Câu 1: Nêu mục đích , ý nghĩa, tích chất công tác an toàn và vệ sinh lao động? a. Mục đích Mục tiêu của sản xuất là tạo ra của cải vật chất. Tuy nhiên, trong sản xuất lại có thể nảy sinh các yếu tố nguy hiểm, ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng con người. Từ phương thức sản xuất giản đơn (săn bắt và hái lượm) cho tới phương thức sản xuất hiện đại (tự động hóa), các yếu tố nguy hiểm vẫn luôn tiềm ẩn và có thể gây tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp bất kỳ lúc nào đối với người làm việc. Vì vậy, mục đích của công tác an toàn và vệ sinh lao động là: thông qua các biện pháp về khoa học, kỹ thuật, tổ chức, kinh tế và xã hội nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất; Tạo ra điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau hoặc sự suy giảm sức khỏe của người lao động; Đảm bảo an toàn, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động; Trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất và tăng năng suất lao động. b. Ý nghĩa An toàn và vệ sinh lao động có thể phản ánh một phần nào đó bản chất của chế độ xã hội thông qua hệ thống pháp luật, chế độ chính sách, tiêu chuẩn, quy phạm,...v.v. Kết quả của việc thực hiện các văn bản pháp lý đó đánh giá sự quản lý của nhà nước đối với người lao động. Đối với một doanh nghiệp, công tác an toàn và vệ sinh lao động có thể làm ảnh hưởng sâu sắc đến kết quả lựa chọn nhà thầu khi doanh nghiệp đó tham gia dự thầu. Làm tốt công tác an toàn và vệ sinh lao động góp phần tích cực vào việc củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất. Mặt khác, nhờ chăm lo bảo đảm an toàn và bảo vệ sức khỏe, an toàn và vệ sinh lao động không những mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình người lao động mà còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Khi an toàn và vệ sinh lao động được thực sự quan tâm, người lao động được bảo vệ tốt, không bị ốm đau, bệnh tật. Khi đó, họ sẽ an tâm, phấn khởi, nâng cao năng suất lao động để hoàn thành kế hoạch sản xuất. Chính vì vậy, thu nhập cá nhân và phúc lợi tập thể được tăng lên, điều kiện vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Ngược lại, nếu để xảy ra tai nạn lao động, người làm việc ốm đau, bệnh tật xảy ra nhiều thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng sản xuất. Đồng thời, chi phí khắc phục hậu quả do tai nạn, ốm đau cũng rất lớn. Vì vậy, quan tâm thực hiện tốt công tác an toàn và vệ sinh lao động là thể hiện quan điểm sản xuất một cách đầy đủ, là điều kiện bảo đảm sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao. ........................
Trang 1Câu 1: Nêu mục đích , ý nghĩa, tích chất công tác an toàn và vệ sinh lao động?
a Mục đích
Mục tiêu của sản xuất là tạo ra của cải vật chất Tuy nhiên, trong sản xuất lại có thể nảy sinh các yếu tố nguy hiểm, ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng con người Từ phương thức sản xuất giản đơn (săn bắt và hái lượm) cho tới phương thức sản xuất hiện đại (tự động hóa), các yếu tố nguy hiểm vẫn luôn tiềm ẩn và có thể gây tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệpbất kỳ lúc nào đối với người làm việc
Vì vậy, mục đích của công tác an toàn và vệ sinh lao động là: thông qua các biện pháp về khoa học, kỹ thuật, tổ chức, kinh tế
và xã hội nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất; Tạo ra điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau hoặc sự suy giảm sức khỏe của người lao động; Đảm bảo an toàn, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động; Trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất và tăng năng suất lao động
b Ý nghĩa
- An toàn và vệ sinh lao động có thể phản ánh một phần nào đó bản chất của chế độ xã hội thông qua hệ thống pháp luật, chế độ chính sách, tiêu chuẩn, quy phạm, v.v Kết quả của việc thực hiện các văn bản pháp lý đó đánh giá sự quản lý của nhà nước đối với người lao động Đối với một doanh nghiệp, công tác an toàn và vệ sinh lao động có thể làm ảnh hưởng sâu sắc đến kết quả lựa chọn nhà thầu khi doanh nghiệp đó tham gia dự thầu
- Làm tốt công tác an toàn và vệ sinh lao động góp phần tích cực vào việc củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất Mặt khác, nhờ chăm lo bảo đảm an toàn và bảo vệ sức khỏe, an toàn và vệ sinh lao động không những mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình người lao động mà còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc
- Khi an toàn và vệ sinh lao động được thực sự quan tâm, người lao động được bảo vệ tốt, không bị ốm đau, bệnh tật Khi
đó, họ sẽ an tâm, phấn khởi, nâng cao năng suất lao động để hoàn thành kế hoạch sản xuất Chính vì vậy, thu nhập cá nhân
và phúc lợi tập thể được tăng lên, điều kiện vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện Ngược lại, nếu để xảy ra tai nạn lao động, người làm việc ốm đau, bệnh tật xảy ra nhiều thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng sản xuất Đồng thời, chi phí khắc phục hậu quả do tai nạn, ốm đau cũng rất lớn
Vì vậy, quan tâm thực hiện tốt công tác an toàn và vệ sinh lao động là thể hiện quan điểm sản xuất một cách đầy đủ, là điều kiện bảo đảm sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao
c Tính chất
* Tính luật pháp
Tất cả những chế độ, chính sách, quy phạm, tiêu chuẩn về an toàn và vệ sinh lao động đều được thể hiện bằng các văn bản pháp luật của Nhà nước như: luật, nghị định, thông tư, chỉ thị, v.v Các văn bản kể trên là cơ sở pháp lý buộc các tổ chức nhà nước, xã hội, kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh
* Tính quần chúng
Tính quần chúng thể hiện trên hai phương diện:
- An toàn và vệ sinh lao động có liên quan đến tất cả mọi người tham gia lao động Chính họ là người tiếp cận trực tiếp và thường xuyên với máy và công nghệ, nguyên, nhiên vật liệu sản xuất và sản phẩm làm ra nên họ có thể phát hiện những thiếu sót trong công tác an toàn và vệ sinh lao động, từ đó họ có thể có nhiều đóng góp để xây dựng các biện pháp phòng ngừa tai nạn và bệnh nghề nghiệp Ngoài ra, họ còn có thể góp ý để xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn và vệ sinh lao động;
- Dù hệ thống luật pháp, tiêu chuẩn và quy phạm có đầy đủ và hoàn chỉnh đến đâu nhưng nếu mọi người trong hệ thống sản xuất chưa thấy rõ lợi ích thiết thực, chưa tự giác chấp hành thì công tác an toàn và vệ sinh lao động không thể đạt được kết quả mong muốn
* Tính khoa học kỹ thuật
Tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng làm cho năng suất lao động được nâng cao, sức lao động của con người càng được giảm nhẹ và cũng chính vì thế, nói chung, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng giảm đi rất nhiều Nhưng mỗi sự cố của sản xuất với công nghệ cao nào đó đều có thể gây ra hiểm họa rất lớn Vì vậy, muốn làm tốt công tác an toàn và vệ sinh lao động, cần phải hiểu bản chất khoa học của công việc, phải phân tích, đánh giá được các yếu tố nguy hiểm có thể xảy ra
và đưa ra các giải pháp phòng ngừa, xử lý và khắc phục Nắm rõ tính chất khoa học kỹ thuật là rất quan trọng đối với cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật trong ngành xây dựng
Trang 2Câu 2: Khái niệm về quá trình cháy? Điều kiện và hình thức cháy? Trình bày các nguy cơ gây cháy nổ trên công trường xây dựng?
