1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tracer Studies Report 2009-2011 VN

117 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, Nghiên cứu lần vết tình hình việc làm của các học viên tốt nghiệp từ các cơ sở Đào tạo nghề tại Việt Nam được thiết kế trong sự hợp tác giữa Viện NCKHDN/TCDN, GIZ và RWI thay mặt

Trang 1

LỜI CẢM ƠN Nghiên cứu lần vết đã được thí điểm thành công và đạt được nhiều kết quả tốt đẹp sau hơn 2 năm triển khai Chúng tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo của Tổng cục Dạy nghề, đặc biệt là TS.Nguyễn Tiến Dũng (Tổng cục trưởng TCDN), PGS.TS Cao Văn Sâm (Phó tổng cục trưởng TCDN) Sự chỉ đạo sát sao và cam kết mạnh mẽ của cấp lãnh đạo trong việc đưa Nghiên cứu lần vết vào hệ thống dạy nghề đã góp phần to lớn tạo nên

sự thành công của nghiên cứu này Chúng tôi cũng rất trân trọng sự hợp tác tốt đẹp của

18 cơ sở Đào tạo nghề đã tham gia vào nghiên cứu này trong suốt hơn hai năm qua Nếu không có sự hỗ trợ nhiệt tình và đóng góp tích cực của quý vị, chúng tôi đã không thể triển khai thành công và cải thiện đáng kể các công cụ của Nghiên cứu lần vết Xin chân thành cảm ơn tất cả quý vị Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự đóng góp của quý vị trong thời gian tới để có thể nhân rộng Nghiên cứu lần vết tại Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC

DANH SÁCH CÁC BIỂU BẢNG 4

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

TÓM TẮT BÁO CÁO 7

I GIỚI THIỆU CHUNG 11

1 Bối cảnh của Nghiên cứu lần vết 12

2 Đề cương Nghiên cứu lần vết 14

2.1 Mục đích của Nghiên cứu lần vết 14

2.2 Phạm vi và nhóm đối tượng của Nghiên cứu lần vết 14

2.3 Phương pháp luận 14

2.4 Công cụ 15

II TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM NGHIÊN CỨU LẦN VẾT VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO CÁN BỘ TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 17

1 Tổng quan tình hình triển khai thí điểm khảo sát Lần vết 18

2 Xây dựng năng lực phân tích dữ liệu 20

3 Tóm tắt kết quả của các hội thảo 22

4 Tình hình triển khai Nghiên cứu lần vết 25

4.1 Khảo sát cơ bản 25

4.2 Khảo sát lần vết 26

4.3 Những khó khăn chính trong quá trình thực hiện Nghiên cứu lần vết 27

III KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU LẦN VẾT 30

1 Vòng 1 Năm 2009-2010 31

1.1 Các khía cạnh về nhóm tuổi và giới tính (khảo sát cơ bản) 31

1.2 Học nghề và kế hoạch tương lai (khảo sát cơ bản) 33

1.3 Việc làm 37

1.4 Đánh giá chất lượng đào tạo 44

2 Vòng 2 – năm 2010-2011 46

Trang 3

2.1 Các khía cạnh về nhóm tuổi và giới tính (khảo sát cơ bản) 46

2.2 Học nghề và kế hoạch tương lai (khảo sát cơ bản) 48

2.3 Việc làm 52

2.4 Đánh giá chất lượng đào tạo 61

IV CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65

1 Các bài học kinh nghiệm 66

2 Kết luận và các khuyến nghị 69

V PHỤ LỤC 71

1 Tư liệu về các hội thảo 72

1.1 Tư liệu hội thảo I (05.06.2009 tại Hà Nội) 72

1.2 Tư liệu hội thảo II (12.08.2009 tại Hà Nội) 77

1.3 Tư liệu hội thảo III (19.08.2009 tại Nha Trang) 81

1.4 Tư liệu hội thảo IV (12/05/2010 tại Hà Nội) 82

1.5 Tư liệu hội thảo V (13/5/2010 tại Hà Nội) 83

1.6 Tài liệu hội thảo VI (10.01.2011 tại Hà Nội) 88

1.7 Tư liệu hội thảo VII (21.06.2011 tại Hà Nội) 89

1.8 Tư liệu hội thảo VIII (23.06.2011 tại Hà Nội) 90

1.9 Một số bức ảnh về các cuộc hội thảo 93

2 Bảng hỏi cơ bản 99

3 Bảng hỏi lần vết 103

4 Bảng hỏi kết hợp 108

5 Danh sách các cán bộ tham gia Nghiên cứu lần vết 114

Trang 4

DANH SÁCH CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 1: Tuổi của học viên tốt nghiệp tính theo trường 31

Bảng 2: Giới tính của học viên tốt nghiệp tính theo trường 32

Bảng 3: Ngành học theo tỷ lệ học viên nữ 32

Bảng 4: Bằng tốt nghiệp của học viên tại các cơ sở Đào tạo nghề tham gia khảo sát 34

Bảng 5: Đánh giá chất lượng của các cơ sở Đào tạo nghề tham gia khảo sát 35

Bảng 6: Tham gia các khóa Đào tạo nghề trước khi nhập học khóa đào tạo hiện tại 36

Bảng 7: Kế hoạch sau khi tốt nghiệp và % học viên tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp 37

Bảng 8: Tình hình việc làm 6 tháng sau khi tốt nghiệp 38

Bảng 9: Khoảng thời gian cần để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp 39

Bảng 10: Lương tháng/thu nhập từ tự kinh doanh 40

Bảng 11: Giờ làm việc và mức lương tính theo giờ 41

Bảng 12: Chức vụ/vị trí công tác của học viên tốt nghiệp trong doanh nghiệp và quy mô doanh nghiệp 42

Bảng 13: Đào tạo nghề và đào tạo bổ sung bởi doanh nghiệp 43

Bảng 14: Đánh giá chủ quan về chất lượng đào tạo 44

Bảng 15: Đánh giá chất lượng đào tạo, phân theo trường 45

Bảng 16: Tuổi của học viên tốt nghiệp tính theo trường 46

Bảng 17: Giới tính của học viên tốt nghiệp tính theo trường 47

Bảng 18: Ngành học theo tỷ lệ học viên nữ 47

Bảng 19: Bằng tốt nghiệp của học viên tại các cơ sở Đào tạo nghề tham gia khảo sát 49

Bảng 20: Đánh giá chất lượng các cơ sở Đào tạo nghề tham gia khảo sát 49

Bảng 21: Tham gia các khóa Đào tạo nghề trước khi nhập học khóa đào tạo hiện tại 51

Bảng 22: Khoảng thời gian cần để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp 55

Bảng 23: Lương tháng/thu nhập từ tự kinh doanh 56

Bảng 24: Giờ làm việc và mức lương tính theo giờ 58

Bảng 25: Chức vụ/vị trí công tác của học viên tốt nghiệp trong doanh nghiệp và quy mô doanh nghiệp 59

Bảng 26: Đào tạo nghề và đào tạo bổ sung bởi doanh nghiệp 60

Bảng 27 Đánh giá chủ quan về chất lượng đào tạo 62

Bảng 28 Đánh giá chất lượng đào tạo, phân theo trường 63

Trang 5

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Hình 1: Lương tháng/thu nhập từ đi làm thuê hoặc tự kinh doanh vòng khảo sát 1 41Hình 2: Lương tháng/thu nhập từ đi làm thuê hoặc tự kinh doanh vòng khảo sát 2 57

Trang 6

CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

BMZ Bộ hợp tác và phát triển kinh tế liên bang

GTZ Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức

ILSSA Viện Khoa học Lao động và Xã Hội của Bộ LĐTBXH

GS&ĐG Giám sát và Đánh giá

Bộ GDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ LĐTBXH Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội

Viện NCKHDN Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề Quốc gia

RWI Viện nghiên cứu kinh tế Rheinisch-Westfälisches

HDNVN Hội Dạy nghề Việt Nam

Trang 7

“Chương trình Đào tạo nghề 2008” (là một hợp phần của “Chương trình Đổi mới Đào tạo nghề Việt Nam”) hỗ trợ cho 5 cơ sở Đào tạo nghề qua các hình thức hợp tác kỹ thuật và hợp tác tài chính từ năm 2010 đến năm 2014 Những hoạt động trong khuôn khổ hợp tác

kỹ thuật nhằm cải thiện chất lượng đào tạo tại các cơ sở Đào tạo nghề, chỉnh sửa các mô đun đào tạo để tăng sự phù hợp với thị trường lao động, tư vấn và bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý, thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, đồng thời phát triển các tài liệu dạy học tương ứng Vì vậy, doanh nghiệp thuộc các ngành đang phát triển ở Việt Nam sẽ được cung cấp đầy đủ lực lượng học viên tốt nghiệp đủ năng lực

từ các cơ sở Đào tạo nghề

Cùng với việc triển khai các dự án này là nỗ lực giám sát quá trình tiến hành và đánh giá kết quả dự án Vì vậy, Nghiên cứu lần vết tình hình việc làm của các học viên tốt nghiệp

từ các cơ sở Đào tạo nghề tại Việt Nam được thiết kế trong sự hợp tác giữa Viện NCKHDN/TCDN, GIZ và RWI (thay mặt GIZ) Bên cạnh việc giám sát và đánh giá dự

