1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người phụ nữ việt trong văn hóa miền tây nam bộ (qua tư liệu ca dao)

223 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt ca dao trong tương quan với văn hóa NB nói chung, luận án muốn tìm hiểu nét tâm lý, tính cách của người phụ nữ TNB - chủ thể sáng tạo và cũng đồng thời là nhân vật trữ tình của ca da

Trang 1

PHAN THỊ KIM ANH

NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT TRONG VĂN HOÁ MIỀN TÂY NAM BỘ

(Qua tư liệu ca dao)

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62.31.70.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TSKH Bùi Mạnh Nhị

PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:

1 PGS TS Đỗ Ngọc Anh

2 TS Đinh Văn Hạnh PHẢN BIỆN:

1 PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp

2 PGS.TS Trần Văn Ánh

3 TS Trần Long

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2019

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận án Người phụ nữ Việt trong văn hoá

miền Tây Nam Bộ (qua tư liệu ca dao) là công trình nghiên cứu

của riêng tôi, không có sự trùng lắp, sao chép bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác giả khác

Tác giả luận án

Phan Thị Kim Anh

Trang 3

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

5 Phương pháp nghiên cứu 17

6 Đóng góp mới của luận án 17

7 Bố cục của luận án 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19

1.1 Quan hệ văn hóa - văn học và hướng nghiên cứu văn hóa - văn học 19

1.1.1 Quan hệ văn hóa - văn học 19

1.1.2 Hướng nghiên cứu văn hóa - văn học 20

1.2 Văn hóa vùng và vùng văn hóa miền Tây Nam Bộ 22

1.2.1 Văn hóa vùng và vùng văn hóa 22

1.2.2 Miền Tây Nam Bộ như một vùng văn hóa 23

1.3 Tiếp cận vấn đề giới và văn hóa giới 26

1.3.1 Khái niệm giới và văn hóa giới 27

1.3.2 Sự tiếp biến luân thường Nho giáo truyền thống với văn hóa giới 32

1.4 Khái quát về ca dao Tây Nam Bộ 40

1.4.1 Nhận diện ca dao Tây Nam Bộ 41

1.4.2 Về hình ảnh phụ nữ trong ca dao Tây Nam Bộ 44

Tiểu kết chương 1 47

CHƯƠNG 2: NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 49

2.1 Mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên 49

2.2 Người phụ nữ Việt TNB nhận thức về môi trường tự nhiên 51

2.2.1 Nhận thức về môi trường sống và sự hào phóng của thiên nhiên 51

2.2.2 Nhận thức về đặc trưng của vùng đất mới 54

2.3 Người phụ nữ Việt TNB trong ứng xử với môi trường tự nhiên 59

2.3.1 Ứng xử trong mưu sinh 60

Trang 4

2.3.2 Ứng xử trong ẩm thực 62

2.3.3 Ứng xử trong trang phục 69

2.3.4 Ứng xử trong cư trú 76

2.3.5 Ứng xử trong giao thông 81

Tiểu kết chương 2 84

CHƯƠNG 3: NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA TÂM LINH 85

3.1 Người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ trong quan hệ tình yêu, hôn nhân và gia đình - thân tộc 85

3.1.1 Trong quan hệ tình yêu, hôn nhân 86

3.1.1.1 Quan hệ tình yêu lứa đôi 86

3.1.1.2 Hôn nhân, gia đình 92

3.1.2 Trong quan hệ thân tộc 108

3.2 Người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ trong quan hệ với làng - nước 117

3.3 Người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ trong ứng xử văn hóa tâm linh 130

3.3.1 Người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ với Phật giáo 130

3.3.2 Người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ trong mối quan hệ với tín ngưỡng 137

3.3.2.1 Thờ cúng tổ tiên 137

3.3.2.2 Thờ mẫu thần, nữ thần 141

Tiểu kết chương 3 150

CHƯƠNG 4: NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA 151

4.1 Cơ sở xác định tính cách người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ 151

4.2 Đặc trưng tính cách của người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ trong ca dao 154

4.2.1 Tính bao dung 154

4.2.1.1 Nhận diện tính bao dung của người Tây Nam Bộ 154

4.2.1.2 Tính bao dung thể hiện trong đời sống 155

4.2.1.3 Tính bao dung thể hiện trong tình yêu 156

4.2.2 Tính bộc trực, thẳng thắn và trọng nghĩa tình 157

4.2.2.1 Nhận diện tính bộc trực, thẳng thắn, trọng nghĩa của người Tây Nam Bộ 157

4.2.2.2 Tính thẳng thắn, bộc trực và trọng nghĩa thể hiện trong đời sống 164

Trang 5

4.2.2.3 Tính thẳng thắn, bộc trực và trọng nghĩa thể hiện trong tình yêu 168

4.2.3 Tính cởi mở, phóng khoáng 178

4.2.3.1 Nhận diện tính cởi mở, phóng khoáng của người Tây Nam Bộ 178

4.2.3.2 Tính cởi mở, phóng khoáng thể hiện trong đời sống 179

4.2.3.3 Tính cởi mở, phóng khoáng thể hiện trong tình yêu của người phụ nữ Tây Nam Bộ 180

4.2.4 Tính thiết thực 185

4.2.4.1 Nhận diện tính thiết thực của người Tây Nam Bộ 185

4.2.4.2 Tính thiết thực thể hiện trong đời sống 185

4.2.4.3 Tính thiết thực trong tình yêu của phụ nữ Tây Nam Bộ qua ca dao 187

Tiểu kết chương 4 193

KẾT LUẬN 194

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Thứ tự Chữ đầy đủ Chữ viết tắt Ghi chú

Trang 7

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu về văn hoá không thể không nghiên cứu văn hóa dân gian -

“văn hóa mẹ” của mọi nền văn hóa Tư liệu, đối tượng nghiên cứu càng cổ xưa thì càng thấy rõ hơn cội nguồn, nhất là khi tìm về những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống Văn hóa dân gian là một trong những bộ phận sống động và quan trọng nhất của một nền văn hóa Và trong các thành tố của văn hóa dân gian, văn học dân gian lại là một thành tố thiết yếu để cấu tạo văn hóa vì nó là một phức hợp giá trị văn hoá, văn học, lịch sử, ngôn ngữ, tôn giáo, đạo đức, của mỗi tộc người Đối với mảnh đất phương Nam, từ những buổi đầu khai phá mở cõi, văn học dân gian gắn liền với đời sống của quần chúng nhân dân Nam Bộ (NB), có vai trò quan trọng đặc biệt, vừa là kết quả vừa góp phần kiến tạo nền văn hóa nơi đây Vì vậy, trong rất nhiều lối vào để tìm hiểu đặc trưng văn hoá của một tộc người hay một vùng văn hoá, ở đây là văn hóa NB, miền Tây Nam Bộ (TNB), lựa chọn ngữ văn dân gian, cụ thể là thể loại ca dao là một hướng đi khả dĩ

1.2 Ca dao được xem là “thơ của mọi nhà” (Xuân Diệu), là tiếng lòng, là nơi

gửi gắm những vui buồn, yêu ghét, giận thương của con người Ca dao người Việt ở miền TNB cũng không phải là ngoại lệ Đặt ca dao trong tương quan với văn hóa

NB nói chung, luận án muốn tìm hiểu nét tâm lý, tính cách của người phụ nữ TNB - chủ thể sáng tạo và cũng đồng thời là nhân vật trữ tình của ca dao - như một sự kết nối vừa thể hiện ở tầng chìm vừa bộc lộ trên bề mặt ngôn từ, được ẩn giấu, thể hiện qua các biểu tượng, hình ảnh và ngôn ngữ Từ đó có thể khái quát được những đặc điểm sống động và phong phú của người phụ nữ và về người phụ nữ Việt trong không gian văn hoá miền TNB

1.3 Quan hệ giới là một vấn đề lớn, căn bản, có thực của tồn tại xã hội Tùy

theo từng thời kỳ lịch sử, từng quốc gia, tộc người, từng vùng văn hóa mà quan hệ giới, cụ thể là vai trò trong xã hội, trong gia đình, vai trò “kiến tạo văn hóa”, “kiến tạo văn minh” của từng giới với những định khuôn, định kiến ràng buộc và sự

Trang 8

phóng khoáng, cởi mở sẽ được thể hiện dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau Vùng đất NB có nhiều tộc người cùng sinh sống như người Việt, Hoa, Khmer,… Giữa họ đã có sự giao lưu văn hóa với nhau suốt chiều dài lịch sử NB và sau này cùng giao lưu với phương Tây Người Việt ở NB có nguồn gốc từ miền Bắc, miền Trung di cư vào vùng đất mới này để khai phá nên văn hóa ở đây vừa mang những dấu ấn đặc trưng truyền thống hàng ngàn năm của văn hóa Việt, vừa có những nét riêng do điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử - xã hội quy định

