1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh

93 691 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Ngoài ra, các yếu tố khác nhau như cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi còn thiếu, nhận thức và sự kết hợp giữa nhà trường với phụ huynh với cộng đồng trong việc thực hiện

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU LƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ

Ở TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP PHƯỜNG 3, QUẬN 10, TP HỒ CHÍ MINH

CHUYÊN NGÀNH:QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS PHẠM VĂN TƯ

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 7 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Lương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON 9

1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9

1.2 Hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non 13

1.3 Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đềở trường mầm non 17

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độnggiáo dục theo chủ đềở trường mầm non 22

Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP PHƯỜNG 3, QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 26

2.1.Vài nét về địa bàn nghiên cứu 26

2.2.Vài nét về khách thể khảo sát 28

2.3 Thực trạng việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non phường 3, quận 10 29

2.4 Thực trạng quản lýhoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non phường 3, quận 10 34

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lýhoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non phường 3, quận 10 48

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP PHƯỜNG 3, QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 55

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 53

3.2 Các biện pháp quản lý thực hiện hoạt độnggiáo dục theo chủ đề của Hiệu trưởng trường mầm non công lập phường 3, quận 10, Tp.Hồ Chí Minh 55

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 69

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục theo chủ đề 70

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em Những kiến thức và kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua chương trình giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập, thành công của trẻ sau này Do vậy, phát triển giáo dục mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có chính sách cụ thể nhằm phát triển giáo dục mầm non như: Đầu tư xây dựng trường lớp, cơ sở vật chất; đổi mới phương pháp giảng dạy; cải tiến chế độ tiền lương đối với giáo viên mầm non;

xã hội hóa giáo dục mầm non… Đặc biệt, chương trình giáo dục mầm non mới ra đời

đã đáp ứng được xu thế đổi mới của thời đại, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước sau này Chương trình giáo dục mầm non có tính mở rất cao, giáo viên có nhiều cơ hội thể hiện sự sáng tạo, trẻ được tạo điều kiện phát huy tính tích cực, phát triển toàn diện về thể lực, trí tuệ và nhân cách

Có thể nói sự ra đời của chương trình giáo dục mầm non mới, trong đó, trọng tâm là hình thức giáo dục theo chủ đề đã tạo ra những bước đột phá, giúp giáo viên tiếp cận với những phương pháp dạy học tích cực và trẻ mầm non trở thành trung tâm của mọi hoạt động giáo dục

Giáo dục theo chủ đề trong việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non đã được triển khai rộng khắp cả nước, song cần phải khẳng định rằng đây là một chương trình rất mới mẻ cả về nội dung, phương pháp, quy trình tổ chức, kiểm tra đánh giá…và hoàn toàn khác xa so với chương trình mầm non trước đây Chính vì vậy, không ít cán bộ quản lý và cả giáo viên lúng túng, khó khăn trong triển khai chương trình giáo dục theo chủ đề phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ Không những thế, một

số cán bộ quản lí, giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, trình độ tiếp cận chương trình mới càng khiến cho việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề càng bị hạn chế

Việc quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn Phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh chưa có sự nhất quán, đồng bộ trong chỉ đạo và triển khai thực hiện, mỗi trường thực hiện theo một quan điểm chỉ đạo khác nhau và cách tổ chức thực hiện chủ đề khác nhau

Trang 5

2

Ngoài ra, các yếu tố khác nhau như cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi còn thiếu, nhận thức và sự kết hợp giữa nhà trường với phụ huynh với cộng đồng trong việc thực hiện chương trình đôi khi chưa được thống nhất cũng tạo ra những tác động tiêu cực đến hiệu quả quản lý và chất lượng giáo dục mầm non

Trong thực tế các đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề chưa được phong phú, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu tham khảo của giáo viên các trường

Xuất phát từ những lí do trên, với cương vị là một người làm quản lý trong trường mầm non, đồng thời, nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề này nên

tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn Phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài cho Luận văn

tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

 Những nghiên cứu nước ngoài

Tháng 9 - 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” được tổ chức tại Varna (Bungary) dưới sự bảo trợ của UNESCO đã tập trung làm rõ hai vấn đề: tại sao phải dạy học tích hợp và dạy học tích hợp các khoa học là gì? Kết thúc hội

nghị, các nhà khoa học đều thống nhất rằng: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản về tư tưởng của khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học

khác nhau”

Told.R.J đã đưa ra các tiêu chí quan trọng của dạy học tích hợp theo chủ đề

bao gồm: “Việc học và nghiên cứu các môn học khác nhau, có thời khóa biểu linh động, giáo viên giảng dạy theo nhóm, việc học lấy học sinh làm trung tâm có sự tướng tác trình độ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên và giữa các giáo viên” [dẫn theo 18, tr 19]

Drake M.S trong nghiên cứu của mình thì cho rằng dạy học theo chủ đề là một

mô hình của dạy học tích hợp Mô hình này đòi hỏi giáo viên phải vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau Ưu điểm của cách thức dạy học này là giáo viên vẫn dạy một môn học nhưng trong quá trình dạy lại mở rộng tri thức sang nhiều môn học liên quan khác [18, tr 15]

Trang 6

3

Beana J thì đưa ra quan điểm rằng dạy học theo chủ đề rất phù hợp để áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất và mục tiêu phù hợp đối với trẻ ở bậc tiểu học [8, tr 20]

Marshall J đã nghiên cứu về cảm xúc và hứng thú của trẻ với phương pháp

dạy học tích hợp, trong đó có tích hợp theo chủ đề Tác giả nhận xét: “Chương trình dạy học tích hợp chú trọng cung cấp kiến thức phù hợp với nhu cầu của học sinh, học sinh sẽ được học cái mình cần và yêu thích nên việc học trở nên nhẹ nhàng và hứng thú hơn” [ 8, tr 35]

 Những nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, giáo dục mầm non luôn được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội Trong quá trình phát triển giáo dục mầm non ở Việt Nam đã có nhiều chương trình giáo dục ra đời Năm 1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành bộ chương trình mẫu giáo với tên gọi “Chương trình chăm sóc – giáo dục mẫu giáo và hướng dẫn thực hiện” Thực hiện chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về việc đổi mới nội dung sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và công tác quản lí giáo dục, giáo dục mầm non đã thử nghiệm và đưa ra chương trình thí điểm “Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trẻ” Đến ngày 25 tháng 7 năm 2009, chương trình giáo dục mầm non mới chính thức được ban hành theo nguyên tắc chương trình khung với độ mở cao, phát huy tính sáng tạo của giáo viên và tính tích cực của trẻ Cấu trúc chương trình gồm 5 yếu tố: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục, các điều kiện thực hiện đánh giá

Trên thực tế, giáo dục theo chủ đề đã được nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn Giáo dục theo chủ đề được khẳng định là định hướng đúng đắn trong tiến trình đổi mới giáo dục mầm non hiện nay Vì vậy, khái niệm, quy trình, nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức giáo dục theo chủ đề được nhiều tác giả nghiên cứu như:

- Đề tài: “Xây dựng chương trình giáo dục trẻ 5 tuổi chuẩn bị đi học lớp 1 tiểu học năm 2000” (B96-49-TĐ11) đã đề xuất một chương trình khung nhằm chăm sóc

giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi theo quan điểm đổi mới nội dung, phương pháp, cấu trúc chương trình theo hướng tích hợp nội dung theo chủ đề, phù hợp với xu thế chung của các nước trong khu vực và trên thế giới Trên cơ sở phân tích nhu cầu của trẻ 5 tuổi chuẩn bị vào học lớp 1 ở nông thôn và căn cứu vào mục tiêu chương trình giáo

Trang 7

4

dục tiểu học năm 2000, tác giả Phan Việt Hoa và nhóm nghiên cứu đã xác định được quan điểm tích hợp chủ đề trong biên soạn nội dung, phương pháp giáo dục trẻ 5 tuổi chuẩn bị vào lớp 1 ở nông thôn với một chương trình chuẩn bị được vạch ra rất cụ thể, khoa học [16, tr 5]

- Tổ Mầm non – Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng với đề tài: “Xây dựng hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề phương tiện giao thông đường bộ theo hướng tích hợp” Đây là một công trình nghiên cứu khoa học cấp

trường nghiên cứu về: giáo dục theo chủ đề phù hợp với xu thế giáo dục mầm non ở các nước có nền giáo dục tiên tiến như: Anh, Pháp, Thụy Điển, Mỹ Thông qua đề tài các giáo viên của trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng đã bước đầu hình thành được cách thức từng bước giúp các em mầm non ở từng lứa tuổi có sự tiếp xúc với môi trường xung quanh, mà cụ thể ở đây là các em đã tiếp cận với một số phương tiện giao thông đường bộ quen thuộc hàng ngày Đây là một nội dung có ý nghĩa rất thiết thực đối với các em trong quá trình tiếp xúc với cuộc sống