Đối với sự cháy, phản ứng hóa học không những chỉ xảy ra giữa chất cháy với ôxy, mà một số chất có thể cháy trong môi trường không có ôxy như hiđrô và nhiều kim loại có thể cháy trong môi trường khí clo, đồng trong hơi lưu huỳnh …
Không phải tất cả các quá trình tỏa nhiệt đều diễn ra dưới hình thức cháy, ví dụ sự ôxy hóa chậm của rượu êtilíc thànhanđêhít - axêtic, SO2 thành SO3 không thể liệt vào quá trình cháy vì không phát quang Hoặc quá trình tỏa nhiệt khôngphải do phản ứng hóa học ôxy hóa cũng không phải là hiện tượng cháy, ví dụ sự phát quang trong đèn nê-ông là do sự phóng điện (quá trình lý học)
Tóm lại, cháy là một phản ứng hóa học hoặc phân tích xảy ra nhanh có phát nhiệt mạnh và phát quang.
a Điều kiện cháy
Để cho quá trình cháy xuất hiện và phát triển, phải có điều kiện cần và điều kiện đủ Có thể hình dung điều kiện phát sinh cháy, trong đó điều kiện cần là phải có: Vật chất cháy, Oxy và mồi lửa; còn điều kiện đủ là 3 thành phần trên phải ở một tỉ lệ phù hợp
* Điều kiện cần
- Vật chất cháy:
Trong thực tế, các chất này có thể là gỗ, giấy, xăng, dầu, nhựa,…v.v Đa phần, đó là hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ gồm các thành phần chính là cacbon (C), hiđrô (H) và ôxy (O)
Thành phần các chất và tỉ lệ của chúng trong hỗn hợp cháy có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình cháy
- Ôxy (Chấy oxy hóa):
Trong thực tế, các đám cháy cần có oxy ở trạng thái tự do trong không khí
Oxy cũng có thể thoát ra từ các chất khi nung nóng như kali pecmanganat (KMnO4), amôn nitrat (NH4NO3), kali clorat (KClO3), axit nitric (HNO3)…v.v
Ví dụ: 2KCLO3 → 2KCl + 3O2
- Mồi lửa (Nguồn nhiệt - Mồi gây cháy):
Mồi lửa có thể là ngọn lửa trần, tia lửa điện, hồ quang điện, tia lửa sinh ra do ma sát va đập, những hạt than cháy đỏ,…
v.v Chúng là những mồi lửa phát quang Ngoài ra còn có những loại mồi gây cháy không phát quang hay còn gọi là mồi ẩn.
Mồi gây cháy ẩn có thể là nhiệt tỏa ra do các quá trình hóa học, sinh hóa, nén đoạn nhiệt, ma sát hoặc do tiếp xúc với bề mặtnóng của thiết bị
* Điều kiện đủ
Có đầy đủ 3 tác nhân gây cháy nhưng nếu tỉ lệ của chúng không phù hợp thì cháy vẫn không xảy ra hoặc sẽ bị ngừng lại
Sự bắt cháy của hỗn hợp chỉ có khả năng xảy ra khi lượng nhiệt cung cấp cho hỗn hợp cháy đủ để làm cho phản ứng cháy bắt đầu, tiếp tục và lan rộng Như vậy không phải bất kỳ một mồi gây cháy nào cũng có thể gây cháy Muốn gây cháy đòi hỏi mồi cháy phải có đủ năng lượng tối thiểu
Đám cháy trong ôxy nguyên chất sẽ đạt tốc độ lớn, khi nồng độ ôxy trong không khí giảm, thì tốc độ cháy cũng giảm, khi nồng độ giảm chỉ còn từ 14% ÷ 15% thì sự cháy sẽ bị ngừng
b Hình thức cháy
* Cháy hoàn toàn và cháy không hoàn toàn
Cháy hoàn toàn diễn ra khi có đủ lượng không khí, các sản phẩm tạo ra không có khả năng tiếp tục cháy Ví dụ như gỗ, giấy, xăng,…v.v sau khi cháy thì sản phẩm cháy là tro, khói, sẽ không thể cháy tiếp được
Cháy không hoàn toàn diễn ra khi thiếu không khí Ví dụ than đá là sản phẩm của sự cháy, nhưng khi đốt thì vẫn cháy tiếp được
* Cháy có ngọn lửa và cháy không có gọn lửa
Trang 3Tất cả các chất cháy thể lỏng, thể khí và phần lớn các chất thể rắn, khi cháy thì bốc lửa Quá trình bốc cháy và cháy thườngtiếp tục dưới dạng hơi hoặc khí Khi bốc cháy không phải là chính chất đó cháy mà là các sản phẩm dưới dạng hơi hoặc khí bốc cháy trong quá trình chất cháy bị phân tích dưới nhiệt độ cao.
Các chất cháy rắn, ví dụ như than cốc, than gỗ, mồ hóng, kim cương cháy không bốc lửa vì khi bị đốt nóng các chất này hoặc không tạo ra hoặc tạo ra ít các sản phẩm hơi và khí, không đủ để bốc lửa Các chất này khi bị đốt nóng không bị nóng chảy, không bị phân tích, chúng chỉ bị ôxy hóa trên bề mặt và sau đó bị rữa ra
* Cháy thường và cháy động lý học
Cháy thường (khuếch tán) là sự cháy mà tốc độ của nó phụ thuộc vào tốc độ khuếch tán của ôxy trong vùng cháy
Cháy động lý học (nổ) là sự cháy của hỗn hợp đã được chuẩn bị trước, tốc độ của nó không phụ thuộc vào sự khuếch tán củaôxy trong vùng cháy mà quyết định bởi tốc độ truyền nhiệt do tính dẫn nhiệt từ vùng cháy đến chỗ hỗn hợp cháy Tốc độ cháy (nổ) đặc trưng bởi tốc độ truyền lan trung bình của ngọn lửa, tốc độ này không vượt quá một vài mét trong một giây Với tốc độ này ở trong thể tích kín sẽ gây nổ
Nguy cơ cháy, nổ trên công trường xây dựng
- Nguy cơ do bảo quản và sử dụng các vật liệu hoặc nguyên liệu dễ bắt lửa: Trên công trường xây dựng, có rất nhiều các vật liệu, nhiên liệu dễ bắt lửa như giấy, gỗ, nhựa, dung môi, xăng hoặc dầu,…Mỗi loại vật liệu hoặc dung môi đó đều cónhững phương pháp bảo quản và sử dụng riêng (có thể có hoặc không có theo các hướng dẫn của nhà sản xuất) Do vậy, khi công tác bảo quản và sử dụng không tốt thì tùy từng lúc, từng nơi hoặc từng loại vật liệu mà các nguy cơ về cháy, nổrất có thể xảy ra khi có nguồn nhiệt, lửa, tia lửa điện hoặc chập điện…v.v
- Hàn điện, hàn xì oxi-axetylen mà môi trường có thể có hơi xăng, hơi dầu, bụi than hoặc bụi gỗ…xuất hiện bất ngờ
từ các nguồn như can, thùng phi, téc, bể chứa hoặc các nơi khai thác và chế biến
- Dùng đèn dầu để kiểm tra hệ thống cung cấp năng lượng như xăng, dầu, khí gas…v.v
- Dùng các que bằng kim loại để cạy hoặc mở can, phi hoặc téc xăng hoặc dầu
- Vứt tàn thuốc hoặc tàn lửa bay vào nơi có nhiều vật liệu dễ cháy như giấy, gỗ vụn, xăng hoặc dầu,…v.v
- Các thiết bị hoặc máy thi công khi sử dụng bị quá tải gây quá nóng và có thể gây cháy
- Các thiết bị như dây cu roa khi sử dụng hoặc khi nghiền nhỏ các vật rắn mà phát sinh tĩnh điện trong môi trường có nhiều hơi xăng, dầu, hoặc bụi than, v.v
- Hệ thống điện bị chập hoặc quá tải và gây cháy
- Lán trại, nhà làm việc hoặc công trình bị sét đánh và gây cháy
Trang 4Câu 3: Hãy nêu quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, và người lao động trong công tác bảo hộ lao động ở nước ta?
