đá vôi dài 400
km, rộng 10 km - 25 km, độ cao 600m - 1.000m
Trang 33Giữa các dãy núi lớn có nhiều dãy nhỏ gần như vuông góc với các dãy núi chính, địa hình hiểm trở Vùng Tây Bắc có sông Đà với tổng lượng nước rất lớn (tổng lượng nước trung bình năm tại Hoà Bình là 53,3 km3), diện tích lưu vực 52.9000 km2 (phần Việt Nam 26.800 km2) dài 1.010 km (phần Việt Nam 570km), rất dốc, tạo dòng chảy mạnh (trữ lượng thuỷ năng điện lý thuyết ước đạt 59,3 tỷ kw/h) Khai thác tốt tiềm năng này không chỉ có ý nghĩa trên phương điện điện năng, mà còn trị thuỷ đối với đồng bằng Bắc Bộ Vùng này còn có các cánh đồng ở vùng thung lũng giữa núi (Mường Thanh); có cao nguyên Sơn La (đài 100 km, rộng
25 km), cao nguyên Mộc Châu
Điều kiện địa hình, địa chất nêu trên gây khó khăn nhiều mặt đối với các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc trong phát triển kinh tế hàng hoá, giao lưu giữa các miền; nhưng mặt khác, nếu biết khai thác lợi thế so sánh thì cũng có khả năng phát triển cây công nghiệp dài ngày và nghề rừng Địa hình chia cắt mạnh cũng gây khó khăn cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là nhà xa trung tâm bản, bản
xa trung tâm xã, xã xa trung tâm huyện và huyện xa trung tâm tỉnh, đòi hỏi phải xác lập địa giới hành chính lãnh thổ với quy mô dân số và diện tích phù hợp mới đảm bảo chỉ đạo nhanh nhạy, khắc phục các rào cản của điều kiện tự nhiên và giao thông kém phát triển Nó cũng đặt ra những yêu cầu đặc thù trong xây dựng đội ngũ cán
bộ, nhất là rèn luyện sức khoẻ, bản lĩnh, ý thức tránh nhiệm vượt qua trở ngại của địa hình chia cắt để đảm bảo gần dân, chỉ đạo, tổ chức nhân dân phát triển đời sống mọi mặt
1.4.1.3 Khí hậu và thổ nhưỡng của các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc cũng có nhiều
đặc điểm rõ rệt
Khí hậu vùng Tây Bắc có sự phân hoá sâu sắc cả về chiều ngang lẫn theo chiều thẳng đứng Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nó đóng vai trò như một bức tường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng Tây Bắc - Đông Nam) vượt qua để vào lãnh thổ vùng Tây Bắc Với đặc điểm đó, nên trừ khi do ảnh hưởng của nhiệt độ cao, khí hậu Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc và thường thì chênh lệch từ 2o-3oC Lượng mưa phân bố không đều tập trung vào 5 tháng từ tháng 4 đến tháng 8, các tháng còn lại không có mưa nên đất đai khô cằn, thiếu nước, dễ cháy rừng, nhất là 4 tháng 12, 1, 2, 3 hầu như không có mưa, nên Tây Bắc có nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, xã hội
Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng là 3.610.140 ha, chiếm 10% diện tích cả
Trang 34Châu 4,4% và Điện Biên 14,3%), thấp nhất so với 7 vùng khác của cả nước 28,9% (ĐBSH 28,9%; Đông bắc bộ 14,3%; Bắc Trung bộ 14,7%; Duyên hải Nam Trung
bộ 16,6%; Tây Nguyên 24,4%; Đông Nam bộ 50,1%, Đồng bằng Sông Cửu Long 74,5%) Đồi núi rừng chiếm nhiều diện tích nhưng chủ yếu và đất trống đồi núi trọc còn đất lâm nghiệp chỉ chiếm 36,3% so với 37,7% cả nước và 45,6% Đông Bắc Bộ; 45,2% Bắc Trung bộ, 37,1% Duyên hải nam trung bộ; 56,1% Tây Nguyên,29,7% Đông Nam bộ và 9,3% của Đồng bằng Sông Cửu Long) Đất ở chiếm 0,4% đất tự nhiên, thấp nhất cả nước (1,4%)
Lai Châu là tỉnh nghèo nhất trong vùng với diện tích đất tự nhiên rộng 907 nghìn ha, nhưng đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 77 nghìn ha, chiếm 8,49%, trong
