Khi nói đến tính Thiêng là nói đến những yếu tố mang tính “Tinh”, “Khí”, “Thần” của một không gian thiêng, với những con người, vật thể, biểu tượng… được người người tôn sùng, kính trọng
Trang 1Tính thiêng trong tín ngưỡng người Việt PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực xuất hiện khá sớm và luôn đồng hành cùng đời sống tâm linh của con người Điều này được thể hiện qua nhiều cổ vật phong phú được tìm thấy qua nhiều thời kỳ, chạm khắc độc đáo trong các ngôi đình, đền cổ kính thời xa xưa, sống động và hiện hữu trong các lễ hội dân gian Cho đến ngày nay, tín ngưỡng phồn thực vẫn là một ẩn số thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm và giải mã.
PHẦN 2 NỘI DUNG
1 Tính thiêng trong di sản văn hóa
1.1 Lý luận chung
1.1.1 Khái niệm về tính thiêng
Tính thiêng trong di sản văn hóa Việt là một trong những đặc điểm của văn hóa tâm linh Tính Thiêng (cái Thiêng) được hiểu là những yếu tố mang tính phi thường, linh thiêng, thần thánh, sự linh thiêng ấy quan trọng, bảo lãnh cho sự sống của cộng đồng Khi nói đến tính Thiêng là nói đến những yếu tố mang tính “Tinh”,
“Khí”, “Thần” của một không gian thiêng, với những con người, vật thể, biểu tượng… được người người tôn sùng, kính trọng và ngưỡng mộ Đó là sự thiêng liêng của một vùng đất địa linh nhân kiệt, thế đất rồng cuộn hổ ngồi; là những vị
thánh thần (thiên thần, nhân thần…) v v mà ở đó những yếu tố tạo lên sự thiêng
liêng được cộng đồng dân cư ấy luôn tôn vinh và đặt ở vị trí cao nhất trong đời sống của họ
Tính Thiêng được biểu hiện qua những hình tượng, biểu tượng là những vật linh thiêng được thờ cúng; là niềm tin tuyệt đối của cộng đồng về một tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục Những hình tượng, biểu tượng ấy đi vào miền ký ức của dân tộc Do đó tính thiêng luôn thể hiện phù hợp với hình thức, căn cơ, khát vọng của
Trang 2dân tộc, cộng đồng đó Mỗi một dân tộc, một cộng đồng đều có những quy định, khát vọng riêng nên tính Thiêng cũng khác nhau
Thông qua các biểu tượng, hình ảnh, linh vật để cộng đồng gửi gắm các câu chuyện của mình để gửi gắm khát vọng vào các biểu tượng văn hóa với ngụ ý thần linh phù hộ cho mình
1.1.2 Cấu trúc của tính thiêng
Di sản văn hóa chính là sự tổng hòa của các yếu tố cổ điển, hiện thực, lãng mạn và tượng trưng tạo nên một tác phẩm nghệ thuật mang nhiều màu sắc Trong
đó tính Thiêng trong di sản văn hóa Việt là do cộng đồng quy định và được nâng
đỡ bởi 2 yếu tố: tính tuyệt đối của niềm tin và tính thăng hoa (tính siêu phàm) của
nghệ thuật Bởi vậy, di sản văn hóa cần sự thăng hoa của nghệ thuật và thông qua
đó nhằm thỏa mãn niềm tin tuyệt đối của cộng đồng
Tính tuyệt đối của niềm tin đó là sự tin tưởng của cộng đồng ấy về những hình tượng, biểu tượng, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục Niềm tin trong cộng đồng đó được truyền từ đời này qua đời khác và họ đặt niềm tin vào mà không có bất kỳ thắc mắc, câu hỏi tại sao và đi tìm lời giải đáp Chỉ đơn giản là họ tin như thế và đó là niềm tin tuyệt đối
Song song với bệ đỡ trong tính Thiêng của di sản văn hóa đó là sự thăng hoa của nghệ thuật hay còn gọi là tính siêu phàm của nghệ thuật Nghệ thuật bản thân