* Nghĩa vụ và quyền của người sử dụng laos động trong công tác an toàn và vệ sinh lao động
* Nghĩa vụ
Điều 13, Chương IV, Nghị định 06/CP quy định người sử dụng lao động có những nghĩa vụ sau:
- Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì phải lập kế hoạch, biện pháp về an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động
- Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối vớingười lao động theo quy định của Nhà nước
- Cử người giám sát việc thực hiện các quy định nội dung, biện pháp an toàn và vệ sinh lao động trong doanh nghiệp; Phối hợp với công đoàn cơ sở xây dựng và duy trì sự hoạt động của mạng lưới an toàn viên
- Xây dựng nội quy, quy trình an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với từng loại máy, thiết bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ, máy, thiết bị, vật tư và nơi làm việc theo tiêu chuẩn quy định của Nhà nước
- Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy định, biện pháp an toàn, vệ sinh lao động với người lao động
- Tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động theo tiêu chuẩn, chế độ quy định
- Chấp hành nghiêm chỉnh quy định khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Định kỳ 6 tháng và hàng năm phải báo cáo kết quả tình hình thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động với
Sở Lao động - thương binh và xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động
* Quyền
Điều 14, Chương IV, Nghị định 06/CP quy định người sử dụng lao động có các quyền:
- Buộc người lao động phải tuân thủ các quy định, nội quy, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động
- Khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật những người vi phạm trong việc thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động
- Khiếu nại cơ quan Nhà nướccó thẩm quyền về quyết định của thanh tra viên lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động nhưng vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đó
* Nghĩa vụ và quyền của người lao động trong công tác an toàn và vệ sinh lao động
* Nghĩa vụ
Điều 15, Chương IV, Nghị định 06/CP quy định người lao động có các nghĩa vụ sau:
- Chấp hành các quy định, nội quy về an toàn lao động, vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao
- Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, các thiết bị an toàn, vệ sinh nơi làm việc Nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường
- Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động
* Quyền
Điều 16, Chương IV, Nghị định 06/CP quy định người lao động có các quyền sau:
- Yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh cải thiện điều kiện lao động, cung cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và huấn luyện để thực hiện các biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động
- Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe dọa nghiêm trọng tính mạng, sức khỏe của mình và phải báo ngay với người phụ trách trực tiếp; từ chối trở lại làm việc nơi nói trên nếu những nguy cơ đó chưa được khắc phục
- Khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động vi phạm quy định của Nhà
nướchoặc không thực hiện đúng các giao kết về an toàn lao động và vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động
Câu 4: Điều kiện lao động trong ngành xây dựng? Các nguy cơ gây tai nạn khi sử dụng máy và thiết bị xây dựng?
Trang 5Điều kiện lao động
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, tự nhiên, thể hiện qua quá trình công nghệ, công
cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó tạo nên điều kiện làmviệc của con người trong quá trình lao động sản xuất
Để có thể làm tốt công tác bảo hộ lao động thì phải đánh giá được các yếu tố điều kiện lao động, đặc biệt là phải phát hiện và
xử lý được các yếu tố không thuận lợi đe dọa đến an toàn và sức khoẻ người lao động trong quá trình lao động, các yếu tố đóbao gồm:
Yếu tố nguy hiểm gây chấn thương, tai nạn lao động (liên quan đến vấn đề kỹ thuật an toàn) đó là các yếu tố có thể phátsinh do nguồn nhiệt, điện, cháy nổ, vật rơi, văng bắn, tiếp xúc với bộ phận truyền chuyển động
Yếu tố có hại đến sức khoẻ, gây bệnh nghề nghiệp (liên quan đến vấn đề vệ sinh lao động) bao gồm:
- Điều kiện vi khí hậu: nhiệt độ (t oC), độ ẩm tương đối của không khí (ρ %), bức xạ nhiệt (γ Calo/cm2.ph), tốc độchuyển động của không khí (v m/s), và đặc biệt là nhiệt độ hiệu quả tương đương, nồng độ của các chất bụi độc hạitrong không khí (mg/m3; ml/m3), hoặc số lượng vi khuẩn/m3 không khí
- Mức cường độ của tiếng ồn (dB)
- Mức cường độ của rung động (dB)
- Chất lượng của ánh sáng – kể đến độ rọi tối thiểu theo quy phạm (E lux), sự phân bố của ánh sáng trên bề mặt chitiết gia công và khả năng gây chói lóa
- Trường điện từ, áp suất không khí, v.v
Nguy cơ gây tai nạn khi sử dụng máy và thiết bị xây dựng
a Máy sử dụng không tốt:
- Máy không hoàn chỉnh:
Thiếu thiết bị an toàn hoặc có những đã bị hỏng, hoạt động thiếu chính xác, mất tác dụng tự động bảo vệ khi làmviệc quá giới hạn tính năng cho phép
Thiếu các thiết bị tín hiệu âm thanh, ánh sáng (đèn, còi, chuông)
Thiếu các thiết bị áp kế, vôn kế, ampe kế, thiết bị chỉ sức nâng của cần trục ở độ vươn tương ứng
- Máy đã hư hỏng:
Các bộ phận, chi tiết cấu tạo của máy đã bị biến dạng lớn, cong vênh, rạn nứt, đứt gãy
Hộp số bị trục trặc làm cho vận tốc chuyển động theo phương ngang, phương đứng, xoay không chính xác theo điềukhiển của người vận hành
Hệ thống phanh điều khiển bị gỉ mòn không đủ tác dụng hãm
b Máy bị mất cân bằng ổn định
Do máy đặt hoặc di chuyển trên nền không vững chắc: nền yếu, nền dốc quá góc nghiêng cho phép khi cẩu hàng hoặc đổ vật liệu, sát mép hố móng, vai nền đắp… Ví dụ [3] trường hợp như hình 4.11, khi người công nhân đang đưa chiếc máy đào lên thùng xe tải nhờ đi trên hai tấm ván
- Cẩu nâng quá trọng tải
- Tốc độ di chuyển, nâng hạ vật với tốc độ nhanh gây ra mômen quán tính, mômen ly tâm lớn Đặc biệt hãm phanhđột ngột gây ra lật đổ máy
- Máy làm việc khi có gió lớn (trên cấp 6), đặc biệt đối với máy có trọng tâm cao
c Thiếu các thiết bị che chắn, rào ngăn nguy hiểm: đặc biệt ở các thiết bị truyền, chuyển động như băng tải vật liệu, máy
mài, máy cắt,
d Sự cố tai nạn điện:
- Dòng điện rò rỉ ra vỏ và các bộ phận kim loại của máy do phần cách điện bị hỏng
- Xe máy đè lên dây điện dưới đất hoặc va chạm vào đường dây điện trên không khi máy hoạt động ở gần hoặc di chuyển phía dưới trong phạm vi nguy hiểm
e Ánh sáng không hợp lý:
- Chiếu sáng không đầy đủ làm cho người đIều khiển máy móc dễ mệt mỏi, phản xạ thần kinh chậm, lâu ngày giảmthị lực là nguyên nhân gián tiếp gây chấn thương, đồng thời làm giảm năng suất lao động và hạ chất lượng sản phẩm
Trang 6- Chiếu sáng quá thừa gây hiện tượng mắt bị chói, bắt buộc mắt phải thích nghi Điều này làm giảm sự thu hút củamắt, lâu ngày thị lực giảm.