1.4 Ở miền TNB, do nhiều nguyên nhân, biểu hiện về giới, bên cạnh cái

chung, có những đặc thù TNB ít chịu ảnh hưởng Nho giáo hơn so với miền Bắc và miền Trung, lại có những điểm riêng khi trải qua hai cuộc tiếp biến với văn hóa phương Tây, nên văn hóa giới ở người nữ nơi đây cũng có những nét riêng Việc đặt người phụ nữ Việt miền TNB trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, trong mối quan hệ với gia đình và xã hội là vấn đề cần thiết để làm rõ những nét riêng của họ, những nét riêng về văn hóa giới trong một không gian văn hóa cụ thể

Cho đến nay, việc tìm hiểu một cách toàn diện, cặn kẽ về hình ảnh người phụ

nữ Việt ở miền Tây Nam Bộ (qua tư liệu ca dao), từ góc nhìn văn hóa để nhận diện những nét đặc trưng trong tính cách người TNB và qua đó hiểu một cách sâu hơn bản sắc con người và vùng đất NB vẫn còn bỏ ngỏ

Từ những lý do đó, chúng tôi chọn “Người phụ nữ Việt trong văn hoá miền Tây Nam Bộ (qua tư liệu ca dao)” làm đề tài luận án

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Các công trình nghiên cứu về giới trong mối quan hệ với văn hóa

Các công trình nghiên cứu về giới có khá nhiều Xin chỉ điểm qua một số công trình tiêu biểu Đầu tiên, cần kể đến công trình Tâm lý học xuyên văn hóa của Knud S Larsen & Lê Văn Hảo (2015) Trong công trình này, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa quan trọng của văn hóa trong việc kiến tạo, quy định những định khuôn, giá trị về văn hóa giới: “Quan niệm chung về giới xuất phát từ những khác biệt sinh học giữa nam và nữ Dù các khác biệt về sinh học là quan trọng

Trang 9

nhưng những định khuôn và giá trị mà chúng ta gán cho nam hay nữ phần lớn được quy định bởi văn hóa” (Knud S Larsen & Lê Văn Hảo, 2015, tr.367)

Báo cáo “Di sản văn hóa phi vật thể và giới” của UNESCO cũng là tài liệu quan trọng, liên quan đến đề tài của chúng tôi Trong báo cáo, UNESCO đã nhận định: “Nhìn chung, con người tiếp thu và học hỏi về vai trò giới ngay từ thuở ấu thơ Tuy nhiên các vai trò đó không bất di bất dịch, Di sản văn hóa phi vật thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra, phổ biến cũng như chuyển đổi các giá trị

và chuẩn mực liên quan đến giới” (Ủy ban Unesco Việt Nam, Di sản phi vật thể và giới) Theo UNESCO, việc tiếp cận và tham gia vào những biểu đạt di sản văn hóa phi vật thể cụ thể cũng đều do giới quyết định Ví dụ, nghề thủ công truyền thống thường dựa vào sự phân công lao động cụ thể theo vai trò giới và vai trò bổ sung Trong khi đó, các tập quán xã hội, lễ hội và nghệ thuật trình diễn lại có thể là dịp để giải quyết các vấn đề và những định kiến xã hội của cộng đồng có liên quan, bao gồm cả những vấn đề về vai trò và/hoặc bất bình đẳng giới Chẳng hạn, trong thực hành và trình diễn ở lễ hội carnival, người ta thường chuyển đổi và thậm chí vượt ra khỏi vai trò giới Bằng cách này, các cộng đồng tạo nên những không gian để nâng cao nhận thức về vai trò giới, tạo điều kiện cho phản hồi và đôi khi thách thức các chuẩn mực về giới Những chuẩn mực giới cũng tạo ảnh hưởng lên việc chuyển giao di sản văn hóa phi vật thể, thì di sản văn hóa phi vật thể cũng gây ảnh hưởng trở lại các chuẩn mực giới Do đó, tồn tại mối quan hệ tương hỗ giữa các chuẩn mực

về giới và di sản văn hóa phi vật thể

Vấn đề giới tính gần đây được các nhà ngôn ngữ học xã hội đề cập khá nhiều Trong công trình Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản (1999), Nguyễn Văn Khang cho rằng: các nhà nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ của mỗi giới đều tập trung vào khảo sát phong cách ngôn ngữ nữ tính và gọi là “phong cách

nữ tính” hay ngôn ngữ nữ tính Khảo sát sự khác biệt về giới tính trong ngôn ngữ không thể tách rời ngữ cảnh giao tiếp Trong quan hệ giao tiếp - theo nghĩa rộng là hoàn cảnh xã hội, theo nghĩa hẹp, là văn cảnh cụ thể các nhân tố như nghề nghiệp, trình độ văn hoá, tuổi tác, tính cách, mục đích của người sử dụng ngôn ngữ đều có thể ảnh hưởng đến phong cách người nói (Nguyễn Văn Khang, 1999)

Trang 10

Bài báo “Đặc điểm văn hóa - giới tính thông qua tục ngữ Việt” (2017) của Đỗ Thị Kim Liên đã khảo sát, khái quát khá công phu về văn hóa giới tính biểu hiện trong một thể loại văn học dân gian cụ thể - tục ngữ Tác giả cho biết:

“Trong số 16.311 phát ngôn tục ngữ trong tập Kho tàng ca dao người Việt, chúng tôi bắt gặp 1124 phát ngôn, chiếm 14,51% Trong đó có 536 phát ngôn nói về nữ giới và 585 phát ngôn nói về nam giới Nội dung của những phát ngôn này cung cấp cho ta những căn cứ xác thực về văn hoá - giới tính của người Việt từ rất sớm cũng như cách nhìn nhận về mối quan hệ nam nữ khác nhau trong xã hội” (Đỗ Thị Kim Liên, 2017)

Ở bài báo này, văn hóa - giới tính trong tục ngữ Việt được phân tích, lý giải trong những biểu hiện cách nhìn về hình thức, về thiên chức, trách nhiệm, quan niệm về nghề nghiệp, về trách nhiệm của nam và nữ gắn với phong tục, tập quán Theo Trần Xuân Điệp, trong tiếng Việt có hiện tượng sử dụng ngôn ngữ thể hiện thái độ kỳ thị giới tính, thể hiện:

a) Tập quán dán nhãn cho những phụ nữ đã có chồng hoặc còn độc thân là phục vụ những mục đích kỳ thị giới tính Ví dụ, hiện tượng dùng bà với nghĩa

là “vợ của ”, như trong cách nói: bà Duy nghĩa là vợ của ông Duy; b) Trong nhiều ngôn ngữ, sự kỳ thị giới tính được thể hiện bằng một tập quán rất phổ biến là sử dụng thiếu cân xứng những chức danh (danh hiệu chỉ nghề nghiệp chức vụ)…” (Dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên, 2017)

Hướng nghiên cứu về giới trong văn học Việt Nam cũng được quan tâm từ nhiều năm qua Hội thảo về giới trong văn học và ngôn ngữ của Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội được tổ chức vào ngày 04/05/2009 thực sự có tính khai màn cho chuỗi các hình thức sinh hoạt học thuật liên quan về „Giới‟ trong văn học về sau Có thể kể đến một vài công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này như: Đặt vấn đề “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại”, bài viết của Nguyễn Đăng Điệp đã viện dẫn hai bài ca dao khá đắt và cho rằng:

Trang 11

“Trong dân gian người Việt, đàn ông bao giờ cũng giữ tư cách kẻ chinh phục (khi ý nhị thì: Bây giờ mận mới hỏi đào - Vườn hồng đã có lối vào hay chưa?… khi táo tợn thì: Gặp đây anh nắm cổ tay - Anh hỏi câu này có lấy anh không?) Thậm chí, thế chủ động được nói đến một cách công nhiên, không kiêng kị mà còn “hiên ngang”: Sáng trăng vằng vặc,… Trong bài thơ này, sinh thực khí của đàn ông chẳng khác gì cây cung, còn hình ảnh vịt trời (đối tượng

bị bắn, đại diện cho nữ) Hơn nữa, bộ dạng “vác” vừa nói được uy thế vừa nói

tư thế của anh chàng Một bộ dạng thật nghênh ngang trong thế giới “của mình…” (Nguyễn Đăng Điệp, 2006)