nó đã là sự trừu tượng hóa các hình tượng, biểu tượng để gửi gắm ước vọng, niềm tin của cộng đồng dân cư Nghệ thuật không còn là nghệ thuật khi miêu tả chân thực, thô cứng về sự vật hiện tượng Để tính Thiêng của di sản văn hóa được linh thiêng hơn bắt buộc phải có những yếu tố thăng hoa của nghệ thuật
1.1.3 Vị trí, tầm quan trọng của tính thiêng trong di sản văn hóa
Trang 3Trong di sản văn hóa, tính Thiêng được coi là linh hồn quan trọng nhất Nhờ
có tính Thiêng, di sản văn hóa mang những giá trị cao đẹp, đặc trưng của cộng đồng đó
Mục đích của tính Thiêng
1.1.4 Mục đích xã hội
Do điều kiện văn hóa, xã hội, điều kiện về tự nhiên mà mỗi một dân tộc, cộng đồng có những văn hóa khác nhau, đặc biệt là văn hóa tâm linh Ở đó, mỗi dân tộc, cộng đồng thiêng hóa các sự vật, hiện tượng, đối tượng thờ
1.1.5 Mục đích lịch sử 1.2 Không gian của tính Thiêng
1.2.1 Chiều lịch sử 1.2.2 Chiều sâu 1.2.3 Chiều rộng
2 Tính Thiêng thể hiện trong tín ngưỡng phồn thực
2.1 Đặc điểm vùng văn hóa Bắc Bộ
Vùng văn hóa Bắc Bộ có vị trí trung tâm, là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây - Đông và Bắc Nam, Vùng Bắc Bộ; hệ thống sông ngòi dày đặc; khí hậu nóng ẩm mưa nhiều với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp thuần túy Chính những yếu tố về môi trường tự nhiên và xã hội đã đem đến những đặc điểm rất riêng của người Việt ở Bắc Bộ
Bản chất của người Việt là tính không triệt để, khách sáo, ngụ ý, xa xôi
đây là những yếu tố tạo bệ đỡ cho sự tiếp biến văn hóa của người Việt (tính tiếp
biến văn hóa của người Việt là một trong những nguyên nhân đem lại sự giàu có
về di sản văn hóa) Khi các nền văn, kinh tế, tôn giáo, ngôn ngữ ngoại lai du nhập
vào, người Việt không chối từ Tuy vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, những yếu tố mang tính ngoại lai ấy được người Việt biến đổi cho phù hợp với cộng đồng của
Trang 4mình Do đó, có thể thấy rằng di sản văn hóa Việt Việt hết sực giàu có và đặc sắc;
đó là sự tổng hòa của các yếu tố nghệ thuật cổ điển, tượng trưng, lãng mạn và hiện thực
Chính những yếu tố về đặc điểm này đã đem lại nhiều nét văn hóa hết sức đặc sắc của người Việt Người Việt có bốn hình tượng trong di sản văn hóa - Tứ bất tử: hình tượng chống lũ lụt thiên tai - Đức thánh Tản Viên; hình tượng chống giặc ngoại xâm - Thánh Gióng; hình tượng khát vọng bình đẳng giai cấp - Đức Thánh Chử và phu nhân và hình tượng bình quyền giới - Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Do đặc điểm về môi trường tự nhiên, người Việt phải đối mặt với lũ lụt, thiên tai và giặc ngoại xâm Những đặc điểm đó đẻ ra khát vọng của người Việt là chống lũ lụt và giặc ngoại xâm Những câu chuyện về Tản Viên sơn thánh và Thánh Gióng ra đời Mà ở đó, người Việt đã dùng các câu chuyện, các yếu tố thăng hoa về nghệ thuật để làm thiêng hóa đối tượng chính của các câu chuyện truyền
thuyết Chẳng hạn như trong câu chuyện Tản Viên sơn thánh trị thủy: "nước dâng
đến đâu, núi dâng đến đó " ; hay như câu chuyện Thánh Gióng, với 3 mã văn hóa
-tinh thần: "Thánh Gióng vươn mình lên cao, ăn 3 nong cà 7 nong cơm, sau khi
