15 2.2 Các nội dung ứng phó với tác động của Biến đổi khí hậu đối với hệ thống công trình thuỷ lợi tại Việt Nam.. 48 4.2 Các biện pháp cụ thể nhằm thích ứng với tác động của Biến đổi k
Trang 1PHÂN TÍCH CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI THỦY LỢI Ở VIỆT NAM
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH THÍCH ỨNG
NHẰM ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội, 2010
Trang 2MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
I GIỚI THIỆU CHUNG 5
1.1 Tính cấp thiết của dự án 5
1.2 Mục tiêu của dự án 6
1.3 Phương pháp và cách tiếp cận 6
II HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THỦY LỢI ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA VIỆT NAM 8
2.1 Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi của Việt Nam 8
2.1.1 Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ 13
2.1.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng 13
2.1.3 Vùng Bắc Trung bộ 14
2.1.4 Vùng Duyên hải Nam Trung bộ 14
2.1.5 Vùng Tây Nguyên 14
2.1.6 Miền Đông Nam bộ 15
2.1.7 Vùng Đồng bằng sông Cửu long 15
2.2 Các nội dung ứng phó với tác động của Biến đổi khí hậu đối với hệ thống công trình thuỷ lợi tại Việt Nam 16
2.2.1 Các chính sách của trung ương về ứng phó với biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực thủy lợi 16
2.2.2 Đánh giá các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực thủy lợi của các địa phương 18
2.2.3 Đánh giá hiểu biết của cán bộ thủy lợi về biến đổi khí hậu 20
III TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VIỆT NAM 22
3.1 Hiện trạng tác động của biến đổi khí hậu đổi với hệ thống công trình thủy lợi 22 3.1.1 Hiện trạng tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan đối với hệ thống công trình thuỷ lợi 22
3.1.2 Hiện trạng tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn đối với hệ thống công trình thuỷ lợi 25
3.1.3 Hiện trạng tác động của lượng mưa, nhiệt độ, dòng chảy đến hệ thống công trình thuỷ lợi 27
Trang 33.2 Dự báo tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai đối với hệ thống công
trình thủy lợi 29
3.2.1 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam 29
3.2.2 Dự báo tác động của các hiện tượng cực đoan trong tương lai đối với hệ thống công trình thuỷ lợi 32
3.2.3 Dự báo tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn trong tương lai đối với hệ thống công trình thuỷ lợi của Việt Nam 33
3.3 Dự báo các thiệt hại về kinh tế đối với hệ thống công trình thuỷ lợi 41
IV KIẾN NGHỊ CHIẾN LƯỢC, NHIỆM VỤ ƯU TIÊN NHẰM THÍCH ỨNG VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 43
4.1 Nhiệm vụ, chiến lược thích ứng với tác động của Biến đổi khí hậu theo các vùng và địa phương 43
4.1.1 Dải ven biển 43
4.1.2 Vùng núi và cao nguyên 43
4.1.3 Vùng Đồng bằng sông Hồng 44
4.1.4 Vùng Trung Bộ 45
4.1.5 Vùng Đông Nam Bộ 46
4.1.6 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 48
4.2 Các biện pháp cụ thể nhằm thích ứng với tác động của Biến đổi khí hậu đối với hệ thống công trình thuỷ lợi ở Việt Nam 49
4.2.1 Các biện pháp công trình 49
4.2.2 Các biện pháp phi công trình 53
V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 61
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5I GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Tính cấp thiết của dự án
Biến đổi khí hậu được coi là có tác động mạnh mẽ nhất đối với hệ thống công trình thủy lợi Các nhà khoa học cho rằng các hiện tượng khí hậu cực đoan với tần suất và cường độ ngày càng tăng đã xảy ra trên hầu hết các vùng miền của Việt Nam đều do nguyên nhân của Biến đổi khí hậu Hiện tượng tăng nhiệt độ toàn cầu
có tác động lớn đối với sự bốc hơi, điều đó ảnh hưởng đến lưu trữ nước trong khí quyển và do đó cũng ảnh hưởng đến cường độ, tần suất và cường độ mưa cũng như sự phân phối mưa theo mùa và vùng địa lý cũng như sự biến thiên hàng năm của nó Do đó trong quá trình ra quyết định, các nhà quản lý thủy lợi đặc biệt phải đối mặt với thách thức trong việc kết hợp tính không chắc chắn các tác động biến thiên của khí hậu và biến đổi khí hậu để thích ứng Điểm mấu chốt là các vấn đề thực tế họ sẽ phải đối mặt (hiện tại và tương lai) trong lĩnh vực thủy lợi Hiện tượng biến đổi khí hậu có thể hiểu được bằng cách đánh giá hiện trạng khí hậu (quá khứ đến hiện tại) để xem xét các tác động của nó đến sự phát triển trong tương lai, bao gồm cả những thay đổi từ từ và đột ngột đến hệ thống thủy lợi Với giả thuyết là liên quan trực tiếp đến điều kiện thời tiết, hệ thống thủy lợi rất nhạy cảm với bất kỳ thay đổi nào của thời tiết bởi chúng sẽ bị tác động lớn đến hiệu quả hoạt động các công trình Biến đổi khí hậu tác động lên hệ thống công trình thủy lợi ngày càng trở nên rõ rệt hơn trong suốt những thập kỷ gần đây Hạn hán và lũ lụt trở nên khắc nghiệt hơn trong 2 thập kỷ gần đây Trận hạn hán năm 97-98 gây thiệt hại 1,400 tỉ đồng, các biện pháp giảm thiểu hạn hán tiêu tốn hơn 1,000 tỉ đồng; mực nước sông Hồng tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong lịch
sử 100 năm Tổng thiệt hại liên quan đến các thảm hoạ thiên nhiên như sạt lở đất,
lũ lụt, bão trong năm 2007 là: 11,600 tỉ đồng ( chiếm 1% GDP), 435 người chết
và mất tích, 113,800 héc-ta bị ngập nước, 1,300 công trình liên quan đến nước bị phá huỷ, 1,500 kilômét đê vỡ và ăn mòn và 7,800 ngôi nhà bị phá huỷ Tổng cộng
có 723,900 hộ dân ( 3,034,500 người) chết đói
Hiện nay việc nghiên cứu tác động biến đổi khí hậu đang là một vấn đề cấp thiết, được sự quan tâm của các cấp các ngành từ TW tới địa phương Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới thì Việt Nam là một trong những nước sẽ chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu Việt Nam đã thiết lập một Chương trình hành động mục tiêu quốc gia để ứng phó với Biến đổi khí hậu và đã được Chính phủ thông
Trang 6qua vào tháng 12/2008 Tuy nhiên việc nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam đang ở giai đoạn đầu, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong hội thảo “Hướng tới chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng với Biến đổi khí hậu” tại Hà Nội ngày 11/1/2008 thì hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có một nghiên cứu chi tiết đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Do đó trong Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu đã nhận định rằng “Không ngừng nghiên cứu tác động của khí hậu toàn cầu, nước biển dâng và các hiện tượng bất thường khác của khí hậu để phòng tránh”
Việc nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ thống thủy lợi (tưới, tiêu, cấp nước và phòng chống lụt bão…) được tập trung vào các vấn đề sau:
- Đánh giá tác động của BĐKH đối với tưới tiêu, cấp nước và phòng chống lụt bão tại các vùng khác nhau và hậu quả của chúng;
- Xác định, đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu và thích ứng hiệu quả