Tất nhiên, đây chỉ là một chiều kích trong cách nhìn nhận của tác giả về vấn

đề phái tính qua hai bài ca dao cụ thể chứ không khái quát được tinh thần chung của

ca dao Việt Nam - vốn được ví là tâm hồn người Việt Tuy vậy, cách đặt vấn đề và viện dẫn của Nguyễn Đăng Điệp là khá thuyết phục

Nhìn nhận vấn đề giới trong văn học sau đổi mới, Đoàn Ánh Dương trong bài

“Trải nghiệm về giới sau đổi mới nhìn từ văn học nữ” đã có những khái quát khá thú vị: “Xuất phát từ các trải nghiệm giới và tính dục, đời sống đương đại trong tác phẩm của họ thể hiện những cảm nhận khác lạ, khó tìm thấy trong văn học của nam giới và trong nền văn học bị nam tính chi phối trước đó” (Đoàn Ánh Dương, 2017) Khá lạc quan với sự phát triển của văn học nữ nhìn từ các vấn đề giới, song trong thực tế văn học đương đại, Đoàn Ánh Dương thừa nhận rằng: “Dù với nhiều nỗ lực, văn học nữ Việt Nam đương đại mới thường chỉ đi tìm một sự hài hòa trong sự vây bọc ấy nhiều hơn là đi đến ý hướng lật đổ “sự thống trị của đàn ông” (Đoàn Ánh Dương, 2017)

Nghiên cứu về “Diễn ngôn tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam (từ đầu thế kỷ XX đến 1945)”, Trần Văn Toàn đã có một khảo sát công phu về các vấn đề như: (1) Chủ thể của diễn ngôn tính dục trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ đến 1945; (2) Sự quyến rũ nhục dục - từ diễn ngôn đạo đức sang diễn ngôn khoa học về tính dục; (3) Từ diễn ngôn về cái tôi cá nhân đến thiên tính tự nhiên trong tính dục; (4) Diễn ngôn giai cấp về tính dục Tác giả cũng đặt ra một vấn đề khác là phái tính

và đã bước đầu đề cập đến vấn đề phái tính (gender) và nữ quyền luận (feminism) trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (Trần Văn Toàn, 2015)

Trang 12

Dù gọi bằng những tên khác nhau, hướng tiếp cận có thể từ nhiều góc độ: phái tính, nữ quyền, tính dục, song các tác giả đã ít nhiều đề cập đến vấn đề giới và ứng xử về giới trong tác phẩm văn học Nếu tác phẩm là lăng kính phản chiếu thực tại cuộc sống thì từ những sáng tác và nghiên cứu này đã cho thấy tính thời sự, mối quan tâm của xã hội về vấn đề giới cũng như văn hóa giới trong xã hội hiện nay Tóm lại, những công trình nghiên cứu về giới có khá nhiều Những công trình này đều có điểm chung là nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu giới, mối quan

hệ giữa văn hóa và vấn đề giới, biểu hiện chung và riêng của mối quan hệ này trong những lĩnh vực cụ thể khác nhau Đó là những gợi ý rất quan trọng cho luận án của chúng tôi

2.2 Các công trình nghiên cứu về Nam Bộ nói chung và về vùng đất, văn hóa miền Tây Nam Bộ

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vùng đất NB nói chung và vùng đất,

văn hóa TNB nói riêng Trần Ngọc Thêm, trong công trình Khu vực NB và tình hình nghiên cứu khoa học Xã hội và Nhân văn NB (Trần Ngọc Thêm, 2007) đã cung cấp

bức tranh tổng thể về điều đó Xin bổ sung và nhấn mạnh một số công trình sau đây:

Kỷ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc Mấy đặc điểm văn hoá đồng bằng sông Cửu Long (1984), do Lê Anh Trà chủ biên là kỷ yếu hội thảo khoa học đầu tiên về

văn hoá đồng bằng sông Cửu Long được tổ chức tại Cần Thơ vào tháng 3 năm

1983 Các bài báo trong Kỷ yếu đã đề cập tới nhiều vấn đề của văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, như tính cách con người vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngôn ngữ, tôn giáo và nghệ thuật truyền thống đồng bằng sông Cửu Long Nguồn tư liệu của các tham luận là tư liệu điền dã dân tộc học kết hợp tư liệu thành văn (Lê Anh Trà, 1984, tr.9)

Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm & Mạc Đường trong Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long (1990) đã cung cấp cho bạn đọc một bức tranh về nhiều

mặt của văn hóa đồng bằng sông Cửu Long: nghề nông, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần Các tác giả khẳng định đồng bằng sông Cửu Long “là một miền văn hoá - dân cư lâu đời, đa dạng và thật sống động Nơi đây có nhiều truyền thống của văn hoá xưa cũ khác nhau, tiếp tục được nuôi dưỡng, được cách tân trong cuộc sống

Trang 13

mới hiện đại, và có những lớp người thuần chủng, hỗn chủng tại chỗ hòa nhập vào nhau,…” (Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm & Mạc Đường, 1990, tr.20)

Công trình Những vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long (1991) có sự

kết hợp tư liệu thành văn và tư liệu điền dã dân tộc học, nghiên cứu văn hoá NB dưới góc độ văn hoá của các cộng đồng tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khmer, phân tích sâu các khía cạnh làm nên bản chất văn hóa tộc người từ đặc điểm cư trú, quá trình tộc người, đời sống văn hóa vật chất (nhà ở, trang phục, ăn uống, kế sinh nhai), tinh thần (văn hoá nghệ thuật, tín ngưỡng - tôn giáo) (Phan Thị Yến Tuyết,

1993, tr.42)

Công trình nghiên cứu Văn hoá dân gian người Việt NB (1992) của Thạch

Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa & Nguyễn Quang Vinh đã kế thừa những công trình sưu tập và biên khảo về văn hoá, lịch sử, triết lý, phong tục, ngôn ngữ, nghệ thuật, thú vui chơi , tiếp tục đề cập đến tất cả các vấn đề văn hoá của NB từ văn hoá vật chất đến văn hóa tinh thần Thạch Phương và các tác giả khác đã bao quát một số khía cạnh trong sinh hoạt của người Việt ở NB như: thói quen ăn uống, cách ăn mặc, nhà ở, phương tiện đi lại, các nghề thủ công truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian, phong tục tập quán trong các nghi lễ vòng đời người (sinh đẻ, cưới xin, tang ma), các dạng sinh hoạt diễn xướng dân gian (hò, lý, nói, hát), diễn xướng sân khấu dân gian Công trình này rất giàu tính tư liệu, nhưng thế mạnh vẫn nghiêng

về việc mô tả đời sống văn hoá của cư dân sông nước TNB (Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa & Nguyễn Quang Vinh, 1992, tr.46)

Kế thừa kết quả nghiên cứu của những tác phẩm trước, Nguyễn Phương Thảo (1997) đã khái quát những nét riêng của làng Việt NB, chẳng hạn, là làng mới, kéo dài trên diện rộng, thiếu chất kết dính chặt NB cũng là nơi xuất hiện những tôn giáo bản địa như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo Tác giả lập luận rằng văn hóa dân gian NB phản ánh môi trường tự nhiên với

sự phong phú của hệ thống sông ngòi, kênh rạch, tài nguyên động vật, thực vật vừa giàu có vừa phong phú, khí hậu thuận lợi Sinh hoạt văn hoá tinh thần có thể loại hò sông nước, truyện cổ hướng đến thiên nhiên nhiều hơn xã hội, truyện cổ tích giải thích các địa danh (tr.24)

Trang 14

Bài “Người Việt ở NB từ góc nhìn tôn giáo” của tác giả Thanh Minh đã đề cập đến nhiều vấn đề về tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt trên vùng đất mới Một khái niệm được tác giả trích dẫn, phản ánh nét đặc trưng trong đời sống tín ngưỡng người Việt buổi đầu ở NB rất đáng chú ý là “tôn giáo xách tay” Tác giả khẳng định: “Từ góc độ tín ngưỡng tôn giáo, có thể hiểu thêm nhiều chuyện về người Việt

NB, là những minh họa và dẫn chứng cho con người NB, tính cách NB” (Thanh Minh, 2018)

Bài viết đã gợi cho chúng tôi nhiều ý trong việc tiếp cận ca dao người Việt ở

NB, đặc biệt là ca dao viết về người phụ nữ để củng cố thêm những nhận định về tính cách của người phụ nữ được phản ánh qua thể thơ dân gian này

Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng có nhiều công trình về văn hóa NB, đặc biệt là ông gắn bó với mảnh đất Đồng Nai Công trình Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần (2013) của Huỳnh Ngọc Trảng & Nguyễn Đại Phúc được xem hành trình truy nguyên cội nguồn của tín ngưỡng Trong công trình này, hai tác giả đã chỉ ra cho người đọc những lễ nghi của người Việt và cuộc du hành của những nghi lễ, tín ngưỡng này từ Bắc chí Nam Không chỉ truy nguyên nguồn cội của tín ngưỡng, hai tác giả còn đặt ra vấn đề tiếp biến văn hóa như trường hợp của thờ Ông Công, Ông Táo từ Trung Hoa sang Việt Nam

Nhằm góp một tiếng nói vào việc nhận diện hệ giá trị văn hóa của người Việt

ở NB, tác giả Phan An đã có một nghiên cứu cụ thể rất đáng quan tâm Bài viết

“Tìm hiểu giá trị văn hóa của người Việt ở NB: trường hợp người con gái Út” (2015) đã đề cập đến vấn đề vai trò và vị trí của người con Út trong gia đình ở NB Tác giả đã có những so sánh thú vị giữa vị thế người con Út ở miền Bắc và miền Nam, qua đó chỉ ra sự khác biệt cũng như quá trình hình thành nên những nét văn hóa riêng này Tác giả cho rằng, đến vùng đất NB, người Việt mang theo văn hóa từ miền Bắc, và miền Trung, thêm vào đó có sự chung sống, giao lưu văn hóa của nhiều tộc người như: Khmer, Hoa, Chăm…trên vùng đất mới Theo tác giả, hệ quả của những ảnh hưởng nêu trên tác động đến việc xác lập vai trò người phụ nữ:

“…Sự hiếu kính với cha mẹ của người phụ nữ NB luôn được đề cao hàng đầu Nếu đối với người con gái xứ Bắc, cái ý thức “xuất giá tòng phu” là trước hết: “Vai mang khăn gói sang sông/ Mẹ kêu mặc mẹ, có chồng phải theo”, thì người con gái

Trang 15

NB: “Mất cha, mất mẹ thì khó kiếm/ Đạo vợ chồng chẳng hiếm chi nơi” (Phan An, 2015) Từ những phân tích kiến giải như vậy, tác giả đã đi đến sự khái quát như sau:

“…vai trò vị trí của cô gái út của người Việt ở NB có khác biệt ít nhiều so với các vùng miền phía Bắc Đó là cô được kế thừa một phần tài sản của cha mẹ với sự ưu tiên nhiều hơn, và cô cũng được quyền thờ phụng, cúng giỗ cha mẹ, ông bà.” (Phan

Những bài viết của tác giả Phan An có thể từ một trường hợp cụ thể hay những nhận định khái quát song đã chạm đến rất nhiều vấn đề có tính cốt lõi của văn hóa người Việt ở NB; góp phần quan trọng vào việc nhận diện đặc trưng văn hóa người Việt ở NB Đây là những gợi ý mang tính định hướng rất hữu ích cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu tính cách và văn hóa ứng xử của người phụ nữ TNB

Bài viết “Mấy đặc điểm về giá trị văn hóa tinh thần của người Việt TNB qua nghiên cứu tín ngưỡng Thờ Mẫu” (2016) của tác giả Huỳnh Thiệu Phong đã chỉ ra rằng: “tín ngưỡng thờ Mẫu vùng TNB là điểm tựa tinh thần cho cộng đồng người Việt trong ngày đầu khẩn hoang vùng đất mới Yếu tố tâm linh là một lĩnh vực cho đến hiện nay vẫn còn đang là một thách thức đối với các nhà khoa học trên thế giới” (Huỳnh Thiệu Phong, 2016)

Trong rất nhiều nghiên cứu về vùng đất và con người NB nói chung, chúng tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh về công trình Văn hóa người Việt vùng TNB của Trần Ngọc Thêm & nhiều tác giả khác (2013) Công trình này đã cung cấp cơ sở lý luận

và thực tiễn của việc nghiên cứu văn hóa người Việt vùng TNB, văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi

Trang 16

trường xã hội, các đặc trưng tính cách văn hóa của người Việt, trong đó, tất nhiên có đặc trưng tính cách người phụ nữ vùng TNB

2.3 Các công trình nghiên cứu về ca dao Nam Bộ

Ở phương diện này, có thể nói, tập ca dao - Dân ca NB (1984) của Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh & Bùi Mạnh Nhị là tập sưu tầm, giới thiệu tương đối quy mô đầu tiên về ca dao - dân ca NB Trong công trình này, ngoài phần công bố các tư liệu sưu tầm được từ điền dã và trong sách báo, các tác giả đã giới thiệu khái quát bức tranh lịch sử khẩn đất, giữ đất NB, những đặc điểm chung và riêng về nội dung và nghệ thuật của ca dao - dân ca NB so với các vùng miền khác

Trong công trình Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt (2002), Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã khảo sát biểu tượng ca dao từ cả hai bình

diện dân tộc và địa phương Công trình đã tập hợp ca dao ở cả ba miền đất nước, có tính cách đại diện chung để tìm hiểu biểu tượng ở tính dân tộc Tác giả đã xác định

286 biểu tượng tiêu biểu của ca dao người Việt Đáng chú ý là trong phạm vi khảo sát, tác giả tiến hành phân tích các phạm trù biểu tượng thiên nhiên, con người cũng như đặc điểm môi trường sinh trưởng của các loài thực vật, động vật,… trong đó có thiên nhiên, sông nước NB Nguyễn Thị Ngọc Điệp nhận xét:

“Các biểu tượng cây, kiểng, hoa, trái thực sự đã làm nên một khuôn mặt rất riêng cho ca dao với số lượng phạm trù phong phú Dân gian đã phát hiện nhiều nét tương đồng tinh tế giữa thế giới cỏ cây và thế giới con người nhờ vào sự quan sát trực tiếp và thường xuyên trong đời sống hàng ngày” (Nguyễn Thị Ngọc Điệp, 2002, tr.123)

Đây là những gợi ý cho chúng tôi trong việc nhận diện các sắc thái riêng biệt của tính cách người phụ nữ TNB qua ca dao

Chuyên luận Biểu trưng trong Ca dao Nam Bộ (2010) của Trần Văn Nam đã

khái quát về các đặc điểm văn hóa NB, trong đó có đặc điểm đặc thù về tư duy và tính cách của người Việt vùng NB thể hiện qua các biểu trưng Dù phạm vi của công trình này chưa hướng đến trọng tâm là hình ảnh người phụ nữ, song cách tiếp cận của tác giả Trần Văn Nam sẽ gợi ý cho luận án của chúng tôi nhiều vấn đề về

Trang 17

văn hóa, địa văn hóa trong việc hình thành tính cách người NB nói chung và người phụ nữ TNB nói riêng

Cũng không phải là một công trình chuyên biệt về ca dao NB, song, từ góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa, tác giả Hoàng Thị Kim Ngọc đã khảo sát các kiểu so sánh

và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của người Việt qua công trình So sánh và ẩn dụ trong

ca dao trữ tình của người Việt (2004) Trong chương 4, tác giả đã đề cập đến trầm tích văn hóa qua so sánh, ẩn dụ trong ca dao trữ tình người Việt bằng những phân tích hết sức thú vị về vấn đề mối quan hệ văn hóa, môi trường qua ca dao Đây sẽ là những gợi ý cho chúng tôi khi khai thác các bài ca dao dưới góc nhìn văn học - văn hóa

Trần Thị Kim Liên nghiên cứu về Tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người Việt ở 3 miền Bắc - Trung - Nam (2005) đã cho rằng, bên cạnh sắc thái riêng từng vùng miền qua các thắng cảnh, sản vật, ngôn ngữ,… địa phương, thì nhìn chung vẫn có sự thống nhất Tác giả viết: “ca dao ba miền có sự thống nhất cao độ bởi một nét tâm lý mang tính phổ biến là người dân nơi đâu cũng luôn tự hào, yêu mến và gắn bó với mảnh đất quê hương mình” (Trần Thị Kim Liên, 2005, tr.52) Đây cũng là những vấn đề mà luận án của chúng tôi quan tâm đề cập trong quá trình tìm hiểu hình ảnh người phụ nữ Việt trong ca dao TNB cũng như các hình ảnh biểu trưng cho người phụ nữ TNB

Năm 2015, Trần Đức Hùng bảo vệ thành công luận án Nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa từ ngữ địa phương NB (trong thơ ca dân gian NB) (Đại học

Vinh) Tác giả luận án đã khảo sát đặc trưng từ địa phương NB từ góc độ biến thể ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa; đặc trưng ngôn ngữ văn hóa của từ địa phương NB từ phương diện định danh; và đặc trưng ngôn ngữ văn hóa của từ địa phương NB từ phương diện nghệ thuật sáng tạo thơ ca dân gian Tác giả kết luận:

“Thơ ca dân gian NB là tài sản tinh thần vô giá của người dân NB Mỗi một bài ca đều in đậm dấu ấn địa phương, nét đặc trưng đó được thể hiện ở nhiều phương diện, trong đó có vai trò của từ ngữ địa phương Từ ngữ địa phương trong thơ ca dân gian NB không chỉ phản ánh các đặc điểm của phương ngữ

mà còn thể hiện bản sắc văn hóa địa phương NB qua việc lưu giữ những hình

Trang 18

ảnh thiên nhiên, sản vật, văn hóa vật chất, tinh thần và những phong tục tập quán gắn bó lâu đời của người dân nơi đây” (Trần Đức Hùng, 2015, tr.149) Cũng về hướng nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình, bài viết tiêu biểu như: Ngôn ngữ và thể thơ trong ca dao người Việt ở NB của Nguyễn Thị Phương Châm (2013), “Phương ngữ NB trong ca dao về tình yêu” của Trần Phỏng Diều (2007), “Đặc điểm ngôn ngữ ca dao - dân ca NB của Bùi Mạnh Nhị (1994), “Từ xưng hô trong ca dao trữ tình đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Văn Nở (2000), “Hình tượng sông trong ca dao dân ca trữ tình NB” của Trần Thị Diễm Thúy (2009), “Tiếng Việt gốc Khơ Me trong ngôn ngữ bình dân ở miền TNB - nhìn

từ góc độ ca dao” của Trần Minh Thương (2011), “Đặc trưng ngôn ngữ trong ca dao tình yêu của người Việt vùng sông nước Cửu Long”, trong công trình Ngôn ngữ miền sông nước, của Đậu Thị Ánh Tuyết (2014), Tác giả Bùi Mạnh Nhị (1984) được xem là một trong những người đầu tiên đề cập đến đặc điểm từ ngữ của NB qua ca dao

Có một số công trình nghiên cứu ít nhiều đề cập ca dao trong mối quan hệ tìm hiểu đặc điểm, sắc thái đời sống văn hóa và con người NB nói chung, miền TNB nói riêng, như: Tính cách người NB qua ca dao của Trần Phỏng Diều (http://www.chungta.com); ca dao, tục ngữ người Việt miền TNB dưới góc nhìn văn hóa học (2009) của Nguyễn Tuấn Anh; Văn hoá ứng xử với môi trường sông nước của người Việt miền TNB (2006) của Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền, v.v

2.4 Các công trình nghiên cứu về người phụ nữ Nam Bộ

Theo tư liệu chúng tôi có được, đến nay, nghiên cứu về người phụ nữ TNB chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào Tuy nhiên, hình ảnh người phụ

nữ NB nói chung thì được đề cập rải rác khá nhiều trong các công trình nghiên cứu

Có thể kể đến một số công trình sau:

Tác giả Lưu Công Minh có công trình: “Người nữ trong văn hóa người Việt NB” Trong nghiên cứu này, tác giả đã nêu bật vai trò, vị thế, hình ảnh và tính cách của người phụ nữ NB từ xưa đến nay, trong tất cả các lĩnh vực của văn hóa Cái đẹp bên ngoài, cái đẹp trong tâm hồn được thể hiện qua ca dao, tục ngữ, thơ văn, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, sân khấu,… giúp nhận ra nét đẹp tâm hồn của người phụ

Trang 19

nữ NB như: yêu nước, nghĩa tình, chịu thương, chịu khó, dịu dàng, trung hậu, đảm đang,… Qua đó, nhằm tìm hiểu sâu hơn về con người và văn hóa NB (Lưu Công Minh, 2011)

Ngoài ra, có thể kể đến những công trình mà trong đó ít nhiều đề cập đến người phụ nữ TNB như: Trong công trình Tìm hiểu dân ca NB (1983), Lư Nhất Vũ

& Lê Giang đã cho thấy hình ảnh người phụ nữ luôn luôn hiện hữu trong các bài dân ca miền Nam, đó là những con người vừa chân chất, thủy chung nhưng cũng rất táo bạo, phóng khoáng, ; Tác giả Bảo Định Giang & nhiều tác giả khác (1984) với

“ca dao, dân ca NB”, trong đó hình ảnh và tâm hồn người phụ nữ được thể hiện rất nhiều qua các câu ca dao, dân ca; Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng (1992) có cuốn Địa nàng: Văn hóa dân gian cổ truyền chặp bóng tuồng hài NB nói đến một loại hình nghệ thuật dân gian, liên quan mật thiết đến tín ngưỡng, tâm linh của người phụ nữ Tác giả Phan Thị Yến Tuyết (1993) với công trình nghiên cứu “Nhà ở, trang phục,

ăn uống của các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long” nghiên cứu văn hóa vật chất của các dân tộc trong đó có người phụ nữ TNB sinh sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long như dân tộc Việt, Hoa, Khmer, Chăm, ; Tác giả Đức Tiến với công trình Người phụ nữ và bản sắc văn hóa dân tộc” (1999) đề cập đến vai trò của người phụ

nữ trong việc góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc; Nhà nghiên cứu Trần Văn Khê (2000) với “Văn hóa với âm nhạc dân tộc” cho thấy người phụ nữ tham gia rất nhiều hoạt động âm nhạc, điển hình ở NB là đờn ca tài tử và cải lương; Nguyễn Kim Anh (2001) với bài viết “Một số đặc điểm của thơ văn nữ NB trong thế kỷ XX” trong Tạp chí KHXH điểm qua một số nhà văn, nhà thơ nữ xuất sắc trong thế

kỷ XX; Tác giả Huỳnh Quốc Thắng (1999) có Luận án Tiến sĩ Lễ hội dân gian của người Việt ở NB (Khía cạnh giao tiếp văn hoá dân tộc) đã chỉ rõ các lễ hội mà đối tượng thờ cúng là người có công với làng, với nước, trong đó có không ít là hình ảnh được thờ phụng là các Bà, các Cô; Ngô Phương Lan (2005) viết về một mảng

khác trong kho tàng văn hóa nghệ thuật, là nghệ thuật thứ bảy trong cuốn Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam Hình ảnh người phụ nữ NB bao chiến

công oanh liệt, thủy chung, nhân hậu, chịu thương chịu khó được khắc họa rõ nét trong phim ảnh; Tác giả Đinh Bằng Phi (2005) với công trình Nhìn về sân khấu hát bội NB cũng dành một phần mô tả người phụ nữ được trong hát bội như thế nào và các diễn viên nữ thể hiện ra sao; Tác giả Huỳnh Văn Sinh (2005) trong luận văn

Trang 20

“Tính cách văn hóa người Việt” đề cập đến những thành tố văn hóa góp phần hình thành tính cách con người Đồng bằng sông Cửu Long và những định hướng phát huy các thành tố ấy trong sự nghiệp phát triển hiện nay; Năm 2010, Phạm Thị Thanh Bình với luận văn Thạc sĩ Người phụ nữ NB trong thời kỳ chống Mỹ từ góc nhìn văn hóa Trong luận văn này, tác giả đề cập đến phụ nữ thời chống Mỹ trong văn hóa ăn, ở, mặc, đi lại; Văn Ngọc Lan (1994) với bài viết “Vai trò của người phụ

nữ trong gia đình”, in trong cuốn Xây dựng gia đình văn hóa tại TP Hồ Chí Minh cũng đề cập đến vai trò của người phụ nữ trong gia đình như vai trò làm vợ, làm

Bản thân người viết luận án cũng làm đề tài nghiên cứu về “Tình yêu đôi lứa qua ca dao người Việt miền TNB dưới góc nhìn văn hóa học” Nghiên cứu, tìm hiểu

về “Tình yêu lứa đôi qua ca dao của người Việt TNB” là để có cái nhìn tổng thể và

hệ thống về ca dao tình yêu, nhằm tìm ra những nét khu biệt tình yêu lứa đôi của con người ở vùng đất này Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trình bày cho người đọc một cái nhìn khá cặn kẽ về đời sống tình cảm lứa đôi của người Việt TNB trong cái nhìn

hệ thống từ các bình diện văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử

Từ đó có cái nhìn về tình yêu lứa đôi của người phụ nữ ở TNB trong đặc trưng tính

Trang 21

cách văn hóa vùng miền, cùng với những nét riêng trong văn hóa TNB đặt trong mối tương quan với các vùng miền khác của Tổ Quốc Nghiên cứu này góp phần mang đến một cái nhìn tương đối cụ thể, nhằm làm sáng tỏ những nét đặc trưng của người NB thông qua mảng ca dao về tình yêu lứa đôi ở miền TNB