đó đất lúa chỉ có 28,9 nghìn ha, chiếm 40,8% đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp 360 nghìn ha, trong đó chỉ có 35 nghìn ha rừng sản xuất, chiếm 9,7% (35/360) Đất hoang hoá, đồi núi trọc 451 nghìn ha, chiếm gần 50% diện tích đất tự nhiên Đất đồi núi chưa sử dụng 439 nghìn ha chiếm 97% diện tích đất chưa sử dụng Núi đá không có cây l l,5 nghìn ha chiếm 2,6% diện tích chưa sử dụng Đất bằng chưa sử dụng có hơn l nghìn ha chủ yếu do thiếu nước Huyện Mường Tè có 367 nghìn ha đất tự nhiên, nhưng chỉ có 9,4 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp, chiếm 2,6% diện tích tự nhiên Trong khi đó diện tích đất chưa sử dụng có 188 nghìn ha chiếm 51% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là đồi núi trọc, núi đá không có cây Đất lâm nghiệp
có 165 nghìn ha nhưng chỉ có 27 nghìn ha rừng sản xuất, chiếm 16%; l 10 nghìn ha rừng phòng hộ
Đất đai Tây Bắc tuy rộng nhưng chất lượng đất nghèo, độ dốc lớn (từ 250 trở lên, gây trở ngại cho canh tác nông nghiệp, nhất là trong tình trạng rừng bị tàn phá); địa hình phức tạp, đất chưa sử dụng chiếm tỷ trọng lớn khoảng 50% Độ che phủ của đất rừng thấp, đất bạc màu, đồi núi trọc chiếm tỷ lệ lớn Quỹ đất nông nghiệp ít, nhất là đất trồng lúa nước Đất canh tác nông nghiệp chủ yếu là những thung lũng ruộng bậc thang và những cánh đồng nhỏ, hẹp, xen giữa những đãy núi cao, nhưng
ở đây còn có những cao nguyên với diện tích đồng cỏ chiếng khoảng 60% diện tích đồng cỏ cả nước, có khả năng phát triển chăn nuôi gia súc và đại gia súc Thế mạnh của miền núi phía Bác, mà thế mạnh ở đây là phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu quý, hiếm, đồng thời phát triển chăn nuôi trang trại gia đình với các quy mô vừa và nhỏ Sông suối nhiều, độ dốc cao nên lưu lượng nước trong mùa mưa lớn vừa có tiềm năng phát triển thuỷ điện nhưng cũng nguy cơ gây
Trang 35lũ lụt, xói mòn đất, sạt lở núi cho các tỉnh trong vùng và các tỉnh ở dưới hạ lưu Sông Hồng Giao thông thuỷ rất khó khăn
Khí hậu và thổ nhưỡng nêu trên đòi hỏi trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế phải nắm vững đặc điểm cụ thể để xác định giải pháp tác động hợp lý Phát
triển kinh tế các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc phải đi từ lợi thế so sánh trên cơ sở xác
định đặc thù của điều kiện tự nhiên, đặc biệt là khí hậu và thổ nhưỡng có tác động rất lớn đối với một vùng mà sản xuất nông nghiệp là chủ yếu
1.4.1.4 Thảm thực vật ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc có một số loại gỗ quý hiếm,
có giá trị kinh tế cao
Thảm thực vật ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc có một số loại gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như: lát, chò chỉ, nghiến, táu, pơmu ; các cây đặc sản như: cánh kiến đỏ, song, mây, tre, nứa cho sản lượng lớn hàng năm Tuy nhiên trong tổng diện tích 3.563.700 ha của cả vùng, đất có diện tích rừng năm 2002 chỉ còn l.144.500 nghìn ha đến cuối 2003 là l.330.700 ha (trong đó có 1.208.400 ha rừng tự nhiên tái sinh và 122.400 ha rừng trồng mới, độ che phủ năm 2002 mới đạt 32,l%), 37,3% năm 2003
Bảng 1.1: Diện tích rừng hiện có các tỉnh vùng Tây Bắc năm 2006
Đơn vị tính: Nghìn ha
Chia ra
Tổng diện tích Rừng tự