án, mục tiêu của Nghiên cứu lần vết là nhằm liên tục đảm bảo và cải thiện chất lượng đào tạo tại các cơ sở Đào tạo nghề theo định hướng nhu cầu thị trường lao động, đồng thời thí điểm việc thu thập các số liệu về tình trạng việc làm của học viên tốt nghiệp tại các cơ sở Đào tạo nghề trên thị trường lao động toàn quốc

Nghiên cứu lần vết được bắt đầu thí điểm tại 11 cơ sở Đào tạo nghề vào năm 2009, và được mở rộng thêm tám cơ sở Đào tạo nghề trong năm 2010 Thiết kế cơ bản của Nghiên cứu lần vết là nhằm thu thập số liệu về học viên tốt nghiệp của các cơ sở Đào tạo nghề theo hai giai đoạn, tại thời điểm tốt nghiệp (khảo sát cơ bản) và 6 tháng sau đó (khảo sát lần vết) Ngoài việc triển khai thu thập số liệu để giám sát và đánh giá tình hình thực tế

Trang 8

của chương trình, mục tiêu chính là nhằm xây dựng một chiến lược giám sát địa phương một cách bền vững Vì vậy, đại diện của các cơ sở Đào tạo nghề và Viện NCKHDN/TCDN đã tham gia vào quá trình thiết kế và triển khai Nghiên cứu lần vết ngay từ đầu Những người chịu trách nhiệm chính của các cơ sở Đào tạo nghề được tập huấn bởi RWI1 với sự cộng tác của Viện NCKHDN bằng một loạt các hội thảo nhằm a) thu thập số liệu trong cả hai giai đoạn và b) phân tích số liệu, nhờ vậy họ có thể tự tiếp tục tiến hành Nghiên cứu lần vết cho các đợt học viên tốt nghiệp trong tương lai Mỗi trường được tập huấn qua hai khóa về thu thập và phân tích số liệu

Sự tham gia và phối hợp chặt chẽ của tất cả các đối tác bao gồm các cơ sở Đào tạo nghề, Viện KHDN/TCDN, GIZ, RWI đã đóng góp vào thành công của công tác triển khai thí điểm Nghiên cứu lần vết Trong khi sự tham gia của các cơ sở Đào tạo nghề tạo ra tính chủ động ở cấp địa phương, hợp phần nâng cao năng lực đóng góp vào việc xây dựng một cơ cấu bền vững để triển khai Nghiên cứu lần vết ở tầm vĩ mô (TCDN) ngoài phạm

vi của các chương trình hợp tác phát triển Đồng thời việc hợp tác chặt chẽ và triển khai ở cấp trường tạo điều kiện cho việc thu thập và phân tích số liệu với chi phí thấp

Báo cáo tổng hợp của các bên tham gia bao gồm Viện KHDN, GIZ và RWI nêu lên các kinh nghiệm về Nghiên cứu lần vết trong Đào tạo nghề tại Việt Nam trong vòng ba năm qua, từ khi bắt đầu vào giữa năm 2009 đến khi phân tích số liệu vòng hai của học viên tốt nghiệp vào giữa năm 2011 Báo cáo mô tả lại sự hình thành các công cụ khảo sát, một loạt những hội thảo với sự tham gia của tất cả các bên và các cơ sở Đào tạo nghề, kết quả thu được từ số liệu của hai vòng học viên tốt nghiệp, các kinh nghiệm rút ra từ quá trình triển khai

Hai vòng đầu của Nghiên cứu lần vết (tốt nghiệp của năm 2009 và 2010) đã khảo sát được tổng cộng hơn 8000 học viên trong đợt khảo sát cơ bản Hơn 4500 học viên tốt nghiệp tham gia khảo sát lần vết tại thời điểm 6 tháng sau khi tốt nghiệp, đã cung cấp được các thông tin rất có giá trị về tình hình việc làm, đào tạo tại chỗ và chất lượng đào tạo Khoảng 80% học viên tốt nghiệp tìm được việc làm sau khi ra trường, và khoảng 12% vẫn thất nghiệp 6 tháng sau khi tốt nghiệp Trong khi phần lớn các học viên tốt

1

Thay mặt GIZ

Trang 9

nghiệp cho rằng họ đã được đào tạo đầy đủ cho công việc thì có một lượng đáng kể học viên tốt nghiệp đã phải đào tạo tại chỗ ngay từ khi bắt đầu làm việc, ám chỉ rằng vẫn còn nhiều khía cạnh cần được cải thiện trong chất lượng đào tạo tại các cơ sở Đào tạo nghề Hơn hai năm triển khai Nghiên cứu lần vết đã mang lại nhiều kinh nghiệm và bài học cho việc tiếp tục mở rộng nghiên cứu này trong tương lai Liên quan đến khảo sát cơ bản, ba bài học được rút ra Đầu tiên, việc ấn định thời gian và chuẩn bị cho khảo sát là rất quan trọng Thứ hai, việc xác định và thu thập địa chỉ phù hợp cho khảo sát lần vết là yếu tố then chốt Thứ ba, có nhiều cách – sẽ được mô tả chi tiết trong báo cáo này – để đạt được việc thu thập các dữ liệu liên lạc có giá trị

Liên quan đến khảo sát lần vết, năm bài học đáng được đề cập đến Đầu tiên, nhân lực phục vụ cho Nghiên cứu lần vết cần được lên kế hoạch đầy đủ tại các cơ sở và tại Viện NCKHDN Kinh nghiệm cho thấy rằng tốt nhất nên bố trí cán bộ chuyên biệt làm toàn thời gian cho Nghiên cứu lần vết (tại một số thời điểm) Thứ hai, cần phải nỗ lực nâng cao nhận thức của học viên tốt nghiệp về Nghiên cứu lần vết để cải thiện các khóa đào tạo tại các cơ sở Đào tạo nghề Thứ ba, xác định cách thức để tăng tỉ lệ phản hồi là rất quan trọng (một vài đề xuất đã được đưa ra bởi các cơ sở Đào tạo nghề từ kinh nghiệm của họ) Kết hợp các phương pháp liên lạc khác nhau cũng mang lại hiệu quả tốt Thứ tư, tiếp tục hợp tác giữa các đối tác dự án và cơ sở Đào tạo nghề là yếu tố quan trọng để các trường tiếp tục triển khai Nghiên cứu lần vết sau khi chấm dứt hợp phần hợp tác kỹ thuật Thứ năm, một số cơ cấu mở rộng cần thiết cho việc triển khai Nghiên cứu lần vết hàng năm một cách bền vững: hỗ trợ kỹ thuật từ Viện NCKHDN/TCDN, giám sát chất lượng khảo sát trong các cơ sở Đào tạo nghề, xây dựng các chính sách, cơ sở pháp lý để thể chế hóa nghiên cứu này

Để duy trì một cách bền vững đồng thời nhân rộng Nghiên cứu lần vết trên toàn quốc, cần phải tiếp tục xây dựng năng lực cho Viện NCKHDN để trong thời gian tới Viện có thể tự tổ chức các khóa đào tạo cho số lượng lớn các cơ sở Đào tạo nghề Vì vậy, cần có nhiều hơn nữa các cán bộ được giao nhiệm vụ triển khai Nghiên cứu lần vết – không chỉ

để tập huấn cho các trường mà còn phải giám sát việc thu thập số liệu và chất lượng số liệu Bên cạnh đó, để nhân rộng nghiên cứu, cần phải đảm bảo việc thu thập số liệu để phân tích được chuẩn hóa Cuối cùng, một khía cạnh quan trọng trong việc duy trì bền

Trang 10

vững nghiên cứu này là xác định cách để công bố và tuyên truyền rộng rãi kết quả của Nghiên cứu lần vết, biến nó thành một công cụ định hướng thường xuyên và hiện hữu cho cả các cơ sở Đào tạo nghề ở cấp địa phương cũng như cho TCDN ở cấp quốc gia

Trang 11

I GIỚI THIỆU CHUNG

Trang 12

1 Bối cảnh của Nghiên cứu lần vết

“Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam” và “Chương trình Đào tạo nghề 2008” (PVT 2008) thuộc “Chương trình Đổi mới Đào tạo nghề Việt Nam” là một phần của lĩnh vực

ưu tiên về “Phát triển kinh tế bền vững và Đào tạo nghề” đã được thống nhất giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Đức Mục tiêu tổng thể của lĩnh vực ưu tiên này là tăng cường nguồn cung lực lượng lao động được đào tạo, có đủ năng lực và theo nhu cầu thị trường Trong “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam” và PVT 2008, các đối tác Việt Nam được hỗ trợ thông qua Hợp tác kỹ thuật (HTKT) và Hợp tác tài chính (HTTC) Các hoạt động của HTKT được lồng ghép với các hoạt động của HTTC tạo môi trường thuận lợi cho việc sử dụng các trang thiết bị đào tạo mới phù hợp với các nghề trong đào tạo định hướng thị trường lao động Các hoạt động HTKT tập trung vào việc chỉnh sửa các

mô đun đào tạo để phù hợp hơn với thị trường lao động, cung cấp các dịch vụ tư vấn và bồi dưỡng nâng cao cho giáo viên dạy nghề cũng như cho cán bộ quản lý, áp dụng và phát triển các tài liệu dạy và học có liên quan, tăng cường mối quan hệ giữa cơ sở Đào tạo nghề với doanh nghiệp, với mục tiêu tổng thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở Đào tạo nghề