Như vậy, vấn đề người phụ nữ Việt ở TNB đã ít nhiều được đề cập rải rác qua một vài công trình, tuy nhiên chỉ là sự điểm xuyết hoặc khái quát bước đầu trong mối liên hệ của các bài nghiên cứu Những công trình nói trên từ hướng tiếp cận văn học hoặc tiếp cận từ góc độ văn hóa học Tuy nhiên, nhìn chung, chưa có một cái nhìn so sánh văn hóa và ca dao vùng miền cụ thể để từ đó tìm ra những nét đặc trưng trong nhận thức và văn hóa của người phụ nữ Việt ở TNB

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về giới, về vùng đất và văn hóa NB nói chung, miền TNB nói riêng đã có khá nhiều Các tác giả đã chú ý nghiên cứu sự khác biệt giữa nam và nữ dưới góc nhìn văn hóa trong các không gian văn hóa, thời gian văn hóa và ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống và trong các loại hình nghệ thuật, thể loại văn hóa, văn học dân gian khác nhau Các vấn đề, hướng tiếp cận vấn

đề và tư liệu trong các công trình nghiên cứu rất phong phú, đa dạng Đây là những

tư liệu bổ ích, gợi mở cho luận án Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình chuyên sâu và có hệ thống nào về người nữ trong văn hóa người Việt ở TNB dưới góc nhìn văn hóa học và qua tư liệu ca dao của người Việt ở vùng TNB Chính vì vậy, tiếp thu thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, luận án muốn góp một tiếng nói khiêm tốn về vấn đề cần thiết và lý thú này

3 Mục đích nghiên cứu

Từ một góc nhìn về giới thông qua một thể loại văn học dân gian tiêu biểu, nghiên cứu, tìm hiểu về “Người phụ nữ Việt trong văn hoá miền Tây Nam Bộ nhằm tìm ra những nét khu biệt về đặc điểm tính cách; nét văn hóa đặc thù của con người nói chung và người phụ nữ nói riêng ở vùng đất này Từ đây, luận án bổ sung một cái nhìn đặc trưng về người phụ nữ trong văn hóa Tây Nam Bộ đặt trong mối tương quan với các vùng miền khác của Tổ quốc Điều đó rất có ý nghĩa trong việc góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc tộc người, nhất là trong quá trình hội nhập và phát triểncủa vùng đất miền TNB trong bối cảnh hiện nay

Trang 22

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án chọn người phụ nữ Việt trong văn hóa miền Tây Nam Bộ làm đối tượng nghiên cứu Ca dao Nam Bộ là tư liệu để khảo sát hình ảnh của người phụ nữ

Phạm vi tư liệu và không gian nghiên cứu của luận án là ca dao người Việt, được lưu truyền và sưu tầm ở 12 tỉnh và 01 thành phố thuộc bao gồm các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Về tài liệu khảo sát, tác giả sử dụng nguồn tư liệu là

phụ lục được sưu tuyển từ một số bộ sưu tập ca dao, tiêu biểu như: Ca dao dân ca Nam Bộ của Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh & Bùi Mạnh Nhị; Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên chủ biên; Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long của Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Cần Thơ; Ca dao, dân ca Châu Đốc, An Giang của Nguyễn Vạn Niên; Ca dao Đồng Tháp Mười của Đỗ Văn Tân (Chủ biên); Ca dao, hò, vè Vĩnh Long của Sở Văn hóa - Thông tin Vĩnh

Long…(xem thêm phần tài liệu khảo sát) Ngoài ra, Luận án cũng sử dụng môt số bài ca dao từ một số website, đặc biệt là từ trang http://e-cadao.com

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, luận án sử dụng phương pháp cấu trúc - hệ thống

và hướng tiếp cận liên ngành là chủ yếu

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống cho phép nhìn đối tượng nghiên cứu như một chỉnh thể văn hóa, trong đó các yếu tố tồn tại trong một mối liên hệ ràng rịt, chi phối và quy định lẫn nhau

- Hướng tiếp cận liên ngành: Trong hướng tiếp cận liên ngành, luận án xác định phương pháp Văn hoá học làm trọng tâm, kết hợp với phương pháp phân tích

văn bản Văn học, Folklore học, Mỹ học, và Dân tộc học/ Nhân học ; tiếp cận hình

ảnh người phụ nữ Việt ở Tây Nam Bộ từ góc nhìn về giới để xem xét đối tượng nghiên cứu trong mối liên hệ loại hình Cách tiếp cận trên được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài để tiếp cận văn hóa người phụ nữ Việt ở miền TNB trong hệ thống văn hóa Việt Nam nói chung

Ca dao – dân ca nói riêng và văn học dân gian nói chung vốn có đặc trưng loại hình mang tính nguyên hợp Ngoài chức năng phản ánh hiện thực thông qua

Trang 23

hình tượng – vốn là đặc trưng của văn học, ca dao còn có tính lịch sử, tính hiện thực

và hàm chứa nhiều tri thức văn hóa phong tục, tín ngưỡng khác Do vậy, phân tích

và giải mã ca dao về người phụ nữ để đi thấy được tâm thức của họ; cách ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, từ đó nhận diện tính cách đặc trưng là hướng tiếp cận khả dĩ Tuy nhiên, trong quá trình tiếp cận đó, ca dao không phải là đối tượng chính mà người phụ nữ Tây Nam Bộ mới là đối tượng luận án nghiên cứu Nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong trong ca dao nghĩa là chấp nhận sự khúc xạ của quy luật sáng tạo văn học; chấp nhận tính hình tượng và cả những ẩn dụ vốn có của loại hình nghệ thuật ngôn từ Điều này hoàn toàn khác với việc những khảo sát

mô tả về người phụ nữ trong đời sống hiện thực

- Bên cạnh đó luận án sử dụng các phương pháp: thống kê, phân loại để thống kê và phân loại ca dao theo nhóm chủ đề, nhóm nội dung nghiên cứu; phương pháp so sánh để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa người phụ nữ trong văn hóa miền TNB với văn hóa ở các vùng miền khác của đất nước;

Các thao tác diễn dịch và quy nạp để diễn giải và kết luận các hiện tượng, kết hợp với thao tác phân tích và tổng hợp để từ các hiện tượng cụ thể suy ra những nét đặc trưng mang tính quy luật của ca dao về người phụ nữ TNB

Giả thuyết nghiên cứu của luận án: Ca dao NB nói chung và TNB nói riêng

là nơi phản ánh sinh động về hình ảnh NPN Việt ở TNB Thông qua ca dao, đặc trưng về tính cách tâm lí, tình cảm; lối ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường

xã hội, tâm linh của NPN Việt TNB được phản ánh một cách chân thực, điển hình

6 Đóng góp mới của luận án

Về mặt lý luận: luận án góp phần khẳng định thêm tính khả dụng của hướng nghiên cứu văn hoá văn học trong nghiên cứu folklore nói chung và nghiên cứu thơ

ca trữ tình dân gian nói riêng; mối quan hệ giữa văn hoá và văn học được thể hiện qua ca dao Nhìn chung, ca dao người Việt TNB gắn bó chặt chẽ với văn hoá dân tộc, kết tinh của văn hoá người Việt NB Về mặt thực tiễn: luận án góp thêm một tiếng nói vào bức tranh nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam nói chung; Công trình là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu cho sinh viên, học viên sau đại học

Trang 24

Cả hai bình diện nói trên đều được soi chiếu cả ở góc nhìn lịch sử, theo tiến trình lịch sử Tất cả đều hướng tới mục đích làm sáng tỏ cái chung của giới nữ, người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là cái riêng của người phụ nữ Việt ở vùng TNB Luận án là công trình đầu tiên có hệ thống dùng ca dao – sản phẩm sáng tạo của chủ thể, để nghiên cứu về chính chủ thể mà cụ thể là tính cách, đặc trưng văn hóa của người phụ nữ Tây Nam Bộ, góp phần mang đến một cái nhìn tương đối cụ thể, làm sáng tỏ những nét đặc trưng của người Việt NB nói chung

Chương hai: Người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ nhìn từ mối quan hệ với môi trường tự nhiên Lấy cơ sở mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, chương 2 triển khai 2 vấn đề: người phụ nữ Việt ở TNB trong nhận thức và trong ứng xử với môi trường tự nhiên Luận án tập trung làm rõ các vấn đề như: người phụ nữ nhận thức về môi trường, sự hào phóng của tự nhiên, của vùng đất mới; người phụ nữ trong ứng xử mưu sinh, ứng xử trong ẩm thực, trang phục, nơi cư trú

và giao thông;