2000 đến 2003 là 172,6 ha trong đó riêng năm 2003 rừng đã bị cháy 1220 ha, gắn liền với nó là sự suy giảm tới mức báo động của các loại lâm sản và động vật quý hiếm làm mất cân bằng sinh thái, hiện tượng lũ lụt, xói mòn đất, sạt lở, lũ quét vào mùa mưa
Trang 36Tây Bắc là vùng cung cấp dược liệu chủ yếu cho cả nước như ích mẫu, hy thiêm, ba kích, thiên niên kiện, ngũ gia bì, chân chim, cát sâm, thổ phục linh, bách
bộ, hoài sơn, hà thủ ô đỏ, đẳng sâm, hoàng tinh, mộc hương, xuyên khung, đỗ trọng, gấu tầu, tam thất, ý dĩ, thảo quả Đây là tài nguyên không những ảnh hưởng đến mình vùng Tây Bắc, mà nó còn là rừng đầu nguồn bảo vệ cho sự an toàn của cả khu vực đồng bằng Sông Hồng rộng lớn
Hệ thống thủy văn ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc được hợp thành bởi các
sông lớn và nhỏ trước khi chảy xuống đồng bằng và đổ ra biển Những con sông bắt nguồn từ các dãy núi cao, địa hình có độ dốc lớn Các yếu tố này làm cho hệ thống các sông ở đây thường dốc, chảy xiết, lắm thác, nhiều ghềnh và là vùng có tiềm năng lớn về thuỷ điện, chiếm 56% trữ năng thuỷ điện của cả nước Với hệ thống sông suối dày đặc là nguồn cung cấp nước dồi dào đáp ứng nhu cầu xây dựng các
hồ chứa lớn phục vụ thuỷ lợi và các nhà máy thủy điện công suất lớn như: nhà máy
thuỷ điện Hoà Bình lớn nhất Đông Nam Á công suất thiết kế 1.920 MW, thuỷ điện
Thác Bay, hồ Hồng Sạt ở Điện Biên Theo kế hoạch thuỷ điện Sơn La xây dựng từ
2005 và hoàn thành vào năm 2010 với công suất 2.400- 3.600 MW nhằm có nguồn điện mới phục vụ trong nước và xuất khẩu, đồng thời có thể điều hoà nước cho thuỷ điện Hoà Bình Ngoài ra tại đây còn có thể xây dựng hàng loạt các công trình thủy điện vừa và nhỏ phục vụ sinh hoạt và đời sống của đồng bào các dân tộc trong vùng
Hiện nay, hệ thống rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề đã ảnh hưởng rất lớn đến cân bằng sinh thái, đến sản xuất, lưu thông hàng hoá và đời sống của đồng bào các dân tộc Đó là hiện tượng xói mòn, đất bị cuộn trôi, hàng năm bình quân có tới
150 - 350 tấn đất mầu/ha bị cuốn trôi, kéo theo sạt lở lũ quét, bồi lấp, tàn phá cơ sở
hạ tầng, gây lụt lội, hạn hán, mất cân bằng sinh thái Các đợt lũ quét ở Lai Châu, Điện Biên, Sơn La trong vài năm liên tục đã gây thiệt hại lớn đến người và của, đồng thời trữ lượng nước ở các hồ thủy điện ngày càng thất thường
1.4.1.5 Các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc là vùng có tài nguyên khoáng sản lớn
Hiện có 117 điểm quặng phân bố ở 4 tỉnh với 33 mỏ đã xác định, gồm: Than, sắt, măng gan, niken, đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, đất hiếm, baric prit, vàng, nước khoáng, đá vôi, đất sét trong đó đất hiếm chiếm gần 100% trữ lượng của cả nước
Ở Hoà Bình có các loại khoáng sản kim loại như vàng, sắt, đồng, chì, kẽm, bôxit; khoáng sản phi kim loại như photphorit trữ lượng khoảng 250.000 tấn, đá vôi trữ lượng 200 triệu tấn, cao lanh trữ lượng khoảng 500.000 tấn, đất sét chất lượng tốt, đá
Trang 37ốp lát có nhiều mầu sắc đẹp và có độ bền cao, nguồn nước khoáng Kim Bôi có trữ lượng rất lớn với khoảng 300 triệu lít/năm đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
Lai Châu có nguồn tài nguyên khoáng sản như chì, đồng, vàng, than, đất hiếm ở huyện Phong Thổ có trữ lượng khoảng 9 triệu tấn; Điện Biên có mỏ than mỡ