- Thiếu ánh sáng trong nhà xưởng hoặc làm việc vào ban đêm, sương mù làm cho người điều khiển máy không nhìn
rõ các bộ phận trên máy và khu vực xung quanh dẫn tới tai nạn
f Do người vận hành:
- Không đảm bảo trình độ chuyên môn: chưa thành thục tay nghề, thao tác không chuẩn xác, chưa có kinh nghiệm xử
lý kịp thời các sự cố
- Vi phạm các điều lệ, nôị quy, quy phạm an toàn: sử dụng máy không đúng công cụ, tính năng sử dụng (hình 4.14)
Ví dụ dùng máy đào thủy lực 11,5 tấn để nâng hạ một máy đào mini nặng 2,7 tấn xuống hố móng [3]
- Không đảm bảo các yêu cầu về sức khoẻ: mắt kém, tai nghễnh ngãng, bị các bệnh về tim mạch,
- Vi phạm kỷ luật lao động: rời khỏi máy khi máy đang còn hoạt động, say rượu bia trong lúc vận hành máy, giao máycho người không có nghiệp vụ, nhiệm vụ điều khiển
g Thiếu sót trong tổ chức, quản lý lao động:
- Thiết kế quá trình công nghệ thi công, chuẩn bị nơi làm việc không hoàn toàn đảm bảo an toàn tiềm ẩn các đe dọa nguy hiểm từ các phần di động của máy, của vật liệu và từ phía máy khác cùng tham gia làm việc
- Thiếu hoặc không có hồ sơ, lý lịch tài liệu hướng dẫn về lắp đặt, sử dụng bảo quản máy
- Không thực hiện đăng kiểm, khám nghiệm, chế độ trung tu bảo dưỡng, sửa chữa theo định kỳ
- Phân công trách nhiệm không rõ ràng trong việc quản lý sử dụng
Câu 5: Trình bày nguyên nhân gây tai nạn lao động ?
a Nguyên nhân về kỹ thuật
- Dụng cụ, phương tiện, thiết bị máy móc sử dụng không hoàn chỉnh, gồm:
Trang 7 Máy và thiết bị bị hư hỏng, gây ra sự cố và tai nạn (đứt cáp, đứt dây curoa, tuột phanh, vỡ đá mài, gãy thang, sập dàngiáo, v.v.).
Thiếu các thiết bị an toàn (thiết bị khống chế quá tải, khống chế chiều cao nâng tải, khống chế góc nâng của cần trục,van an toàn trong thiết bị chịu áp lực; rơle tự ngắt trong thiết bị điện, thiết bị che chắn các bộ phận truyền động nhưđai truyền, cưa đĩa, đá mài, v.v.)
Thiếu các thiết bị cảnh báo nguy hiểm (đồng hồ đo, áp kế, hệ thống tín hiệu, v.v.)
- Vi phạm quy trình, quy phạm kỹ thuật:
Vi phạm qui trình tháo dỡ cột chống, ván khuôn các kết cấu bê tông cốt thép
Đào hố hào sâu theo kiểu hàm ếch
Làm việc trên cao ở nơi chênh vênh, nguy hiểm mà không đeo dây an toàn
Sử dụng phương tiện vận chuyển vật liệu để chở người
Sử dụng thiết bị điện không đúng điện áp trong môi trường có nguy hiểm về điện, v.v
Do thiết kế công trình như chọn sai sơ đồ tính toán kết cấu, tính toán kết cấu không đúng do xác định tải trọng hoặctính toán nội lực sai, v.v
Do thiết kế biện pháp thi công không hợp lý như tính toán, bố trí sai hệ thống dàn giáo, cột chống cho việc thi công
bê tông toàn khối nhà cao tầng, thiết kế góc mái dốc của các hố đào có chiều sâu lớn không đảm bảo, v.v
- Thao tác làm việc không đúng (vi phạm quy tắc an toàn):
Hãm phanh đột ngột khi nâng, hạ vật cẩu; vừa quay tay cần vừa nâng hạ vật cẩu khi vận hành cần trục
Điều chỉnh kết cấu lắp ghép khi đã tháo móc cẩu
Dùng que sắt để cậy nắp thùng xăng hoặc nhồi thuốc nổ trong lỗ khoan khi thi công nổ mìn
Lấy tay làm cữ khi cưa, cắt
b Nguyên nhân về tổ chức
- Bố trí mặt bằng, không gian sản xuất không hợp lý:
Diện tích làm việc chật hẹp, cản trở các thao tác, hoạt động và đi lại của người làm việc
Bố trí máy, thiết bị, dụng cụ hoặc nguyên vật liệu sai nguyên tắc
Bố trí đường đi lại, giao thông vận chuyển không hợp lý, ví dụ có nhiều vị trí giao cắt nhau
- Tuyển dụng và sử dụng công nhân:
Không đảm bảo yêu cầu về tuổi, sức khỏe, ngành nghề và trình độ chuyên môn
Chưa được huấn luyện và kiểm tra về an toàn lao động
- Thiếu kiểm tra, giám sát thường xuyên để phát hiện và xử lý những vi phạm về an toàn lao động
- Thực hiện không nghiêm chỉnh các chế độ về bảo hộ lao động như:
Chế độ về thời gian làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ trang bị các phương tiện bảo hộ cá nhân
Chế độ bồi dưỡng độc hại
Chế độ đối với lao động nữ, v.v
c Nguyên nhân về vệ sinh môi trường
Bao gồm các nhóm sau:
- Làm việc trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt: nắng nóng, mưa, bão, gió rét, mưa dông hoặc sương mù
- Làm việc trong môi trường vi khí hậu không tiện nghi: quá nóng, quá lạnh, không khí trong nhà xưởng kém thôngthoáng, ngột ngạt, độ ẩm cao, v.v
- Môi trường làm việc bị ô nhiễm bởi các yếu tố độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép: bụi, hơi khí độc, tiếng ồn,rung động, cường độ bức xạ (nhiệt, quang, ion, phóng xạ, điện từ, v.v.)
- Làm việc trong điều kiện áp suất không khí cao hoặc thấp hơn áp suất khí quyển bình thường: trên cao, dưới sâu,trong đường hầm, dưới nước, v.v
- Không phù hợp với các tiêu chuẩn ecgônômi:
Tư thế làm việc gò bó
Công việc đơn điệu, buồn tẻ
Nhịp điệu lao động quá khẩn trương
Trang 8 Máy móc, dụng cụ, vị trí làm việc không phù hợp với các chỉ tiêu nhân trắc.
- Thiếu các phương tiện bảo hộ cá nhân hoặc có nhưng chất lượng không bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật
- Không đảm bảo các yêu cầu vệ sinh cá nhân trong sản xuất:
Không cung cấp đủ nước uống về số lượng và chất lượng
Không có nơi tắm rửa hoặc nhà vệ sinh, v.v
d Nguyên nhân do bản thân người lao động
Bao gồm các nhóm sau:
- Tuổi, sức khỏe, giới tính hoặc tâm lý không phù hợp với công việc
- Trạng thái thần kinh, tâm lý không bình thường, có những đột biến về cảm xúc: vui, buồn, lo sợ, hoảng hốt, v.v
- Vi phạm kỷ luật lao động hoặc nội quy an toàn như:
Đùa nghịch trong khi làm việc
Xâm phạm các vùng cấm
Vi phạm qui định đối với những công việc, máy và thiết bị ngoài nhiệm vụ của mình
Không sử dụng hoặc sử dụng không đúng các phương tiện bảo hộ cá nhân
Câu 6:Trình bày ảnh hưởng yếu tố vi khí hậu đến sk người lao động? Các giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu tai nạn lao đông?
*Ảnh hưởng của điều kiện vi khí hậu
• Tác hại của vi khí hậu nóng:
Trang 9Ở nhiệt độ cao, cơ thể người tăng tiết mồ hôi để duy trì cân bằng nhiệt, từ đó gây sụt cân do mất nước và mất cân bằng điện giải do mất các ion K+, Na+, Ca++, I- và vitamin các nhóm C, B, PP Do mất nước làm khối lượng, tỷ trọng và độ nhớt của máu thay đổi, tim phải làm việc nhiều hơn để thải nhiệt Chức phận hoạt động của hệ thần kinh trung ương cũng bị ảnh hưởng, dẫn tới giảm sự chú ý khi phối hợp các động tác cũng như tốc độ phản xạ.