Chương ba: Người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ nhìn từ mối quan hệ với môi trường xã hội và văn hóa tâm linh Nội dung chương này nói về các mối quan hệ gia đình, thân tộc (mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ và con cái), trong mối quan hệ làng

- nước; các ứng xử trong văn hóa tâm linh của người phụ nữ Việt ở TNB;

Chương bốn: Người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ nhìn từ đặc trưng tính cách văn hóa Chương này, luận án phân tích và nhận diện các tính cách đặc trưng như: Tính bao dung; tính bộc trực thẳng thắn và trọng nghĩa tình; tính cởi mở phóng khoáng; tính thiết thực…

Trang 25

1.1.1 Quan hệ văn hóa - văn học

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa, “văn học” là nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình tượng để thể hiện đời sống và xã hội con người (Hoàng Phê, 2003, tr.1100) Văn học tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung đề tài, tư tưởng tác phẩm được biểu hiện qua ngôn ngữ Nói như Maxim Gorki, “Văn học là nhân học” Còn theo Jean-Paul Sartre, trong cuốn Văn học là gì? (1948), “Về nguyên tắc, nhà văn hướng tới tất cả mọi người”, “Về bản chất, văn học là tính chủ quan của một xã hội luôn luôn vận động” Văn học là cái gì đó rất đỗi gần gũi với con người, giúp phát triển nhân cách con người, giúp người hiểu người hơn Văn học xuất phát

từ con người, và dù nó có bay cao, bay xa, thăng hoa đến đâu, dù nói về thiên nhiên hay thế giới hoang đường, viễn tưởng, nó cũng hướng đến con người (tr.97) Tác giả Đoàn Văn Chúc (1997) cho rằng: văn hóa - vô sở bất tại: văn hóa - không nơi nào không có Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa Nhấn mạnh đến tính tương tác của con người với môi trường, tác giả Trần Ngọc Thêm (1996) khẳng định: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” Như vậy có thể nói rằng, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Hay nói một cách tổng quát, văn hóa là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của con người

Trang 26

Về mối quan hệ văn hóa - văn học, Đỗ Lai Thúy (2006) nhận định, trước đây, quan hệ văn hóa và văn học được coi là quan hệ tương hỗ, đây là thứ quan hệ ngang bằng của hai hình thái ý thức xã hội cùng thuộc thượng tầng kiến trúc, cùng phản ánh một cơ sở hạ tầng Bởi thế, nghiên cứu văn hóa thì văn học được coi như một nguồn tài liệu, còn nghiên cứu văn học thì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng là một kiểu tài liệu Do đó, văn hóa và văn học không chỉ làm tài liệu nghiên cứu cho nhau, mà còn giúp các góc nhìn, hướng tiếp cận và phương pháp tiếp cận hỗ trợ nhau Có thể nói rằng, gần đây, quan hệ văn hóa và văn học được chú ý nhiều hơn Ngày nay, hẳn ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có văn học (Đỗ Lai Thúy (2006) Văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận

Vì vậy, nhiều giá trị văn học đã được hình thành trên cơ sở các giá trị của văn hóa

Trong Những suy ngẫm về nghiên cứu văn học, Mikhail Bakhtin viết: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa và không thể hiểu nó bên ngoài bối cảnh văn hóa tổng thể của một thời đại cụ thể”; tác giả cũng nhấn mạnh “đời sống năng động và mạnh mẽ của văn hóa diễn ra ngay trên những đường biên và những lĩnh vực riêng của nó chứ không phải ở những nơi tập trung những đặc trưng riêng của từng lĩnh vực” (Dẫn theo Mikhail Epstein, 2007, tr.20)

Nói đến vị trí của văn học trong văn hóa là nói đến hai mặt của một vấn đề Thứ nhất, bản thân văn học là một thành tố, bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa Thứ hai là nói đến tính đại diện, “tấm gương soi” (Huỳnh Như Phương) cho văn hóa của văn học, sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa (Dẫn theo Đỗ Thị Minh Thúy, 1997, tr.100) Nhìn chung, giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đặc biệt văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực văn hóa truyền thống

1.1.2 Hướng nghiên cứu văn hóa - văn học

Khi đặt văn học vào ngữ cảnh của văn hóa để nghiên cứu, tác giả Cao Kim Lan viết rằng: “Theo tôi một phương pháp phê bình thống nhất những yếu tố khả thủ của hai xu hướng này, nghĩa là phải đặt tác phẩm văn học vào ngữ cảnh văn hóa

Trang 27

đồng thời vẫn phải thừa nhận/tìm kiếm trong bản thân nó “một cái gì đó” sẽ là một hướng đi có khả năng tạo ra những cách nhìn mới” (Cao Kim Lan, 2010) Còn tác giả Phan Ngọc (1999) viết: “Nếu ta chấp nhận văn học là một thành tố của văn hóa, thì muốn xét văn học Việt Nam, phải xét nó trên một nền tảng vững chắc hơn là văn hóa Việt Nam” (tr.301) Cũng theo hướng tiếp cận này, Đỗ Lai Thúy trong bài báo

“Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hóa” đã viết: “ văn học với tư cách là một yếu

tố của hệ thống văn hóa thì phải chịu sự chi phối hoặc sự quy định (chứ không phải quan hệ nhân quả định đơn thuần quyết định luận) của văn hóa” (Đỗ Lai Thúy, 2010)

Như vậy, các quan niệm có khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm đó là khẳng định mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết giữa văn học và văn hóa Nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa, và ngược lại, nghiên cứu văn hóa trong mối quan hệ với văn học đều đưa lại những kết quả thú vị mà ở đó các giá trị văn hóa hay văn học đều được làm nổi bật trong sự thống nhất với nhau Người ta có thể nghiên cứu văn hóa từ văn học, ngược lại, cũng có thể nghiên cứu, phê bình văn học

từ văn hóa Đây là những phương pháp có nhiều thuận lợi bởi người ta đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, cái biết nhiều đến cái biết ít, cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường liên kết các đối tượng có quan hệ với nhau Ở đây, chính liên kết tạo ra sự khác biệt Không những thế, nó còn giúp nhìn đối tượng ở những chiều kích hoặc sâu rộng hơn, hoặc chuyên sâu hơn Sử dụng thao tác này khá hữu hiệu

trong công trình Con mắt thơ, Đỗ Lai Thúy đã coi Thơ Mới là sản phẩm của văn

hóa đô thị và đi tìm đặc điểm của văn hóa đô thị qua các phạm vi không gian, thời gian, con người,… một mặt để khu biệt với văn hóa nông thôn, mặt khác để làm nền cho việc tìm hiểu bức tranh văn học bấy giờ

Bàn về mối quan hệ tương tác giữa văn hóa học và văn học, nhà nghiên cứu Nguyễn Tri Nguyên (2010) cho rằng: “Văn học hiện thân như là một phương diện trung tâm của những mặt vật chất của văn hoá hoặc là của những hình thức biểu đạt trung gian mà qua đó văn hoá trở nên có thể quan sát được” (tr.115) Rất nhiều nhà nghiên cứu dựa vào văn học truyền miệng để đi tìm lịch sử văn hóa qua huyền thoại, do đó, giữa văn học và văn hóa học rõ ràng có mối quan hệ tương tác rất lớn

Trang 28

Từ văn học dân gian, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra ký ức văn hóa của dân tộc, diện mạo văn hóa dân tộc một thời đã qua Dù là ở hình thức nào, giữa văn học và văn hóa đều có sự tương tác chặt chẽ với nhau

Tác giả Huỳnh Như Phương (2009) cho rằng văn học biểu hiện văn hoá, văn học phản ánh văn hóa Ông chứng minh, trong tác phẩm văn học, người đọc có thể tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Ngược lại, theo tác giả, văn hóa cũng tác động mạnh mẽ đến văn học Sự tác động ấy không chỉ thể hiện ở đề tài mà còn ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hóa Chính không gian văn hóa này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật,… trong quá trình sáng tác (tr.20 - 28)

Như vậy, nghiên cứu văn hóa từ văn học là một việc làm có cơ sở khoa học Văn học là một bộ phận của văn hóa và văn học thể hiện các giá trị của bản sắc văn hóa Văn học phản ánh hầu hết các lĩnh vực của đời sống trên nền bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa thời đại và văn hóa nhân loại Bản thân nhà văn cũng là sản phẩm của văn hóa Nói cách khác, văn học là sự kết tinh của văn hóa trên phương diện ngôn ngữ và nghệ thuật Sáng tạo văn học cũng là sáng tạo văn hóa Và như thế tiếp cận văn hóa từ văn học và cách tiếp cận văn học từ văn hóa là những phương pháp giúp hiểu thấu đáo và sâu sắc văn hóa của cộng đồng