Trong khuôn khổ của “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam” 11 cơ sở Đào tạo nghề Việt Nam đã được hỗ trợ thông qua HTKT và HTTC từ tháng 6 năm 2006 đến tháng 5 năm

2010 Trong khuôn khổ PVT 2008, 5 cơ sở Đào tạo nghề được lựa chọn đang nhận được

sự hỗ trợ từ HTKT và HTTC trong thời gian từ 2010 đến 2014

Hiện nay, phần lớn các cơ sở Đào tạo nghề tại Việt Nam chưa có một hệ thống giám sát

và đánh giá (GS&ĐG) để giám sát đầu ra của dịch vụ đào tạo Không có các công cụ GS&ĐG, các cơ sở Đào tạo nghề có thể không liên tục cung cấp trình độ và chất lượng đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động Trong bối cảnh này, Nghiên cứu lần vết là một công cụ GS&ĐG quan trọng nhằm đo sự thành công của các học viên học nghề trên thị trường lao động Nó cung cấp các thông tin hữu ích, VD: các cựu học viên

đã có việc làm? ở đâu? trong lĩnh vực nào? và họ đánh giá khóa Đào tạo nghề mà họ đã theo học có phù hợp với công việc hiện tại của họ hay không Là sự phản hồi từ bên ngoài cho ban quản lý trường, Nghiên cứu lần vết là một công cụ phù hợp để kiểm tra và

Trang 13

cải thiện chất lượng đào tạo Bên cạnh đó Nghiên cứu lần vết cũng là một công cụ giám sát để đánh giá tác động của “Chương trình Đổi mới Đào tạo nghề Việt Nam” Với những

lý do nêu trên, vào đầu năm 2009 trong khuôn khổ “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam”, một bản đề cương Nghiên cứu lần vết đã được phát triển và thí điểm thành công tại các cơ sở Đào tạo nghề đối tác Nhận được sự đồng tình và đánh giá cao của lãnh đạo các cơ sở Đào tạo nghề cũng như của Tổng cục Dạy nghề về sự cần thiết của công cụ GS&ĐG này, Nghiên cứu lần vết đã từng bước được triển khai, cải thiện và mở rộng ra phạm vi lớn hơn

Trang 14

2 Đề cương Nghiên cứu lần vết

2.1 Mục đích của Nghiên cứu lần vết

Nghiên cứu lần vết cung cấp các thông tin về sự thành công của cựu học viên trên thị trường lao động, phản hồi về chất lượng đào tạo và những khuyến nghị để nâng cao chất lượng đào tạo Bởi vậy các mục đích chính của Nghiên cứu lần vết là đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo đối với cấp cơ sở Đào tạo nghề Với cấp chính sách, Nghiên cứu lần vết đóng góp vào điều hành hệ thống Đào tạo nghề định hướng theo thị trường lao động Bên cạnh đó, Nghiên cứu lần vết còn được sử dụng như một công cụ để đánh giá tác động của chương trình Đào tạo nghề

2.2 Phạm vi và nhóm đối tượng của Nghiên cứu lần vết

Từ năm 2009 đến 2010, Nghiên cứu lần vết được triển khai thí điểm tại 11 cơ sở Đào tạo nghề đối tác thuộc “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam” Nghiên cứu này được mở rộng ra 18 cơ sở Đào tạo nghề trải rộng khắp các miền của Việt Nam gồm 10 trường cũ (thuộc “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam”), 5 trường đối tác mới (thuộc PVT 2008)

và 3 trường ngoài dự án trong năm 2010 – 2011 Đối tượng của Nghiên cứu lần vết là các học viên sắp rời trường và các cựu học viên

2.3 Phương pháp luận

Chọn mẫu là bước đầu tiên khi triển khai Nghiên cứu lần vết Tùy thuộc vào nhu cầu và năng lực của mỗi cơ sở Đào tạo nghề, có thể dùng phương pháp chọn toàn bộ số học viên tốt nghiệp hoặc chọn mẫu đại diện ngẫu nhiên để khảo sát

Nghiên cứu lần vết được triển khai theo hai giai đoạn Giai đoạn 1 là khảo sát cơ bản được triển khai 1 tuần trước khi học viên tốt nghiệp rời trường Thời điểm muộn nhất để khảo sát cơ bản là ngày cựu học viên quay về trường nhận bằng tốt nghiệp Khảo sát cơ bản nhằm mục đích thu thập các thông tin cơ bản về các đặc điểm xã hội – nhân khẩu học, kế hoạch về sự nghiệp trong tương lai của bản thân và những mong chờ của các học viên tốt nghiệp thuộc nhóm đối tượng khảo sát và để có thông tin liên lạc khi triển khai khảo sát lần vết ở giai đoạn 2 (xem ở dưới) Phương pháp được áp dụng cho khảo sát cơ bản là phát bảng hỏi trực tiếp cho học viên/cựu học viên Giai đoạn 2, khảo sát lần vết

Trang 15

cần được triển khai ít nhất là 6 tháng sau khi tốt nghiệp Khảo sát lần vết nhằm mục đích thu thập những thông tin về tình hình việc làm của cựu học viên và những phản hồi của

họ về chất lượng đào tạo Các thông tin được thu thập qua 2 phương pháp chính: Gửi bảng hỏi qua đường bưu điện hoặc email và qua phỏng vấn bằng điện thoại hoặc phỏng vấn trực tiếp dựa vào bảng hỏi

2.4 Công cụ

Một số các công cụ đã được phát triển cho triển khai Nghiên cứu lần vết trong khuôn khổ Hợp tác Việt Đức về Đào tạo nghề bao gồm bảng hỏi khảo sát cơ bản, bảng hỏi khảo sát lần vết và bảng hỏi tổng hợp, công cụ quản lý và sử lý dữ liệu bằng excel cũng như quyển

sổ tay

Bảng hỏi khảo sát cơ bản được soạn thảo gồm phần lớn những câu hỏi đóng và được cấu

trúc thành 3 phần chính (i) Thông tin cá nhân (mã số học viên tốt nghiệp, tên, giới, năm sinh, lớp, chuyên ngành và bằng tốt nghiệp cao nhất) (ii) Các kế hoạch trong tương lai sau khi tốt nghiệp (iii) Các thông tin liên lạc (địa chỉ gửi thư, điện thoại và địa chỉ email) Bảng hỏi được đính kèm trong phụ lục

Bảng hỏi lần vết được chia thành 4 phần chính (i) Thông tin cá nhân (giới, năm sinh, lớp, chuyên ngành và loại bằng) (ii) Kinh nghiệm trên thị trường lao động và đào tạo (tình hình việc làm, cách thức tìm được việc làm, mức lương, vị trí công việc vv…), (iii) Đào tạo nâng cao, (iv) Đánh giá về đào tạo Bảng hỏi được đính kèm trong phụ lục

Bảng hỏi tổng hợp được sử dụng để khảo sát cựu học viên, những em không tham gia

khảo sát cơ bản Bảng hỏi này được phát triển dựa trên bảng hỏi khảo sát cơ bản và bảng hỏi khảo sát lần vết Bảng hỏi được đính kèm trong phần phụ lục

Excel được sử dụng là một công cụ chính quản lý và phân tích dữ liệu cho Nghiên cứu

lần vết bởi nó thân thiện với người sử dụng và chi phí thấp Bảng nhập dữ liệu được thiết

kế bằng Excel và được chuẩn hóa cho tất cả các cơ sở Đào tạo nghề tham gia Có 3 bảng nhập liệu tương ứng với 3 bảng hỏi (bảng hỏi cơ bản, lần vết và tổng hợp)

Các chức năng khác nhau trong Excel được sử dụng để chọn mẫu, tự động kết nối để sản xuất thư hàng loạt, mã hóa và lưu trữ thông tin bảng hỏi, sát nhập các bộ dữ liệu khác

Trang 16

nhau, tạo các bảng chính và thống kê để tập hợp thông tin, trình bày và báo cáo các kết quả khảo sát

Sổ tay được phát triển để từng bước hướng dẫn cán bộ triển khai Nghiên cứu lần vết của

các cơ sở đạo tạo nghề trong việc triển khai nghiên cứu, quản lý và phân tích các dữ liệu

