1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN

20 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 49,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Khái niệm Luật biển quốc tế. Lịch sử hình thành và phát triển của Luật biển quốc tế: • Khái niệm Luật biển quốc tế: Luật biển quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc và các quy phạm pháp lý quốc tế được thiết lập bởi các quốc gia trên cơ sở thải thuận hoặc thông qua thực tiễn có tính tập quán nhằm điều chỉnh chế độ pháp lý các vùng biển và quan hệ phát sinh trong các hoạt động sử dụng biển vì mục đích hòa bình cũng như bảo vệ môi trường biển và hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong các lĩnh vực này. • Lịch sử hình thành và phát triển:  Trước năm 1930: Thuyết Res nullis: + Biển cả không phải của riêng quốc gia nào, do vậy ai muốn làm gì tại đó cũng được. + Đại diện quyền lợi cho các nước lớn, tuy nhiên, khó có thể áp đặt trên đó một trật tự pháp lý, không có sự công bằng bình đẳng trong sử dụng và khai thác biển. Thuyết Res communis: + Biển cả là của chung, là đối tượng vật chất mà bất cứ quốc gia nào cũng có quyền sử dụng. + Học thuyết này là hạt nhân hợp lý để sau này, Luật biển quốc tế hình thành tư tưởng: biển phải được “đặt dưới một trật tự pháp luật, một sự cảnh sát quốc tế, một nền tư pháp quốc tế”. Biển tự do: + Các quốc gia có quyền tự do thương mại quốc tế, trong đó biển cả là điều kiện tự nhiên để phục vụ cho quyền cơ bản này của các quốc gia. Biển đóng: + Đây là quan điểm do luật gia người Anh đưa ra vào năm 1635 nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền của vua Anh trong việc thực hiện chủ quyền trên các vùng biển bao quanh nước Anh.  Hội nghị Luật biển đầu tiên (133 – 1241930 tại Lahay): Gồm 47 quốc gia tham gia. Đề cập đến những vấn đề pháp lý quan trọng: Nguyên tắc tự do hàng hải, các vấn đề về đường cơ sở, về quyền đi lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài và chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải. Công nhận lãnh hải của các quốc gia rộng ít nhất là 3 hải lý và là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia; hình thành quy định về tiếp giáp lãnh hải.  Hội nghị Luật biển lần thứ nhất của Liên hợp quốc (242 – 2941958 tại Gionevo):

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN

Câu 1: Khái niệm Luật biển quốc tế Lịch sử hình thành và phát triển của Luật biển quốc tế:

Khái niệm Luật biển quốc tế:

Luật biển quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc và các quy phạm pháp lý quốc tế được thiết lập bởi các quốc gia trên cơ sở thải thuận hoặc thông qua thực tiễn có tính tập quán nhằm điều chỉnh chế độ pháp lý các vùng biển và quan hệ phát sinh trong các hoạt động sử dụng biển vì mục đích hòa bình cũng như bảo vệ môi trường biển và hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong các lĩnh vực này

Lịch sử hình thành và phát triển:

Trước năm 1930:

- Thuyết Res nullis:

+ Biển cả không phải của riêng quốc gia nào, do vậy ai muốn làm gì tại đó cũng được

+ Đại diện quyền lợi cho các nước lớn, tuy nhiên, khó có thể áp đặt trên đó một trật tự pháp lý, không có sự công bằng bình đẳng trong sử dụng và khai thác biển

- Thuyết Res communis:

+ Biển cả là của chung, là đối tượng vật chất mà bất cứ quốc gia nào cũng có quyền sử dụng

+ Học thuyết này là hạt nhân hợp lý để sau này, Luật biển quốc tế hình thành

tư tưởng: biển phải được “đặt dưới một trật tự pháp luật, một sự cảnh sát quốc tế, một nền tư pháp quốc tế”

- Biển tự do:

+ Các quốc gia có quyền tự do thương mại quốc tế, trong đó biển cả là điều kiện tự nhiên để phục vụ cho quyền cơ bản này của các quốc gia

- Biển đóng:

+ Đây là quan điểm do luật gia người Anh đưa ra vào năm 1635 nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền của vua Anh trong việc thực hiện chủ quyền trên các vùng biển bao quanh nước Anh

Hội nghị Luật biển đầu tiên (13/3 – 12/4/1930 tại Lahay):

- Gồm 47 quốc gia tham gia

- Đề cập đến những vấn đề pháp lý quan trọng: Nguyên tắc tự do hàng hải, các vấn đề về đường cơ sở, về quyền đi lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài

và chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải

- Công nhận lãnh hải của các quốc gia rộng ít nhất là 3 hải lý và là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia; hình thành quy định về tiếp giáp lãnh hải