đánh thắng giặc đã bay về trời "
Đây là những yếu tố đã được người Việt Thiêng hóa để tạo lên sự thần bí của câu chuyện, tạo lên sự linh thiêng của các nhân vật và tạo nên một niềm tin tuyệt đối cho cộng đồng dân cư
Tính Thiêng trong di sản văn hóa Việt được thể hiện trong mọi mặt của đời sống, tuy nhiên dưới góc độ nghiên cứu này, tôi xin trình bày tính Thiêng thể hiện trong đời sống tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Việt
2.2 Tính Thiêng trong tín ngưỡng của người Việt Bắc Bộ
* Tính Thiêng trong tín ngưỡng phồn thực
Trang 5Tín ngưỡng là một khái niệm mang đặc điểm riêng và chung đối với tôn giáo Có nhiều cách hiểu khác nhau về tín ngưỡng Song tựu chung lại tín ngưỡng chính là những yếu tố nội sinh được sinh ra trong điều kiện môi trường tự nhiên và
xã hội của cộng đồng Hơn hết, tín ngưỡng được nghệ thuật hóa để trở thành những biểu tượng nghệ thuật mang ý nghĩa kép, ý nghĩa tâm linh và ý nghĩa nhân văn
Tín ngưỡng phồn thực được coi là hình thức tín ngưỡng "thuộc cơ tầng văn
hoá nguyên thuỷ" bởi việc duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu
nhất của lịch sử loài người
Tín ngưỡng này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Đặc biệt, đối với cư dân nông nghiệp có tính chất và mục đích là hướng tới sự phồn thịnh thì tín ngưỡng này thể hiện khát vọng về sự sinh sôi, nảy nở của con người và của các
vật nuôi, cây trồng Người Việt nhận thấy hai yếu tố sản xuất cây trồng (lúa, gạo)
để duy trì cuộc sống và yếu tố sản sinh ra con người để duy trì nòi giống có bản chất giống nhau Do đó, họ đã Thiêng hóa lên tạo thành một tín ngưỡng mà ở đó là
sự kết hợp của hai yếu tố khác loại: cha Trời và mẹ Đất
Sự sinh sản ấy của vạn vật khiến cuộc sống no đủ, con người dần lấp đầy mặt đất, đông đúc vui vẻ Sự sinh sản vì vậy trở nên linh thiêng Từ đó nó được thể hiện ra trong các hoạt động văn hóa theo hai phương thức: nghi lễ thờ cúng sinh thực khí nam nữ và tôn sùng hoạt động tính giao Tín ngưỡng phồn thực thể hiện trong mọi mặt của đời sống cư dân nông nghiệp lúa nước Trong lời khấn:
"Hỡi các đấng thần linh cao viễn
Hỡi cha Trời, mẹ Đất.
Hãy thấu hiểu những lời chúng con cầu khấn.
Hãy xem những gì chúng con "làm" mà "bắt chước", mà theo đó giao hòa trời đất Để cho mưa - tinh dịch của cha Trời, rơi xuống thấm nhuần mẹ Đất, cho ngô lúa đâm chồi, cây cối nảy lộc, vạn vật và con người sinh sôi nảy nở, tốt tươi "
Trang 6Từ xa xưa con người đã quan niệm quan hệ nam nữ là điều kiện quan trọng duy nhất để duy trì nòi giống, vậy nên quan hệ nam nữ được coi là thiêng Tín ngưỡng phồn thực - được cộng đồng dân cư Thiêng hóa bằng niềm tin tuyệt đối rằng tạo vật muốn sinh sôi phát triển phải có hành động cụ thể để gợi mở, chuyển hóa từ hành động tượng trưng thành hành hiện thực trong đời sống Con người lấy
niềm tin chân thành làm đòn bẩy tinh thần cho cộng đồng của mình (Ví dụ: Tại
thôn Lạc Khoái -Gia Lạc - Gia Viễn - Ninh Bình có hòn núi nhỏ được dân chúng địa phương lấy vật dương đặt thành tên Từ xa xưa dân làng tin rằng, nếu người trai làng chậm có bạn gái, tìm đến núi lấy gậy chọc vào cửa hang sẽ sớm tìm được bạn gái.)