- Tài liệu “Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề” xuất bản năm 2013 đã cung cấp những nội dung cơ bản về

quan điểm dạy học tích hợp và mô hình giáo dục theo chủ đề Tài liệu gồm 2 phần, trình bày những quan niệm chung mang tính lí luận về giáo dục tích hợp, các hướng dẫn chung, xây dựng kế hoạch giáo dục theo chủ đề và sắp xếp hệ thống các chủ đề phù hợp với thực tế của trường, lớp, địa phương, gợi ý, hướng dẫn thực hiện nội dung chương trình và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục theo chủ đề Ở phần

một Những vấn đề chung, các tác giả đã đưa ra những quan niệm, mang tính lý luận

chung về lý luận tích hợp, đồng thời là những hướng dẫn chung mang tính nguyên tắc để lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề và sắp xếp hệ thống các chủ đề phù hợp với thực tế của lớp, trường, địa phương Ở Phần 2, các tác giả đã có những sự gợi ý, hướng dẫn thực hiện nội dung chương trình và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục theo chủ đề (phần này gồm 10 chương là 10 chủ đề khác nhau): chủ đề trường lớp mầm non, chủ đề bản thân, chủ đề gia đình, chủ đề nghề nghiệp, chủ đề thực vật, chủ đề động vật, chủ đề nước và các hiện tượng thời tiết, chủ đề giao thông, chủ đề quê hương, chủ đề trường Tiểu học [35]

Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu về: Biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới, trong đó giáo dục theo chủ đề được đề cập

Trang 8

đó [45]

- Nguyễn Thùy Linh (2011), Biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới của Hiệu trưởng trường mầm non quận Cầu Giấy – Thành phố Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của Nguyễn Thùy Linh

cũng đi vào tìm hiểu về thực trạng và biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm nọn mới, nhưng cô chỉ đi vào một địa bàn hẹp hơn là ở quận Cầu giấy – Thành phố Hà Nội Tuy địa bàn hẹp nhưng nhờ vậy nên ưu thế của Luận văn này là làm rõ hơn được các giải pháp cụ thể của các trường trong việc áp dụng chương trình giáo dục mầm non mới, đặc biệt là chương trình giáo dục mầm non theo chủ đề Những mặt đạt được cũng như những điểm còn hạn chế mà Tác giả đưa ra là bài học

bổ ích cho những người đi sau [29]

Có thể thấy, các kết quả nghiên cứu trên cũng đã làm phong phú thêm lý luận

về quản lý nói chung và quản lý giáo dục mầm non nói riêng Tuy nhiên, giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non chỉ là một nội dung nhỏ được lồng ghép trong phần

cơ sở lý luận về chương trình giáo dục mầm non mới Các công trình chủ yếu tập trung làm rõ vai trò tổng thể của Hiệu trưởng trong quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới chứ không đi sâu vào các nội dung cụ thể của quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề Các công trình nghiên cứu về thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề còn hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được tiến hành trên địa bàn phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh Đó chính là những điểm còn khuyết trong các công trình đã công bố trước đó

Trang 9

6

Chính vì vậy, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non công lập trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như đề xuất các

biện pháp quản lý thiết thực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non của Phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh một cách đồng bộ và toàn diện hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận thực tiễn, luận văn tiến hành khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non

Khảo sát thực trạng thực hiện và quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non công lập phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Khảo nghiệm nhận thức tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở

trường mầm non

 Giới hạn nghiên cứu

 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Vì thời gian hạn chế nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và một

số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại 3 trường mầm non công lập trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh: Trường Mầm non Thực Hành, trường Mầm non Phường 3, trường mầm non Măng Non II

 Giới hạn về khách thể khảo sát

Trang 10

7

Để điều tra thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề, chúng tôi khảo sát trên 69 khách thể, trong đó 9 CBQLvà 60 giáo viên mầm non thuộc 3 trường mầm non công lập trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

nhà nước về công tác giáo dục trẻ mầm non

 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích của phương pháp này là: khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục theo chủ đề và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non

 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn một số CBQL và giáo viên của các trường mầm non nhằm thu thập các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như: tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn hay các nguyên nhân của thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề; tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý

 Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến của các chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

mà đề tài đề xuất, từ đó khẳng định sự cần thiết của vấn đề mà Luận văn nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Quan sát, nghiên cứu hồ sơ quản lý chuyên môn của Ban giám hiệu và sổ kế hoạch giáo dục của giáo viên; hồ sơ về công tác kiểm tra, đánh giá; bồi dưỡng tập huấn chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên của từng trường để đánh giá thực trạng quản lý việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục theo chủ

đề của các trường

 Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn

Phân tích nguyên nhân những thuận lợi và khó khăn của các biện pháp đã áp dụng, từ đó rút ra kết luận

 Phương pháp thống kê toán học trong quản lý giáo dục

Trang 11

8

Sử dụng các công thức toán thống kê để định lượng kết quả nghiên cứu, đặc biệt là thống kê kết quả phỏng vấn mà tác giả thực hiện để đưa ra những kết quả chính xác, mang tính khách quan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã bổ sung và làm phong phú thêm hệ thống lý luận về quản lý, quản

lý giáo dục, giáo dục theo chủ đề và quản lý giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non Luận văn cũng góp phần làm rõ vai trò của giáo dục theo chủ đề đối với việc đổi mới hoạt động giáo dục ở các trường mầm non Đồng thời phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non dưới góc độ lý luận

 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã cung cấp được thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục theo chủ

đề ở các trường mầm non công lập trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến công tác quản lý này Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giúp các cơ quan ban ngành, các nhà quản lý giáo dục, các trường đào tạo sư phạm mầm non có thể đánh giá lại về cách thức tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề để mang lại hiệu quả giáo dục tốt nhất cho trẻ

7 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường MN Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non

công lập phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non

công lập phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể nhận thấy mặc dù các tác giả có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất ở một số điểm là:

+ Quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do sự cam kết thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

+ Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra

Như vậy, quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản

lý và khách thể quản lý luôn có mối quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế quản lý vừa

là một khoa học, vừa là một nghệ thuật

Trang 13

10

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm “Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lýlên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định”

1.1.2 Quản lý giáo dục

Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục là nhân tố tổ chức, chỉ đạo để giáo dục thực hiện được vai trò, mục đích tồn tại của mình Hay nói một cách khác, lịch

sử hình thành và phát triển của quản lý giáo dục có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hữu

cơ với lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục

Theo tác giả M.I Kônđacốp, quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể QL ở tất cả các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm đảm bảo việc hình thành nhân cách cho các thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như quy luật chung của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ Quản lý giáo dục tồn tại ở tầm vĩ mô khi ta xem xét nó đối với một nền giáo dục hay một hệ thống giáo dục Ngược lại, trên quy mô một nhà trường quản lý giáo dục được coi là ở tầm

vĩ mô

Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch,

có ý thức và định hướng của chủ thể QL ở các cấp khác nhau nhằm đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em” [11, tr 25]

Về chức năng của quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng có bốn chức năng chính: kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển, kiểm tra

1.1.3 Hoạt động giáo dục theo chủ đề

Để hiểu thế nào là GDTCĐ, trước hết chúng ta cần tiếp cận khái niệm “Dạy học tích hợp” Bởi GDTCĐ thực chất là một trong những hình thức của dạy học tích hợp

Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng, dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển hài hòa, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có

Trang 14

11

Tích hợp là một tiến trình của tư duy và nhận thức mang tính chất phát triển tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động khi họ muốn hướng đến hiệu quả của chúng Quan điểm tích hợp cho phép con người nhận ra những điều then chốt và các mối liên hệ hữu cơ giữa các thành tố trong hệ thống và trong tiến trình hoạt động thuộc một lĩnh vực nào đó Việc khai thác hợp lý và có ý nghĩa các mối liên hệ này dẫn nhà hoạt động lý luận cũng như thực tiễn đến những phát kiến mới, tránh những trùng lắp gây lãng phí thời gian, tài chính và nhân lực Đặc biệt, quan điểm này dẫn người ta đến việc phát triển nhiều loại hình hoạt động, tạo môi trường áp dụng những điều mình lĩnh hội vào thực tiễn, nhờ vậy tác động và thay đổi thực tiễn Do vậy, tích hợp là vấn đề của nhận thức và tư duy của con người, là triết lý/nguyên lý chi phối, định hướng và quyết định thực tiễn hoạt động của con người

Lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan điểm lý luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay Xu hướng tích hợp còn được gọi là xu hướng liên hội đang được thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong quá trình phát triển các chương trình giáo dục Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp, trước hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực người học

Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống Trước hết phải thấy rằng cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư, là một tập đại thành của tri thức, kinh nghiệm và phương pháp Mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là những tình huống tích hợp Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp và phối hợp kinh nghiệm

kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp học sinh tư duy và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng, phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau

và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại

Mục đích chung của việc học là hiểu sự liên kết của mọi hiện tượng và sự vật Tích hợp là cách tư duy trong đó các mối liên kết được tìm kiếm, do vậy tích hợp làm cho việc học chân chính xảy ra Như thế, với định nghĩa học tập là tìm kiếm các mối liên hệ và kết nối kiến thức Đó là quy luật tích hợp tất yếu của tiến trình học tập chân chính Cụ thể, sự thâm nhập có tính chất tìm tòi khám phá của học sinh vào quá trình kiến tạo kiến thức, học tập có ý nghĩa (meaningful learning), học sâu sắc và ứng dụng (deep learning) được xem là chủ yếu đối với việc dạy và học hiệu quả Và cách