Na Sang với trữ lượng 156.000 tấn; cao lanh ở mỏ Huổi Pha có trữ lượng khoảng 51.500 tấn
Sơn La tài nguyên khoáng sản cũng khá phóng phú và đa dạng với 86 điểm quặng và mỏ khoáng sản với quy mô khác nhau thuộc nhóm nhiên liệu (có 10 mỏ than phân bố chủ yếu ở Mộc Châu, trong đó có mỏ than Suối Bàng có trữ lượng 2,46 triệu tấn), về khoáng sản kim loại có: mỏ sắt Pi Toong Mường La trữ lượng 50.300 tấn, hàm lượng sắt trong quặng lừ 10 - 45%; mỏ Niken - đồng Mường Khoa trữ lượng đồng 40-000 tấn, niken 119.000 tấn; vàng được phân bố rộng rãi chủ yếu
là vàng sa khoáng; Khoáng sản phi kim loại như đá vôi bọt tan, cao lanh, nước khoáng, nước nóng
Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa và đáp ứng nhu cầu xuất khẩu
Các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc cũng là vùng có nhiều tiềm năng du lịch Tại
đây có nhiều phong cảnh tự nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, thơ mộng và đầy sức quyến rũ như: Hồ, hang động, đảo trên hồ, rừng nguyên sinh, các khu di tích lịch sử đã được xếp hạng nổi tiếng như Điện Biên Phủ, nhà tù Sơn La, di tích văn hoá và vốn văn hoá truyền thống của các dân tộc, các cảnh quan thiên nhiên Đây là tiềm năng to lớn cho phát triển nhiều loại hình du lịch (du lịch sinh thái, du lịch văn hoá - lịch sử) với các đối tượng khác nhau và có khả năng tiếp nhận số lượng khách du lịch lớn ở
cả trong và ngoài nước nếu được đầu tư, nâng cấp cũng như biết khai thác và sử dụng hợp lý
1.4.1.6 Kết cấu hạ tầng của các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc thuộc loại yếu kém
nhất cả nước
Về đường giao thông, có 1300 km đường quốc lộ, lòng đường tương đối rộng
và nền đường phần lớn đã được cứng hoá bằng đá, nhưng phần lớn mặt đường rất xấu, xe cộ đi lại hết sức khó khăn, tỷ lệ mặt đường rải nhựa chỉ chiếm khoảng 9% Đường tỉnh, đường huyện, đường xã phần lớn là đường hẹp, nền, mặt đường hầu hết
Trang 38Giao thông tuyến trục dọc còn thiếu và xấu nhưng các trục giao thông tuyến ngang thì hầu như chưa phát triển nên việc giao lưu kinh tế và sự đi lại của nhân dân trong vùng rất khó khăn, hầu hết phải đi vòng Tuy có đường thuỷ, đường hàng không
nhưng chưa được khai thác triệt để do thiếu vốn đầu tư Về thuỷ lợi và cấp nước
cũng còn nhiều yếu kém, hầu hết là những công trình vừa và nhỏ, tạm cung cấp nước tưới cho lúa là chủ yếu, chưa cung cấp được nước tưới cho cây trồng khác Công tác thuỷ lợi chưa thể đảm bảo cho nông nghiệp phát triển Việc cấp nước sinh hoạt hầu hết là tự chảy, ngay các thị xã cũng chưa có hệ thống cung cấp nước hợp
vệ sinh, dân cư khu vực nông thôn dùng nước suối để ăn uống tắm giặt là chủ yếu Mấy năm gần đây, do có chương trình nước sạch nông thôn, nước sinh hoạt vùng cao nên số lượng bể chứa nước được xây dựng nhiều, tuy nhiên nước sinh hoạt vẫn đang còn khó khăn cho vùng cao, sâu, xa Về điện, phần lớn khu vực nông thôn chưa có điện, thông tin liên lạc chưa phát triển, cơ sở giáo dục, y tế còn thiếu nhiều,
đơn sơ và lạc hậu Về phủ sóng phát thanh - truyền hình: đến nay cả nước về cơ bản
đã được phủ sóng truyền hình, ở miền núi đạt 74% số xã sóng phát thanh về cơ bản