Ở Việt Nam nói chung và vùng Bắc Bộ nói riêng, tín ngưỡng phồn thực thể hiện ước mơ tha thiết với cuộc sống no đủ, ấm êm với hai hình thức: thờ thờ sinh thực khí và thờ hành vi giao phối
Hội làng Đồng Kị - Bắc Ninh có tục rước sinh thực khí bằng gỗ ngày 6 tháng giêng hàng năm, khi tan hội người ta đã đốt sinh thực khí đó đi và lấy tro chia cho mọi người trong làng, người dân địa phương tin rằng, khi lấy tro đó mang ra rắc ruộng thì giống như một sức mạnh, có tác dụng như một “ma thuật” truyền sinh lực cho mùa màng tốt tươi)
Hay trong các lễ hội dân gian của cư dân Việt Bắc Bộ như: hội Chen ở làng
Ngà (Nga Hoàng - Bắc Ninh) sau khi tế lễ xong, trai gái tự do chen nhau, sờ soạng nhau; hay trong đêm "giã đám" ở hội La (Làng La Cả Dương Nội – Hoài Đức
-Hà Nội), sau khi vị bô lão chủ trì đánh 3 hồi trống, 3 hồi chiêng, cùng lúc đó người
ta tắt hết đèn, đuốc để trai gái được tự do tiếp xúc với nhau Đây là những tục mang ý nghĩa sự hợp than tự nhiên của cả nam và nữ trên mặt đất được xem như là một hành động mẫu, mang tính kích động, nhắc nhở thiên nhiên, đất trời hãy xem
Trang 7đó mà “làm theo”, mà bắt chước để làm cho mùa màng tốt tươi, cây cối sinh sôi nảy nở
Những bức tranh thời Đông Sơn – tư duy người Việt hồn nhiên, đơn giản Sang thời Bắc Thuộc – thờ hai vật đối lập nhau có tính nam và tính nữ - tín ngưỡng thờ đá, thờ cây – thờ phật, truyền thuyết
Bệ đá chùa phật tích -LÝ có một giàn thiên nữ với hình thể uyển chuyển, mềm mại, nhưng lại có tính gợi tình gợi dục cao Đây là hình ảnh mô tả dàn vũ công nữ nhảy múa quanh Đức Phật, thiên nhạc – nhạc của trời đất vẫn được tôn trọng – những yếu tố của tính giao Đây là một trong những bệ kê chân cột bằng đá chạm nổi cánh sen và các nhạc công Bệ hình vuông, mặt trên được trang trí hình cánh sen mũi hếch Bên trong mỗi cánh sen được trang trí đôi rồng uốn cong tạo hình lá đề Bốn mặt đều được trang trí những nhạc công đang tấu nhạc Đó là một đội hoàn chỉnh gồm có 10 người: trên một mặt thể hiện người đánh mõ, thổi sao, kéo nhị, gẩy đàn chanh, thổi sanh; ở mặt khác thì có người đang dập phách, gẩy đàn tỳ bà, thổi sáo dọc, đàn tam, đánh trống bồng Hầu hết các nhạc cụ này đều có nguồn gốc từ Chiêm Thành (Champa) Toàn bộ các mảng chạm đã được người thợ thời Lý diễn tả theo phong cách thi vị hóa, những hình ảnh dâng hoa cúng Phật, nhạc công tấu nhạc đều được cách điệu một cách khéo léo và tinh tế gợi lên một không khí nhộn nhịp, vui tươi và nét mặt hồn hậu, dáng điệu uyển chuyển của điệu múa mà người thợ đã thể hiện nguồn cảm hứng của họ trong quá trình sáng tác
Thời Lê Sơ thế kỷ 15, hình ảnh tính giao được thể hiện qua các hình vẽ nam
nữ khỏa thâ
Tk 16, nhà Mạc nắm chính quyền, thành hoàng được tôn vinh, tín ngưỡng phồng thực ào vào đình làng, phát triển thế kỷ 17,18 Muôn màu trên những chạm khắc Đình Làng
Đình Phù Lão – Bắc Giang với những mảng điêu khắc gỗ hết
"Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy, vui thì cui thật chẳng tày rã La" Các trò chơi dân gian: Bắt trạch trong chum, đánh đu, đấu vật đều thể hiện tín ngưỡng phồn thực của văn hóa Việt
Trang 8Bên cạnh đó, tín ngưỡng phồn thực còn được Thiêng hóa lên bởi tính siêu phàm và thăng hoa của nghệ thuật Đó là việc biến hóa tín ngưỡng ấy vào nhiều
loại hình nghệ thuật, văn hóa dân gian như hội họa, điêu khắc, văn học Chẳng
hạn như dòng tranh dân gian Đông Hồ - Bắc Ninh với các bức tranh có tên Đánh ghen; Hứng dừa - chàng trai tung cao 2 trái dừa, cô gái tung váy hứng; Hay bản thân chiếc trống đồng - cũng là hình thức được nghệ thuật hóa từ tín ngưỡng phồn thực - với việc đánh trống đồng - tiếng trống đầu tiên như gọi mưa về.
Tín ngưỡng phồn thực được Thiêng hóa lên trở thành khát vọng sinh sôi nảy
nở Trên khắp chiều dài đất nước từ Bắc vào Nam, từ miền núi xuống đồng bằng ta
đều có thể bắt gặp nhiều kiểu sinh thực khí như các loại cột (cột đá tự nhiên hoặc
cột đá được tạo ra, như cột đá ở chùa Giạm - Bắc Ninh có hình sinh thực khí nam khắc nổi), các loại hốc (hốc cây, hốc đá và các hang động tượng trưng cho sinh
thực khí nam luôn có hình khối trụ, tròn dài và mang tính động, những vật tượng
trưng cho sinh thực khí nữ thì hoặc có dáng bẹt (như mo nang hoặc đan bằng tre
nứa), hình vuông hay ở dạng lỗ (khe, hốc, rãnh) và mang tính tĩnh Điều này hoàn
toàn với nguyên lý Á Đông và triết học cổ phương Đông
Bên cạnh việc thờ sinh thực khí, người Việt còn thờ bản thân hành vi giao
phối - hành vi được xem như "một hành động có tính ma thuật có tác dụng làm
mẫu và kích động", nhắc nhỏ trời đất ban phúc lành, cầu mong vạn vật tươi tốt, nảy
nở sinh sôi Bằng chứng rõ nét là trên nhiều sản phẩm của văn hoá Đông Sơn, hành
vi giao phối đã được người Việt nghệ thuật hoá và mang tính hồn nhiên Đó là tượng nam nữ giao phối được gắn trên nắp thạp đồng Đào Thịnh; đó là những cặp chim ngồi lên lưng nhau trong tư thế đạp mái hay tượng cóc rồng giao phối Điều này thể hiện rõ nét việc tôn thờ hành vi giao phối trong tín ngưỡng phồn thực, thể hiện ở trạng thái tĩnh là hình tượng được khắc hay chạm trổ lên các vật, các di chỉ,
Trang 9tiêu biểu nhất là chiếc trống đồng - biểu tượng sức mạnh, quyền lực của người xưa, đồng thời cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của mình, người Việt đã dựng nên hệ thống những biểu tượng, những huyền thoại, truyền thuyết, những hoạt động dựa trên đặc trưng của một nền nông nghiệp sản xuất lúa nước Nền nông nghiệp đó đòi hỏi sự ưu đãi rất lớn từ tự nhiên Bởi vậy ngay khi hình thành, người Việt cổ đã sớm có ý thức sùng bái tự nhiên, tôn thờ thần tự nhiên, coi tự nhiên là yếu tố cơ bản, quan trọng trong việc đưa lại mùa màng bội thu Mặt khác, do trình độ tư duy, nhận thức của người Việt ở thời kỳ đầu còn hạn chế, hơn nữa cuộc sống của họ lại chưa hoàn toàn tách khỏi tự nhiên nên hệ thống sản xuất của người Việt phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên Họ quan niệm rằng: Muốn mùa màng tươi tốt, năng suất hiệu quả cao thì nhân tố tác động và quyết định trực tiếp là các vị thần, mỗi vị thần đảm nhiệm một khâu, một yếu tố trong nghề nông nghiệp của họ Các vị thần đó là thần Đất, thần Nước, thần Lúa Người Việt muốn mùa màng bội thu hơn nữa thì theo họ cây lúa phải được sinh sôi, nảy nở nhiều và điều đó kéo theo sự sinh sôi của những yếu tố xung quanh đất và nước Việc sinh sôi đó tất nhiên do giống cái đảm nhiệm,