Trang 15

12

tiếp cận tìm tòi - khám phá này khuyến khích học sinh thông qua quá trình tìm kiếm

tích cực, sẽ kết hợp hơn là mở rộng các kiến thức rời rạc Nhiều nghiên cứu ứng dụng

tâm lý học nhận thức vào giáo dục đã khẳng định: mối liên hệ giữa các khái niệm đã học được thiết lập nhằm đảm bảo cho mỗi học sinh có thể huy động một cách hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết tình huống, và có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Nhờ đó, học sinh có điều kiện phát triển những kỹ năng xuyên môn, những khả năng có thể di chuyển [18, tr 23]

Như vậy, muốn đạt được mục tiêu của dạy học tích hợp thì trước hết giáo viên cần xây dựng được “Chương trình giáo dục tích hợp” mà theo Drake, Burn có các hướng tiếp cận như sau:

học đa môn Một bài học dựa vào chủ đề thường có hơn ba lĩnh vực/môn học liên

quan đến việc học một đơn vị bài học theo chủ đề và bài học này thường được kết thúc bằng một hoạt động đạt đến mức tích hợp cao nhất Đơn vị bài học (units) kéo dài trong dăm ba tuần, và toàn trường có thể tham gia vào Một đơn vị bài học theo chủ đề được toàn trường thực hiện có thể độc lập với kế hoạch học tập thường xuyên Những chương trình học tập theo chủ đề khác có thể được tiến hành ở cùng một khối lớp[18, tr 53]

Quan điểm tích hợp nhìn nhận đứa trẻ như một nhân cách trọn vẹn và sự phát triển của trẻ mang tính tổng thể trên các mặt: thể chất – tâm lí và xã hội Trẻ sống và lĩnh hội các tri thức hiểu biết trong môi trường tự nhiên – xã hội đan quyện với nhau và không chia cắt, một hoạt động thúc đẩy sự phát triển một mặt nào đó thì cũng thúc đẩy phát triển các mặt khác của trẻ Với quan điểm trên, chương trình chăm sóc giáo dục trẻ hiện nay đã được đổi mới trên cơ sở dạy học tích hợp cho trẻ mầm non

Trang 16

13

Dạy học tích hợp chính là việc học của trẻ được thực hiện thông qua việc tham gia các hoạt động lồng ghép đa dạng trong môi trường sống của trẻ, nội dung giáo dục và dạy học trọng tâm được lập lại thông qua tổ chức lồng ghép các hoạt động, tạo điều kiện cho việc lĩnh hội kiến thức trở nên vững chắc hơn, phù hợp với nhận thức mang tính tổng thể ở trẻ nhỏ

Hoạt động dạy học ở mầm non được tổ chức theo hướng tiếp cận tích hợp các nội dung học Các nội dung này không phân chia theo các “bộ môn”, không phân bố

cụ thể vào các tiết học như ở cấp học phổ thông mà theo những chủ đề có chứa đựng những tri thức sơ đẳng của đời sống văn hóa, xã hội và tự nhiên Cách tổ chức này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo hòa lẫn trong hoạt động tự nhiên đầy hứng thú, sinh động [18, tr 57]

Những nội dung chủ đề ở trường mầm non “Bản thân”, “Gia đình”, “Động vật”, “Thực vật”, “Nước và một số hiện tượng thời tiết”…làm cho trẻ có nhu cầu học tập để giải đáp những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Học tập theo hướng tích hợp giúp cho trẻ quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để trẻ học tập tốt hơn Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giải quyết vấn đề của trẻ Chẳng hạn, trẻ hay đặt câu hỏi “Vì sao có sấm chớp?” “Vì sao cá sống dưới nước

mà không sống được trên cạn?”, “Vì sao không được chặt phá cây?”…

Trẻ mẫu giáo cần được phát triển toàn diện về các mặt: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mỹ Các mặt này có liên quan chặt chẽ với nhau

Do đó, việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

và cần được tiến hành đồng thời, không có sự tách bạch

1.2 Hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non

1.2.1 Chủ đề giáo dục

Chủ đề là nội dung hoặc phần kiến thức mà trẻ có thể tìm hiểu, khám phá theo nhiều cách khác nhau, dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên và diễn ra trong một khoảng thời gian thích hợp, thường là 1 - 2 tuần

Một chủ đề lớn (nhóm chủ đề) có thể bao gồm một số chủ đề nhỏ Phạm vi kiến thức và hoạt động của một chủ đề không bị khép kín mà đượcmở rộng ra một cách linh hoạt cho phép trẻ tìm hiểu và lĩnh hội tùy theo trình độ phát triển của độ tuổi và của cá thể trẻ Như vậy, chủ đề có thể rộng (lớn) hoặc cũng có thể hẹp (nhỏ)

Trang 17

14

Kiến thức trong một chủ đề thường mang tính tích hợp Nói cách khác, để hiểu biết tương đối đầy đủ về một chủ đề nào đó, người dạy và người học phải vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật, sức khỏe, dinh dưỡng…)

Giáo dục theo chủ đề là hướng đổi mới của chương trình GDMN hiện nay Chủ đề là tâm điểm mà xoay quanh nó giáo viên có thể khai thác những vấn đề trẻ hứng thú, quan tâm nhằm kích thích hoạt động tư duy của trẻ Mỗi chủ đề đều xác định những đơn vị kiến thức, thái độ, kĩ năng cần cung cấp cho trẻ nhằm phát triển tổng thể các mặt: nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm và xã hội Sử dụng hình thức mạng "mở" giúp giáo viên nhìn rõ các mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức và các hoạt động mang tính tích hợp trong phạm vi chủ đề này với chủ đề khác Đồng thời chương trình còn khuyến khích giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học khác nhau một cách sáng tạo Tạo điều kiện để giáo viên đổi mới phương pháp dạy học bằng cách xây dựng các góc hoạt động để họ có cơ hội sử dụng các phương pháp và kĩ thuật nhằm tích cực hóa hoạt động tư duy của trẻ (giao nhiệm vụ để trẻ suy nghĩ tìm cách giải quyết vấn đề) và phương pháp cùng tham gia (nhóm nhỏ) Giáo viên có thể xác định, lựa chọn và tổ chức nhiều hoạt động để tạo điều kiện cho trẻ có thể "học qua chơi", “học qua thực hành” Nhờ đó trẻ có thể lĩnh hội kiến thức và kĩ năng liên quan đến chủ đề một cách tự nhiên và có được những kinh nghiệm mang tính tích hợp cần cho cuộc sống của trẻ Mỗi chủ đề giáo dục cần đảm bảo:

- Xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ và từ cuộc sống

- Được thể hiện trong các hoạt động trong ngày ở trường mầm non

- Được tự mình lựa chọn nguyên vật liệu, đồ chơi trong khu vực chơi và trong lớp

- Một chủ đề cần được tiến hành tối thiểu từ một đến hai tuần (tùy thuộc nội dung kiến thức, kỹ năng mà GV mong muốn đứa trẻ đạt được trong chủ đề đó) để đảm bảo vừa

có sự lặp lại và vừa có sự mở rộng cơ hội học cho trẻ hàng ngày

Trong một chủ đề lớn bao gồm các chủ đề nhỏ Phạm vi kiến thức và hoạt động của một chủ đề không bị khép kín mà được mở rộng ra một cách linh hoạt, cho phép trẻ tìm hiểu và lĩnh hội tùy theo trình độ phát triển của độ tuổi và của từng cá nhân trẻ Như vậy kiến thức trong từng chủ đề phụ thuộc vào kinh nghiệm của đứa trẻ và tổ chức thực hiện chủ đề của giáo viên Kiến thức trong từng chủ đề thường mang tính

Trang 18

15

tích hợp Nói một cách khác, để hiểu biết tương đối đầy đủ về một chủ đề nào đó, người dạy và người học phải vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật, sức khỏe, dinh dưỡng ) [17, tr 19]

1.2.2 Mục tiêu giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non

Mục tiêu chương trình GDMN được xây dựng cho trẻ cuối độ tuổi nhà trẻ và cuối độ tuổi mẫu giáo theo từng lĩnh vực phát triển của trẻ nhằm hướng đến phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mĩ;

Chú trọng hình thành ở trẻ những chức năng tâm lí, năng lực chung của con người Phát triển tối đa tiềm năng vốn có, hình thành những kĩ năng sống cần thiết cho trẻ và phù hợp với yêu cầu của gia đình, cộng đồng và xã hội;

Chuẩn bị tốt cho trẻ vào học giai đoạn sau [17, tr 28]