và phù hợp đối với hệ thống công trình thủy lợi;
- Kiến nghị các chính sách và khung chương trình hành động cho việc ứng phó
và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ thống công trình thủy lợi
mà có thể được áp dụng và kết hợp với các kế hoạch hành động cho 5 năm tới
1.2 Mục tiêu của dự án
Mục tiêu của dự án là đánh giá các tác động tiềm tàng do biến đổi khí hậu
và đề xuất các biện pháp thích ứng đối với hệ thống công trình thủy lợi của Việt Nam giai đoạn 2020 đến 2050 dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu của quốc gia cũng như dựa trên các thông tin và tài liệu sẵn có liên quan Kết quả của dự án dùng để khuyến cáo cho các nhà ra quyết định, chiến lược về lĩnh vực thủy lợi, với các kịch bản khác nhau thì nên áp dụng các biện pháp thích ứng nào trong lĩnh vực thủy lợi (tưới tiêu, cấp nước, công trình phòng chống lụt bão)
1.3 Phương pháp và cách tiếp cận
Để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ thống tưới tiêu, cấp nước
và hệ thống công trình phòng chống tại 7 vùng địa lý của Việt Nam, cụ thể cách tiếp cận và phương pháp như sau:
- Xem xét các thông tin cơ bản 7 vùng địa lý của Việt Nam bao gồm: vị trí địa
lý, diện tích, dân số, các điều kiện phát triển kinh tế …
Trang 7- Phân tích hiện trạng hệ thống tưới tiêu, cấp nước và các công trình phòng chống lụt bão (số lượng, năng lực, hiệu quả …) của từng vùng; Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước của Việt Nam (nước ngầm và nước mặt) bao gồm chất lượng, trữ lượng và nhu cầu dùng nước của các ngành sử dụng nước;
- Xem xét sự thay đổi các yếu tố khí hậu trong quá khứ như sự thay đổi về lượng mưa, bốc hơi, độ ẩm và các tác động đối với hệ thống thủy lợi, cấp nước và sản xuất nông nghiệp Phân tích sự thay đổi về tần suất và cường độ của các thiên tai đặc biệt là bão, lũ
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu trong quá khứ đặc biệt là tác động của thiên tai đối với hệ thống thủy lợi, cấp nước và các công trình phòng chống lụt bão cho từng vùng địa lý của Việt Nam; Đánh giá các thiệt hại về kinh tế do tác động của biến đổi khí hậu;
- Dựa trên các kịch bản biển đổi khí hậu của Bộ TN&MT, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai đối với hệ thống tưới tiêu, cấp nước và các công trình phòng chống lụt bão cho 7 vùng địa lý của Việt Nam, dự báo các thiệt hại về kinh tế cho từng vùng;
- Để đề xuất và kiến nghị các biện pháp/phương án thích ứng, nhóm tư vấn IWE
sẽ nghiên cứu các chiến lược, chính sách và định hướng trong phát triển hệ thống công trình thủy lợi và nông nghiệp lồng ghép với các yếu tố biến đổi khí hậu, các nội dung liên quan chính trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia thích ứng với Biến đổi khí hậu và Khung chương trình hành động thích ứng với Biến đổi khí hậu của MARD;
- Đề xuất các biện pháp/phương án thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ thống tưới tiêu, cấp nước và các công trình phòng chống lụt bão;
Trang 8II HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THỦY LỢI ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU CỦA VIỆT NAM
2.1 Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi của Việt Nam
Với vai trò quan trọng của công tác thủy lợi trong việc cấp thoát nước phục
vụ dân sinh kinh tế Nhà nước và nhân dân trong cả nước đã tập trung đầu tư, xây dựng các hệ thống thủy lợi
Theo số liệu thống kê đánh giá chưa đầy đủ, các công trình thủy lợi đang được khai thác gồm: 5.656 hồ chứa; 8.512 đập dâng; 5.194 trạm bơm điện, cống tưới tiêu các loại; 10.698 các công trình khác và trên 23.000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ
hè thu ở ĐBSCL, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh
Tuy các hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả phục vụ dân sinh, kinh tế nhưng trong quá trình quản lý vẫn còn một số tồn tại:
- Đầu tư xây dựng không đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương nội đồng
- Năng lực phục vụ của các hệ thống đạt bình quân 60% so với năng lực thiết kế Hiệu quả phục vụ chưa cao, chất lượng việc cấp thoát nước chưa chủ động và đáp ứng được so với yêu cầu của sản xuất và đời sống
- Nhiều cơ chế, chính sách quản lý khai thác hệ thống thủy lợi còn bất cập, không đồng bộ, nhất là cơ chế chính sách về tổ chức quản lý,cơ chế tài chính
- Tổ chức quản lý các hệ thống chưa đồng bộ và cụ thể, đặc biệt quản lý các hệ thống thủy lợi nhỏ Việc phân cấp tổ chức, quản lý ở nhiều địa phương còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng
Bảng 2.1: Thống kê các hệ thống thuỷ lợi lớn của cả nước
Loại liên tỉnh/
huyện
DT phục
vụ (ha)
I Miền núi Bắc bộ
II Đồng bằng trung du Bắc
bộ
Trang 96 Diên Hồng Phú Thọ Liên huyện 3.600
Giang
Hưng Yên, Bắc Ninh
Trang 1034 Nghĩa Hưng Nam Định Liên xã 17.672
III Bắc Trung Bộ
IV Duyên hải Nam Trung bộ
Trang 1164 Khe Tân Quảng Nam Liên xã 3.500
V Tây Nguyên
VI Đông Nam bộ
Trang 1294 Dầu Tiếng Tây Ninh Liên tỉnh 104.930
98 Duyên hải TP HCM (Cần
Giờ)
VII Tây Nam bộ
Tiền Giang
104 Giữa sông Tiền và sông Hậu An Giang, Đồng Tháp,
Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau
(Ngu ồn: Cục thủy lợi)
Để ổn định và phát triển dân sinh kinh tế, trong những thập kỷ qua công tác phát triển thuỷ lợi đã được quan tâm đầu tư ngày càng cao Phát triển thuỷ lợi đã nhằm mục tiêu bảo vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp nguồn nước nhằm bảo vệ dân sinh, sản xuất và đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển tất cả các ngành kinh tế xã hội Sự nghiệp phát triển thuỷ lợi đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vô cùng quan trọng cho sự phát triển của mọi ngành kinh tế - xã hội trong thời gian qua
Trang 13và nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đặc biệt là phát triển sản xuất lương thực
Về Tưới tiêu, cấp thoát nước : Đến nay cả nước có 75 hệ thống thủy lợi lớn,
800 hồ đập loại lớn và vừa, hơn 3.500 hố có dung tích trên 1 triệu m3 nước và đập cao trên 10 m, hơn 5.000 cống tưới- tiêu lớn, trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công suất bơm 24,8 triệu m3/h, hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ Các
hệ thống có tổng năng lực tưới trực tiếp cho 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp Diện tích lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng tăng lên qua từng thời kì
Cụ thể theo 7 vùng kinh tế như sau :
2.1.1 Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ
- T ưới tiêu, cấp nước: Hiện có 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 40.190 đập đâng,
hàng trăm công trình thuỷ điện, thuỷ luân, 379 trạm bơm điện, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông Trong vùng có những công trình lớn lợi dụng tổng hợp điều tiết cấp nước, phát điện, chống lũ cho cả vùng trung và hạ du là Hoà Bình, Thác Bà, Núi Cốc, Cấm Sơn Diện tích tưới thiết kế 263.067 ha, thực tưới được 206.037 ha