Rối loạn bệnh lý thường là chứng say nóng và chứng co giật với các triệu chứng mất cân bằng nhiệt như: chóng mặt, nhức đầu, đau thắt ngực, buồn nôn, thân nhiệt tăng nhanh, nhịp thở nhanh và cơ thể rơi vào trạng thái suy nhược Mức nặng hơn làchoáng nhiệt: thân nhiệt tăng cao từ 40 ÷ 41oC, mạch nhanh nhỏ, thở nhanh mà nông, cơ thể tím tái, mất tri giác và hôn mê Chứng co giật gây nên do mất cân bằng nước và điện giải
• Tác hại của vi khí hậu lạnh:
Do ảnh hưởng của nhiệt độ thấp, da trở nên xanh, nhiệt độ da dưới 330C Nhịp tim và nhịp thở giảm nhưng mức tiêu thụ oxi lại tăng nhiều do cơ và gan phải làm việc nhiều Khi bị lạnh, nhiều cơ vân, cơ trơn đều co lại (khiến cơ thể bị rét run) và xuấthiện hiện tượng “nổi da gà” nhằm hạn chế thải nhiệt qua đường bay hơi mồ hôi
Lạnh cục bộ làm co thắt mạch, gây cảm giác tê cóng, lâm râm ngứa ở các đầu chi, làm giảm khả năng vận động, mất cảm giác, sau đó sinh chứng đau cơ, viêm cơ, viêm thần kinh ngoại biên, v.v Lạnh còn gây dị ứng kiểu hen phế quản, giảm sức
đề kháng, giảm miễn dịch, gây viêm đường hô hấp trên hoặc bệnh thấp khớp,…v.v
Một số hậu quả có thể xảy ra khi làm việc trên công trường vào mùa lạnh là như sau:
- Rất dễ xảy ra tai nạn khi nhiệt độ bàn tay xuống dưới 150 C do xảy ra tình trạng mất tập trung và khó điều khiển;
- NLĐ sử dụng các thiết bị rung cầm tay liên tục như máy khoan đá dễ bị mắc phải hội chứng “ngón tay trắng” - mấtcảm giác ở tay do hậu quả của việc chịu lạnh kéo dài;
- Kéo dài thời gian tiếp xúc với thời tiết băng giá có thể khiến cho cơ thể bị lạnh cóng hoặc mất thân nhiệt;
- Tốc độ gió cũng ảnh hưởng tới nhiệt độ Khi nhiệt độ không khí là 100 C, tốc độ gió là 32 km/h thì nhiệt độ cơ thểtụt xuống điểm đóng băng
- Ngay cả ở nơi có nhiệt độ cao hơn điểm đóng băng vẫn có thể xảy ra tình trạng “cóng chân” trong điều kiện ẩm ướtnếu chân không được giữ khô ráo
• Tác hại của bức xạ nhiệt:
Làm việc dưới ánh nắng trực tiếp của mặt trời, NLĐ trên công trường xây dựng bị ảnh hưởng bởi các tia bức xạ nhiệt hồng ngoại Tia hồng ngoại có khả năng gây bỏng và phồng rộp da, nó có thể xuyên quả hộp sọ, hun nóng tổ chức não, màng não
và gây các biến đổi làm con người bị say nắng Tia hồng ngoại còn có thể gây bệnh đục nhân mắt sau nhiều năm tiếp xúc và làm giảm dần thị lực và có thể dẫn tới mù lòa
* Biện pháp phòng ngừa cho người lao động
NLĐ xây dựng công trình chủ yếu là làm việc ngoài trời Do đó, họ phải chịu sự khắc nghiệt của thời tiết như nắng nóng về mùa hè và gió lạnh về mùa đông
+ Chăm sóc y tế trong điều kiện khí hậu nóng bức là yếu tố thiết yếu cho sức khỏe, trong đó việc sắp xếp thời gian biểu làm việc rất quan trọng Nên có:
- Những khoảng thời gian giải lao thích hợp: Đối với những công việc tương đối nặng nhọc, nhất thiết phải có tốithiểu 50 % thời gian giải lao và nghỉ ngơi;
- Khu vực giải lao nên cách xa nơi làm việc và có gió mát Cung cấp đầy đủ nước uống sạch và mát: uống nướcthường xuyên và mỗi lần chỉ nên uống một ít;
- Có thiết bị giặt giũ để luôn giữ quần áo sạch sẽ
+NLĐ cũng nên học cách làm dịu mát cơ thể như:
- Tránh ánh mặt trời chiếu trực tiếp lên cơ thể đến mức tối đa;
- Tránh những vận động nhanh không cần thiết;
- Đảm bảo có thiết bị lưu thông không khí trong cabin điều khiển máy;
- Tránh mặc những quần áo chật, những quần áo làm bí hơi hoặc bí mồ hôi như được làm từ vật liệu plastic;
- Đội mũ bảo hộ lao động;
- Uống nước mát thường xuyên để bù đắp sự thất thoát mồ hôi;
- Thêm muối vào thực phẩm hoặc ăn những thực phẩm có muối tự nhiên;
- Nên nghỉ giải lao tại những nơi râm mát
Trang 10Về mùa đông, nếu không có các phương tiện bảo vệ cá nhân chống rét phù hợp thì NLĐ ban đầu sẽ cảm thấy lạnh, sau đó họ sẽ bị “nhiễm lạnh” và kèm theo các hậu quả như viêm da, cước lạnh và viêm nhiễm đường hô hấp Khi làm việc trong điều kiện thời tiết lạnh NLĐ cần lưu ý những điểm sau:
- Chọn loại quần áo có thể cho phép các chất bài tiết bay hơi nhưng không để gió hay mưa có thể thấm vào (lưu ý:quần áo đi mưa ngăn cản sự bay hơi các chất bài tiết) Tránh mặc quần áo dày làm vướng víu cử động khi làm việc
và nên mặc nhiều quần áo
- Có các trang thiết bị để có thể nấu ăn nóng, cất giữ hoặc sấy khô quần áo
- Chân và tay đặc biệt nhạy cảm với cái lạnh nên lưu ý bảo vệ
Câu 7: Trình bày nguy cơ gây tạn nạn khi thi công phần ngầm công trình? Các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu tai nạn?
* Các nguy cơ gây tai nạn lao động khi thi công tường chắn đất tâng hầm công trình
- Tường vây tầng hầm bị sập đổ một phần hay hoàn toàn và đè vào những người công nhân đang làm việc ở dưới
Trang 11- Tai nạn lao động xảy ra trong lúc thi công hệ thống chống đỡ tạm của tường vây Ví dụ như trong lúc cẩu các thanh thép hình của hệ văng chống thì dây cáp bị đứt hay tuột, hoặc các thanh thép hình va đập vào công nhân,…v.v.