1.2.3 Nội dung giáo dục theo chủ đề

Nội dung chăm sóc - giáo dục trẻ được đổi mới theo hướng đảm bảo tính tích hợp giữa nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe với giáo dục phát triển, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ trong trường mầm non hiện nay Bổ sung một số nội dung thiết thực đảm bảo giáo dục trẻ toàn diện gắn với cuộc sống thực hàng ngày của đứa trẻ Hệ thống các chủ đề hoặc các vấn đề giáo dục được thiết

kế theo sơ đồ hình "mạng lưới" với hình thức mạng mở Mỗi chủ đề được xây dựng hướng tới thực hiện mục tiêu cụ thể Mạng hoạt động tích hợp cho phép giáo viên tổ chức, phối hợp các hoạt động giáo dục trong mối liên hệ, hỗ trợ tác đông qua lại lẫn nhau giữa các hoạt động trọng tâm và các hoạt động có tính chất bỗ trợ, nhằm mở rộng và thực hiện nội dung chủ đề có hiệu quả Các hoạt động và phương tiện giáo dục được tổ chức lồng ghép, đan cài và mang tính tích hợp được lựa chọn phù hợp với chủ đề giáo dục đáp ứng nhu cầu hứng thú của trẻ và phù hợp với đều kiện cụ thể ở địa phương và nhóm lớp

Nói một cách khái quát hơn, nội dung GDTCĐ bao gồm các nội dung chính trong từng mặt phát triển của trẻ

- Nội dung giáo dục phát triển thể chất

- Nội dung giáo dục phát triển nhận thức

- Nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ

- Nội dung giáo dục phát triển tình cảm - xã hội

Trang 19

16

- Nội dung giáo dục phát triển thẩm mỹ

1.2.4 Phương pháp giáo dục theo chủ đề

Nội dung GDTCĐ rất phong phú, đa dạng Chính vì vậy, giáo viên được thỏa sức lựa chon phương pháp nhằm thực hiện mục tiêu của mỗi chủ đề Khuyến khích giáo viên tận dụng các điều kiện, hoàn cảnh ở trong môi trường lớp học và trường học, các nguyên vật liệu sẵn có và các phế liệu thích hợp, an toàn với trẻ để hướng dẫn trẻ tìm hiểu, khám phá và tạo ra các sản phẩm mới mang tính sáng tạo Khi tổ chức các hoạt động giáo dục, giáo viên có thể tổ chức lồng ghép, đan cài để tạo thành một chỉnh thể [17, tr 27] Theo tác giả Hồ Lam Hồng, có các phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục theo tích hợp chủ đề như sau:

- Tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở tích hợp những nội dung liên quan trong chủ đề Ở đây chủ đề trẻ tìm hiểu có nội dung cốt lõi và những nội dung kết hợp có liên quan

- Tổ chức hoạt động giáo dục có sự kết hợp nội dung giáo dục của hai hoạt động khác nhau

- Tổ chức hoạt động giáo dục với việc sử dụng đa phương tiện và học liệu do trẻ tự lựa chọn

- Tổ chức hoạt động trải nghiệm, thí nghiệm để trẻ tự làm, tự nói ra những quan sát và suy nghĩ của mình

- Tận dụng các tình huống bất ngờ có thực trong cuộc sống để dạy trẻ học và lĩnh hội những hiểu biết cần thiết và phù hợp

- Tổ chức môi trường và tận dụng môi trường giáo dục phù hợp để giúp trẻ học + Trước hết môi trường giáo dục trong lớp được phân thành các góc hoạt động như: góc thiên nhiên, góc đọc sách, góc xây dựng, góc gia đình… Các góc hoạt động được sắp xếp hợp lí theo nguyên tắc động phần động, tĩnh phần tĩnh để tránh ảnh hưởng lẫn nhau trong khi trẻ hoạt động; các góc tạo những khoảng không gian yên tĩnh khuyến khích trẻ hoạt động theo nhu cầu cá nhân Trẻ được lựa chọn góc chơi, bạn chơi va đồ dùng cần thiết Tận dụng sản phẩm của hoạt động tạo hình, môi trường xung quanh vào các góc khác nhau để trẻ chơi, trẻ học cách sử dụng khác nhau và góp phần trang trí môi trường lớp theo chủ đề

+ Tận dụng tối đa môi trường xung quanh (sân chơi ngoài trời, các phòng ban

và bếp trong trường, góc nuôi thú vật, vườn rau, chỗ để xe trong trường, cảnh quan

Trang 20

17

xung quanh trường…) để trẻ tìm hiểu sự vật hiện tượng xung quanh Đồng thời đây là nơi trẻ phát triển vận động tốt nhất thông qua các trò chơi dân gian, giải trí

- Chú trọng tổ chức hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi

- Chú trọng đến việc trẻ “học như thế nào” hơn là “học cái gì”, coi trọng quá trình hơn là kết quả hoạt động, học môt cách tích cực qua tìm hiểu, trải nghiệm, học thông qua sự hợp tác giữa trẻ với người lớn và giữa trẻ với trẻ

- Chú trọng việc giao tiếp, gắn bó giữa người lớn với trẻ và trẻ với trẻ

- Phối hợp các phương pháp hợp lí nhằm tăng cường ở trẻ tính chủ động, tích cực hoạt động, đảm bảo trẻ “học mà chơi, chơi mà học”

- Coi trọng tiếp cận cá nhân trong chăm sóc, giáo dục trẻ [17; tr 45]

1.3 Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đềở trường mầm non

1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của Ban giám hiệu nhà trường trong quản lý hoạt động giáo dục ở trường mầm non

Điều lệ trường mầm non quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Ban giám hiệu nhà trường như sau:

* Hiệu trưởng: Là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em Để hoàn thành được nhiệm vụ trên, Hiệu trưởng cần:

- Xây dựng, quy hoạch, phát triển nhà trường, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục từng năm học, báo cáo đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng nhà trường và các cấp có thẩm quyền;

- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;

- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại, tham gia quá trình tuyển dụng, luân chuyển, khen thưởng đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;

- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;

- Tiếp nhận trẻ, quản lý trẻ và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, quyết định khen thưởng, phê duyệt đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

Trang 21

18

- Tham dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ, chuyên môn, tham gia các hoạt động giáo dục 2 giờ trong một tuần, được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị

- xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ;

- Thực hiện xã hội hóa giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng

* Phó hiệu trưởng: Là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về các công việc quản lí của mình Nhiệm vụ của Phó hiệu trưởng là:

- Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công;

- Điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng ủy quyền;

- Tham dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ, chuyên môn, nghiệp vụ

QL, tham gia các hoạt động giáo dục 4 giờ trong một tuần, được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

1.3.2 Nội dung của quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non

1.3.2.1 Lập kế hoạch giáo dục theo chủ đề

Lập kế hoạch theo chủ đề thực chất là việc xây dựng kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học phù hợp với chế độ sinh hoạt cho phù hợp với nội dung chương trình theo từng giai đoạn Trách nhiệm của giáo viên là xây dựng kế hoạch giáo dục, tổ chức các hoạt động trải nghiệm giúp trẻ khám phá các chủ đề phù hợp với mục tiêu giáo dục Như vậy, xây dựng kế hoạch GDTCĐ là việc dự kiến hệ thống các mục tiêu cần đạt được trên trẻ, xác định và lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục trẻ

để thực hiện mục tiêu trong một khoảng thời gian nhất định và lên kế hoạch đánh giá việc thực hiện nội dung giáo dục trong khoảng thời gian đó

Xây dựng kế hoạch GDTCĐ cho trẻ mầm non phải có sự chỉ đạo thống nhất các loại kế hoạch trong nhà trường từ kế hoạch năm học của Hiệu trưởng đến kế hoạch chuyên môn của Phó hiệu trưởng và kế hoạch giáo dục trẻ của giáo viên Khi xây dựng kế hoạch theo chủ đề phải căn cứ vào chương trình khung do Bộ Giáo dục

và Đào tạo ban hành; vào đặc điểm phát triển của trẻ ở từng độ tuổi, vào điều kiện thực tế của trường và địa phương Nhà quản lí cần có sự kiểm tra, giám sát mục tiêu

Trang 22

- Phải đảm bảo tính phát triển: Việc lựa chọn nội dung, xác định yêu cầu cần đạt, sử dụng các phương pháp giáo dục thể hiện trong kế hoạch phải ở mức độ cao hơn so với khả năng thực hiện của trẻ, hướng vào “vùng phát triển gần nhất”; khuyến khích trẻ có thái độ tích cực, tìm tòi, khám phá và đạt được những tiến bộ mới

- Xây dựng kế hoạch phải đảm bảo tính toàn diện: kế hoạch không chỉ đề cập đến một hoặc hai chủ đề hoạt động chủ yếu của trẻ mà nội dung kế hoạch phải thể hiện được tất cả các hoạt động giáo dục trẻ nhằm tạo nên những tác động sư phạm mang tính tổng hợp thông qua việc tổ chức đầy đủ các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở mọi thời điểm sinh hoạt trong ngày

- Đảm bảo tính pháp lệnh của kế hoạch: kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở chương trình GDMN do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Để thực hiện hoạt động GDTCĐ ở mầm non, CBQL và giáo viên cần xây dựng các loại kế hoạch sau:

- Kế hoạch dài hạn: kế hoạch năm học

- Kế hoạch ngắn hạn: kế hoạch tháng (bao gồm kế hoạch chủ đề), kế hoạch tuần và kế hoạch ngày

- Kế hoạch kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh các hoạt động giáo dục [19, tr 92]