đã thu thập được Để biết thêm chi tiết, đề nghị xem quyển sổ tay

Trang 17

II TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM NGHIÊN CỨU LẦN VẾT VÀ

Trang 18

1 Tổng quan tình hình triển khai thí điểm khảo sát Lần vết

Từ đầu năm 2009, Đề cương Nghiên cứu lần vết bắt đầu được đưa ra thông qua việc xây dựng bộ phiếu gồm các câu hỏi mang tính chuẩn hóa và hệ thống quản lý dữ liệu đơn giản nhưng hiệu quả Các Nghiên cứu lần vết được thực hiện trong sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên gồm: GIZ, 11 trường dạy nghề thuộc dự án, RWI (thay mặt GIZ), và Viện NCKHDN/TCDN trong khuôn khổ Dự án "Hỗ trợ Kỹ thuật dạy nghề Việt Nam" Trên cơ

sở những thành tựu đạt được từ kết quả thực hiện Nghiên cứu lần vết năm 2009, trong khuôn khổ dự án PVT 2008, nghiên cứu đã được tiếp tục triển khai trong năm 2010 mở rộng thêm tại 5 trường dạy nghề (đối tác của Dự án và 4 trường dạy nghề khác (không thuộc dự án) mang tính "so sánh" Với mục tiêu cơ bản là xây dựng một chương trình giám sát mang tính bền vững ở cấp địa phương: các phiếu hỏi đã được phát triển trong sự hợp tác chặt chẽ với tất cả các bên có liên quan và thảo luận giữa các cơ sở đào tạo nghề

và các chuyên gia của dự án Một bảng hỏi kết hợp giữa bảng hỏi khảo sát Cơ bản và Lần vết đã được xây dựng dành cho các trường dạy nghề mới tham gia vào nghiên cứu Các cán bộ của các trường đã được tham gia khóa tập huấn về thu thập dữ liệu, xử lý và cách thức phân tích dữ liệu do chuyên gia tư vấn quốc tế RWI tiến hành, đây là các cán bộ hạt nhân đóng vai trò tiếp tục triển khai Nghiên cứu lần vết đối với sinh viên tốt nghiệp trong tương lai Ngoài ra, một số nghiên cứu viên của Viện NCKH DN cũng được tập huấn để

hỗ trợ triển khai Nghiên cứu lần vết với vai trò như các chuyên gia địa phương Các trường dạy nghề và Viện NCKHDN ngay từ đầu đã trực tiếp tham gia trong quá trình lập

kế họach, triển khai nghiên cứu và phân tích kết quả

Quá trình thực hiện Nghiên cứu lần vết có sự hợp tác chặt chẽ giữa tất cả các bên liên quan, nghiên cứu nhấn mạnh vào việc xây dựng năng lực cho các bên tham gia (nhà trường) và điều này thể hiện thông qua các cuộc hội thảo và tập huấn kỹ năng đã được tổ chức, cụ thể là: Hội thảo đầu tiên diễn ra tại Hà Nội vào ngày 05 tháng 6 năm 2009 với thành phần tham gia gồm đại diện các trường, đại diện TCDN và một số các cơ quan khác có liên quan đã tiến hành thảo luận nhằm xây dựng phương pháp tiếp cận Nghiên cứu lần vết và đạt được sự đồng thuận về việc triển khai thực hiện Hội thảo thứ hai (ngày

12 tháng 8 năm 2009 tại Hà Nội) đã tập trung thảo luận nhằm thống nhất về cách thức thực hiện nghiên cứu Cuộc thảo luận này cũng nhằm cụ thể hóa các nội dung/hoạt động trong phương pháp thực hiện và xây dựng khung thời gian cho triển khai nghiên cứu Hội thảo/tập huấn lần thứ ba vào ngày 19 tháng 8/2009 tại Nha Trang đã tiến hành đào tạo cho đại diện các trường tham gia về các kỹ năng để thu thập dữ liệu sử dụng cho cuộc khảo sát lần vết Sau khi kết thúc hai vòng điều tra cơ bản và lần vết năm 2009, cuộc tập huấn lần thứ tư đã được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 12 tháng 5 năm 2010 Cuộc tập huấn

Trang 19

lần này tập trung đào tạo về kỹ năng xử lý và phân tích các dữ liệu do chính các trường

đã thu thập dữ liệu Hội thảo cuối cùng của vòng 1 diễn ra vào ngày 13 tháng 5, 2010 tại

Hà Nội một lần nữa đã tập hợp tất cả các bên liên quan để trình bày và thảo luận về kết quả của Nghiên cứu lần vết, đồng thời xác định các điều kiện cần thiết để tiếp tục thực hiện Nghiên cứu lần vết trong tương lai Sau đó, các đại biểu tham gia thảo luận theo ba cấp độ/nhóm : đầu tiên là nhóm thảo luận ở cấp quốc gia mang tính “quản lý”, nhóm thứ hai đại diện cho các trường dạy nghề đã trực tiếp tham gia thí điểm và nhóm thứ ba gồm

5 trường mới sẽ tham gia nghiên cứu và các trường này cũng nhận được hỗ trợ tương tự

từ phía GIZ và chuyên gia tư vấn từ RWI trong khuôn khổ dự án hợp tác Việt-Đức mới Giống như vòng khảo sát đầu tiên, cán bộ trực tiếp tham gia của 5 trường dạy nghề mới thuộc PVT 2008 cùng với 4 trường dạy nghề ngoài dự án - được lựa chọn như là một nhóm so sánh, tiếp tục tham gia vào hai cuộc tập huấn kỹ thuật được tổ chức tại Hà Nội (vào ngày 10 tháng 1 và ngày 21 tháng 6 năm 2011) Hội thảo cuối cùng của vòng 2 tổ chức ngày 23 tháng 6 năm 2011 đã trình bày kết quả của vòng khảo sát thứ hai của Nghiên cứu lần vết, đồng thời phác thảo thời gian biểu thực hiện Nghiên cứu lần vết cho các cơ sở dạy nghề Việt Nam

Trang 20

2 Xây dựng năng lực phân tích dữ liệu

Như đã nêu trong các nội dung trước, điểm đáng ghi nhận trong quá trình thực hiện nghiên cứu là việc tổ chức các khóa tập huấn về phân tích dữ liệu Mỗi cán bộ của các trường dạy nghề được tham gia ít nhất hai khóa đào tạo kỹ năng về xử lý và đánh giá dữ liệu Các khóa tập huấn tổ chức sau mỗi lần kết thúc 1 cuộc khảo sát (cơ sở hoặc lần vết)

và sử dụng chính dữ liệu vừa thu được từ khảo sát Điều này cho phép những người tham gia làm việc trên dữ liệu riêng của trường mình Mỗi cuộc tập huấn được tổ chức mang tính tổng hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Lý thuyết bao gồm những nội dung như chọn mẫu điều tra, cách triển khai, thời gian khảo sát và cách thức lưu trữ dữ liệu Phần thực hành bao gồm đào tạo từ các kỹ năng nhỏ thực tế Các nội dung thực hành bao gồm định dạng, mã hóa và làm sạch dữ liệu, sáp nhập và phân tích dữ liệu.v.v Như vậy, cuộc tập huấn đầu tiên tập trung vào các vấn đề thực hiện và chuẩn bị dữ liệu, còn cuộc tập huấn thứ hai chủ yếu đi vào phân tích dữ liệu Trong mỗi cuộc tập huấn, các cán bộ tham gia đều nhận được dữ liệu từ chính trường mình thu thập và bộ dữ liệu tổng hợp từ tất cả các trường dạy nghề Việc sử dụng cả dữ liệu chung và dữ liệu riêng đem lại hai lợi ích Trước hết, cán bộ tham gia sẽ tập trung phân tích dữ liệu nhiều hơn bởi vì họ có thể trực tiếp hiểu biết được các đặc trưng về sinh viên tốt nghiệp của trường mình Thứ hai, nhận thức về quản lý chất lượng dữ liệu đối với cán bộ được nâng lên bởi vì họ đã được đào tạo các kỹ năng để giải quyết/ đối mặt với nhiều vấn đề có thể xảy ra trong một bộ dữ liệu khi khảo sát hoặc mã hóa không thực hiện đúng qui trình Cả hai lợi thế đặc biệt quan trọng để có thể duy trì thực hiện Nghiên cứu lần vết một cách bền vững ở cấp trường Từ góc độ đào tạo, cần thiết có thêm cuộc tập huấn thứ ba nhằm hỗ trợ các trường dạy nghề viết báo cáo từ dữ liệu có được

Để xây dựng và chuyển giao năng lực thực hiện giữa RWI cho các nghiên cứu viên của Viện NCKHDN, các cán bộ của Viện đã tham gia trong cuộc tập huấn gần đây nhất về phân tích dữ liệu Việc chuyển giao năng lực đã được nêu lên trong hội thảo (lần thứ 7,

23 tháng 6-2011) Viện NCKHDN được xác định sẽ đóng góp một phần vào việc tập huấn, đào tạo mở rộng cho các trường Trước đó, các nghiên cứu viên của Viện đã có đóng góp thông qua việc tham gia soạn thảo các chương trình và nhiệm vụ đào tạo Ngoài

ra, nghiên cứu viên của Viện cần được đào tạo và hỗ trợ để chuẩn bị trong việc tiến hành