- Hệ văng chống tạm không đủ khả năng chịu lực và bị biến hình hoặc mất ổn định, dẫn tới cả hệ văng chống và tườngvây bị sụp đổ, gây tai nạn lao động Khi đó, có thể đất xung quanh công trình sẽ sụp lở vào bên trong tầng hầm, làm cho các công trình bên cạnh bị lún, nghiêng hoặc đổ, gây tai nạn cho cả những người và công trình khác
- Công nhân làm việc hoặc leo trèo trên các thanh chống ngang của tường vây tầng hầm mà không đeo dây an toàn hoặc không có dàn giáo nên có thể bị trượt ngã
- Đáy tầng hầm bị nước ngầm đẩy và bị vỡ (cốt nước ngầm cao hơn cao trình đáy tầng hầm), gây tai nạn lao động
- Máy không hoàn chỉnh:
Thiếu thiết bị an toàn hoặc có những đã bị hỏng, hoạt động thiếu chính xác, mất tác dụng tự động bảo vệ khi làmviệc quá giới hạn tính năng cho phép
Thiếu các thiết bị tín hiệu âm thanh, ánh sáng (đèn, còi, chuông)
Thiếu các thiết bị áp kế, vôn kế, ampe kế, thiết bị chỉ sức nâng của cần trục ở độ vươn tương ứng
- Máy đã hư hỏng:
Các bộ phận, chi tiết cấu tạo của máy đã bị biến dạng lớn, cong vênh, rạn nứt, đứt gãy
Hộp số bị trục trặc làm cho vận tốc chuyển động theo phương ngang, phương đứng, xoay không chính xác theo điềukhiển của người vận hành
Hệ thống phanh điều khiển bị gỉ mòn không đủ tác dụng hãm
Máy bị mất cân bằng ổn định
Do máy đặt hoặc di chuyển trên nền không vững chắc: nền yếu, nền dốc quá góc nghiêng cho phép khi cẩu hàng hoặc đổ vật liệu, sát mép hố móng, vai nền đắp… Ví dụ [3] trường hợp như hình 4.11, khi người công nhân đang đưa chiếc máy đào lên thùng xe tải nhờ đi trên hai tấm ván
- Cẩu nâng quá trọng tải
- Tốc độ di chuyển, nâng hạ vật với tốc độ nhanh gây ra mômen quán tính, mômen ly tâm lớn Đặc biệt hãm phanhđột ngột gây ra lật đổ máy
- Máy làm việc khi có gió lớn (trên cấp 6), đặc biệt đối với máy có trọng tâm cao
._thiếu các thiết bị che chắn, rào ngăn nguy hiểm
_Sự cố tai nạn điện
_ Ánh sáng không hợp lý
_ Do người vận hành
_ Thiếu sót trong tổ chức, quản lý lao động:
* Biện pháp phòng tránh:Khi thi công phần công trình ngầm
+ việc tính toán để đảm bảo cho tường chắn đủ khả năng chịu được tải trọng ngang của nước ngầm, của đất và tải trọng của các công trình bên cạnh phải do những kỹ sư đủ chuyên môn thực hiện
+ Việc thi công cần thực hiện theo đúng các thiết kế đó thì mới tránh được sập đất hoặc sập tường chắn
+ sử dụng máy móc thi công an toàn:
.Để đảm bảo an toàn khi làm việc, tất cả xe, máy và phương tiện vân chuyển khi sử dụng đều phải có trạng thái kỹ thuật tốt và được kiểm tra trước khi vận hành Đối với máy nâng chuyển, máy nén khí hay nồi hơi còn phải được thanh tra Nhà nước cho phép sử dụng
.Khi thiết kế quá trình công nghệ thi công, phải chuẩn bị nơi làm việc sao cho hoàn toàn đảm bảo an toàn khi làm việc và phải có biển báo khi cần thiết Mọi nơi làm việc phải được chuẩn bị sao cho công nhân không bị đe dọa nguy hiểm từ các phần di động của máy, của vật liệu và từ phía máy khác cùng tham gia làm việc Chỗ ngồi của thợ lái hoặc chỗ làm việc phải thuận tiện, ổn định, dễ quan sát, không bị mưa nắng, đủ sáng và có hệ thống gạt nước Nơi làm việc phải được che chắn và sạch sẽ Lối đi của công nhân phải chắc chắn, đủ rộng và có lan can an toàn
.Trước khi đưa máy vào làm việc, cần xác định sơ đồ di chuyển, nơi đỗ, vị trí đứng, phương pháp nối đất với máy
có sử dụng điện và quy định phương pháp trông báo bằng tín hiệu giữa thợ lái và người xi nhan Ý nghĩa của các tín hiệu trong khi làm việc hay khi xe chuyển bánh phải được thông báo cho tất cả mọi người có liên quan biết rõ
Trang 12.Khi dịch chuyển máy, khi đỗ hoặc khi làm việc gần hố móng, mương, rãnh,…v.v có mái dốc, cần bố trí máy nằm trong giới hạn khoảng cách an toàn cho phép do thiết kế thi công quy định.
.Chỉ được bảo dưỡng kỹ thuật khi động cơ đã dừng hẳn (trừ khi nghe máy và điều chỉnh cơ cấu) Các công việc liên quan tới giải phóng áp lực từ hệ thống nén khí và thủy lực hoặc các trường hợp khác đều phải tuân theo hướng dẫn của nhà chế tạo ra máy quy định
.Khi bảo dưỡng và sửa chữa, cần có trang bị phòng hộ cá nhân, ăn mặc gọn, đội mũ, chỉ sử dụng dụng cụ còn tốt Khi bảo dưỡng máy được dẫn động bằng điện, cần áp dụng biện pháp an toàn về điện theo quy định
Những cụm máy có khả năng tự di chuyển do khối lượng bản thân cần được chèn hay đặt trên giá
Không được dùng lửa ở khu vực nạp nhiên liệu, cũng như cấm dùng xe, máy bị chảy dầu hoặc chảy nhiên liệu Việc tháo và lắp máy phải tiến hành theo sự chỉ huy của cán bộ có trách nhiệm và phải tuân theo ềhướng dẫn của nhà máy chế tạo
Đối với các chi tiết nặng quá 80 kg, khi nâng hay di chuyển, phải dùng các phương tiện nâng chuyển phù hợp Khu vực tháo lắp máy phải được ngăn hay làm dấu hiệu an toàn kèm theo bảng báo đ phòng tai nạn
Câu 8: Khái niệm ecgonomi ? Các giải pháp ecgonomi nhằm nâng cao sức khỏe người lao động?
Trang 13a Ecgônômi là môn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng giữa phương tiện kỹ thuật và môi trường laođộng với khả năng của con người về giải phẫu, sinh lý và tâm lý nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả, đồng thời bảo vệ
an toàn và tiện nghi cho con người trong quá trình làm việc
b Các giải pháp Egonomi nhằm nâng cao sức khỏe người lao động.:
* Các giải pháp Egonomi nhằm nâng cao sức khỏe người lao động bao gổm:
- Hạn chế các công việc đơn điệu, lặp đi lặp lại trong thời gian dài; Hạn chế tư thế lao động gò bó như ngồi hoặc đứngtrong thời gian dài, liên tục không gian làm việc chật hẹp; Rút ngắn thời gian làm việc đối với các công việc điềukhiển máy phức tạp đòi hỏi sự tập trung cao để hạn chế các căng thẳng thần kinh và giác quan
- Tổ chức lao động theo nhóm là một cách nâng cao chất lượng công việc và cách tổ chức công việc linh hoạt có lợicho người sử dụng lao động và NLĐ Hầu hết mọi người đều có nhu cầu cùng làm việc và hợp tác với nhau Hợp táctốt trong công việc khiến mọi người hiểu biết nhau tốt hơn, tạo ra không khí làm việc vui tươi, tinh thần làm việcthoải mái không khô cứng, gò bó
- Tổ chức thời gian, cường độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý Thời gian làm việc không quá dài, không tổ chức làmthông ca, thêm giờ thường xuyên dẫn đến mệt mỏi kéo dài
- Thiết kế, bố trí mặt bằng công trường hợp lý, có lối đi lại cho các phương tiện giao thông, xe cấp cứu; Bố trí máyxây dựng, kho chứa nguyên vật liệu, nhà ăn, trạm y tế, khu vệ sinh, phân xưởng phụ trợ hợp lý và an toàn
- Làm vệ sinh thường xuyên khu vực làm việc, vệ sinh máy thiết bị; Phế liệu để vào đúng nơi quy định;
- Các thiết bị máy phải được chế tạo hoặc cải tiến cho phù hợp với kích thước của người Việt Nam Máy phải đượcthiết kế đảm bảo an toàn: các bộ phận chuyển động được che chắn, có các thiết bị tự động dừng khi có sự cố hoặc saiquy trình vận hành • Các nút bấm, các tay điều khiển được bố trí ở những vị trí sao cho không bị nhầm lẫn khithao tác Chỗ ngồi hoặc chỗ đứng phải có độ cao và chiều rộng thích hợp để khi thao tác không phải với tay quá caohoặc quá xa
Khi chuyển hướng đi thì sử dụng chân chứ không xoay cột sống
Trang 14Câu 9: Trình bày các quy tắc An toàn về phòng chống cháy nổ trên công trình xây dựng? Trình bày sự hiểu biết của mình về một số loại chất cháy thông dụng.?