1.3.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục theo chủ đề

Muốn hoạt động giáo dục trở thành hiện thực, mục tiêu trở thành kết quả thì việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch có ý nghĩa quyết định Đây là nội dung cơ

Trang 23

- Tổ chức thực hiện nội dung GDTCĐ: nội dung giáo dục được xây dựng theo từng lĩnh vực phát triển đảm bảo phối hợp chặt chẽ nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Nội dung giáo dục được tổ chức và cung cấp cho trẻ theo hướng tích hợp chủ đề, đảm bảo nguyên tắc đồng tâm phát triển và phù hợp với độ tuổi

- Tổ chức đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục, tăng cường ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp trẻ phát huy tính

tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá, sáng tạo, tự tin giải quyết các nhiệm vụ trong đời sống hàng ngày của trẻ, rèn luyện kĩ năng sống, chuẩn bị các năng lực cần thiết cho trẻ sẵn sàng vào lớp Một Đổi mới phương pháp giáo dục là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng GDMN, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

- Tổ chức xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động: Môi trường giáo dục trong trường mầm non là tổ hợp những điều kiện tự nhiên và xã hội cần thiết trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ và hiệu quả của những hoạt động này góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ Môi trường đó

có ý nghĩa vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ: Tạo cơ hội cho trẻ tìm tòi khám phá, phát hiện nhiều điều mới lạ hấp dẫn trong cuộc sống; trẻ được lựa chọn hoạt động phù hợp; khuyến khích trẻ tham gia tích cực, tạo cơ hội cho trẻ bộc lộ khả năng, qua đó cung cấp kiến thức, kĩ năng nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ; môi trường như là người giáo viên thứ hai trong công tác tổ chức hướng dẫn trẻ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ, thông qua đó nhân cách trẻ được hình thành và phát triển toàn diện Một môi trường sạch sẽ, cósự giao tiếp cởi mở, thân thiện giữa cô và trẻ sẽ tạo được cảm giác an toàn cho trẻ khi đến lớp, giúp trẻ phát triển về thể chất, thỏa mãn nhu cầu nhận thức và có

cơ hội được chia sẻ Việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp là điều kiện,

Trang 24

- Bồi dưỡng CBQL, giáo viên: Trong chủ trương đổi mới GDMN đòi hỏi phải

có một đội ngũ CBQL đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng để có thể đáp ứng với một chương trình GDMN có độ mở cao CBQL là những người chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường nên cần những người có năng lực tốt thì mới chỉ đạo tốt Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của nhà trường vì giáo viên là người xây dựng kế hoạch và trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ Do vậy, tăng cường bồi dưỡng CBQL và giáo viên là vấn đề then chốt trong thực hiện hoạt động GDTCĐ đạt chất lượng và hiệu quả

- Trang bị, sử dụng hiệu quả tài liệu, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi: Việc trang bị đầy đủ, đúng yêu cầu các thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho trẻ sẽ góp phần nâng cao chất lượng chương trình GDMN và mang lại hiệu quả cho việc thực hiện các hoạt động GDTCĐ Đồng thời, qua đó giúp giáo viên nhận thức rõ vai trò, tác dụng của đồ dùng, đồ chơi trong việc thực hiện đổi mới GDMN, biết cách khai thác triệt để và sử dụng chúng một cách hiệu quả vào các hoạt động theo từng chủ đề

1.3.2.3 Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục theo chủ đề

Kiểm tra, đánh giá là một trong những công việc có vị trí quan trọng trong QL nhà trường Quản lý mà không có kiểm tra coi như không quản lý bởi kiểm tra là một khâu của quản lý, là một chức năng cơ bản trong quá trình quản lý Vì thế, kiểm tra việc thực hiện hoạt động GDTCĐ được coi là một nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo nhà trường nhằm đánh giá thực chất việc thực hiện chương trình giáo dục, từ đó có các biện pháp điều chỉnh cho phù hợp Kiểm tra thực hiện hoạt động GDTCĐ bao gồm:

- Kiểm tra thực hiện kế hoạch giáo dục

- Kiểm tra việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo chủ đề

- Kiểm tra cơ sở vật chất, thiết kế môi trường, sử dụng thiết bị đồ dùng đồ chơi… cho trẻ hoạt động theo chủ đề

- Kiểm tra việc đánh giá trẻ của giáo viên

Trang 25

22

- Kiểm tra hồ sơ, sổ sách chuyên môn của Phó hiệu trưởng và giáo viên

- Kiểm tra công tác phối kết hợp với phụ huynh trong thực hiện chương trình

- Thực hiện công tác kiểm tra lại

- Điều chỉnh việc thực hiện chương trình GDTCĐ sau khi đã kiểm tra, đánh giá [18, tr 64]

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độnggiáo dục theo chủ đềở trường mầm non

Công tác quản lý hoạt động GDTCĐ ở trường mầm non chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan

1.4.1 Yếu tố chủ quan

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý của CBQL

Sự phát triển của nhà trường phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý của đội ngũ CBQL Hiệu trưởng là người trực tiếp lựa chọn, quyết định cách thức xây dựng và hoạch định chiến lược phát triển nhà trường Hiệu trưởng phải am hiểu về chuyên môn, thường xuyên cập nhật thông tin mới về khoa học GDMN để chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động giáo dục trong nhà trường Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều CBQL vẫn chưa nhận thức được đầy đủ nhiệm vụ, vai trò của mình cũng như sự non kém về trình độ chuyên môn, năng lực quản lý Chính vì vậy, hiệu quả giáo dục của nhà trường bị hạn chế từ đó

- Tuổi đời và kinh nghiệm CBQL

Không thể phủ nhận vai trò của kinh nghiệm trong công tác quản lý Để quản

lý hiệu quả, CBQL cần sự hiểu biết sâu sắc về các lực lượng cùng tham gia vào công tác giáo dục trẻ như cha mẹ trẻ, chính quyền địa phương, các cấp quản lý Những hiểu biết này được tích lũy và làm sâu sắc thêm trong quá trình công tác của CBQL, giúp họ chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ hay linh hoạt trong việc giải quyết những tình huống nảy sinh trong nhà trường Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, do áp lực công việc, kinh nghiệm lập kế hoạch quản lý công việc và đặc biệt là kinh nghiệm làm việc nhóm chưa được tập huấn rộng rãi cho CBQL, vì vậy nhiều CBQL chỉ đạo, điều hành các hoạt động của nhà trường chưa được khoa học và hợp lý

- Sự linh hoạt, sáng tạo trong quản lý

Quản lý là hoạt động nghề nghiệp đặc thù và phức tạp bởi sự đa dạng về đặc điểm nhân cách, tâm lý của các đối tượng tham gia vào giáo dục nhà trường Bên

Trang 26

23

cạnh đó, trong một môi trường giáo dục đang có những biến động toàn diện và mạnh

mẽ như hiện nay đòi hỏi nhà quản lý cần phát huy tính linh hoạt sáng tạo để giải quyết tốt những mâu thuẫn trong giáo dục, đồng thời làm tăng tính cạnh tranh và sức hấp dẫn của nhà trường

- Ý thức tự bồi dưỡng của CBQL

Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay, và đặc biệt là những chỉ đạo, định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới Phương pháp dạy học gần đây, người CBQL cần xác định được tầm quan trọng của việc tự học tập nâng cao trình độ và đề ra mục tiêu, phương pháp của việc tự bồi dưỡng của bản thân như: đọc thêm sách báo, tài liệu từ Internet về các phương pháp dạy học tích cực, học hỏi kinh nghiệm QL từ đồng nghiệp trong và ngoài nước, tham dự tích cực, đầy đủ các lớp bồi dưỡng chuyên môn về những định hướng trong chỉ đạo của ngành học Để có thể tiếp cận với phương pháp dạy học mới, phát huy tính tích cực của người học, ngoài việc tham dự các lớp tập huấn, các khóa học ngắn hạn, mỗi nhà QL nếu không tự vượt lên chính mình, vượt lên những khó khăn trước mắt, không tự chiến thắng những thói quen, tác phong lãnh đạo cũ, lạc hậu thì bản thân nhà lãnh đạo đó không thể quản lý thành công

- Sự biến đổi của đội ngũ giáo viên

Sự ổn định của đội ngũ giáo viên mầm non là yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động của nhà trường, đặc biệt họ là nhân tố không thể thiếu trong việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục Hiện nay chế độ chính sách của ngành đối với giáo viên mầm non có những thay đổi đáng kể, tuy nhiên áp lực công việc và mức lương chung vẫn thấp hơn so với các ngành khác nên nhiều trường hợp giáo viên mầm non xin nghỉ việc hoặc chuyển qua công việc mới, dẫn đến những biến đổi về đội ngũ giáo viên trong trường mầm non, điều này ảnh hưởng lớn đến các hoạt động trong

Trang 27

24

nhà trường Chính vì vậy, một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của nhà trường là sự ổn định về đội ngũ giáo viên

- Trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên mầm non

Giáo viên là người tác động trực tiếp đến trẻ và cũng là người trực tiếp tạo ra sản phẩm giáo dục Cho nên, trình độ, năng lực và nhận thức của giáo viên cần được đánh giá, kiểm tra thật tốt Thực trạng chung đối với GDMN là trình độ đội ngũ giáo viên không đồng đều, cùng với các chế độ đãi ngộ còn hạn chế dẫn đến nhiều giáo viên giảm lòng yêu nghề, nhiệt huyết với công việc Đây là thách thức lớn đặt ra cho CBQL nhà trường trong kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên mầm non