và cấp nước sinh hoạt cho hơn 30 vạn dân nông thôn, cấp nước cho các khu đô thị
và công nghiệp ở các tỉnh
- Phòng ch ống thiên tai lũ lụt: Dọc các sông nhánh chính của hệ thống sông
Hồng-Thái Bình đều đã có đê khép với các tuyến đê ở hạ du, tạo thành hệ thống đê hoàn chỉnh bảo vệ cho cả vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, trong đó có 399
km đê sông, 194 cống dưới đê Trung ương quản lý và 120 km đê biển + cửa sông
2.1.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng
- T ưới tiêu, cấp nước: Hiện có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa gồm 500
cống, 1.700 trạm bơm điện chính và 35.000 trạm bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh trục chính (cấp I, II, III), 35 hồ chứa (dung tích từ 0,5-230 triệu m3) và nhiều hồ chứa nhỏ có tổng diện tích tưới thiết kế khoảng 85.000 ha, kết hợp cấp nước sinh hoạt
- Phòng ch ống thiên tai lũ lụt: Đã hình thành một hệ thống đê điều hoàn
chỉnh gồm: 2.700 km đê sông, 1.118 cống dưới đê trung ương quản lý, 310 km đê biển + cửa sông Đê sông được thiết kế chống lũ có mực nước tương ứng +13,1m
Trang 14ở Hà Nội và +7,20 m tại Phả Lại Riêng đoạn đê hữu sông Hồng bảo vệ Hà Nội
có mức nước thiết kế +13,4m
2.1.3 Vùng Bắc Trung bộ
- T ưới tiêu, cấp nước: Trong vùng đã xây dựng được 2 hệ thống thủy lợi
lớn là Đô Lương và Bái Thượng, 20 hồ chứa có dung tích trên 10 triệu m3 và hàng nghìn công trình hồ, đập, trạm bơm vừa và nhỏ Tổng diện tích tưới thiết kế là 424.240 ha canh tác, thực tưới 235.600 ha lúa đông-xuân, 159.700 ha lúa hè-thu
và 219.700 ha lúa mùa, cung cấp và tạo nguồn cấp cho dân sinh và các khu đô thị trong vùng
Các hệ thống tiêu được thiết kế với hệ số tiêu 4,2-5,6 l/s.ha, có diện tích tiêu thiết kế 163.200 ha (tiêu động lực 48.330 ha), thực tiêu được 132.880 ha (tiêu động lực được 35.210 ha)
- Phòng ch ống thiên tai lũ lụt: Dọc các hệ thống sông Mã, sông Cả và ven
biển đã có đê chống lũ và ngăn sóng, triều Riêng 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh có 512 km đê sông, 259 cống dưới đê trung ương quản lý và 784 km đê biển + cửa sông Đê sông Mã, sông Cả có thể chống lũ chính vụ lớn như lũ lịch sử (P ≈ 2-2,5%) không bị tràn, đê các sông khác chỉ chống được lũ sớm, lũ tiểu mãn và lũ muộn (P ≈ 10-20%) bảo vệ sản xuất vụ đông-xuân và hè-thu
2.1.4 Vùng Duyên hải Nam Trung bộ
- T ưới tiêu, cấp nước: Có 891 công trình thuỷ lợi cấp nước, gồm 16 đập dâng, 32 hồ chứa 154 trạm bơm, 683 công trình nhỏ Tổng năng lực tưới thiết kế 181.930 ha, thực tưới được 106.440 ha
- Phòng tránh bão l ũ: Các giải pháp phòng chống lũ chủ yếu là bố trí sản
xuất tránh lũ chính vụ, mới có một số hệ thống bờ bao bảo vệ sản xuất vụ hè-thu Riêng đê biển ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng có chiều dài 214 km
2.1.5 Vùng Tây Nguyên
- Tưới tiêu, cấp nước: Có 972 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ tưới cho 34.224
ha lúa Đông xuân và 87.148 ha cây cà phê Trong đó, ở tỉnh Kon Tum có 150 công trình, tưới cho 4.900 ha lúa đông-xuân, 5.000ha cà phê; tỉnh Gia Lai có 165 công trình, tưới cho 11.650 ha lúa đông xuân, 9.600 ha cà phê; tỉnh Đắc Lắc có 476 công trình, tưới cho 9.864 ha lúa đông-xuân, 46.878 ha cà phê; Lâm Đồng có 180 công trình, tưới 7.830 ha lúa đông xuân, 31.870 ha cà phê
Trang 15- Công trình ch ống lũ chưa được đầu tư nhiều, mới có một vài tuyến đê
nhỏ, bờ bao chống lũ sớm và lũ tiểu mãn ở một số vùng nhỏ
2.1.6 Miền Đông Nam bộ
- T ưới tiêu, cấp nước, thuỷ điện: Đã xây dựng được nhiều công trình lớn lợi
dụng tổng hợp như: Trị An trên sông Đồng Nai, Thác Mơ trên Sông Bé, Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, Hàm Thuận - Đa Mi (công suất 475 MW, điện lượng 1550 Gwh/năm); đập Nha Trinh, Hồ Sông Quao, hồ Đá Bàn, Đa Tôn, Sông Mây…cùng các công trình có quy mô vừa khác có tổng công suất 1.188 MW, điện lượng trung bình 4,498 tỷ Kwh/năm Công trình Dầu tiếng có diện tích tưới thiết kế khoảng 93.000 ha và chuyển sang sông Vàm Cỏ khoảng 10 m3/s Ngoài ra còn nhiều công trình vừa và nhỏ khác tưới cho hàng chục ngàn hecta Các hồ chứa đã điều tiết tăng lưu lượng kiệt ở hạ lưu, ranh giới mặn được đẩy lùi về hạ lưu: sông Đồng Nai khoảng 18-20 km; sông Vàm Cỏ Đông 8-10 km
Nước ngầm được khai thác chủ yếu cấp cho sinh hoạt, một số nơi được khai thác để tưới cho cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê Tổng lượng nước ngầm khai thác ước tính khoảng 750.000 m3/ngày, trong đó cấp cho sinh hoạt 700.000
m3/ngày (gồm các trạm bơm Hoóc Môn ở TP Hồ Chí Minh 20.600 m3/ngày và Hòa An, Suối Vàng, Sông Dinh)
- Phòng ch ống lũ:
Hiện nay, công trình phòng chống lũ chủ yếu là các hồ chứa ở thượng lưu tham gia chống lũ cho bản thân công trình và một phần giảm lũ cho hạ du Ở hạ du chỉ có một vài tuyến đê nhỏ
2.1.7 Vùng Đồng bằng sông Cửu long
- T ưới tiêu, cấp nước: Đã cải tạo và đào mới trên 4.430 km kênh trục và
kênh cấp I tạo nguồn cách nhau khoảng 5 km/kênh (có chiều rộng từ 8-40 m, cao trình đáy từ -2,0 ÷ -4,0 m); trên 6.000 km kênh cấp II (khoảng 1-2 km có 1 kênh), đưa nước ngọt tưới sâu vào nội đồng và tăng cường khả năng tiêu úng, xổ phèn cho đồng ruộng và 105 trạm bơm điện quy mô lớn và vừa, hàng vạn máy bơm nhỏ
để tưới tiêu với năng lực tưới thiết kế 81.620 ha (thực tưới được 23.380 ha)
- Xây dựng khoảng 80 cống rộng từ 5 m trở lên trong đó có nhiều cống rộng
từ 10-30 m, hàng trăm cống có bề rộng 2-4 m và hàng vạn cống nhỏ để ngăn mặn, ngăn lũ, lợi dụng thuỷ triều tưới tiêu Lớn nhất là cống đập Ba Lai có chiều rộng 84m
Trang 16- Ki ểm soát lũ:
- Xây dựng khoảng 23.000 km bờ bao chống lũ tháng 8 bảo vệ lúa hè-thu
- Đã xây dựng 450 km đê biển, 1.290 km đê sông để ngăn mặn cho vùng ven biển
- Xây dựng hơn 200 km đê bao cho các khu rừng chàm tập trung để giữ nước mưa chống cháy rừng trong mùa khô
2.2 Các nội dung ứng phó với tác động của Biến đổi khí hậu đối với hệ thống công trình thuỷ lợi tại Việt Nam
2.2.1 Các chính sách của trung ương về ứng phó với biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực thủy lợi
Nhận thức rõ ảnh hưởng của BĐKH, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia
và ngày 16/11/1994 đã phê chuẩn Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu Nghị định thư Kyoto được Chính phủ VN phê chuẩn ngày 25/9/2002 +Công văn số 1357/CP-QHQT ngày 13/11/1998, Thủ tướng Chính phủ giao cho Tổng cục KTTV (nay là Bộ TN&MT) làm cơ quan đầu mối của Chính phủ Việt Nam tham gia và thực hiện Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto; +Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg ngày 17/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu tại Việt Nam;
+Quyết định số 47/2007/QĐ-TTg ngày 6/4/2007, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ TN&MT và các bộ, ngành, địa phương có liên quan thực hiện Nghị định thư Kyoto và Cơ chế phát triển sạch (CDM);
+Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP ngày 3/12/2007 của Chính phủ giao Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH toàn cầu
+Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu: ngày 2/12/2008 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 158/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
Ngày 11/1/2008 Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội thảo triển khai việc xây dựng Chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng với BĐKH Hội thảo do Thứ trưởng Đào Xuân Học chủ trì, tập trung vào 4 chủ đề chính liên quan đến các lĩnh vực: nông nghiệp, thuỷ lợi,
Trang 17thuỷ sản và lâm nghiệp Theo quan điểm của Bộ NN&PTNT, nói đến việc phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai liên quan đến BĐKH cần phải phân biệt 2 vấn đề: i-Giảm thiểu ảnh hưởng tác động của BĐKH, và ii-Thích ứng với BĐKH Cụ thể như sau:
a- Gi ảm thiểu ảnh hưởng tác động của BĐKH: Ngành NN&PTNT phải xem
lại cơ cấu cây trồng và tăng diện tích trồng rừng đầu nguồn, tăng diện tích trồng rừng ngập mặn, bảo vệ đê điều, giảm lũ, đồng thời giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính (khí nhà kính, KNK) Cụ thể các nhà khoa học Việt Nam đã đề ra phương án trồng rừng ngập mặn và quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản, phát triển các khu bảo tồn sinh thái; không quy hoạch khu định cư gần bờ biển, cửa sông; xây đê cao thêm 1-1,2 m để bảo vệ cảng biển, di tích, điểm du lịch trong vùng ngập do nước biển dâng
Ngày 29/5/2009 Bộ NN&PTNT tổ chức Hội thảo “Công bố Khung chương trình hành động thích ứng với BĐKH của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2008-2020”, ban hành kèm theo Quyết định số 2730/QĐ-BNN-KHCN ngày 5/9/2008 Hội thảo do Thứ trưởng Đào Xuân Học chủ trì, tập trung thảo luận các nội dung chủ yếu gồm: các Mục tiêu chung và Mục tiêu cụ thể, các Nhiệm vụ chủ yếu, cách tổ chức thực hiện, đồng thời kèm theo Danh mục các hoạt động thực hiện Khung chương trình hành động thích ứng với BĐKH của ngành NN&PTNT Trong đó đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ chủ yếu của ngành gồm:
Nhi ệm vụ 1: Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, thông tin, nâng cao
nhận thức về tác động của BĐKH và hành động giảm thiểu, thích ứng của ngành;
Nhi ệm vụ 2: Đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường công tác nghiên cứu làm cơ
sở khoa học đề xuất các giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH;
Trang 18Nhi ệm vụ 3: Xây dựng hệ thống chính sách, lồng ghép BĐKH với chương
trình của ngành;
Nhi ệm vụ 4: Hợp tác quốc tế trong công tác giảm thiểu và thích ứng với
BĐKH của ngành;
Nhi ệm vụ 5: Một số hoạt động trọng tâm trong công tác giảm thiểu và thích
ứng với BĐKH của ngành Cụ thể gồm các chương trình nghiên cứu và quy hoạch sau:
a-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch giải pháp đảm bảo dân cư vùng ĐBSCL, miền Trung, ĐBBB, miền núi phía Bắc sống ổn định, an toàn trong điều
kiện nhiệt độ tăng và nước biển dâng (Quy hoạch dân cư)
b-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch giải pháp đảm bảo diện tích lúa 2
vụ là 3,8 triệu ha nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (Quy hoạch đất lúa cho an ninh l ương thực)
c-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch tổng thể thuỷ lợi ĐBSCL trong điều
kiện BĐKH và nước biển dâng (Quy hoạch thuỷ lợi ĐBSCL)
d-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch phòng, chống lũ cho hệ thống sông Hồng-Thái Bình, ĐBSCL, các sông thuộc miền Trung từ Thanh Hoá đến Khánh
Hoà, khu vực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ thích ứng với BĐKH (Quy hoạch phòng ch ống lũ)
e-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ
đê biển và ven biển (Quy hoạch lâm nghiệp)
g-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch hệ thống hạ tầng cơ sở đồng muối
(Quy ho ạch diêm nghiệp);
h-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch các vùng sản xuất cây lương thực,
cây công nghiệp thích ứng với BĐKH (Quy hoạch cây lương thực-cây công nghi ệp);
i-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ-hải sản
thích ứng với BĐKH (Quy hoạch thuỷ sản)
2.2.2 Đánh giá các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực
thủy lợi của các địa phương
+ Các chính sách của địa phương:
Nhìn chung, các tỉnh đã ban hành các văn bản, chính sách liên quan đến lĩnh vực quản lý thiên tai của địa phương:
Trang 19- Các tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược Quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, lồng ghép việc giảm nhẹ thiên tai với quy hoạch, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
- Tiến hành rà soát hệ thống văn bản cần bổ sung về cơ chế chính sách liên quan đến công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai ở địa phương
- Một số tỉnh, như Thái Bình, Ninh Bình, Hải Phòng đã tiến hành xây dựng quy hoạch hệ thống thủy lợi của tỉnh nhằm khai thác tổng hợp tài nguyên nước của các địa phương
- Các địa phương đang thực hiện rà soát việc lồng ghép các nội dung phòng chống thiên tai trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của ngành, từng cấp địa phương
- Một số tỉnh đã lập quy hoạch, kế hoạch, phân vùng, đánh giá nguy cơ rủi ro thiên tai để từ đó có chính sách phù hợp cho từng vùng, địa phương, các khu vực trọng điểm làm cơ sở cho việc chủ động phòng tránh
- Lập bản đồ phân vùng quy hoạch nguy cơ rủi ro do lũ, bão, triều dâng, hạn hán và các loại thiên tai khác
- Các cấp, các ngành trong tỉnh tiến hành đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của địa phương mình, ngành mình để làm cơ sở lồng ghép giảm nhẹ thiên tai vào
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng năm, 5 năm và dài hạn của các địa phương
- Một số tỉnh, như Thái Bình, Bà Rịa-Vũng Tầu đã xây dựng các chương trình nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH đến công tác thủy lợi như: chương trình nâng cấp hệ thống đê biển, chương trình nâng cấp hệ thống đê sông, đắp, gia cố thân, nền đê; cải tạo nâng cấp hệ thống cống dưới đê, chương trình xây dựng các công trình phòng, chống sạt lở
- Một số tỉnh, như Thái Bình, Hải Phòng, Ninh Bình Bà Rịa-Vũng Tầu và Cần Thơ cũng chỉ đạo các cơ quan chức năng tích cực thực hiện các biện pháp phi công trình: tuyên truyền kiến thức phòng chống thiên tai trên các phương tiện thông tin và đài truyền thanh 3 cấp, tổ chức tập huấn phòng chống thiên tai
+ Tổ chức bộ máy quản lý
Nhìn chung, các tỉnh đã ban hành quy định kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý thiên tai của địa phương:
Trang 20- Hầu hết các tỉnh đã kiện toàn ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn của tỉnh, của huyện, thành phố Rà soát, bổ sung hoàn thiện chức năng , nhiệm vụ, quy chế hoạt động, cơ chế phối hợp, phân công nhiệm vụ của Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn của địa phương và các ngành liên quan