Trang 21

đào tạo sau này Bên cạnh các hỗ trợ đã thực hiện, nghiên cứu viên của Viện đã tiếp nhận đào tạo tương tự như những người tham gia từ các trường dạy nghề Sự hỗ trợ này rất hiệu quả để Viện xây dựng kế hoạch tập huấn, đào tạo của mình, những khóa đào tạo do Viện phần lớn đảm nhiệm mà không có sự hỗ trợ của chuyên gia RWI Kết quả của hội thảo được mô tả cụ thể hơn trong chương sau đây

Trang 22

3 Tóm tắt kết quả của các hội thảo

Như đã trình bày trong phần II.1, tổng cộng có 8 hội thảo (4 hội thảo đề cập đến công tác triển khai và các kết quả của Nghiên cứu lần vết và 4 hội thảo nâng cao năng lực) đã diễn

ra trong hơn 2 năm qua trong quá trình thực hiện các cuộc Nghiên cứu lần vết thuộc “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam” và PVT 2008 Toàn bộ tài liệu ghi chép lại các kết quả của từng hội thảo được cung cấp ở phần phụ lục Các nội dung chính của 4 hội thảo nâng cao năng lực (Hội thảo số III, IV, VI và VII) đã được nêu trong mục II.2 Phần này chỉ tóm tắt các kết quả chính của 4 hội thảo còn lại liên quan đến triển khai và kết quả của Nghiên cứu lần vết

Hoạt động Nghiên cứu lần vết được bắt đầu bằng “Hội thảo khởi động về giám sát trong Đào tạo nghề - Nghiên cứu lần vết và khảo sát trường” vào tháng 6 năm 2009 trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam” Trong hội thảo này, các thông tin về kinh nghiệm của các cơ sở Đào tạo nghề trong việc triển khai Nghiên cứu lần vết

đã được thu thập Ngoài ra, các kinh nghiệm trong nước và quốc tế của các chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước đã được chia sẻ nhằm chuẩn bị cho việc phát triển đề cương thực hiện Nghiên cứu lần vết một cách bền vững tại Việt Nam Trong 11 cơ sở Đào tạo nghề đối tác có mặt tại hội thảo, một số cơ sở đã có kinh nghiệm triển khai Nghiên cứu lần vết hoặc xuất phát từ sáng kiến của bản thân họ hoặc trong khuôn khổ một dự án lớn mà họ

đã tham gia Những kinh nghiệm này tương đối đa dạng Một trở ngại mà các cơ sở Đào tạo nghề chia sẻ là thiếu nguồn nhân lực và nguồn tài chính để triển khai Nghiên cứu lần vết Bởi vậy, một bản đề cương triển khai Nghiên cứu lần vết một cách bền vững với cách tiếp cận phù hợp và chi phí triển khai thấp đã được đồng thuận phát triển và cung cấp cho 11 cơ sở Đào tạo nghề đối tác trong khuôn khổ của dự án

Tiếp theo các kết quả của hội thảo khởi động, hội thảo thứ hai “Nghiên cứu lần vết – Quyết định và chuẩn bị tổng thể” được tổ chức vào ngày 12/08/2009 tại Hà Nội Tại hội thảo này, 11 cơ sở Đào tạo nghề, GIZ cũng như Viện NCKHDN/TCDN đã thảo luận và nhất trí phương pháp Nghiên cứu lần vết (cần có cả khảo sát cơ bản và khảo sát lần vết),

bộ công cụ và thời gian biểu triển khai Nghiên cứu lần vết (giai đoạn thí điểm: vòng 1 từ

2009 - 2010) Hội thảo đã rất thành công bởi các đại biểu tham dự hội thảo đã đạt được

sự nhất trí về mục đích, nội dung và sự cần thiết của một Nghiên cứu lần vết được triển

Trang 23

khai bền vững nhằm đảm bảo chất lượng Đào tạo nghề và phát triển chất lượng đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động

Sau khi thí điểm Nghiên cứu lần vết tại 11 cơ sở Đào tạo nghề, một hội thảo tổng kết vòng 1 đã được tổ chức vào tháng 5 năm 2010 với sự tham gia của đại diện TCDN, Viện NCKHDN, 11 cơ sở Đào tạo nghề thuộc dự án “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam”, 5

cơ sở Đào tạo nghề thuộc hợp phần “Chương trình Đào tạo nghề 2008”, nhóm cán bộ GIZ (trước đây là GTZ) và các chuyên gia RWI Trong hội thảo này, các kết quả của Nghiên cứu lần vết từ hai khía cạnh: chung (tất cả 11 cơ sở Đào tạo nghề) và từng trường

đã được trình bày Những kết quả này là sự phản hồi của cựu học viên đối với cấp lãnh đạo của các cơ sở Đào tạo nghề về chất lượng đào tạo và tình hình của họ trên thị trường lao động Các bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai Nghiên cứu lần vết tại 11 cơ

sở Đào tạo nghề đã được chia sẻ nhằm hoàn thiện việc triển khai Nghiên cứu lần vết trong tương lai Các nhóm làm việc trong hội thảo vạch ra các bước để họ có thể tham gia Ngoài ra, 11 cơ sở Đào tạo nghề đã phát triển và thống nhất bộ bảng hỏi chuẩn hóa 5

cơ sở Đào tạo nghề mới trong khuôn khổ PVT 2008 đã xác định những yêu cầu cho việc triển khai Nghiên cứu lần vết và vạch ra cách tiếp cận phù hợp để liên lạc với các cựu học viên nhằm triển khai Nghiên cứu lần vết của họ từ năm 2010 10 trong tổng số 11 cơ sở Đào tạo nghề đã cam kết tiếp tục triển khai Nghiên cứu lần vết sau khi dự án “Hỗ trợ Kỹ thuật Dạy nghề, Việt Nam” kết thúc

Tương tự như vòng 1, sau khi triển khai Nghiên cứu lần vết (2010-2011), 5 cơ sở Đào tạo nghề đối tác mới (thuộc PVT 2008), 4 cơ sở Đào tạo nghề thuộc nhóm so sánh và trường Cao đẳng LILAMA cũng như trường Cao đẳng bách nghệ Hải Phòng đã được mời tham

dự hội thảo tổng kết báo cáo các kết quả của Nghiên cứu lần vết vòng 2 vào tháng 6 năm

2011 Tại hội thảo, các đại biểu đã được cung cấp bức tranh tổng thể quá trình triển khai Nghiên cứu lần vết Các bài học kinh nghiệm từ 2009 đến 2011 giữa các trường mới và trường cũ được chia sẻ nhằm triển khai Nghiên cứu lần vết trong tương lai được thuận tiện hơn Chuyên gia quốc tế đã báo cáo các kết quả ban đầu của Nghiên cứu lần vết và rất nhiều những khám phá thú vị được phát hiện qua các kết quả Tất cả đại biểu tham dự hội thảo đã tham gia thảo luận về các kết quả rất tích cực và đã đóng góp nhiều ý tưởng cho kế hoạch trong tương lai Các đại biểu nhận thức được tầm quan trọng của Nghiên

Trang 24

cứu lần vết là một công cụ nâng cao chất lượng đào tạo một cách hiệu quả và sẽ tiếp tục triển khai nó như một hoạt động thường xuyên Ngoài ra, các đại biểu đã nêu lên nhu cầu của họ là cần sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật từ phía GIZ và hỗ trợ về mặt tài chính từ TCDN cho việc triển khai Nghiên cứu lần vết Các đại biểu cũng khuyến nghị cần nhân rộng Nghiên cứu lần vết ở phạm vi lớn hơn và đã thảo luận về những yêu cầu ở cấp chính sách cho việc nhân rộng cũng như duy trì hoạt động Nghiên cứu lần vết ở các trường đang tham gia

Trang 25

4 Tình hình triển khai Nghiên cứu lần vết

4.1 Khảo sát cơ bản

Đối với vòng khảo sát đầu tiên (2009-2010), đa số các trường của tiến hành khảo sát cơ bản vào tháng 8 và tháng 9 năm 2009 Do thời gian học viên tốt nghiệp các trường dạy nghề khác nhau nên đến tháng 12 năm 2009 dữ liệu của 10 trong số 11 trường tham gia khảo sát mới được chuyển giao cho dự án Đối tượng chính của điều tra cơ bản là sinh viên ở trình độ trung cấp nghề và cao đẳng nghề với số lượng khảo sát là 4.662 sinh viên chiếm 2/3 trong tổng số học viên tốt nghiệp (6871 sinh viên) Trong vòng khảo sát thứ hai (2010-2011), với sự tham gia của 5 trường dạy nghề mới dữ liệu cơ bản được thu thập

và tổng hợp từ tháng 6 năm 2010 cho đến tháng 12 năm 2010 với số lượng 3.675 sinh viên (xem chi tiết trong phụ lục 6) Sau đây là các bước tiến hành đối với điều tra cơ bản theo chương trình của dự án:

- Đầu tiên, các trường dạy nghề chuẩn bị danh sách các sinh viên sẽ tốt nghiệp trong năm và quyết định về cỡ mẫu của cuộc điều tra tùy thuộc vào nhu cầu và năng lực hiện có của mình Căn cứ vào mục tiêu của Nghiên cứu lần vết, những sinh viên học trong ngành nghề đào tạo được hỗ trợ bởi dự án GIZ sẽ là đối tượng