Trang 2

Hội nghị Luật biển lần thứ nhất của Liên hợp quốc (24/2 – 29/4/1958 tại Gionevo):

Kết quả là sự ra đời 4 công ước:

- Công ước về lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải

- Công ước về biển cả

- Công ước về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển cả

- Công ước về thềm lục địa

Pháp điển hóa nhiều nguyên tắc và quy phạm của Luật tập quán về biển Song, những công ước này lại thất bại trong việc thống nhất bề mặt lãnh hải, trong việc xây dựng khái niệm khoa học về thềm lục địa, không thể hiện được lợi ích của các nước vừa và nhỏ

Hội nghị Luật biển lần thứ hai của Liên hợp quốc (17/3 – 26/4/1960 tại Gionevo):

- Gồm 87 quốc gia và quan sát viên của 24 tổ chức quốc tế chuyên môn nhưng không thu được kết quả khả quan như trông đợi của nhiều nước tham gia

Hội nghị Luật biển lần thứ ba của Liên hợp quốc (12/1973 – 12/1982 tại New York):

- Là một sự kiện lịch sử quan trọng trong việc phát triển tiến bộ và pháp điển hóa Luật quốc tế nói chung và Luật biển quốc tế nói riêng

- Các vấn đề cần được giải quyết bao gồm: thiết lập và thống nhất chiều rộng lãnh hải là 12 hải lý; đảm bảo sự qua lại tự do cho các tàu bè trên các eo biển dùng cho hàng hải quốc tế; giải quyết vấn đề đánh bắt cá; thiết lập vùng đặc quyền kinh

tế với chiều rộng 200 hải lý; bảo đảm tự do hàng hải và nghiên cứu khoa học biển

ở vùng biển cả; xác định ranh giới ngoài và chế độ pháp lý của thềm lục địa; thiết lập quy chế đáy biển ngoài thềm lục địa và thành lập tổ chức quốc tế về tài nguyên

ở đáy biển này; thông qua các quy phạm nhằm ngăn ngừa sự ô nhiễm biển

- Công ước quốc tế về Luật biển được kí chính thức vào ngày 10/12/1982 và

có hiệu lực từ ngày 16/11/1994

Câu 2: Khái niệm Luật biển Việt Nam Lịch sử hình thành và phát triển của Luật biển Việt Nam:

Khái niệm Luật biển Việt Nam:

Luật biển Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc xác định các vùng biển, hoạt động trong vùng biển, phát triển kinh

tế biển, quản lý biển, đảo

Lịch sử hình thành và phát triển:

Thời kỳ trước năm 1884:

Trang 3

- Các nhà nước phong kiến Việt Nam đã quan tâm đến việc khai thác và quản

lý biển: chủ yếu là tổ chức khai thác các nguồn lợi từ biển như mở cửa thông thương với các nước khác (Vân Đồn, Hội An)

- Sự phát triển thương mại thông qua đường biển đòi hỏi phải triển khai các hoạt động tương ứng nhằm quản lý biển và chống nạn cướp biển trên các cảng biển tiếp giáp với đất liền và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Thời kỳ thuộc Pháp (1884-1954):

- Ngay sau khi thiết lập chế độ thuộc địa tại Nam Kỳ, chế độ bảo hộ tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ, Pháp đã chú trọng tới việc áp dụng các luật lệ về biển của

“mẫu quốc”

- Ban hành nghị định cấm người nước ngoài đánh cá trong lãnh hải rộng 3 hải lý cho các thuộc địa của Pháp

- Đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Pháp đã nhân danh Nhà nước Việt Nam tổ chức quản lý như: đồn trú, tuần tra, thành lập đơn vị hành chính, xây trạm khí tượng…

Thời kỳ 1954-1976:

- VNCH với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế theo quy định của Hiệp định Gionevo đã có mặt tại hội nghị của LHQ về Luật biển lần thứ nhất năm 1958

- 27/4/1965: VNCH chính thức thiết lập chiều rộng lãnh hải rộng 3 hải lý

- 1/4/1972: VNCH tuyên bố vùng đánh cá đặc quyền rộng 50 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải

- Năm 1967: tuyên bố về thẩm quyền riêng biệt và quyền kiểm soát trực tiếp trên thềm lục địa tiếp giáp với lãnh hải

- Kí kết một số hiệp định nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ với CHNDTH (1957,

1960, 1963)

Thời kỳ sau 1976:

- Sau khi thống nhất đất nước, quyền đại diện tham gia Hội nghị của LHQ

về Luật biển lần thứ 3 là Chính phủ nước CHXHCNVN

- 12/11/1982: Tuyên bố về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải

- 23/6/1994: Quốc hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước

và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam

- 21/6/2012: Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua Luật biển Việt Nam

Câu 3: Các nguyên tắc cơ bản của Luật biển quốc tế:

Các nguyên tắc cơ bản:

+ Nguyên tắc tự do biển cả

Trang 4

+ Nguyên tắc đất thống trị biển.