- Chỉ đạo phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng tìm kiếm cứu nạn để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu cấp bách xảy ra, đảm bảo việc đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm trang thiết bị và phát triển nguồn lực phục vụ tìm kiếm cứu nạn
- Một số tỉnh đã bổ sung nguồn lực trụ sở, trang thiết bị, công nghệ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ở tỉnh, huyện, thành phố và các ngành liên quan
Tuy nhiên, nhiều địa phương ở nước ta, nhất là các tỉnh ven biển chưa nhận diện đầy đủ mối đe doạ của biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu chưa thực sự được tính toán và lồng ghép vào các quy hoạch phát triển của tỉnh cũng như của các ngành, các địa phương có khả năng chịu ảnh hưởng nặng nề Các quy hoạch ngành
và địa phương vẫn tiếp tục đổ tiền của ra vùng đất thấp ven bờ, các khu đô thị mới, khu công nghiệp vẫn tiếp tục được đổ đất lấn biển mà không có quy hoạch thích hợp Những ngành nhạy cảm và có nguy cơ chịu thiệt hại nặng nề do biến đổi khí hậu như nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản mặn - lợ, du lịch biển, công nghiệp, đô thị vùng bờ chưa tính kỹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu
2.2.3 Đánh giá hiểu biết của cán bộ thủy lợi về biến đổi khí hậu
Nhìn chung, các địa phương đã tổ chức tập huấn để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, khuyến khích thành lập các cơ sở đào tạo, huấn luyện các đơn vị dịch vụ cho phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai Một số tỉnh đã bước đầu thực hiện tuyên truyền kiến thức phòng chống thiên tai trên các phương tiện thông tin và đài truyền thanh 3 cấp của các địa phương Do vậy mà cán bộ thủy lợi đã có nhận thức chung về biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực thủy lợi và các tác động của biến đổi khí hậu
Tuy nhiên, nhận thức về biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực thủy lợi và các tác động của biến đổi khí hậu của các địa phương là chưa rõ ràng:
- Số cán bộ thủy lợi đủ năng lực làm công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai chưa nhiều Các cán bộ thủy lợi cần được tập huấn đầy đủ về các tác động của
Trang 21biến đổi khí hậu đối với công tác thủy lợi và các biện pháp công trình và phi công trình để giảm thiểu, phòng tránh thiên tai
- Cần tập huấn tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn cho các địa phương nơi thường xuyên xảy ra bão, lũ lụt Đây là vấn đề mà địa phương còn rất thiếu kinh nghiệm
và năng lực
- Cộng đồng cần được tuyên truyền các kiến thức phòng chống thiên tai phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp của từng vùng, như các kiến thức về đa dạng hóa cây trồng, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, quy trình vận hành công trình thủy lợi trong mùa lũ cũng như trong thời gian thiếu nước
Trang 22III TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VIỆT NAM
3.1 Hiện trạng tác động của biến đổi khí hậu đổi với hệ thống công trình thủy lợi
3.1.1 Hiện trạng tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan đối với hệ thống công trình thuỷ lợi
a Tác động tiêu cực của bão đến hệ thống công trình thủy lợi
Việt Nam nằm ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương là 1 trong các vùng bão phát sinh và hoạt động mạnh Bão vào nước ta thường di chuyển theo hướng Tây Bắc, Tây, Tây Nam và chuyển dịch hướng theo mùa Mùa bão ở khu vực Biển Đông thường kéo dài 5 tháng trong năm (từ tháng 7 đến tháng 11), tập trung nhiều nhất vào tháng 8 và tháng 9 Theo thống kê trong vòng hơn 40 năm qua (1954-1997) đã
có 320 cơn (trận) bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, phần lớn khi bão đổ bộ vào Việt Nam đều có gió từ cấp VIII đến cấp XII khi gió giật trên cấp XII(Vmax > 40 m/s), trong đó 31% đổ bộ vào Bắc bộ, 36% đổ bộ vào Bắc Trung
bộ, 33% đổ bộ vào Nam Trung bộ Số lượng các trận bão đổ bộ vào Việt Nam gia tăng hàng năm, đặc biệt là trong 3 thập kỷ gần đây Cường độ của bão cũng tăng đáng kể, chỉ riêng trong 10 năm (1981-1991) đã có 8 trận bão cấp 12 và 2 trận bão cấp 13 đổ bộ vào VN Bão vào VN không chỉ gây gió xoáy mạnh, gió giật mà còn gây mưa to kéo dài, gây ra lũ lụt, nước biển dâng cao Có tới 80% dân số VN chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão Bão là loại thiên tai nguy hiểm nhất trực tiếp làm đổ nhà cửa, tàn phá hoa màu, phá huỷ các công trình hạ tầng, làm đắm tàu thuyền, gây ra mưa úng, lũ quét, nước dâng Hiện chưa thể chống bão, mà chỉ có thể tránh bão Nếu dự báo sớm và chính xác phạm vi ảnh hưởng cũng như hướng di chuyển của bão thì có thể giảm thiểu đáng kể hậu quả do bão gây ra, đặc biệt là những tổn thất về người và tầu thuyền ngoài khơi Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã phải gánh chịu một số cơn bão gây thiệt hại nặng nề như: cơn báo Linda:
đổ bộ vào bán đảo Cà Mâu tháng 11/1997, gây tổn thất rất lớn, 788 người chết,
1142 người bị thương, 2541 người mất tích, 2789 tầu thuyền bị chìm, thiệt hại lên tới 7.000 tỷ đồng; cơn áp thấp nhiệt đới tháng 11/1999: đổ bộ vào cực nam Trung
bộ, gây ra một đợt mưa cực lớn kéo dài 6 ngày với cường độ mưa cực đại gây lũ lụt nghiêm trọng các tỉnh vùng Trung Trung bộ, làm 592 người chết, 204 người bị thương, thiệt hại khoảng 235 triệu USD; Đặc biệt tháng 5/2006, do công tác dự
Trang 23báo bão chưa chính xác và không kịp thời nên cơn bão Chanchu đã làm đắm hàng trăm tầu thuyền, làm chết và mất tích hàng trăm ngư dân các tỉnh thuộc vùng Trung Trung bộ
Nhìn chung, bão là loại thiên tai xẩy ra hàng năm ở cả 3 vùng Bắc, Trung, Nam trong cả nước, đặc biệt là khu vực ven biển chịu tác động trực tiếp của bão Bão không chỉ trực tiếp gây thiệt hại về người, tài sản, tầu thuyền, các cơ sở hạ tầng
mà còn là nguyên nhân gián tiếp gây ra nhiều loại thiên tai khác như: lũ lụt, úng ngập, lũ quét, sạt lở đất, nước biển dâng
Bão thường kèm theo mưa lớn ở khu vực đồng bằng và trung du Lượng mưa do bão gây ra có thể lên tới (700 - 1.100mm)
Bão thường có tốc độ gió rất lớn, có khi gió giật lên tới 40 m/s và thường kèm theo mưa lớn xảy ra trên diện rộng, kéo dài từ 3-4 ngày cũng có thể dài hơn từ 5-6 ngày liền gây lũ lụt và úng ngập ở nhiều nơi Khi bão đổ bộ vào thường làm cho nước triều dâng cao, nhất là khi gặp triều cường và gió thuận thì hiện tượng nước dâng càng xảy ra mạnh mẽ Chính vì vậy mà dọc theo vùng duyên hải hệ thống đê biển luôn trong tình trạng báo động, gia cố và sửa chữa quanh năm nhưng nạn úng lụt vẫn càng ngày càng nghiêm trọng hơn, đồng thời nước mặn cũng tràn sâu vào trong đồng làm cho hư hỏng hệ thống kênh bê tông và mức độ thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp bị nặng nề hơn Đây là một loại hình thiên tai rất nguy hiểm tàn phá của cải vật chất, cơ sở hạ tầng và sinh mạng con người cũng như gia súc, kìm hãm sự phát triển kinh tế trong vùng