ưu tiên khảo sát

- Thời điểm tiến hành điều tra cơ bản là trước khi thi tốt nghiệp Phần lớn các trường dạy nghề tổ chức một cuộc họp lớp để giới thiệu về mục đích, tầm quan trọng và trách nhiệm của các học viên trong việc tham gia vào Nghiên cứu lần vết

cụ thể là trả lời phiếu khảo sát Sau đó, các bảng hỏi được phân phát cho các học viên Ngoài ra, các trường đều nhắc nhở và khuyến khích học viên tốt nghiệp thông báo lại cho trường về bất kỳ sự thay đổi về địa chỉ liên hệ hoặc số điện thoại Tuy nhiên, một số sinh viên đã rời trường trước khi khảo sát cơ bản nên thông tin cơ bản lại phải thu thập bằng nhiều cách khác như: sử dụng dữ liệu/ hồ

sơ của học viên được lưu trữ tại trường, thông qua mạng lưới các cựu sinh viên, trưởng lớp hoặc liên lạc với gia đình học viên… Trong vòng khảo sát sau 2010/2011 các trường tham gia đã không gặp phải vấn đề này và các hoạt động đã được tiến hành theo kế hoạch

Trang 26

Sau khi kết thúc điều tra cơ bản, chất lượng và độ tin cậy của dữ liệu được kiểm tra trước khi tiến hành nhập liệu Nhìn chung, chất lượng dữ liệu cơ bản là đạt yêu cầu Chỉ trong một số trường hợp, có vẻ là dữ liệu đã được điền vào chỉ với thông tin mang tính hành chính

4.2 Khảo sát lần vết

Cuộc khảo sát lần vết thường bắt đầu sau 6 tháng tính từ khi học viên tốt nghiệp Các trường thường mất 2 tuần để chuẩn bị cho cuộc khảo sát và thời gian thu thập thông tin kéo dài từ 4 đến 8 tuần Khi tiến hành ở tất cả các trường thì cuộc khảo sát kéo dài gần ba tháng Các phương pháp dự án đưa ra sử dụng để thu thập thông tin trong cuộc khảo sát Lần vết bao gồm: gửi phiếu hỏi qua thư – đường bưu điện và phỏng vấn điện thoại (dựa trên bảng câu hỏi) trong các trường hợp không có địa chỉ và điện thoại liên hệ thì điều tra qua e-mail Trong vòng đầu tiên (2009-2010), khảo sát Lần vết bắt đầu vào tháng 2 năm

2010 và tiến hành khảo sát toàn bộ học viên đã tham gia khảo sát cơ bản Đến tháng 5 năm 2010, thu được phản hồi từ 2.662 sinh viên tốt nghiệp, chiếm hơn 50% mẫu khảo sát Đây là một kết quả khá khả quan Trong vòng hai (2010-2011), với khối lượng khảo sát tương tự vòng 1, thời gian khảo sát lần vết cũng mất gần ba tháng từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2011 Toàn bộ số học viên tham gia khảo sát cơ bản của 10 trường cũ và 5 trường mới đã được khảo sát bằng cách sử dụng các bảng câu hỏi Lần vết Còn bảng hỏi Tổng hợp2 được sử dụng mở rộng khảo sát những học viên tốt nghiệp không tham gia khảo sát cơ bản đối với những trường dự án và dành cho các trường không thuộc dự án3

sử dụng (do các học viên của các trường này chưa tham gia điều tra cơ bản) Tổng cộng

có 3.926 học viên tham gia khảo sát Lần vết, trong đó 2606 trả lời bảng hỏi Lần vết và

690 trả lời bảng hỏi Tổng hợp

Các bước tiến hành cuộc khảo sát Lần vết như sau:

- Thứ nhất, danh sách khảo sát lần vết các sinh viên tốt nghiệp đã có được từ kết quả khảo sát cơ bản Hầu hết các trường dự kiến sẽ khảo sát khoảng 300 sinh viên

học viên tốt nghiệp không tham gia vào khảo sát cơ bản

nghiệp, rời trường và thời gian khảo sát cơ bản đã qua

Trang 27

tốt nghiệp Gần 6 tháng sau khi tốt nghiệp, các trường dạy nghề bắt đầu gửi bảng câu hỏi cùng với một phong bì dán tem có ghi sẵn địa chỉ của nhà trường dạy nghề để học viên gửi trả lại Tuy nhiên, một số trường đã không thể thực hiện tuần tự từ bước này Do sự thiếu hụt nguồn nhân lực và rút kinh nghiệm từ kết quả khảo sát vòng 1 với nhận định tỷ lệ phản hồi qua thư là thấp nên có nhiều trường tiến hành khảo sát qua điện thoại ngay từ đầu

- Sau 3 tuần, các trường tiến hành phỏng vấn qua điện thoại đối với các học viên không gửi thư trả lời

Sau khi hoàn thành khảo sát, các trường tiến hành kiểm tra chất lượng phiếu khảo sát và nhập dữ liệu vào bảng nhập liệu Lần vết và Tổng hợp

4.3 Những khó khăn chính trong quá trình thực hiện Nghiên cứu lần vết

Thiếu nguồn lực: Thiếu nguồn nhân lực, cụ thể là cán bộ tham gia luôn là một vấn đề

khó khăn đối với các trường tham gia trong cả 2 vòng khảo sát Thông thường, mỗi trường có 2 cán bộ trực tiếp phụ trách triển khai Nghiên cứu lần vết với nhiệm vụ chính

là tiến hành điều tra Cơ bản và Lần vết Tuy nhiên, do thiếu nguồn nhân lực, hiện nay một số trường chỉ còn một cán bộ tham gia Vì vậy, việc thực hiện lần vết tùy thuộc vào hoàn cảnh của cá nhân tham gia, nếu cán bộ đó có việc đột xuất hoặc phải thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên khác thì quá trình triển khai nghiên cứu sẽ bị chậm trễ Sự thiếu hụt của nguồn nhân lực trong Nghiên cứu lần vết cũng dẫn đến sự chậm trễ trong cả các công việc sau khảo sát, đó là nhập và chuyển dữ liệu

Sinh viên tốt nghiệp thay đổi địa chỉ liên lạc, số điện thoại: Sau khi tốt nghiệp, nhiều

sinh viên thay đổi địa chỉ của họ, đặc biệt là sinh viên ở khu vực nông thôn Nhiều học viên chuyển chỗ ở thuê nhà gần nơi làm việc, do đó một số địa chỉ thu thập được khi họ còn đang đi học là không còn giá trị Đây là một trong những lý do khiến cho tỷ lệ phản hồi thấp (tỷ lệ phản hồi qua thư cao nhất là khoảng 50%, hầu hết các trường dạy nghề chỉ đạt được tỷ lệ phản hồi 20-30% ) Một lý do khác là gia đình sinh viên tốt nghiệp có thể nhận được thư nhưng không thể gửi nó tới sinh viên tốt nghiệp bởi vì họ cũng không biết địa chỉ chính xác Đây là một trong những khó khăn lớn nhất đối với những người thực hiện cuộc điều tra lần vết Các cán bộ phải dành nhiều thời gian và công sức để tìm

Trang 28

cách liên lạc với sinh viên tốt nghiệp như: hỏi các bạn cùng lớp họ hoặc liên lạc với những doanh nghiệp thường tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp của trường mình

Nhận thức của học viên tốt nghiệp về vai trò tham gia, đóng góp cho Nghiên cứu lần vết còn thấp: Vấn đề này cũng là một thách thức lớn đã được báo cáo bởi rất nhiều cán

bộ triển khai nghiên cứu lần vết Sinh viên Việt Nam, đặc biệt là các học viên học nghề nhận thức về trách nhiệm của mình khi tham gia nghiên cứu này còn thấp Học viên do không hiểu biết rõ ràng về mục đích của Nghiên cứu lần vết, không quan tâm hoặc cảm thấy không thoải mái khi trả lời các câu hỏi về những đánh giá của cá nhân đối với chất lượng đào tạo Vì nhiều lý do nêu trên nên các sinh viên tốt nghiệp chưa sẵn sàng để cung cấp thông tin, đặc biệt là trả lời qua thư Thông thường, sinh viên tốt nghiệp hay trả lời rằng họ đang bận công việc nên không có thời gian để trả lời và gửi lại câu hỏi Một lý do khác là một số câu hỏi làm cho họ cảm thấy “không thoải mái” khi trả lời Tuy nhiên, qua phỏng vấn điện thoại các cán bộ có cơ hội để giải thích và làm cho học viên cảm thấy thoải mái và tự tin để trả lời các câu hỏi Đó là lý do tại sao các cuộc phỏng vấn qua điện thoại thường là sự lựa chọn đầu tiên để tiến hành khảo sát lần vết trong nhiều trường dạy nghề đặc biệt là ở vòng thứ hai

Kinh phí dành cho Nghiên cứu lần vết còn hạn chế và thiếu cơ chế để khuyến khích cho cán bộ thực hiện: Nghiên cứu lần vết sử dụng bộ công cụ đơn giản (câu hỏi ngắn và