Trả lời:
Cần đảm bảo hai hệ thống là hệ thống phòng cháy và hệ thống chữa cháy hoạt động hiệu quả
- Đối với hệ thống phòng cháy, cần nghiên cứu cho các công trường cụ thể, bao gồm các vấn đề về tổ chức cũngnhư bảo quản và sử dụng các nguyên liệu, nhiên liệu hoặc vật liệu dễ cháy, nổ trên công trường
- Đối với hệ thống chữa cháy, cũng cần nghiên cứu đối với mỗi công trường cụ thể sao cho nhanh chóng dập tắtđám cháy, bảo vệ được con người, tài sản và công trình
a) Về tổ chức công trường
* Kế hoạch phòng chống cháy, nổ
Kế hoạch về phòng chống cháy, nổ là rất cần thiết đối với một công trường xây dựng Dựa vào các điều kiện riêng của công trình trong từng giai đoạn thi công mà đơn vị lập kế hoạch có: cách sử dụng và bảo quản các vật liệu dễ cháy, nổ; thiết kế đường ra, vào công trường cũng như đường thoát người khi có cháy; lập ra hệ thống cảnh báo khi có cháy; chỉ ra
hệ thống phương tiện và trang thiết bị chữa cháy; thành lập đội chữa cháy nghĩa vụ; thiết lập các đường dây nóng tới các đơn vị chữa cháy chuyên nghiệp; yêu cầu về trang thiết bị phòng hộ cá nhân; lên kế hoạch huấn luyện, tuyên truyền về công tác phòng, chữa cháy trên công trường; và thiết kế các chương trình tập luyện giả định khi có cháy
* Đường ra, vào, nơi đỗ xe và đường thoát người
Trên công trường xây dựng, đường ra, vào và nơi đỗ xe cũng như đường thoát người khi có cháy được thiết kế cùng vớitổng mặt bằng thi công Lối thoát người nên có biển hoặc các ký hiệu chỉ dẫn rõ ràng đảm bảo cho mọi người trên công trường hiểu việc họ phải làm khi có cháy là phải nhanh chóng thoát ra khỏi khu vực cháy Khi có cháy, nếu có thể, phải đảm bảo ít nhất có 2 hướng thoát ra ngoài khác nhau với khoảng cách tới chỗ thoát ra là ngắn nhất Lối thoát này không bao giờ bị khóa khi có người làm việc
Các đèn báo cháy phải đặt dọc theo các hành lang hoặc đường thoát người và có độ sáng cao để người người làm việc có thểnhận ra (không bị lẫn với ánh lửa) và đi theo chúng để thoát ra ngoài Cầu thang nên sử dụng vật liệu khó cháy như bằng thép
có bọc nhựa cứng chống cháy
Trong trường hợp có cháy, sau khi người đã thoát ra, phải đếm lại xem đã đủ số quân số chưa để khẳng định xem còn ai chưa thoát ra ngòai hay không
* Biện pháp hạn chế đám cháy lan rộng
Biện pháp này chủ yếu là thuộc về thiết kế quy hoạch, kiến trúc, kết cấu trong xây dựng: phân vùng xây dựng, bố trí phân nhóm nhà cửa, công trình đúng đắn theo mức nguy hiểm cháy trong khu vực nhà máy, xí nghiệp, khu dân cư phù hợp với điều kiện địa hình và khí tượng thủy văn
* Bảo quản và sử dụng các vật liệu dễ bắt lửa
Luôn thực hiện đúng các qui định của nhà sản xuất hoặc cung cấp các vật liệu, nguyên liệu hoặc nhiên liệu liên quan tới các qui định về phòng chống cháy, nổ
Đối với các vật liệu nói chung mà không có các hướng dẫn cụ thể, công trường cần thiết kế và bố trí vật liệu tại các khu vực theo qui phạm về phòng và chữa cháy
* Hệ thống cảnh báo khi có cháy
Hệ thống cảnh báo khi có cháy là những thiết bị có thể phát ra tín hiệu như âm thanh (còi hú, kẻng…) hoặc ánh sáng (đènnhấp nháy đỏ…) khi cháy xuất hiện Đây có thể là các thiết bị tự động hoặc được điều khiển bởi con người (bấm nút, gõ kẻng, đánh trống…) Dựa vào các tín hiệu này, những người làm việc có thể nhận ra ngay là có cháy trên công trường,
từ đó họ sẽ có hành động thích hợp như chữa cháy hoặc thoát ra khỏi khu vực cháy…
Thường xuyên kiểm tra hệ thống này để luôn đảm bảo rằng nó vẫn làm việc tốt Đặc biệt lưu ý tới hệ thống cảnh báo tự động cũng như hệ thống chuông, còi báo cháy dùng tay….v.v Đối với hệ thống chuông hoặc còi báo cháy dung tay này, nên bố trí chúng ở những vị trí dễ quan sát và vừa tầm với của con người nói chung
* Công tác huấn luyện và tuyên truyền
Đây là công tác chủ yếu để tạo ra ý thức về an toàn lao động nói chung và về phòng cháy và chữa cháy nói riêng đối với những người làm việc trên công trường.Nếu công tác này làm không tốt, cháy hoặc nổ rất dễ xảy ra do những người làm việc vi phạm những qui định bắt buộc về phòng chống cháy, nổ
Trang 15Trước khi bước vào một gia đoạn thi công nào đó, công tác tuyên truyền và huấn luyện cần được thực hiện đối với những người làm việc, bao gồm: tổ chức huấn luyện cho cán bộ, công nhân, nhân viên phục vụ các quy định và kỹ thuật
an toàn phòng cháy chữa cháy; phổ biến các tiêu chuẩn và quy phạm kỹ thuật an toàn cháy cũng như các chỉ dẫn cần thiết khi làm việc với các chất và vật liệu nguy hiểm cháy
Trên công trường, có thể sử dụng các phương tiện thông tin tuyên truyền để phổ cập công tác phòng cháy và chữa cháy tới người làm việc
* Công tác kiểm tra, giám sát, chế tài và sử phạt
Một trong những nhiệm vụ quan trọng để phòng cháy trên công trường là công tác kiểm tra, giám sát và chế tài xử phạt những trường hợp vi phạm qui định về phòng cháy và chữa cháy
Khi công tác này làm không tốt, các nguy cơ về cháy có thể không được phát hiện kịp thời để có biện pháp đề phòng thíchhợp, và dẫn tới cháy trên công trường Với các chế tài xử phạt quá nhẹ, ý thức về phòng cháy của những người làm việc trêncông trường đôi khi không được nâng lên, dẫn tới họ coi thường các qui định mà dẫn tới vi phạm
Thường xuyên kiểm tra và giám sát công tác phòng cháy trên công trường Đối với những trường hợp vi phạm, tùy từng mức độ mà có thể nhắc nhở hoặc xử phạt theo các qui định của công trường Theo kinh nghiệm của một số nước, chế tài xử phạt người vi phạm có thể bằng một số tiền lớn, bằng giờ lao động hoặc cho nghỉ việc…Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị truy tố trước pháp luật
b. Về hệ thống chữa cháy trên công trường