Các trận bão lớn thường xuyên tập trung vào các tỉnh miền Trung, kéo theo sau là các trận lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trong Lũ các sông miền Trung thường ác liệt, lên nhanh, xuống nhanh, xảy ra trong thời gian ngắn Lũ quét, lũ bùn đá, xuất hiện ngày càng nhiều hơn, quy mô và mức độ tàn phá ngày càng lớn hơn Thời kỳ xuất hiện lũ ở các vùng thường khác nhau Để phòng chống lũ, lụt, hiện cả nước đã xây dựng được 5.700km đê sông, 3000km đê biển, 23.000km bờ bao, hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm km kè bảo vệ bờ
b Tác động của hạn hán đến hệ thống công trình thủy lợi
Hạn hán thường xảy ra trong các tháng mùa khô, thời kỳ nhiệt độ không khí tăng cao dẫn đến nhu cầu dùng nước tăng Mùa khô kéo dài 6 – 9 tháng tùy theo từng vùng, tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm 15 – 25% tổng lượng dòng chảy cả năm Trong mùa khô, ba tháng liên tục có lượng dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện không
Trang 24đồng thời giữa các vùng trong cả nước, lượng dòng chảy chỉ bằng 2 – 10%, trong
đó lượng dòng chảy tháng nhỏ nhất chỉ chiếm 1 – 3% lượng dòng chảy năm Trong mùa khô, nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các sông là nước dưới đất và trong thời kỳ này nhiều sông ở vùng duyên hải, đặc biệt là vùng Nam Trung Bộ không có dòng chảy Trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán, thiếu nước trong mùa khô diễn ra phổ biến ở hầu hết các khu vực trong cả nước, với mức độ, quy mô ngày càng lớn hơn
Tình trạng hạn hán, thiếu nước và mức độ trầm trọng của hạn hán còn do nhu cầu
sử dụng nước tăng, việc khai thác, sử dụng nước thiếu quy hoạch, thiếu tính phối hợp, liên kết giữa các ngành, các địa phương và giữa các dạng nguồn nước hoặc không phù hợp với khả năng thực tế của nguồn nước
Tuy tổng lượng giáng thủy có nơi tăng nơi giảm nhưng tần suất xuất hiện các trận mưa lớn và cực lớn có chiều hướng tăng lên Từ năm 1970, hạn hán trở lên thường xuyên hơn, mức độ hạn nghiêm trọng hơn, phạm vi ảnh hưởng lớn hơn và thời gian hạn kéo dài hơn
Trong 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành gây hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc biệt là miền Trung và Tây nguyên, theo số liệu thống kê các tỉnh, đợt hạn từ cuối năm 1997 đến tháng 4/1998, tổng diện tích lúa bị hạn thiếu nước là 100.000 ha, trong đó bị mất trắng là 20.000 ha Diện tích hoa mầu bị thiệt hại là 120.000 ha, trong đó mất trắng 9.100
ha Thiệt hại của các tỉnh miền Trung riêng về nông nghiệp đã lên 1.400 tỷ đồng Ngoài ra, các chi phí cho phòng chống hạn cuối năm 1997 và năm 1998 gần 1000
tỷ đồng
c Tác động của các yếu tố khí hậu cực đoan khác
Lũ quét thường xẩy ra ở vùng đồi núi, nơi có độ dốc lớn, cường độ mưa lớn, đường tiêu thoát nước bị ứ nghẽn Lũ quét cũng có thể xẩy ra do vỡ hổ chứa nhỏ, sạt
lở đất lấp dòng chảy Lũ quét có nguy cơ xẩy ra tại 33/64 tỉnh, thành phố trong cả nước thuộc 5 vùng: vùng núi phía Bắc, vùng duyên hải Bắc Trung bộ, vùng duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và vùng Đông Nam bộ Do biến đổi khí hậu (BĐKH), trong những năm gần đây, lũ quét xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta, bình quân có từ 2- đến 4 trận lũ quét xẩy ra trong mùa mưa lũ hàng năm Lũ quét thường phát sinh bất ngờ, xẩy ra trong phạm vi hẹp nhưng rất khốc liệt, thường gây
ra những tổn thất nghiêm trọng về người và của Các trận lũ quét điển hình ở nước
Trang 25ta: trận lũ quét ngày 27/7/1991 tại thị xã Sơn La làm chết và mất tích 42 người, cuốn trôi 336 nhà, gây thiệt hại khoảng 26 tỷ đồng; trận lũ quét ngày 3/10/2000 tại Lai Châu làm chết và mất tích 39 người, thiệt hại khoảng 2 tỷ đồng; trận lũ quét ngày 20/9/2002 tại Hà Tĩnh làm chết 53 người, bị thương 111 người, thiệt hại 852 tỷ đồng; trận lũ quét năm 2005 tại Yên Bái làm chết 51 người, thiệt hại 160 tỷ đồng Nói chung lũ quét là loại hình thiên tai khó dự báo trước nhưng có thể chủ động phát hiện và khoanh vùng những nơi nhiều khả năng xẩy ra để cảnh báo và chủ động phòng tránh
Tố và lốc đều là những loại hình thiên tai nguy hiểm gây tác hại lớn, trong đó lốc thường nghiêm trọng hơn Tố thường kèm theo gió mạnh gây đổ cây cối, nhà cửa, phá huỷ đường dây thông tin, đường dây tải điện, làm đắm tầu thuyền cỡ nhỏ Lốc do có gió mạnh hơn, tốc độ lớn, lại liên tục chuyển hướng nên thường gây tàn phá khốc liệt Tố, lốc thường xuyên xẩy ra ở nước ta Những năm gần đây số lượng
tố lốc gia tăng ngày càng nhiều Ví dụ: năm 1997 có 56 cơn, năm 1998 có 63 cơn, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng Từ 1993 đến 1999 cả nước có 235 cơn lốc, làm chết
234 người, bị thương 158 người, sập đổ 9613 căn nhà, hư hại 85.742 căn nhà, làm thiệt hại 4.929 ha lúa và hoa màu, làm đắm và hư hại 417 thuyền Tố và lốc xẩy ra bất ngờ, khó dự báo trước, việc phòng tránh thường bị động, nên hậu quả khôn lường
Từ năm 1970, hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới có phần diễn ra mãnh liệt hơn Số trận bão mạnh tăng lên, phân bố bão và hướng di chuyển của bão có nhiều thay đổi so với giai đoạn trước
3.1.2 Hiện trạng tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn đối với hệ thống công trình thuỷ lợi
Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8mm/năm trong thời kỳ 1961 - 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ 1993 -
2003 Tổng cộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,31m trong 100 năm gần đây
Tại Việt Nam hiện tượng nước biển dâng kèm theo đó là xâm nhập mặn gây tác động chính đến các vùng ven biển Xâm nhập măn ảnh hưởng đến hệ sinh thái các vùng ven biển, làm thay đổi cơ cấu hệ thống nuôi trồng thủy sản Tăng cường các biện pháp công trình, phi công trình để trống xâm nhập mặn: như xây dựng các
Trang 26đập ngăn mặn ( đập Thảo Long trên sông Hương, ) Chuyển đổi cơ cấu sản xuất: như xây dựng các hồ nuôi thủy sản nước lợ,
Mực nước biển dâng làm cho việc cấp nước ở vùng duyên hải trở nên khó khăn hơn Các tầng nước ngầm bị mặn xâm nhập, nước trong các giếng bị mặn hoá, không dùng cho sinh hoạt hoặc tưới được, buộc phải ngừng hoạt động Hiện tượng nước mặn ngày càng xâm nhập sâu vào các cửa sông, lấn sâu vào đồng ruộng làm diện tích lúa bị nhiễm mặn tăng lên, làm cho nhiều công trình thuỷ lợi gặp khó khăn, không còn hoạt động bình thường, ví dụ: cống khó lấy được nước ngọt vì nước mặn
đã khống chế ở cao trình tự chẩy; trạm bơm khó hoạt động liên lục vì miệng ống hút
đã bị nước mặn khống chế Việc suy giảm khả năng cung cấp nước của các công trình thuỷ lợi sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn, thêm nhiều nguy cơ hạn hán, ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp và an ninh lương thực của quốc gia