đơn giản) đồng thời phương pháp tiến hành cuộc điều tra cũng khá dễ dàng (gửi thư và điện thoại) do đó chi phí dành cho nghiên cứu này là khá thấp Tuy nhiên, đây lại là một hoạt động mới với gần như tất cả các cơ sở đào tạo nghề vì vậy không phải là dễ dàng để phân bổ tài chính cho nghiên cứu Lãnh đạo của các trường đã có thể phê duyệt ngân sách

để thực hiện nghiên cứu này Tuy nhiên, chi phí ở mức rất khiêm tốn do đó hầu hết các

cơ sở đào tạo nghề tiết kiệm chi phí bằng cách gửi thư thường thay vì gửi thư bảo đảm EMS và nhiều trường đã không thể mở rộng cỡ mẫu của cuộc khảo sát như mong muốn Ngoài ra, như đã đề cập ở trên, đối với cán bộ trực tiếp thực hiện Nghiên cứu lần vết ở nhiều trường thì công việc này được coi là một nhiệm vụ bổ sung nhưng lại không có cơ chế khuyến khích cho họ (phụ cấp hoặc tăng tiền lương) Điều này không phải là vấn đề lớn nếu các cán bộ chỉ thực hiện các cuộc khảo sát mang tính thí điểm 1 hoặc 2 năm Tuy nhiên trong dài hạn thì việc thiết lập cơ chế khuyến khích đối với cán bộ tiến hành

Trang 29

Nghiên cứu lần vết rất cần thiết vì đây thực sự là công việc không nhỏ và điều này sẽ góp phần nâng cao động lực cũng như trách nhiệm đối với công việc của cán bộ tham gia

Thiếu kinh nghiệm và sáng kiến trong công việc: Nghiên cứu lần vết là một hoạt động

mới mẻ đối với nhiều trường dạy nghề mới nên các cán bộ tham gia chưa/không có nhiều kinh nghiệm để giải quyết với những khó khăn một cách linh hoạt Một số cán bộ đã không chia sẻ thông tin về các vấn đề phát sinh một cách kịp thời với các chuyên gia trong nước và dự án GIZ Vì những nguyên nhân khác nhau hoặc do bận công việc nên các cán bộ chưa chủ động liên hệ với dự án một cách thường xuyên Cán bộ dự án và tư vấn thường xuyên liên lạc để trao đổi và nhắc nhà trường về lịch trình và tiến độ thực hiện khảo sát Những cán bộ tham gia nên đóng vai trò chủ động hơn và hiểu rằng thực hiện Nghiên cứu lần vết là trách nhiệm, nhiệm vụ của mình theo như cam kết của nhà trường

Trang 30

III KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU LẦN VẾT

Trang 31

1 Vòng 1 Năm 2009-2010

1.1 Các khía cạnh về nhóm tuổi và giới tính (khảo sát cơ bản)

Xem xét các đặc điểm xã hội- nhân khẩu học của học viên tốt nghiệp được khảo sát như nhóm tuổi, Bảng 1 cho thấy tuổi trung bình của học viên của các cơ sở Đào tạo nghề khác nhau khá đồng đều Về nguyên tắc, tuổi của học viên có thể từ 17 đến 40, nhưng theo kết quả khảo sát, độ tuổi trung bình nhất quán khoảng 21 tuổi, chỉ có 4% là dưới 20 tuổi và 1% của cỡ mẫu là từ 29 tuổi trở lên

Xem xét việc phân bổ giới tính trong Bảng 2, tỷ lệ học viên nữ chiếm khoảng 41% trong tổng cỡ mẫu với độ chênh lệch đáng kể giữa các cơ sở Đào tạo nghề Một nguyên nhân của sự chênh lệch này là các chuyên ngành đào tạo mà các trường cung cấp-một số ngành thu hút học viên nữ nhiều hơn so với học viên nam Điều này thể hiện rất rõ khi phân loại các ngành học theo tỷ lệ học viên nữ (Bảng 2) Mười ngành học có tỷ lệ học viên nữ cao nhất tập trung vào các lĩnh vực may mặc hoặc công việc văn phòng, tiếp theo là du lịch (với ngoại lệ là ngành công nghệ công nghiệp)

Bảng 1: Tuổi của học viên tốt nghiệp tính theo trường

Cơ sở Đào tạo nghề Trung bình Tối thiểu Tối đa mẫu Cỡ

Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái

Trang 32

Bảng 2: Giới tính của học viên tốt nghiệp tính theo trường

Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái

Trang 33

Tiện công nghệ cao 93 67,74% 32,26%

* CĐN Thanh Hóa không được tính trong bảng này

Học viên nam theo học các nghề kỹ thuật như điện, lắp ráp máy tính, xây dựng và hàn nhiều hơn Trong khi ở 10 ngành được ưa chuộng nhất bởi học viên nữ, vẫn có tỷ lệ nhất định là học viên nam, thì ở 10 ngành được học viên nam theo học nhiều nhất, hầu như không có học viên nữ theo học

1.2 Học nghề và kế hoạch tương lai (khảo sát cơ bản)

Hầu như tất cả học viên trả lời khảo sát cơ bản đều đã hoàn thành chương trình Đào tạo nghề, như được thể hiện trong Bảng 4 Tỷ lệ được nhận bằng là 98% với mức xếp hạng tốt nghiệp trung bình là 2,25 Xin chú ý là mức đánh giá này là do học viên cung cấp và không phải là thông tin lấy nguồn từ dữ liệu hành chính của cơ sở đào tạo Tuy nhiên, do thời gian khảo sát cơ bản cũng là thời gian học viên tốt nghiệp, nên thông tin này có thể được coi là dữ liệu đáng tin cậy

Trang 34

Khi so sánh các cơ sở Đào tạo nghề, hầu hết học viên được khảo sát đều được nhận bằng tốt nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ này phải được xem xét cẩn trọng vì đa phần các trường, ở đợt triển khai đầu, đều tiến hành khảo sát cơ bản vào đúng ngày tổ chức lễ tốt nghiệp, khi trao bằng cho học viên Mẫu khảo sát đã chỉ bao gồm những học viên đã hoàn thành chương trình và được cấp bằng và bỏ qua những học viên đã bỏ học trước đó

Bảng 4: Bằng tốt nghiệp của học viên tại các cơ sở Đào tạo nghề tham gia khảo sát

Cơ sở Đào tạo nghề

% được nhận bằng tốt nghiệp mẫu Cỡ

Xếp loại bằng tốt nghiệp mẫu Cỡ

Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành phố

Cao đẳng nghề Việt-Đức Vĩnh Phúc 100% 304 1,91 304

Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên 100% 322 2,50 363 Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 100% 149 2,38 149

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái Nguyên) 99% 329 2,75 327

*Xếp loại bằng tốt nghiệp được đánh giá từ 1 (trung bình) đến 5 (xuất sắc)

Trang 35

Bảng 5: Đánh giá chất lượng của các cơ sở Đào tạo nghề tham gia khảo sát

Cơ sở Đào tạo nghề Đánh giá chất lượng đào tạo * Cỡ mẫu

Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành phố

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái Nguyên) 2,00 329

* Được đo trên thang từ 1 đến 5 Trong đó, 5 là hoàn toàn không đồng ý với câu: “Khóa đào tạo đã cung cấp cho bạn những kiến thức và kỹ năng đáp ứng được với công việc hiện tại” Thông tin này rất có thể không chính xác do lỗi báo cáo

Học viên tốt nghiệp cũng được yêu cầu đánh giá một cách chủ quan chất lượng của khóa đào tạo mà họ nhận được tại các cơ sở Đào tạo nghề Như Bảng 5 chỉ rõ, các học viên nhìn chung đánh giá trường mình là “tốt”, với hai trường hợp ngoại lệ là “rất tốt” là Trường Cao đẳng nghề Việt-Đức Hà Tĩnh và Cao đẳng nghề Việt-Đức Nghệ An Tổng cộng, khoảng 83% học viên trong mẫu khảo sát cho rằng khóa đào tạo đã cung cấp cho

họ những kiến thức và kỹ năng đáp ứng được với công việc hiện tại (được thể hiện bằng việc trả lời “đồng ý” hoặc “hoàn toàn đồng ý” trong câu hỏi về chất lượng đào tạo được trích dẫn ở cuối Bảng 5

Chỉ có một tỷ lệ nhỏ học viên đã tham gia các khóa Đào tạo nghề trước khi học khóa đào tạo hiện tại ở trường (Bảng 6) Duy nhất có trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh là có một số lượng đáng kể học viên đã tham gia các khóa Đào tạo nghề với thời gian đào tạo khoảng 1 năm trước khi học khóa Đào tạo nghề hiện tại

Trang 36

Bảng 6: Tham gia các khóa Đào tạo nghề trước khi nhập học khóa đào tạo hiện tại

Cơ sở Đào tạo nghề

% tham gia các khóa Đào tạo nghề trước khi học khóa đào tạo hiện tại Cỡ mẫu

Độ dài của kháo Đào tạo nghề trước đó (tháng)*

Cỡ mẫu

Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành

Cao đẳng nghề Việt-Đức Vĩnh Phúc 0,00% 304

Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên 0,00% 364

Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 90,60%** 149 1,01*** 135

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái

*Câu trả lời về thời gian học chỉ được tính khi người được khảo sát trả lời rằng đã tham gia Đào tạo nghề trước khi nhập học

chương trình hiện tại

**Thông tin này rất có khả năng bị lỗi

***133 học viên được khảo sát nói rằng đã tham gia khóa Đào tạo nghề kéo dài một tháng trước khi nhập học chương trình hiện tại