+ Nguyên tắc sử dụng biển cả vì mục đích hòa bình

+ Nguyên tắc Vùng và tài nguyên trên Vùng là tài sản chung của nhân loại + Nguyên tắc sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển

+ Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển

Nguyên tắc tự do biển cả:

- Biển cả thuộc sở hữu chung

- Nguyên tắc tự do biển cả được cụ thể hóa thành quyền tự do cơ bản sau: tự

do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, tự do xây dựng các đảo nhân tạo, tự do nghiên cứu khoa học, tự do đánh bắt hải sản

- Tác động của nguyên tắc tự do biển cả đối với việc quy định và thực hiện

quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển: Các quyền tự do không chỉ áp dụng riêng cho vùng biển cả mà còn

áp dụng cho các vùng biển khác nhưng vẫn đảm bảo quyền của quốc gia ven biển

Nguyên tắc đất thống trị biển:

- Việc mở rộng quyền lực quốc gia ra hướng biển được quyết định bởi các nhân tố chính trị và KHKT nhưng không thể tách rời cơ sở pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận, đó là chủ quyền lãnh thổ

- Khái niệm lãnh thổ theo ghi nhận của nguyên tắc này là thổ đất (bao gồm

cả đảo tự nhiên và đảo nhân tạo)

- Diện tích lãnh thổ lớn không đồng nghĩa với việc có diện tích các vùng biển lớn, mà chiều dài bờ biển mới có giá trị là sự tỷ lệ thuận với diện tích các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia

Mối quan hệ giữa nguyên tắc tự do biển cả và nguyên tắc đất thống trị biển:

- Hai nguyên tắc tồn tại để bảo vệ hai nhóm lợi ích vừa có sự đối lập, vừa có

sự thống nhất, đó là lợi ích của các quốc gia ven biển và lợi ích của cộng đồng quốc tế trong quá trình sử dụng biển

- Sự kết hợp hai nguyên tắc nhằm tạo ra trật tự công bằng trong quá trình phân định biển (theo nghĩa rộng) và giải quyết các tranh chấp về biển theo nguyên tắc hòa bình

Nguyên tắc sử dụng biển cả vì mục đích hòa bình:

- Biển cả là phần biển chung của cộng đồng quốc tế với diện tích rộng lớn và nguồn tài nguyên phong phú, vì vậy có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển chung của nhân loại Việc sử dụng biển cả một cách tiêu cực sẽ đe dọa

sự phát triển nền văn minh thế giới

→ Do vậy, chế độ pháp lý về biển cả phải được xây dựng sao cho biển cả chỉ được sử dụng vì mục đích hòa bình

- Theo nguyên tắc này các quốc gia không được sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực và triển khai hoạt động quân sự ở biển cả

Nguyên tắc Vùng và tài nguyên Vùng là di sản chung của nhân loại:

Trang 5

- Vùng được xác định là bắt đầu từ bên ngoài của thềm lục địa pháp lý.

- Mọi loại tài nguyên trên Vùng là chung của nhân loại

- Nội dung:

+ Không cho phép một quốc gia nào có quyền đòi thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc chủ quyền của mình trên một phần nào đó của Vùng

+ Quy định trên dẫn đến hệ quả không cho phép một cá nhân hay pháp nhân nào có thể chiếm đoạt bất cứ phần nào của Vùng hoặc tài nguyên của Vùng

+ Các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên trong lòng đất của Vùng có thể tiến hành dưới sự quản lý của cơ quan quyền lực (về Vùng)

+ Về mọi phương diện, hoạt động của Vùng được tiến hành vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế với các mục đích hòa bình

Nguyên tắc sử dụng hợp lý và bảo vệ sinh vật trên biển:

- Các quốc gia phải đảm bảo việc đánh bắt sinh vật biển ở một mức độ nhất định

- Trong quá trình khai thác phải bảo vệ tài nguyên sinh vật sống trên biển

Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển:

- Nguyên tắc này được hình thành vào giữa thế kỷ XX khi mà biển ngày càng

có vị trí quan trọng đối với đời sống con người, không chỉ từ góc độ kinh tế mà còn ở góc độ môi trường biển bị ô nhiễm nghiêm trọng Nếu con người không có

kế hoạch bảo vệ môi trường biển thì không chỉ không mang lại lợi ích mà còn là thảm họa đe dọa sự sống của con người