Ví dụ: Nếu nước biển dâng cao 1m, sẽ làm ảnh hưởng tới gần 12% diện tích và 10,8% dân số của VN, đặc biệt là ở 2 vùng châu thổ: Đồng bằng sông Hồng bị ngập 5.000km2 và Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập 15.000-20.000km2 Hệ thống đê biển không thể chịu được mực nước dâng do bão lớn như thiết kế, nguy cơ võ đê là khó tránh khỏi Việt Nam có thể bị mất đi 7% diện tích đất nông nghiệp, giảm ít nhất 5 triệu tấn lương thực, đe doạ nghiêm trọng an ninh lương thực
Trong các thập kỷ qua, các khu vực bờ biển là những khu vực phát triển năng động nhất, do đó, ảnh hưởng của mực nước biển dâng sẽ gây ra hậu quả cực kỳ nghiêm trọng Nước biển dâng cao sẽ làm ngập lụt hầu hết các vùng đất thấp , nhiều triệu người sẽ phải di chuyển Trong 100 năm qua, 70% chiều dài của các vùng cát xảy ra hiện tượng biển tiến Ngập lụt và xói lở bở biển sẽ diễn ra nghiêm trọng hơn Xâm nhập mặn sẽ tiến sâu hơn vào nội địa gây thiếu nước ngọt nghiêm trọng
Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạ lưu ven sông sẽ không có khả năng lấy nước ngọt vào đồng ruộng (vì ranh giới mặn 4g/l đã vào cách cửa sông khoảng 25-40km); vào mùa khô sẽ có khoảng trên 70% diện tích ĐBSCL sẽ bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l
Mực nước biển dâng lên làm việc cấp nước vùng duyên hải trở lên khó khăn hơn Các tầng nước ngầm bị xâm nhập mặn khiến nhiều giếng khai thác nước không hoạt động được Việc xâm nhập mặn sâu vào cửa sông làm nhiều công trình thủy
Trang 27lợi bị ảnh hưởng Việc suy giảm khả năng cung cấp nước của các công trình sẽ ngày càng trầm trọng
Tóm lại, nước biển dâng và xâm nhập mặn đã, đang và sẽ làm ảnh hưởng lớn đến nhiều công trình tưới tiêu, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường Các công trình này sẽ không hoạt động được gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống
3.1.3 Hiện trạng tác động của lượng mưa, nhiệt độ, dòng chảy đến hệ thống công trình thuỷ lợi
a Hiện trạng tác động của nhiệt độ đến hệ thống các công trình thuỷ lợi
Tại Việt Nam, nhiệt độ trung bình hàng năm không có gia tăng trong khoảng thời gian từ 1895 (khi bắt đầu có sở khí tượng) đến 1970, tuy nhiên nhiệt độ trung bình hàng năm ở Việt Nam gia tăng đáng kể trong ba thập niên qua, gia tăng khoảng 0.32 oC kể từ 1970
Khuynh h ướng gia tăng nhiệt độ trung bình hàng năm trên toàn cầu (hình trên) và
ở Việt Nam (hình dưới)
Nghiên cứu dữ kiện khí tượng chi tiết của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia cho thấy trong vòng 30 năm qua, ở Việt nam nhiệt độ có xu huớng gia tăng đáng kể, các tỉnh Miền Bắc gia tăng nhiều hơn Miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn hơn Ở Miền Bắc, trong vòng 30 năm (1961-1990), nhiệt độ tối thiểu trung bình trong mùa đông gia tăng 3°C ở Điện Biên, Mộc Châu; 2°C ở Lai Châu, 1.8°C ở Lạng Sơn, 1°C ở Hà Nội và Bắc Giang Ở Miền Nam, nhiệt độ tối thiểu trung bình gia tăng ít hơn, tăng 1.2°C ở Rạch Giá và Ban Mê
Trang 28Thuột, tăng 0.8°C tại Sài Gòn, tăng 0.5°C tại Nha Trang Nhiệt độ trung bình trong mùa hè không gia tăng mấy Riêng tại thành phố Sài Gòn, nhiệt độ trung bình ở Sài Gòn từ năm 1984 đến 2004 cho thấy càng ngày càng tăng lên Chẳng hạn, vào năm 1984, nhiệt độ trung bình ở Sài Gòn là 27.1°C, và riêng trong 5 năm 2001-2005, nhiệt độ trung bình đã lên đến 28°C, trong 10 năm 1991-2000 tăng 0.4°C, bằng mức tăng của 40 năm trước đó Nhiệt độ cao nhất trong khu vực miền Nam luôn luôn xuất hiện tại Phước Long, Ðồng Xoài và Xuân Lộc Mực nước biển quan trắc 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông, Hòn Dấu đã tăng lên khoảng 20
cm (phù hợp với xu thế chung toàn cầu)
b Hiện trạng tác động của mưa và dòng chảy đến hệ thống công trình thủy lợi
Biến đổi về lượng mưa, phân bố mưa theo không gian và thời gian dưới tác động của biến đổi khí hậu đã có những ảnh hưởng nhất định tới việc cấp nước cho các ngành dùng nước
Kết quả của các mô hình dự báo biến đổi khí hậu cho thấy tại nhiều khu vực lượng mưa sẽ tập trung hơn vào mùa mưa và giảm vào mùa khô Mưa lớn tập trung sẽ làm tăng lượng dòng chảy mặt, giảm lượng nước ngấm xuống các tầng chứa nước dưới đất Điều này làm gia tăng lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô, trữ lượng nước ngầm sẽ suy giảm
Ngoài ra, khả năng sinh thủy của lưu vực còn bị gián tiếp ảnh hưởng của biến đổi khí hậu do thảm phủ thực vật bị thay đổi Các vùng khô hạn và bán khô hạn chịu tác động của lượng mưa giảm và bốc hơi tăng
Những vùng có cao độ mặt đất lớn sẽ có lượng dòng chảy mặt tăng lên do lượng mưa tăng Các hồ chứa, đập dâng, trạm bơm và giếng khai thác nước ngầm cũng
bị ảnh hưởng Mưa lớn kéo theo gia tăng trượt lở đất và xói mòn sẽ làm tăng lượng phù sa chuyển tới và lắng đọng trong lòng hồ, làm giảm dung tích hữu ích của các hồ chứa Chế độ dòng chảy thay đổi cũng làm cho vấn đề điều tiết của hồ trở nên khó khăn hơn, khả năng cung cấp nước giảm đi
Do trữ lượng nước ngầm thay đổi, khả năng khai thác của nhiều giếng ngầm cũng
bị giảm sút Chế độ dòng chảy thay đổi cũng làm cho nhiều công trình không hoạt động đúng điều kiện thiết kế, năng lực công trình có thể bị suy giảm
Sự biến đổi về lượng mưa, phân bố mưa theo không gian và thời gian dưới tác động của BĐKH đã có những ảnh hưởng ngày càng bất lợi đối với việc cấp nước cho các ngành dùng nước Kết quả của các mô hình dự báo BĐKH cho thấy tại nhiều khu
Trang 29vực lượng mưa sẽ tập trung hơn vào mùa mưa và giảm vào mùa khô Mưa lớn tập trung sẽ làm tăng lượng dòng chảy mặt, giảm lượng nước ngấm xuống các tầng chứa nước dưới đất, do đó làm gia tăng lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô, trữ lượng nước ngầm cũng vì thế suy giảm Ngoài ra, khả năng sinh thuỷ của các lưu vực còn bị gián tiếp ảnh hưởng của BĐKH do thảm phủ thực vật bị thay đổi đáng kể Các công trình thuỷ lợi như: hồ chứa, đập dâng, trạm bơm, giếng nước ngầm cũng bị ảnh hưởng vì nguồn nước bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng Mưa lớn kéo theo gia tăng trượt lở đất và xói mòn, làm tăng phù sa bùn cát trôi theo dòng chảy lắng đọng trong lòng các hồ chứa, làm giảm dung tích và tuổi thọ hồ chứa
Chế độ dòng chảy thay đổi cũng làm cho vấn đề điều tiết hồ chứa trở nên khó khăn hơn, khả năng cung cấp nước giảm đi Chế độ dòng chảy thay đổi làm cho nhiều công trình thuỷ lợi không hoạt động đúng theo các điều kiện thiết kế, năng lực công trình bị suy giảm, sự vận hành không được bình thường Đối với nước dưới đất,do trữ lượng nước ngầm giảm, mức nước ngầm bị hạ thấp dần, khả năng khai thác của các giếng nước ngầm cũng bị giảm sút, không còn đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt hoặc tưới cho cây trồng
3.2 Dự báo tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai đối với hệ thống công trình thủy lợi