Hệ thống chữa cháy trên công trường bao gồm thiết bị chữa cháy cố định (bình cứu hỏa treo tường, đường ống cấp nước chữa cháy bằng gang cứng, hoặc hộp đựng cuộn ống chữa cháy bằng vải mềm,…) hoặc thiết bị chữa cháy di động như máy nén khí để phun nước, các xe ôtô cứu hỏa,… Nếu hệ thống này bị trục trặc hoặc làm làm việc không hiệu quả khi cháy xảy ra, trong nhiều trường hợp phải huy động các xe chữa cháy chuyên nghiệp từ xa đến, thì cơ hội để dập được lửa làrất khó vì đám cháy rất có thể đã bước vào giai đoạn cháy to
Nguyên lý để chữa cháy có hiệu quả đối với bất kỳ hệ thống chữa cháy nào đó là làm sao phải loại bỏ hoặc làm giảm tới mức tối đa các thành phần trong tam giác của sự cháy – vật liệu cháy, nguồn nhiệt và oxy ở trạng thái tự do Mặc dù vậy,việc khống chế vật liệu cháy cũng như oxy trong nhiều trường hợp là khó (cháy do xăng, dầu) Do vậy, chủ yếu nguồn nhiệt phải được khống chế
Hệ thống chữa cháy trên công trường cũng phải được kiểm tra thường xuyên để đảm bảo luôn hoạt động tốt, đặc biệt là hệthống bể chứa, máy bơm, vòi dẫn nước…v.v Hệ thống này nên đặt ở các vị trí dễ quan sát, dễ lấy, không cản trở đường thoát người, và tránh mưa nắng cũng như sự phá hủy của môi trường xung quanh Có thể sử dụng các sơ đồ, ký hiệu để chỉ dẫn các vị trí đặt các phương tiện chữ cháy trên công trường hoặc cách sử dụng chúng Đặc biệt, hệ thống các thiết bị này phải được kiểm định của các cơ quan chức năng trước khi đưa vào sử dụng
*Một số loại chất chữa cháy thông dụng:
Trước tiên, cần phân biệt 4 nhóm cháy (liên quan tới vật chất cháy), được ký hiệu là A, B, C và D, theo thông lệ quốc tế , như được thể hiện trong Hình 3.2
- Nhóm A: Cháy từ các vật chất như gỗ, giấy, vải, cao su và nhựa,…
- Nhóm B: Cháy từ các vật chất như xăng, dầu, gas, sơn,…
- Nhóm C: Cháy có liên quan đến điện
- Nhóm D: Cháy liên quan tới các chất hóa học học dễ cháy như Natri, Mage, Nhôm,…
Đối với Nhóm A, chất chữa cháy chủ yếu là nước, các chất hóa học ở dạng bột khô hoặc ướt Đối với Nhóm B, chất chữa cháy chủ yếu các chất hóa học ở dạng bột khô hoặc khí CO2
Đối với Nhóm C, chất chữa cháy chủ yếu các chất hóa học ở dạng bột khô hoặc khí CO2
Đối với nhóm D, chất chữa cháy chủ yếu là các chất hóa học ở dạng bột
* Nước
Nước là chất chữa cháy rẻ và phổ biến nhất Nước là chất thu nhiệt lớn (1 lít nước đun từ 00C đến 1000C đã hấp thụ 100 kcal và bốc hơi 530 kcal) Khi tưới nước vào chỗ cháy, nước sẽ bao phủ bề mặt cháy, hấp thụ nhiệt, hạ thấp nhiệt độ chất cháy xuống dưới mức nhiệt độ bắt cháy Nước bị nóng sẽ bốc hơi làm giảm lượng khí và hơi cháy, làm loãng ôxy trong không khí, làm cách ly không khí với chất cháy, hạn chế quá trình ôxy hóa, do đó làm ngưng đám cháy
Trang 16Tưới nước vào đám cháy có thể thực hiện được bằng các vòi phụt mạnh hoặc phun với các tia nhỏ dưới dạng mưa Các vòi phụt mạnh có tốc độ lớn, sức phụt xa tập trung một lượng nước lớn lên một diện tích nhỏ Ngoài tác dụng làm lạnh, vòi nước phụt mạnh còn có tác dụng làm phân tách vật cháy ra những phần nhỏ, tách ngọn lửa khỏi vật cháy Nên áp dụng các vòi phụt mạnh để chữa các chất rắn có thể tích lớn, chữa các đám cháy ở trên cao và xa không đến gần được, những chỗ hiểm hóc, để làm nguội các máy móc và thiết bị.
Tưới nước dưới dạng mưa có tác dụng làm tăng bề mặt tưới và làm giảm lượng nước tiêu thụ, áp dụng để chữa cháy các chất như than, vải, giấy, phôtpho, các chất rời rạc, chất có sợi, chất cháy lỏng và làm nguội bề mặt kim loại bị nung nóng.Không được dùng nước chữa cháy các thiết bị có điện, các kim loại có hoạt tính hóa học như Na, K, Ca, đất đèn vì khi
đó, phản ứng hóa học xảy ra làm thoát ra khí cháy làm cho đám cháy bốc to hơn
Không dùng nước chữa cháy các chất lỏng dễ cháy mà không hòa tan với nước như xăng, dầu hỏa vì nước có tỉ trọng lớn hơn sẽ chìm xuống dưới, mất tác dụng bao phủ bề mặt cháy
* Dung dịch nước muối
Để tăng cường tác dụng thu nhiệt của nước, người ta dùng các chất hóa học hòa vào nước để được các dung dịch muối nặng Các loại dung dịch muối được dùng phổ biến là amôniac phôtpho, clorua natri, clorua canxi, clorua amôni, kali cacbônat, natri hiđrôcacbônat
Muối hòa tan với nước sẽ làm tăng nhiệt độ sôi và bốc hơi so với nước thường Muối rơi vào bề mặt cháy sẽ tạo ra một màng cách ly, hấp thụ thêm một lượng nhiệt của chất cháy để phân tích chúng, đồng thời làm thoát ra khí trơ, vì vậy làm tăng hiệu quả dập tắt đám cháy Phương pháp sử dụng và phạm vi chữa cháy bằng dung dịch muối cũng như đối với nước
- Bọt hoá học
Bọt hóa học là loại bọt được tạo thành bởi hai phần chủ yếu: một phần là alumin sunfat Al2(SO4)3 được gọi là phần
"A" còn phần kia là natri bicacbônat NaHCO3 được gọi là phần "B" Ngoài ra còn một số chất làm bền bọt như sắt sunfat, bột cam thảo, v.v…
Khi chữa cháy, dung dịch "A" được trộn lẫn với dung dịch "B" tạo thành bọt theo phản ứng:
Al2(SO4)3 + 6H2O → 2Al(OH)3 + 2H2SO4
H2SO4 + NaHCO3 → Na2SO4 + 2CO2 + 2H2O
Khi xảy ra phản ứng hóa học, alumin hiđrôxit tạo ra các màng mỏng và nhờ có CO2 mà tạo thành bọt Bọt có tỉ trọng 0,11 - 0,22 g/cm3 nên có khả năng nổi trên mặt chất lỏng Thành phần của bọt có khoảng 80% khí CO2, 19,7% nước, 0,3% chất tạo bọt Bọt hóa học có bội số từ 5 ÷ 8 lần Bội số bọt là số lần tăng lên của thể tích bọt sinh ra so với thể tích ban đầu của các chất tạo thành
Ví dụ: Chất tạo bọt phần "A" là 5ml và phần "B" là 8ml, sau khi trộn lẫn vào nhau được 65ml bọt, như vậy bội số bọt là 65/8 + 5 = 5 lần
Độ bền của bọt hóa học là 40 phút Độ bền bọt là số thời gian cần thiết để phân hủy được 50% chất tạo bọt ban đầu Bọt hóa học được tạo trong các máy tạo bọt đặc biệt và đưa đến chỗ chữa cháy nhờ các đường ống lắp với máy tạo bọt
Ngoài ra cũng còn các thiết bị di động dùng cho các đội chữa cháy chuyên nghiệp