- Nhiều Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ra đời:

+ Công ước London 1972: ngăn ngừa ô nhiễm chất thải do tàu và các chất khác

+ Công ước 1973: ngăn ngừa ô nhiễm biển từ các chất thải do tàu

+ Công ước Brucxen 1969: các biện pháp phòng chống ô nhiễm dầu từ các tai nạn trên biển…

+ Công ước Luật biển 1982 của LHQ: đặc biệt củng cố lĩnh vực bảo vệ môi trường biển

Câu 4: Các vùng biển thuộc chủ quyền, các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia và các vùng biển nằm ngoài chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia theo Công ước Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam:

• Vùng biển thuộc chủ quyền: nội thủy, lãnh hải

• Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền: tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa

• Các vùng biển nằm ngoài chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia: Biển cả, Vùng

Trang 6

Câu 5: Xác định vùng nội thủy và quy chế pháp lý đối với vùng nội thủy theo quy định của Công ước Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam 2012

Xác định phạm vi:

- Công ước 1982: Là các vùng nước ở bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

- Luật biển Việt Nam 2012: Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam

Quy chế pháp lý:

- Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền

- Tàu thuyền nước ngoài muốn ra vào nội thủy phải xin phép nước ven biển và phải tuân theo luật lệ của nước đó Nước ven biển có quyền không cho phép

Câu 6: Xác định vùng lãnh hải và quy chế pháp lý đối với vùng lãnh hải theo quy định của Công ước Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam 2012 Các trường hợp đi qua lãnh hải không gây hại.

Xác định phạm vi:

- Công ước Luật biển 1982: “Mỗi quốc gia có quyền định chiều rộng của lãnh hải đến một giới hạn không quá 12 hải lý từ đường cơ sở được xác định phù hợp với Công ước này.”

- Luật biển Việt Nam 2012: “Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.”

Quy chế pháp lý:

- Quốc gia ven biển cũng có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải song không tuyệt đối như nội thủy

- Các tàu thuyền nước ngoài có quyền đi qua không gây hại mà không phải xin phép nước ven biển

Các trường hợp đi qua gây hại:

- Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia ven biển

- Luyện tập, diễn tập với bất kỳ loại vũ khí nào

- Thu thập tin tức tình báo gây thiệt hại cho nước ven biển

- Tuyên truyền nhằm làm hại đến nước ven biển

- Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay, phương tiện quân sự

- Xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc, đưa người lên xuống tàu trái quy định của nước ven biển

- Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng

Trang 7

- Đánh bắt hải sản.

- Nghiên cứu, đo đạc

- Làm rối loạn hoạt động giao thông liên lạc

- Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua

Câu 7: Xác định vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và quy chế pháp lý với vùng tiếp giáp lãnh hải, ĐQKT theo quy định của Công ước Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam 2012.

1. Vùng tiếp giáp lãnh hải:

Xác định phạm vi:

- Công ước Luật biển 1982: “Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải

lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”

- Luật biển Việt Nam 2012: “Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền

và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý từ ranh giới ngoài của lãnh hải”

Quy chế pháp lý: quy chế pháp lý vùng tiếp giáp lãnh hải tương tự quy chế pháp

lý vùng đặc quyền kinh tế

2 Vùng đặc quyền kinh tế:

Xác định phạm vi:

- Công ước Luật biển 1982: Là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, có phạm vi rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở

- Luật biển Việt Nam 1982: Là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường

cơ sở

Quy chế pháp lý:

 Đối với quốc gia ven biển:

- Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về việc thăm dò, bảo tồn và quản

lý các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước đáy biển, của đáy biển và vùng đất dưới đáy biển cũng như những hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế

- Quốc gia ven biển có quyền tài phán về việc lắp đặt và sử dụng các đảo

nhân tạo, các thiết bị, công trình nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển

Quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ, khởi tố tư pháp để đảm bảo việc tôn trọng luật pháp của mình

- Quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp để bảo

tồn và quản lý nhằm duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế

của mình khỏi bị khai thác quá mức

Trang 8

 Đối với các quốc gia khác:

- Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo điều ước quốc tế mà nước CHXHCNVN là thành viên, hợp đồng được kí kết theo quy định của luật pháp Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam

Câu 8: Xác định thềm lục địa và quy chế pháp lý đối với thềm lục địa theo quy định của Công ước LHQ về Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam 2012:

Xác định phạm vi:

- Công ước Luật biển 1982: Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải quốc gia đó, trên toàn bộ phận kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi

bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn

- Luật biển Việt Nam 2012: Thềm lục địa của nước CHXHCNVN bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó

Quy chế pháp lý:

- Đối với quốc gia ven biển:

+ Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm

dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình Vì đây là đặc quyền của quốc gia ven biển nên không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy nếu không có sự thỏa thuận của quốc gia đó Nghĩa là chỉ quốc gia ven biển mới có quyền cho phép

và quy định việc khoan ở thềm lục địa vào bất kỳ mục đích gì Tuy nhiên quốc gia ven biển khi thực hiện quyền đối với thềm lục địa không được đụng chạm đến chế

độ pháp lý vùng nước phía trên, không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do của quốc gia khác

+ Nhà nước có quyền khai thác lòng đất dưới đáy biển, cho phép và quy định việc khoan nhằm bất kì mục đích gì ở thềm lục địa

Trang 9

- Đối với quốc gia khác:

+ Được quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà nước CHXHCNVN là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp nhận của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền của Việt Nam

+ Tổ chức, các nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu, lắp đặt thiết bị và công trình trên thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước CHXHCNVN là thành viên, hợp đồng

kí kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phéo của chính phủ Việt Nam

Câu 9: Khái niệm đảo và quần đảo Quy chế pháp lý đối với đảo và quần đảo theo quy định của Công ước biển 1982 và Luật biển Việt Nam 2012.

Khái niệm đảo và quần đảo:

- Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất

này vẫn ở trên mặt nước

- Quần đảo là tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước

tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau

Quy chế pháp lý:

- Các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của một quốc gia được coi giống như đất liền

- Mỗi đảo có vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của riêng nó và quy chế pháp lý đối với những vùng này được thực hiện giống như chế độ pháp lý của vùng nội thủy, vùng lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đất liền

Câu 10: Khái niệm Biển cả Quy chế pháp lý đối với Biển cả theo quy định của Công ước Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam 2012:

Khái niệm Biển cả (theo Công ước Luật biển 1982): Biển cả là vùng biển không

nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải, hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo

Quy chế pháp lý:

Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, quyền tự do này đặc biệt bao gồm:

- Tự do hàng hải

- Tự do hàng không

- Tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm

Trang 10

- Tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị khác được pháp luật quốc

tế cho phép

- Tự do đánh bắt hải sản

- Tự do nghiên cứu khoa học

Câu 11: Khái niệm Vùng Quy chế pháp lý đối với Vùng theo quy định của Công ước Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam 2012:

Khái niệm Vùng: Vùng được xác định là bắt đầu từ bên ngoài của thềm lục

địa pháp lý, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển cả không nhất thiết phải trùng với Vùng

Quy chế pháp lý:

Chế độ pháp lý của Vùng được xây dựng trên nền tảng của nguyên tắc: Vùng và tài nguyên của Vùng là di sản chung của nhân loại

- Vùng và tài nguyên của Vùng không phải là đối tượng của hành vi chiếm hữu

Không một quốc gia nào có thể đòi hỏi thực hiện chủ quyền hay quyền chủ quyền ở một phần nào của Vùng Không một quốc gia nào hay một tự nhiên nhân hay pháp nhân nào có thể chiếm đoạt bất cứ một phần nào của Vùng Không một yêu sách, một việc thực hiện chủ quyền hay quyền chủ quyền nào cũng như một hành động chiếm đoạt nào được thừa nhận

- Vùng phải được sử dụng vì mục đích hòa bình:

Vùng để giành cho tất cả các quốc gia, dù đó là quốc gia có biển hay không có biển, sử dụng vào những mục đích hòa bình, không phân biệt đối xử và không làm phương hại đến các quy định khác Không một loại vũ khí hạt nhân nào, không một loại vũ khí giết người hàng loạt nào khác, không một công trình, thiết bị phóng, tàng trữ thử nghiệm các loại vũ khí đó được chấp nhận trên toàn bộ khu vực Vùng

- Khai thác và quản lý Vùng vì lợi ích của toàn thể nhân loại:

Mọi hoạt động trong Vùng được tiến hành vì lợi ích của toàn thể loài người, không phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia, dù là quốc gia có biển hay không có biển và có sự quan tâm đặc biệt đến các quyền lợi và nhu cầu của các mước đang phát triển cũng như các dân tộc chưa giành được nền độc lập đầy

đủ hay một chế độ tự trị khác

Câu 12: Khái niệm phân định biển Các phương pháp phân định biển cơ bản.

Khái niệm phân định biển:

Phân định biển được hiểu là quá trình hoạch định đường ranh giới phân chia các vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan

Ngày đăng: 09/10/2016, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w