- Sự tham gia của Phụ huynh, cộng đồng trong tổ chức các hoạt động GDTCĐ Một trong những nguyên tắc trong giáo dục nói chung và GDMN nói riêng là phải kết hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, nguồn kinh phí cấp cho các trường thường không đủ so với nhu cầu hoạt động thì sự hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần của phụ huynh và cộng đồng rất có ý nghĩa đối với nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục

- Sự thống nhất, đồng bộ trong chỉ đạo từ các Ban, ngành (Bộ GD&ĐT -> Vụ GDMN -> Sở Giáo dục Tỉnh, Thành phố -> Phòng Giáo dục Quận/ Huyện -> Hiệu trưởng các trường mầm non)

Về đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, GDMN phải chọn lựa những nội dung phù hợp với trẻ và gắn với cuộc sống thực của đứa trẻ, tạo điều kiện cho trẻ được làm quen, tự thể hiện bản thân, tự khám phá môi trường chung quanh; chủ yếu thông qua các hoạt động vui chơi…Các nhà quản lý cần phải quán triệt chủ trương đổi mới này để thống nhất từ cấp trung ương xuống địa phương trong chỉ đạo thực hiện chương trình GDMN và các hoạt động GDTCĐ

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề và một số khái niệm công cụ của đề tài, các vấn đề lý luận khác liên quan đến QL hoạt động GDTCĐ ở trường mầm non

Giáo dục mầm non là bậc học rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân bởi nó có tác động sâu sắc đến sự phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ của trẻ sau này Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học trong GDMN theo hướng tích hợp chủ

Trang 28

25

đề là cần thiết, góp phần cho nền giáo dục của nước ta bắt kịp chung với xu thế chung của các nước trong khu vực và trên thế giới

Giáo dục theo chủ đề là định hướng đúng đắn để đổi mới một cách toàn diện

hệ thống GDMN Mô hình GDTCĐ nằm trong chương trình GDMN mới được triển khai từ năm 2009 và hiện nay đã được triển khai rộng khắp cả nước

Có nhiều yếu tố tác động đến quá trình tổ chức hoạt động GDTCĐ ở mầm non, một mô hình còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam Cụ thể là: chất lượng đội ngũ các nhà QL, giáo viên mầm non cùng tham gia thực hiện chương trình GDTCĐ, các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và sự tham gia của công đồng, xã hội… Trong đó yếu tố QL có vai trò quyết định đối với việc nâng cao chất lượng nói chung của bậc học mầm non

Vì vậy, nghiên cứu các biện pháp QL sẽ giúp cải thiện hiệu quả việc tổ chức hoạt động GDTCĐ ở trường mầm non, góp phần vào cải thiện chất lượng, hiệu quả của nền giáo dục Việt Nam

Trang 29

26

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP PHƯỜNG 3, QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội Quận 10

Quận 10 là một trong những quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội với các quận trung tâm và ngoại thành, là cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quận trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quận 10 được chia thành 5 khu với tổng số 15 Phường lớn nhỏ không đều nhau, chênh lệch giữa Phường lớn nhất (Phường 12) và Phường nhỏ nhất (Phường 3) là 119,14 ha tương ứng 12,8 lần

Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp bình quân hằng năm luôn vượt chỉ tiêu kế hoạch 14,58%, trong đó khu vực kinh tế quốc doanh tăng bình quân 16,94%, khu vực ngoài quốc doanh tăng bình quân 13,67%

Tốc độ tăng trưởng thương mại - dịch vụ hàng năm tăng bình quân 16,98% - trong đó, các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và thương nghiệp - dịch vụ tư nhân, cá thể có tỷ lệ tăng khá cao, chiếm tỷ trọng lớn trên tổng doanh thu hằng năm

Xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng điện tử, hoá mỹ phẩm, may mặc, nông hải sản, chế biến cao su Nhập khẩu chủ yếu là các ngành hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất tuy vậy hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng

Đặc điểm kinh tế phường 3, quận 10:

Trang 30

2.1.2 Về công tác giáo dục phường 3, quận 10

- Quận 10 cũng là nơi tập trung khá nhiều các trường học như: Đại học Bách khoa, Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Kinh tế, Đại học Ngoại ngữ - Tin học, trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh…

- Ngoài ra, Quận còn có 35 trường mầm non, 20 trường tiểu học, 11 trường trung học cơ sở, và 9 trường trung học phổ thông

Giáo dục mầm non quận 10 đã và đang tiếp tục thực hiện phong trào nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục như: phong trào xây dựng trường học thân thiện trong trường mầm non đạt kết quả tốt đẹp Các trường đã chú ý xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp; phòng học khang trang, đạt chuẩn; giáo viên chú trọng lắng nghe, quan sát những biểu hiện của trẻ trong khi thực hiện các hoạt động hàng ngày; tạo được bầu không khí thân thiện trong nhà trường; tăng cường mối quan hệ bình đẳng, dân chủ trong tập thể sư phạm; ý thức tự giác trong CBGV được nâng cao; thiết lập mối quan hệ thân thiết giữa giáo viên với trẻ và cha mẹ trẻ, mời cha mẹ trẻ thường xuyên tham gia các hoạt động giáo dục ở trường lớp

Các trường đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ theo chương trình GDMN mới Trong báo cáo tại Hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện chương trình GDMN mới, vụ GDMN đã nêu: Thực hiện chương trình GDMN mới, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được nâng lên rõ rệt Trẻ được học hành, vui chơi thoải mái, được trải nghiệm và vận dụng kinh nghiệm để khám phá chủ đề quen thuộc, gần gũi Qua chương trình này, trẻ tự tin, mạnh dạn, hoạt bát hơn trong giao tiếp

và tham gia tích cực vào các hoạt động giáo dục Đặc biệt đã tạo niềm tin với phụ huynh học sinh

Số lượng CBQL và giáo viên trong quận tương đối đáp ứng về số lượng và chất lượng, tỷ lệ giáo viên/nhóm, lớp đảm bảo định biên theo quy định, tỷ lệ bình quân trong nhóm nhà trẻ là 10 trẻ/giáo viên ( theo quy định 8 trẻ/giáo viên), trong nhóm mẫu giáo là

21 trẻ/giáo viên (theo quy định là 20 trẻ/giáo viên) Hàng năm, Phòng giáo dục quận đã chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp

Trang 31

28

GVMN, đánh giá Hiệu trưởng theo chuẩn Hiệu trưởng trường mầm non và đánh giá đội ngũ Phó hiệu trưởng nhằm đảm bảo chất lượng đội ngũ ngày càng tương xứng với trình

độ được đào tạo, bồi dưỡng

Tuy nhiên để có thể đáp ứng một lượng khá lớn về nhu cầu gửi con em đến trường mầm non của phụ huynh, vẫn còn một số trường có sỉ số học sinh đông, vượt mức so với quy định

2.2.Vài nét về khách thể khảo sát

2.2.1 Về mẫu nghiên cứu

Để chọn mẫu nghiên cứu cho đề tài, tác giả chọn 3 trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

Để tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác QL hoạt động GDTCĐ, tác giả tiến hành khảo sát ở 2 nhóm khách thể:

Nhóm CBQL: Gồm 3 hiệu trưởng và 6 phó hiệu trưởng

Nhóm giáo viên: 60 người

Bảng 2.1 Số liệu CBQL và giáo viên 3 trường mầm non (tên bảng để chữ thường)

2.2.2.2 Nội dung khảo sát

Đề tài tập trung khảo sát những nội dung cụ thể sau:

- Thực trạng việc tổ chức thực hiện hoạt động GDTCĐ của các trường mầm non công lập Phường 3, Quận 10

Trang 32

- Mẫu 1: Phiếu trưng cầu ý kiến về thực trạng việc tổ chức thực hiện hoạt động

2.3 Thực trạng việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non phường 3, quận 10

2.3.1.Thực trạng nhận thức tầm quan trọng của việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non phường 3, quận 10

Để khảo sát việc thực hiện hoạt động GDTCĐ ở các trường mầm non phường

3, Quận 10, chúng tôi khảo sát ý kiến của 69 CBQL và giáo viên của 3 trường mầm non Nội dung điều tra về nhận thức tầm quan trọng, mức độ thực hiện hoạt động GDTCĐ ở các trường mầm non phường 3, quận 10

Trang 33

Phỏng vấn cô Nguyễn T.B là giáo viên mầm non trường mầm non Thực Hành

cô cho rằng “Đổi mới GDMN là một nội dung quan trọng trong đổi mới hoạt động giáo dục hiện nay Ở trường Mầm non Thực Hành, BGH nhà trường đã có sự chỉ đạo sát sao trong việc vạch ra kế hoạch, chương trình cụ thể cho việc đổi mới giáo dục trẻ, trong đó giáo dục theo các chủ để được chú trọng và đã bước đầu mang lại hiệu quả giáo dục cao.”