Trang 37

Bảng 7: Kế hoạch sau khi tốt nghiệp và % học viên tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp

Cơ sở Đào tạo nghề

Tiếp tục học

Vừa làm vừa học Đi làm

Đã tìm được việc*

Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái

*Tỷ lệ học viên đã tìm được việc tại thời điểm khảo sát cơ bản trong tổng số học viên trả lời rằng muốn đi làm ngay sau khi

học xong

Xem xét kế hoạch sau tốt nghiệp của tổng lượng học viên trong Bảng 7, hầu hết học viên

có kế hoạch học tiếp hoặc vừa học vừa làm sau khi ra trường Tuy nhiên, xu hướng này được tạo ra chủ yếu bởi Trường Đại học Nguyễn Tất Thành Một lượng lớn học viên của trường này muốn vừa học vừa làm sau khi ra trường Nếu không tính Đại học Nguyễn Tất Thành, số lượng học viên muốn kiếm việc làm ngay sau khi ra trường chiếm số lượng lớn nhất trong cỡ mẫu Cột cuối cùng trong Bảng 7 thể hiện Tỷ lệ học viên đã tìm được việc tại thời điểm khảo sát cơ bản trong tổng số học viên trả lời rằng muốn đi làm ngay sau khi học xong Nếu tính trên tổng số học viên được khảo sát, tỷ lệ này giảm xuống còn 23%

1.3 Việc làm

Phần này tập trung vào dữ liệu thu thập từ vòng khảo sát lần vết, 6 tháng sau khi học viên tốt nghiệp Bảng 8 trình bày kết quả về tình hình việc làm sau khi tốt nghiệp theo lời của học viên Trong khi có sự không đồng nhất giữa các trường, tổng số học viên trả lời rằng

đã kiếm được việc làm hoặc tự kinh doanh chiếm khoảng hai phần ba (65%) Trong số

Trang 38

này 12% trả lời rằng sẽ vừa đi làm vừa đi học tiếp (cột 2) Khoảng một phần tư tổng số học viên tốt nghiệp tiếp tục học thêm (23%, cột 3), trong khi 12% cho biết đang thất nghiệp

Bảng 8: Tình hình việc làm 6 tháng sau khi tốt nghiệp

Cơ sở Đào tạo nghề

Có việc làm hoặc

tự doanh

Có việc làm và

đi học tiếp

Đang học tiếp

Thất nghiệp N Đại học Nguyễn Tất Thành 78,68% 21,32% 0,00% 0,00% 197 Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành

Cao đẳng nghề Việt-Đức Hà Tĩnh 0,50% 5,00% 93,50% 1,00% 200 Cao đẳng nghề Nha Trang 0,00% 100,00% 0,00% 0,00% 3 Cao đẳng nghề Thanh Hóa 47,95% 2,05% 46,58% 3,42% 146 Cao đẳng nghề Việt-Đức Vĩnh Phúc 92,88% 6,76% 0,00% 0,36% 281 Cao đẳng nghề Việt-Đức Nghệ An 13,87% 23,40% 45,13% 17,60% 483 Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên 36,19% 40,00% 17,14% 6,67% 105 Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 49,51% 7,28% 6,31% 36,89% 206 Trường Trung cấp nghề Việt Đức Lạng

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái

Tất cả các cơ sở Đào tạo nghề 53,43% 11,98% 23,08% 11,52% 2405

Tỷ lệ học viên có việc làm sau khi tốt nghiệp cao nhất ở Cao đẳng nghề Việt-Đức Nghệ

An và Cao đẳng nghề Việt-Đức Hà Tĩnh và thấp nhất ở Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên và Trường Trung cấp nghề Việt Đức Lạng Sơn Hầu hết các học viên của Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên trả lời rằng họ muốn tiếp tục học sau khi tốt nghiệp Đây là lý

do cần được tìm hiểu sâu hơn nữa

Sáu tháng sau khi tốt nghiệp, hơn một nửa số học viên trả lời đã tìm được việc làm cho biết các em tìm được việc ngay trong tháng đầu tiên sau khi ra trường (Bảng 9) và một phần ba cần từ một đến ba tháng để tìm được việc làm Tại trường Cao đẳng nghề Thanh Hóa, hầu như tất cả học viên đều tìm được việc làm trong tháng đầu tiên sau khi ra

Trang 39

trường Điều này cho thấy hoặc là có rất nhiều việc làm cho lao động tại địa phương, chất lượng đào tạo rất tốt và/hoặc có thể mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường và các doanh nghiệp địa phương

Bảng 9: Khoảng thời gian cần để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp

< 1 tháng 1-3 tháng > 3 tháng N

Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành

Trường Trung cấp nghề Việt Đức Lạng

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái

Mức lương của học viên đã tìm được việc làm cũng có nhiều khác biệt giữa các vùng miền Mức lương tháng do học viên báo cáo là từ khoảng 1,5 triệu đồng - cựu học viên của trường Trường Trung cấp nghề Việt Đức Lạng Sơn đến 2, 8 triệu đồng -cựu học viên Trường Cao đẳng nghề Việt Đức Hà Tĩnh (Bảng 10), mặc dù đa phần học viên có mức lương trung bình là 2, 3 triệu đồng Mức lương tối thiểu mà học viên tốt nghiệp của các trường khác nhau kiếm được cũng là vấn đề được quan tâm Học viên đã tốt nghiệp của 5 trong số các trường được khảo sát có mức lương tối thiểu từ 1,5 triệu đồng trở lên

Trang 40

Bảng 10: Lương tháng/thu nhập từ tự kinh doanh

Lương tháng/thu nhập tính theo đơn vị triệu đồng Việt Nam

Trung bình Tối thiểu Tối đa N Cao đẳng nghề Việt-Đức Hà Tĩnh 2,78 1,50 3,70 197 Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Thành

Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên 1,60 1,00 3,00 10

Trung cấp nghề Việt Đức Lạng Sơn 1,49 1,49 1,49 23

Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 2,48 1,00 5,67 72

Cao đẳng nghề Việt-Đức Nghệ An 2,41 1,00 5,67 269

Cao đẳng Công nghiệp Việt-Đức (Thái

Ngày đăng: 23/09/2016, 19:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tuổi của học viên tốt nghiệp tính theo trường - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 1 Tuổi của học viên tốt nghiệp tính theo trường (Trang 31)
Bảng 5: Đánh giá chất lượng của các cơ sở Đào tạo nghề tham gia khảo sát - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 5 Đánh giá chất lượng của các cơ sở Đào tạo nghề tham gia khảo sát (Trang 35)
Bảng 7: Kế hoạch sau khi tốt nghiệp và % học viên tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 7 Kế hoạch sau khi tốt nghiệp và % học viên tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp (Trang 37)
Bảng 9: Khoảng thời gian cần để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 9 Khoảng thời gian cần để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp (Trang 39)
Hình 1: Lương tháng/thu nhập từ đi làm thuê hoặc tự kinh doanh vòng khảo sát 1 - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Hình 1 Lương tháng/thu nhập từ đi làm thuê hoặc tự kinh doanh vòng khảo sát 1 (Trang 41)
Bảng 12: Chức vụ/vị trí công tác của học - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 12 Chức vụ/vị trí công tác của học (Trang 42)
Bảng 15: Đánh giá chất lượng đào tạo, phân theo - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 15 Đánh giá chất lượng đào tạo, phân theo (Trang 45)
Bảng 16: Tuổi của học viên tốt nghiệp tính theo trường - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 16 Tuổi của học viên tốt nghiệp tính theo trường (Trang 46)
Bảng 18: Ngành học theo tỷ lệ học viên nữ - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 18 Ngành học theo tỷ lệ học viên nữ (Trang 47)
Bảng 23: Tình hình việc làm 6 tháng sau khi tốt nghiệp - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 23 Tình hình việc làm 6 tháng sau khi tốt nghiệp (Trang 53)
Bảng 22: Khoảng thời gian cần để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 22 Khoảng thời gian cần để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp (Trang 55)
Bảng 23: Lương tháng/thu nhập từ tự kinh doanh - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 23 Lương tháng/thu nhập từ tự kinh doanh (Trang 56)
Hình 2:  Lương tháng/thu nhập từ đi làm thuê hoặc tự kinh doanh vòng khảo sát  2 - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Hình 2 Lương tháng/thu nhập từ đi làm thuê hoặc tự kinh doanh vòng khảo sát 2 (Trang 57)
Bảng 25: Chức vụ/vị trí công tác - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
Bảng 25 Chức vụ/vị trí công tác (Trang 59)
Bảng  26: Đào tạo nghề và - Tracer Studies Report 2009-2011 VN
ng 26: Đào tạo nghề và (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w