đã phủ khắp các địa bàn lãnh thổ, đài trung ương cũng như đài địa phương đã có chương trình phát tiếng dân tộc, truyền thông kịp thời những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến đồng bào các dân tộc miền núi Tuy nhiên, một số tỉnh ở Tây Bắc tỷ lệ phủ sóng còn thấp, cần phải được đầu tư nhiều hơn nữa trong thời gian tới
1.4.2 Đặc điểm xã hội - nhân văn
1.4.2.1 Các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc là địa bàn đất rộng, người thưa, tác động
không nhỏ đến tổ chức phát triển kinh tế - xã hội
Các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc chiếm gần 12% diện tích đất tự nhiên cả nước,
trong đó dân số chiếm chiếm 2,82% dân số cả nước Vì vậy, đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã) thường có diện tích lớn hơn nhiều lần đơn vị hành chính tương ứng
ở đồng bằng, ven biển Địa bàn rộng, do đó tỉnh lỵ cách xa huyện lỵ; huyện lỵ cách
xa các trung tâm xã; trung tâm xã cách xa các bản
Dân cư vùng Tây Bắc phân bố không đều theo tỉnh và biến đổi theo thời gian Hiện tại, mật độ dân số là 69 người/km2, thấp nhất trong 8 vùng sinh thái và chỉ bằng 27,4% mật độ dân số chung của cả nước 254 người/km2 và bằng 47% vùng Đông Bắc bộ Mật độ dân số của các tỉnh như sau cao nhất là Hoà Bình 175 người/km2, Sơn La 71 người, Điện Biên 48 người và Lai Châu 35 người
Trang 39Dân cư thưa thớt, sống phân tán Đơn vị cư trú cơ bản là bản/làng thường rất
ít người; ít bản có trên 200 hộ; phần lớn quy mô bản khoảng dăm chục hộ, thậm chí
có bản chỉ 7-8 hộ Các hộ lại sinh sống cách xa nhau; có nơi mỗi hộ ở vài ba đồi, cách nhau hàng cây số Đặc điểm này khiến cho hoạt động kinh tế và tổ chức xã hội khó tạo được những phong trào hoạt động có quy mô đông người; công tác tuyên truyền, vận động tốn nhiều công sức, thời gian và lực lượng tham gia Do đó, bản/làng có vị trí đặc biệt quan trọng trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế và lãnh đạo - quản lý, là “cầu nối” trực tiếp giữa hệ thống chính trị các cấp với đồng bào các dân tộc
1.4.2.2 Các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc là địa bàn tập trung nhiều nhất các dân tộc
thiểu số ở nước ta, trình độ dân trí và kinh tế thấp, hình thái cư trú và sắc thái văn hoá có những đặc thù
- Các dân tộc cư trú phân tán và xen kẽ nhau: Đặc điểm dân số học đáng
chú ý ở các tỉnh vùng Tây Bắc là có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao nhất cả nước, chiếm trên 50% tổng số người dân tộc thiểu số; các dân tộc có dân số đông là Kinh, Mường, Thái, Dao, H'Mông, Tày, Nùng, Dao Trong đó, dân tộc Kinh sống tập trung nhiều nhất ở Hoà Bình với 31% dân số của tỉnh; ở Lai Châu chiếm 19,36% dân số của tỉnh; dân tộc Thái sống nhiều nhất ở Sơn La chiếm 55,22% dân số của tỉnh; ở Lai Châu chiếm 35,75% dân số của tỉnh; dân tộc H’Mông sống nhiều nhất ở Lai Châu chiếm 25,13% dân số của tỉnh và sống rải rác hầu như ở khắp nơi trên các đỉnh núi cao; dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở Hoà Bình, chiếm 60,3% dân
số của tỉnh Ngoài ra còn rất nhiều các dân tộc khác như Khơ Mú, Dao, Hà Nhì, Xinh Mum, Lào, La Ha, Mỗi dân tộc chỉ có vài vạn người, thậm chí có dân tộc chỉ
có vài nghìn người hoặc vài trăm người sống xen kẽ với các dân tộc khác Tính chất
đa sắc tộc của dân cư Tây Bắc làm nổi bật tính đa dạng trong bản sắc văn hoá các dân tộc của vùng