do đó giống cái được đề cao trân trọng Từ đây, các thần Đất, thần Nước, thần Lúa trở thành các nữ thần nông nghiệp và được tôn vinh là Mẹ - Mẫu: Mẹ Đất (Mẫu Địa), Mẹ Nước (Mẫu Thoải), Mẹ Lúa
Không chỉ thờ các vị thần nông nghiệp, người Việt còn thờ rất nhiều các yếu
tố của tự nhiên, như mưa, gió, sấm,… thậm chí còn thờ động vật, thực vật sống tại núi rừng, sông suối như Rắn, Rồng, Chim… hay cây Đa, cây Đề, mô đất, hòn đá, hốc cây… Sau này người Việt có thêm đối tượng thờ mới là Rồng, Tiên Truyền thuyết về Âu Cơ (giống Tiên) sống trên núi và Lạc Long Quân (giống Rồng) sống dưới biển lấy nhau, đẻ ra bọc trứng trăm con là minh chứng điển hình cho việc tôn sùng những đối tượng trên
Trang 10Do tính chất và mục đích của nền văn hóa nông nghiệp là hướng tới sự phồn thịnh, sinh sôi, nảy nở nên tín ngưỡng phồn thực của người Việt đã ra đời từ rất sớm Hình thức của tín ngưỡng này được các nhà khoa học cho là "thuộc cơ tầng văn hoá nguyên thuỷ" bởi vì ngay từ đầu việc duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người ở loại hình văn hóa nông nghiệp, loại hình thức sản xuất lúa gạo để duy trì cuộc sống và sản sinh ra con người để duy trì nòi giống có bản chất giống nhau, đó là sự kết hợp của hai yếu tố khác loại: Đất và Trời, Mẹ và Cha
Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực được đồng hoá vào việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ bản thân hành vi giao phối nhằm cầu mong mùa màng tươi tốt, vạn vật nảy nở sinh sôi, nhà nhà con đàn cháu đống Hiểu rộng ra, tín ngưỡng này
là khát vọng về một cuộc sống ấm no, sung túc, con người được hạnh phúc, may mắn Trong tâm thức dân gian người Việt, đặc biệt với người nông dân, tín ngưỡng này đã ăn sâu và trở thành sinh hoạt tinh thần không thể thiếu, nhất là trong các lễ hội
Bên cạnh việc thờ sinh thực khí, người Việt còn thờ bản thân hành vi giao phối - hành vi được xem như "một hành động có tính ma thuật có tác dụng làm mẫu và kích động", nhắc nhỏ trời đất ban phúc lành, cầu mong vạn vật tươi tốt, nảy
nở sinh sôi Bằng chứng rõ nét là trên nhiều sản phẩm của văn hoá Đông Sơn, hành
vi giao phối đã được người Việt nghệ thuật hoá và mang tính hồn nhiên Đó là tượng nam nữ giao phối được gắn trên nắp thạp đồng Đào Thịnh; đó là những cặp chim ngồi lên lưng nhau trong tư thế đạp mái hay tượng cóc rồng giao phối Điều này thể hiện rõ nét việc tôn thờ hành vi giao phối trong tín ngưỡng phồn thực, thể hiện ở trạng thái tĩnh là hình tượng được khắc hay chạm trổ lên các vật, các di chỉ,