2.3.2 Thực trạng việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non phường 3, quận 10

Để đánh giá thực trạng việc thực hiện hoạt động GDTCĐ ở các trường mầm non phường 3, quận 10, chúng tôi phân tích câu hỏi số 2 (phụ lục 1), kết quả được thể hiện ở bảng 2.4 như sau:

Bảng 2.4: Thực trạng việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề

ở trường mầm non phường 3, quận 10 STT Thực trạng việc thực hiện hoạt động

%

Chưa tốt

Trang 34

31

vấn đề, thảo luận nhóm… và các hình

thức khác ngoài giờ học: Tham quan học

tập thực tế, các thời điểm sinh hoạt trong

ngày của trẻ…)

4 4 Xây dựng môi trường GDTCĐ 65,3 24,7 10,0 2,55 2

5 5 Hướng dẫn trẻ tự làm đồ dùng, đồ chơi từ

các nguyên vật liệu mở, vật liệu từ thiên

nhiên, sử dụng linh hoạt, sáng tạo đồ dùng

dạy học trong tổ chức hoạt động GDTCĐ

56,5 29,0 14,5 2,42 4

6 6 Đánh giá sự phát triển của trẻ 60,9 26,1 13,0 2,47 3

7 7 Điều chỉnh chương trình sau khi thực hiện

kiểm tra, đánh giá

Nội dung 8“Phối kết hợp với phụ huynh trong việc thực hiện chủ đề” được

đánh giá ở mức độ tốt nhất, với điểm trung bình 2,61 và xếp thứ bậc 1 Đây chính là đặc thù của GDMN Cha mẹ rất quan tâm đến sự phát triển của trẻ trong những năm tháng đầu đời cả về thể chất lẫn tinh thần, vì vậy họ sẵn sàng hợp tác và chia sẻ trách nhiệm cùng nhà trường trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ Sự ủng hộ của Phụ huynh có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và phát triển của nhà trường nên các trường rất coi trọng công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong mọi hoạt động, đặc biệt là trong thực hiện chương trình giáo dục

Trang 35

32

Nội dung 2 có điểm trung bình là 1,97 - xếp thứ bậc 7 và nội dung 3 có điểm trung bình thấp nhất là 1,86 - xếp thứ bậc 8 đã phản ánh thực tế việc tổ chức thực hiện các hoạt động GDTCĐ ở các trường mầm non Các trường vẫn còn cứng nhắc, rập khuôn, chưa chú ý đến việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp mới trong dạy học, chưa mạnh dạn đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; các nội dung giáo dục chưa xuất phát từ hứng thú và nhu cầu của trẻ, chưa tạo cơ hội cho trẻ được khám phá, trải nghiệm nhiều

2.3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non phường 3, quận 10

Để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động GDTCĐ ở các trường mầm non, chúng tôi phân tích câu hỏi số 3 (phụ lục 1) Kết quả được trình bày ở bảng 2.5

Bảng 2.5: Những thuận lợi trong việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non phường 3, quận 10

STT Những thuận lợi trong việc thực hiện hoạt động

GDTCĐ

hiện chương trình giáo dục tới cán bộ, giáo viên

hoạt động GDTCĐ của nhà trường tới giáo viên

việc thực hiện các hoạt động GDTCĐ

hoạt động GDTCĐ

Từ số liệu của bảng khảo sát 2.5 cho thấy: Việc thực hiện hoạt động GDTCĐ

ở các trường mầm non phường 3, quận 10 có nhiều thuận lợi, trong đó thuận lợi nhất

là “Nhận thức của cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của việc thực hiện các hoạt động GDTCĐ”và “Sự phối hợp chặt chẽ của cha mẹ học sinh”đạt tỉ lệ cao nhất

“Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên đạt chuẩn”cũng là một thuận lợi

trong việc thực hiện hoạt động GDTCĐ Thực tế cho thấy 100% giáo viên ở các

Trang 36

33

trường mầm non đạt chuẩn và trên chuẩn Tuy nhiên một số lượng lớn các giáo viên đạt chuẩn thông qua học văn bằng 2 hoặc đào tạo theo hình thức vừa học vừa làm nên việc chuẩn hóa trình độ đào tạo đôi khi chưa đi kèm với sự cải thiện và nâng cao năng lực, kĩ năng làm việc Chính vì vậy tỉ lệ lựa chọn của CBQL và GV cũng chỉ đạt 71%

Ngoài ra, “việc triển khai các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN của các cấp quản lý”và “triển khai tốt kế hoạch tổ chức hoạt động GDTCĐ của nhà trường tới giáo viên” cũng được nhiều đánh giá thuận lợi với tỉ lệ

trên 72% vì ngày nay, trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, các trường trang

bị máy tính và lắp đặt Internet đầy đủ để cập nhật thông tư, văn bản chỉ đạo kịp thời cũng như giúp GV tham khảo thông tin, tài liệu dạy học hay từ các trang web chuyên ngành

Bên cạnh những thuận lợi, việc thực hiện các hoạt động GDTCĐ cũng gặp một số khó khăn Bảng 2.6 thể hiện kết quả nghiên cứu như sau:

Bảng 2.6: Những khó khăn trong việc thực hiện hoạt động giáo dục

theo chủ đề ở trường mầm non phường 3, quận 10 STT Những khó khăn trong việc thực hiện hoạt động

GDTCĐ

1 Đội ngũ giáo viên liên tục có sự thay đổi và biến động 23 33,3

2 Năng lực chuyên môn đội ngũ giáo viên còn hạn chế 33 47,8

3 Chế độ, chính sách đãi ngộ cho giáo viên chưa đảm bảo 69 100

4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ các hoạt

Trang 37

Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên tương đối đạt chuẩn tuy nhiên để tiếp cận các phương pháp dạy học tiên tiến, dạy học tích hợp chủ đề, lấy trẻ làm trung tâm cho mọi hoạt động, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học…thì không phải giáo viên nào cũng thực hiện được Họ ngại đổi mới so với những phương pháp dạy học truyền thống đã quen sử dụng trước đây

Một vấn đề khó khăn nữa là công tác tham mưu cho Hiệu trưởng nhà trường chưa thực sự hiệu quả, chiếm 66,6% các ý kiến thu được Nhiều Hiệu trưởng chỉ chú trọng đến công tác tài chính, cơ sở vật chất, sức khỏe và an toàn cho trẻ mà ít chú trọng đến các hoạt động giáo dục phát huy năng lực và tố chất cho trẻ, vì vậy công tác tham mưu với Hiệu trưởng trong việc quản lý thực hiện hoạt động GDTCĐ còn gặp nhiều khó khăn Thiết nghĩ CBQL nên quan tâm đến kết quả nghiên cứu này nhằm tăng cường hơn nữa tính hiệu quả trong tham mưu nhằm đảm bảo sự hài hòa trong phát triển chung của nhà trường và của từng cá nhân giáo viên

2.4 Thực trạng quản lýhoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non công lập phường 3, quận 10

2.4.1 Đánh giá vềtầm quan trọng của công tác quản lý thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề của Hiệu trưởng các trường MN phường 3, quận 10

Trước hết, để tìm hiểu thực trạng quản lý việc thực hiện hoạt động GDTCĐ của Hiệu trưởng các trường mầm non phường 3, quận 10, chúng tôi tìm hiểu sự đánh giá của CBQL và GV về tầm quan trọng của công tác trên Kết quả trưng cầu ý kiến

về vấn đề này được chúng tôi trình bày ở bảng 2.7 như sau:

Trang 38

2.4.2 Thực trạng lập kế hoạch thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề của các trường mầm non phường 3, quận 10

Trường mầm non là đơn vị trực tiếp xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục dưới sự quản lý, chỉ đạo của Phòng Giáo dục Lập kế hoạch là khâu đầu tiên trong quá trình quản lý Nếu xây dựng được một kế hoạch hoạt động cụ thể, đầy đủ, hợp lý sẽ tạo thuận lợi cho các hoạt động sau này của nhà trường Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng lập kế hoạch thực hiện hoạt đông GDTCĐ ở các trường mầm non Kết quả thu được như sau:

2 Kế hoạch chủ đề của mẫu giáo, kế hoạch

tháng của nhà trẻ

27,6 39,1 33,3 1,94 2

3 Kế hoạch hoạt động trong tuần 27,5 34,8 37,7 1,9 3

4 Kế hoạch hoạt động trong ngày 26,0 34,8 39,2 1,87 4

5 Kế hoạch kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh

chương trình GDTCĐcủa nhà trường

24,7 33,3 42,1 1,83 5

Trang 39

kẻ vào nội dung giáo dục trong chương trình; sự thay đổi trong cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn…của các cấp QL hay các chi phí phát sinh khác Về phía giáo viên, họ chưa được tham dự tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạchGDTCĐ một cách đầy đủ, các đợt tập huấn chưa đủ để giúp họ cải thiện kỹ năng trên Chính vì vậy, công tác lập kế hoạch bị ảnh hưởng tương đối lớn