Việc cư dân các tộc người sống xen kẽ đặt ra yêu cầu trong phát triển kinh tế phải nắm vững tập quán sản xuất, canh tác; trong hoạt động của hệ thống chính trị phải bao quát được đặc điểm tộc người để định ra các quyết sách chính trị đúng đắn, phù hợp, xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ phù hợp tỷ lệ dân cư trong từng địa bàn, tránh các biểu hiện trọng thị dân tộc này, kỳ thị dân tộc khác Mặt khác, việc điều tiết, phân bố thành phần dân cư các dân tộc ở từng vùng cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp phục vụ nhu cầu phát triển
Trang 40- Các dân tộc thiểu số ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc có trình độ dân trí, kinh tế thấp và phát triển không đều giữa các dân tộc và giữa các tiểu vùng, dân tộc
Kinh, dân tộc Thái trình độ dân trí có khá hơn Số người được đào tạo là người các dân tộc ít người còn quá ít, trình độ văn hoá giữa các dân tộc khá chênh lệch, người Kinh hầu như không còn người mù chữ, số người có trình độ văn hoá cấp một, cấp hai cũng tương đối nhiều, còn chiếm khoảng 70 - 80%, số có trình độ văn hoá cấp I, cấp II thì rất ít Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức cao (3,1% năm) Hiện nay còn 49,6% số người trong độ tuổi lao động còn mù chữ, số người được đào tạo có trình
độ cao đẳng và đại học so với cả nước chỉ chiếm 1,7%, đang là trở ngại lớn trong quá trình đổi mới và tiếp thu khoa học, kĩ thuật, chuyển giao công nghệ vào sản xuất và phát triển kinh tế xã hội của vùng
- Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp và đứng trước nhiều khó khăn Tuy
mấy năm gần đây kinh tế của các tỉnh đã có khởi sắc, xuất hiện một số điển hình làm ăn khá là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của vùng, sản xuất nông lâm, công nghiệp và dịch vụ phát triển, đời sống nhân dân có sự cải thiện, an ninh quốc phòng giữ vững Tuy nhiên kinh tế Tây Bắc phát triển chậm nhất so với nhiều vùng trong cả nước, và có nhiều khó khăn gay gắt Tổng GDP năm 20055 mới chiếm 1,73% so với cả nước, GDP/người chỉ bằng 61,1% so với mức trung bình của
cả nước, tỷ lệ huy động ngân sách và tích luỹ đầu tư từ GDP đều thấp so với cả nước Thu không đủ chi, tỉnh thu ngân sách cao nhất như Hoà Bình cũng mới đảm bảo được 49% của chi, còn tỉnh thu thấp như Lai Châu chỉ đảm bảo được 15% của chi thường xuyên, số ngân sách thiếu hụt phải trông chờ hỗ trợ của Trung Ương Cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm, tỷ trọng nông lâm nghiệp còn lớn (59%), công nghiệp, xây dựng, dịch vụ chiếm có 29,7% Công nghiệp nhỏ bé (trừ thủy điện Hòa Bình) nên chưa có tác động nhiều đến nông - lâm nghiệp Số lượng, giá trị hàng hoá xuất
ra khỏi vùng còn ít, chủ yếu là xuất nguyên liệu, số lượng mặt hàng ít, sức cạnh tranh kém, sản xuất nông lâm nghiệp tuy có tiến bộ nhưng vẫn còn lạc hậu so với nhiều vùng, phương thức canh tác nương rẫy, chọc lỗ bỏ hạt vẫn còn tồn tại trong một số dân tộc, nên năng suất nông nghiệp còn thấp, chỉ bằng 40 - 50 % so với mức trung bình của cả nước Phân công lao động chưa có chuyển biến tích cực, lao động nông lâm nghiệp còn chiếm tới 85,4%, là vùng đất rộng, người thưa nhưng còn tới 9,3% lao động chưa có việc làm, thương mại dịch vụ chưa phát triển Những nơi có cửa khẩu, chưa được phát huy Các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoạt động yếu; du lịch tuy có tiềm năng nhưng chưa được khai thác phát triển Công tác giáo