3.2.1 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam đã được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính khác nhau là: thấp (B1), trung bình (B2)
và cao (A2, A1FI)
Kịch bản phát thải thấp (B1) mô tả một thế giới phát triển tương đối hoàn hảo theo hướng ít phát thải khí nhà kính nhất, tốc độ tăng dân số rất thấp, cơ cấu kinh tế thay đổi nhanh theo hướng dịch vụ và thông tin, các thỏa thuận quốc tếnhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, với cơ cấu kinh tế không đồng nhất giữa các khu vực trên thế giới như hiện nay, cộng với nhận thức rất khác nhau về biến đổi khí hậu và quan điểm còn rất khác nhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính nhằm hạn
Trang 30chế mức độ gia tăng nhiệt độở mức dưới 2oC gặp rất nhiều trở ngại, kịch bản phát thải thấp (B1) có rất ít khả năng trở thành hiện thực trong thế kỷ 21
Các kịch bản phát thải cao (A2, A1FI) mô tả một thế giới không đồng nhất ở quy
mô toàn cầu, có tốc độ tăng dân số rất cao, chậm đổi mới công nghệ (A2) hoặc sử dụng tối đa năng lượng hóa thạch (A1FI) Đây là các kịch bản xấu nhất mà nhân loại cần phải nghĩđến Với những nỗ lực trong phát triển công nghệ thân thiện với khí hậu, đàm phán giảm phát thải khí nhà kính, và sự chung tay, chung sức của toàn nhân loại trong “liên kết chống lại biến đổi khí hậu”, có thể hy vọng rằng những kịch bản phát thải cao sẽ có rất ít khả năng xảy ra
Hơn nữa, vẫn còn nhiều điểm chưa chắc chắn trong việc xác định các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội và kèm theo đó là lượng phát thải khí nhà kính trong tương lai Với sự tồn tại các điểm chưa chắc chắn thì các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng ứng với các kịch bản phát thải khí nhà kính ở cận trên hoặc cận dưới đều có mức độ tin cậy thấp hơn so với kịch bản ở mức trung bình
Vì những lý do nêu trên, kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với Việt Nam được khuyến nghị sử dụng trong thời điểm hiện nay là kịch bản ứng với mức phát thải trung bình (B2)
a Kịch bản về nhiệt độ
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,6oC ở Tây Bắc; 2,5oC ở Đông Bắc; 2,4oC ở Đồng bằng Bắc Bộ; 2,8oC ở Bắc Trung Bộ; 1,9oC ở Nam Trung Bộ; 1,6oC ở Tây Nguyên và 2,0oC
ở Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 (Bảng 3.2)
Bảng 3.2: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Trang 31và từ 2 - 3% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ
1980 - 1999 (Bảng 5) Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 4 - 7% ở Tây Bắc, Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10-15% so với thời kỳ 1980-1999 Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 10 đến 15% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ tăng trên dưới 1%
Bảng 3.3: Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch
Trang 32c Kịch bản nước biển dâng
Kết quả tính toán theo kịch bản phát thải trung bình cho thấy vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm 30cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng thêm 75cm so với thời kỳ 1980 -1999 (Bảng 3.4)
Bảng 3.4: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Trung bình
(Ngu ồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, tháng 6/2009)
3.2.2 Dự báo tác động của các hiện tượng cực đoan trong tương lai đối với hệ thống công trình thuỷ lợi
a Dự báo biến đổi khí hậu
Theo dự báo, tại Việt Nam sẽ diễn ra một số biến đổi như sau:
+ Mật độ dông, bão tại các vùng nhiệt đới sẽ tăng lên, đe dọa tới tính mạng và sinh
hoạt của con người, cơ sở hạ tầng, các hoạt động sản xuất, phá hủy các hệ sinh thái Phân bố các khu vực khí hậu sẽ có những biến động
+ Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1oC mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1 - 0,3oC mỗi thập kỷ Về mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối mùa Nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè có xu thế tăng rõ rệt trong khi nhiệt độ trung bình của các tháng khác không tăng hoặc giảm chút ít, dẫn đến nhiệt độ trung bình năm có
xu thế tăng lên
+ Lượng mưa không đồng nhất giữa các khu vực và các thời kỳ Sự thay đổi về
tổng lượng mưa tháng và mưa năm không thể hiện xu thế tăng hay giảm nhưng cường độ mưa đang có xu hướng tăng lên rõ rệt Trên phần lớn lãnh thổ lượng mưa giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11 Mưa phùn giảm đi rõ rệt ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
+ Nước biển dâng khoảng 5 cm mỗi thập niên và sẽ dâng khoảng 33 đến 45 cm
đến năm 2070 và 100 cm đến năm 2100
+ Tần suất và cường độ El-Nino sẽ tăng lên, tác động mạnh mẽ đến chế độ thời
tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều khu vực của Việt Nam Số cơn bão ảnh hưởng
Trang 33đến nước ta và mức độ ảnh hưởng có xu hướng tăng, bão xuất hiện muộn hơn và dịch chuyển xuống vĩ độ thấp hơn Lũ lụt, hạn hán sẽ diễn ra mạnh mẽ và phức tạp hơn
b Dự báo tác động của biến đổi khí hậu đến đời sống người dân và hệ thống công trình th ủy lợi
Theo IUCN, với bờ biển dài 3260km và có hai trong số những đồng bằng lớn nhất thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới dễ bị ảnh hưởng nhất bởi biến đổi khí hậu Chỉ cần mực nước biển dâng cao 1m sẽ có khả năng ảnh hưởng tới đời sống của 10,8% dân số Việt Nam, nhất là ở đồng bằng Nếu mực nước biển dâng cao 5m thì Việt Nam sẽ bị mất tới 16% diện tích đất đai; khoảng 35% dân số và 35% tổng sản phẩm quốc nội sẽ bị đe doạ
Do nước biển dâng, chế độ dòng chảy sông suối sẽ thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thủy lợi sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm
Các đầm hồ trong đất liền bị nhiễm mặn ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, nhiều loài có giá trị kinh tế hoặc ý nghĩa khoa học sẽ bị chết hoặc di cư Nguồn nước ngọt giảm sẽ sinh ra thiếu nước sinh hoạt và sản xuất
Theo tài liệu hội thảo “Đa dạng sinh học và Biến đổi khí hậu: Mối liên quan tới Đói nghèo và Phát triển bền vững” do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tháng 5/2007 thì: Một số khu vườn Quốc gia và các loài thú quý hiếm trong sách đỏ sẽ
có nguy cơ bị ảnh hưởng hoặc diệt vong (Vườn Quốc gia Tràm Chim sẽ bị xóa sổ vào năm 2050)
Biến đổi khí hậu sẽ tác động sâu sắc đến tài nguyên nước của nước ta Dòng chảy năm biến động từ +4% đến -19%, lưu lượng đỉnh lũ, độ bốc thoát hơi đều tăng, trong những thập kỷ tới tần suất xuất hiện các trận lũ lụt và hạn hán sẽ tăng lên và mức độ ngày càng trầm trọng hơn
3.2.3 Dự báo tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn trong tương lai đối với hệ thống công trình thuỷ lợi của Việt Nam
3.2.3.1 Đồng bằng sông Hồng
• Đối với cấp nước:
Hệ thống cống bị mặn như Ngô Đồng, Nguyệt Lâm, Lịch Bài, Thái Học trên sông Hồng, Thuyền Quang, Dục Dương, Sa Lung, Ngữ trên sông Trà Lý, Hệ trên sông Hóa, Đồng Câu, Mới, Rỗ trên sông Văn Úc, Hệ, Ba Đồng, Lý Xã, Cao Nội