Nội dung 1 cùng xếp thứ bậc 1 với điểm trung bình là 1,97 đã cho thấy các trường xây dựng kế hoạch theo đúng chỉ đạo của Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục song vẫn chưa thể hiện được chiều sâu, sự linh hoạt trong chỉ đạo thực hiện chương trình Kết quả này đã ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch của giáo viên nên kế hoạch tháng, tuần, ngày cũng chỉ đạt điểm trung bình từ 1.87 đến 1,94

Kế hoạch kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh thực hiện chương trình GDTCĐ của các trường mầm non xếp bậc cuối cùng với điểm trung bình là 1,83 Đây là một nội dung còn hạn chế cần phải tích cực triển khai thì mới có thể nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDMN

Phỏng vấn cô Thân Thị Lệ B là Phó hiệu trưởng trường Mầm non Măng Non

II, cô cho rằng “Giáo dục theo chủ đề ở trường Mầm non là chủ trương lớn được Bộ Giáo dục thực hiện từ mấy năm nay, được các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thực hiện và mang lại hiệu quả giáo dục tốt Tuy nhiên, có nhiều vấn đề còn hạn chế từ nội dung các chủ đề, đến cách thức lập kế hoạch, tiến hành thực hiện còn nhiều lúng túng làm hạn chế phần nào hiệu quả Đặc biệt, việc lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh thực hiện chương trình GDTCĐ của các trường

Trang 40

 Thực trạng việc triển khai các văn bản chỉ đạo thực hiện chương trình GDTCĐ

Để đánh giá thực trạng việc triển khai các văn bản chỉ đạo thực hiện hoạt động GDTCĐ, tác giả đã tiến hành khảo sát những nội dung của bảng 2.9 và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.9: Thực trạng tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo

thực hiện chương trình GDMN mới

ST

T

Tổ chức triển khai các văn bản chỉ

đạothực hiện chương trình GDTCĐ

B

TB Tốt Trung

bình

Chưa tốt

1 Triển khai các văn bản chỉ đạo thực hiện

chương trình GDMN mới của các cấp tới

cán bộ, giáo viên trong trường

44,9 30,5 24,6 2,21 1

2 Triển khai các văn bản chỉ đạo sửa đổi, bổ

sung liên quan trong quá trình thực

hiệnhoạt động GDTCĐở cuộc họp triển

khai nhiệm vụ năm học, các buổi sinh hoạt

chuyên môn định kỳ

40,6 36,2 23,2 2,18 2

3 Cung cấp địa chỉ websize để giáo viên truy

cập các văn bản chỉ đạo liên quan đến hoạt

động GDTCĐ của các cấp

36,3 33,3 30,4 2,05 3

4 Tổ chức sinh hoạt chuyên môn thảo luận về

các văn bản chỉ đạo thực hiện chương trình

Ngày đăng: 07/10/2016, 16:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2003), Đội ngũ nhân lực chất lượng cao ngành giáo dục – đào tạo: vấn đề và giải pháp, Tạp chí Thông tin QL giáo dục (Số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ nhân lực chất lượng cao ngành giáo dục – đào tạo: vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2003
2. Bộ GDĐT (2013),Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề” xuất bản năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề”
Tác giả: Bộ GDĐT
Năm: 2013
3. Ngô Thành Can (2004), Đào tạo phát triển năng lực làm việc cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, QL, Tạp chí thông tin QL giáo dục (Số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đào tạo phát triển năng lực làm việc cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, QL
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 2004
4. Phạm Mai Chi (2001), Một số quan điểm trong giáo dục trẻ em và vai trò người giáo viên, Tạp chí nghiên cứu khoa học giáo dục (Số 84) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm trong giáo dục trẻ em và vai trò người giáo viên
Tác giả: Phạm Mai Chi
Năm: 2001
5. Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004), Bài giảng “Cơ sở khoa học QL”, Khoa Sư phạm đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bài giảng “Cơ sở khoa học QL”
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2004
6. Cao Danh Chính (2008), Một số biện pháp tổ chức luyện tập kỹ năng nghề theo hướng cá biệt hóa, Tạp chí giáo dục (Số 188) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp tổ chức luyện tập kỹ năng nghề theo hướng cá biệt hóa
Tác giả: Cao Danh Chính
Năm: 2008
7. Nguyễn Đức Chính (2004), Chương trình đào tạo và đánh giá chương trình đào tạo, Khoa sư phạm-Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình đào tạo và đánh giá chương trình đào tạo
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2004
8. Trần Thị Ngọc Chúc (2004), Biện pháp nâng cao kỹ năng nghề cho giáo sinh trung học sư phạm mầm non 12+2,Luận án tiến sỹ giáo dục học, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp nâng cao kỹ năng nghề cho giáo sinh trung học sư phạm mầm non 12+2
Tác giả: Trần Thị Ngọc Chúc
Năm: 2004
9. V.A.Cruchetxki (1981), Những cơ sở của Tâm lý học sư phạm, Tập 2, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của Tâm lý học sư phạm
Tác giả: V.A.Cruchetxki
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1981
10. Hồ Ngọc Đại (1983), Tâm lý học dạy học, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1983
11. Hà Nguyễn Kim Giang (2003), Nguyên lý học đi đôi với hành của Hồ Chí Minh với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên khoa GDMN – trường đại học Sư phạm Hà Nội, Tạp chí giáo dục ( Số 71) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý học đi đôi với hành của Hồ Chí Minh với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên khoa GDMN
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Năm: 2003
12. Ph.N. Gônôbôlin (1976), Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên, tập 2, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên
Tác giả: Ph.N. Gônôbôlin
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1976
13. Lê Minh Hà – Lê Thị Ánh Tuyết (2006), Hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN mới, Nxb giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN mới
Tác giả: Lê Minh Hà – Lê Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2006
14. Trịnh Hồng Hà (2004), Chất lượng đào tạo giáo viên – Một yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng giáo dục, Tạp chí phát triển giáo dục (Số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chất lượng đào tạo giáo viên – Một yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng giáo dục
Tác giả: Trịnh Hồng Hà
Năm: 2004
15. Phạm Minh Hạc (1992), Một số vấn đề Tâm lý học, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1992
16. Bùi Hiền – Nguyễn Văn Giao – Nguyễn Hữu Quỳnh – Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền – Nguyễn Văn Giao – Nguyễn Hữu Quỳnh – Vũ Văn Tảo
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2001
17. Phan Việt Hoa (Chủ nhiệm đề tài) (2000), Biên soạn chương trình giáo dục trẻ 5 tuổi chuẩn bị đi học lớp 1 năm 2000, Trung tâm Nghiên cứu GDMN, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên soạn chương trình giáo dục trẻ 5 tuổi chuẩn bị đi học lớp 1 năm 2000
Tác giả: Phan Việt Hoa (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2000
18. Nguyễn Thị Hòa (2009), Giáo dục mầm non, Nxb Đại học sư phạm, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2009
19. Nguyễn Thị Hòa (2015), Giáo trình giáo dục tích hợp ở bậc mầm non, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iáo trình giáo dục tích hợp ở bậc mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2015
20. Trần Bá Hoành (2006), Vấn đề giáo viên: Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo viên: Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số liệu CBQL và giáo viên 3 trường mầm non (tên bảng để chữ thường) - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.1. Số liệu CBQL và giáo viên 3 trường mầm non (tên bảng để chữ thường) (Trang 31)
Bảng 2.3: Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng (Trang 32)
Bảng 2.4: Thực trạng việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.4 Thực trạng việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề (Trang 33)
Bảng 2.5: Những thuận lợi trong việc thực hiện hoạt động giáo dục   theo chủ đề ở trường mầm non phường 3, quận 10 - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.5 Những thuận lợi trong việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non phường 3, quận 10 (Trang 35)
Bảng 2.6: Những khó khăn trong việc thực hiện hoạt động giáo dục - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.6 Những khó khăn trong việc thực hiện hoạt động giáo dục (Trang 36)
Bảng 2.7: Đánh giá về tầm quan trọng của công tác quản lý - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.7 Đánh giá về tầm quan trọng của công tác quản lý (Trang 38)
Bảng 2.8: Thực trạng lập kế hoạch thực hiện - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.8 Thực trạng lập kế hoạch thực hiện (Trang 38)
Bảng 2.9: Thực trạng tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.9 Thực trạng tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo (Trang 40)
Hình thức tổ chức hoạt động GDTCĐ - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Hình th ức tổ chức hoạt động GDTCĐ (Trang 42)
Bảng 2.16: Thực trạng công tác kiểm tra thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.16 Thực trạng công tác kiểm tra thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ (Trang 50)
Bảng 2.17: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến quản lý hoạt động - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.17 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến quản lý hoạt động (Trang 53)
Bảng 2.18: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến quản lý hoạt động - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.18 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến quản lý hoạt động (Trang 54)
Bảng 3.1 : Nhận thức về tính cần thiếtcủa các biện pháp đã đề xuất - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 3.1 Nhận thức về tính cần thiếtcủa các biện pháp đã đề xuất (Trang 74)
Bảng 3.2: Nhận thức về tính khả thicủa các biện pháp đã đề xuất - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Bảng 3.2 Nhận thức về tính khả thicủa các biện pháp đã đề xuất (Trang 75)
Hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục theo chủ đề cho - Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh
Hình th ức tổ chức các hoạt động giáo dục theo chủ đề cho (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w