1.2 Văn hóa vùng và vùng văn hóa miền Tây Nam Bộ

1.2.1 Văn hóa vùng và vùng văn hóa

Theo Ngô Đức Thịnh, văn hóa lãnh thổ hay văn hóa vùng là một dạng thức văn hóa, mà ở đó trong một không gian địa lý xác định, các cộng đồng người cùng sống trong một môi trường tự nhiên nhất định, có những điều kiện phát triển xã hội tương đồng, nhất là các mối quan hệ giao lưu văn hóa sống động Vì vậy trong quá trình lịch sử đã hình thành những đặc trưng văn hóa chung Nói cách khác, văn hóa vùng là một dạng thức liên văn hóa Tất nhiên, cần có một quá trình và các yếu tố nhất định để một khu vực nào đó trở thành vùng văn hóa Theo đó, để trở thành một

Trang 29

bộ phận của nền văn hóa Việt Nam, văn hóa NB đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển Những đặc trưng và sắc thái riêng của văn hóa NB cũng từ đó

mà hình thành, tất nhiên không tách khỏi nền tảng chung của hệ giá trị văn hóa người Việt Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra quan điểm rõ ràng về vùng văn hóa và văn hóa vùng Theo ông, khái niệm vùng văn hóa có thể hiểu như sau: “Vùng văn hóa là một không gian văn hóa liên tục, trong đó tồn tại một chủ thể văn hóa thống nhất, và chủ thể đó hoạt động đồng hướng trong một thời gian văn hóa đủ dài, tạo nên một hệ thống giá trị đặc thù cho phép khu biệt vùng đang xét với những vùng

có liên quan” Còn văn hóa vùng (theo nghĩa rộng) “là văn hóa của cộng đồng cư dân sinh tồn trên phạm vi một không gian giới hạn bởi tiêu chí hành chính, địa lý, kinh tế, văn hóa hoặc một tiêu chí bất kỳ nào khác Theo nghĩa hẹp, vùng văn hóa là văn hóa của cộng đồng cư dân sinh tồn trên phạm vi một không gian có sự thống nhất về những đặc trưng văn hóa; nói cách khác, văn hóa vùng là văn hóa của một vùng văn hóa” (Trần Ngọc Thêm, 2005, tr.147)

1.2.2 Miền Tây Nam Bộ như một vùng văn hóa

Việc xác định NB bao gồm hai vùng văn hóa là Đông NB và TNB ngày càng

có nhiều ý kiến đồng tình Không hẹn mà gặp, điều này cũng rất phù hợp với hệ thống phân vùng sinh thái, kinh tế - xã hội, quân sự, giáo dục (Xem Trần Ngọc Thêm, 2006, tr 64) và Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long)

Khi nói đến văn hóa vùng miền TNB, thực chất là nói đến tọa độ văn hóa - nơi chủ thể văn hóa, trong đó có chủ thể người nữ hiện lên vừa như một kết quả vừa như một hiện thân văn hóa Tọa độ văn hóa có thể được hình dung qua các phạm trù

cơ bản như không gian văn hóa, thời gian văn hóa, chủ thể văn hóa

Không gian văn hóa: Vùng TNB có13 tỉnh, thành phố, bao gồm:An Giang,

Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Long An , Kiên Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Vĩnh Long, Thành phố Cần Thơ, Trà Vinh Đây là “vùng đất rộng lớn chiếm 12% diện tích, 19% dân số cả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng

Trang 30

lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của

cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Kông” (Theo Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long) Về môi trường sinh thái, nhân văn, so với các vùng khác của cả nước, TNB có nhiều cái “nhất”: một là, đồng bằng rộng lớn nhất nước (diện tích: 40.548,2 km2; hai là, có hệ thống sông rạch nhiều và dài nhất nước, ba là, vựa lúa lớn nhất nước và lớn nhất khu vực Đông Nam Á; bốn là, vùng đất có nhiều trái cây nhất; năm là, nơi có diện tích nuôi và đánh bắt thủy hải sản lớn nhất nước; sáu là, vùng đất có rừng ngập mặn lớn nhất nước

Nếu như môi trường sông nước là một đặc trưng cho thiên nhiên Việt Nam, thì NB được xem là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng Nhưng NB không chỉ có sông nước, kênh rạch mà còn có cả văn hóa biển Văn hóa biển của NB, TNB cũng khác với Trung Bộ Chẳng hạn, biển thiên nhiên vùng biển NB không dữ dội như Trung Bộ (NB rất ít khi có bão, nếu có thì bão cũng không to như ở miền Trung) Biển NB cũng ít gắn với núi, với những cồn cát chang chang như Trung Bộ, trái lại, thường gắn với rừng nước mặn, rừng đước, rừng sác TNB cũng phân chia thành nhiều “miệt”, như Miệt vườn, Miệt cù lao, Miệt giồng, Miệt kinh, Miệt thứ (Xem thêm Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.1020 - 1021) Xem thế, đủ thấy không gian văn hóa rất phong phú, đa dạng, vừa mang tính mở, vừa mang tính đan xen, liền kề Sau đây là bảng so sánh không gian Đông NB với TNB dưới đây để tìm ra những nét đặc thù của miền đất TNB

B NH DI N ĐÔNG NAM BỘ TÂY NAM BỘ

Địa hình -

tài nguyên

Cao - dầu khí: phù hợp cho xâydựng cơ bản và phát triển công nghiệp

Thấp - đồng bằng châu thổ: phù hợp cho phát triển nông nghiệp, thủy sản

Đất đai - khí

hậu

Đất nâu, khí hậu điều hoà:

thuận lợi cho phát triển cây

Đất phù sa, mưa nhiều: thuận lợi cho trồng cây ăn

Trang 31

công nghiệp trái và sản xuất lương thực

Thiên nhiên -

bờ biển

Có nhiều ngư trường lớn và bãi biển đẹp: tiềm năng thủy sản và

du lịch biển

Kênh rạch nhiều, chằng chịt, vùng ngập mặn, biển: tiềm năng thủy sản và

Chủ thể văn hóa: Chủ thể chính sáng tạo văn hóa dân gian ở NB là người

Việt Gốc gác của những lưu dân này, theo Trần Văn Giàu chủ yếu có ba loại: “Đầu tiên là những người dân tứ xứ bần cùng lưu tán Thứ đến là những người (số ít) có tiền của, có quyền thế, chiêu mộ dân nghèo (số đông) ở miền Trung đi vào Nam khẩn đất theo chính sách của nhà Nguyễn Cuối cùng phải kể đến là những lính tráng cùng nhiều tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào Nam lập đồn điền vừa bảo vệ biên cương giữ trị an vừa mở ruộng lập vườn quanh cứ điểm quân sự” (Nguyễn Phương Thảo, 1997, tr.44 - 45)

Cư dân TNB với nhiều thành phần có những nguồn gốc khác nhau, có sự đa dạng về mặt tín ngưỡng và tôn giáo Mỗi cụm dân cư lại có sự khác nhau về lối sống, phong tục tập quán, trình độ văn hóa, (Nguyễn Phương Thảo, 1997, tr.223 - 224) Tính chất “tứ xứ” như một đặc trưng của chủ thể văn hóa ở NB Với đặc điểm này, lại cùng cảnh ngộ, cùng một mục đích chung là mưu cầu cuộc sống ổn định và phát triển nơi miền đất mới, đã nhanh chóng hình thành tính cách khảng khái, bộc trực, tinh thần đoàn kết, tương trợ, cởi mở, không đóng khung nhiều vào phạm vi

“làng”, phạm vi dòng họ, hoặc kiểu gia đình “tứ đại đồng đường”, của các cộng đồng dân cư nơi đây

Thời gian văn hóa: Về sự hình thành và phát triển cộng đồng người Việt tại

NB nói chung và miền TNB nói riêng được lý giải: Công cuộc mở đất phương Nam,

Trang 32

khẳng định vùng văn hóa phương Nam, chỉ thật sự định hình từ những cuộc di dân lớn của người Việt ở thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII Chính nhờ quá trình chuyển

cư này, mới có việc thúc đẩy sự gần gũi giữa các nhóm dân cư, giữa các cộng đồng tộc người, mới làm xuất hiện những điều kiện khách quan, tạo nên những tiếp xúc văn hóa giữa các cộng đồng người có những đặc trưng văn hóa khác nhau, làm nên tính chất địa văn hóa, địa kinh tế của một vùng đất châu thổ phương Nam rộng lớn

Đó chính là một vùng văn hóa trẻ, phong phú, đa tộc người, đa tôn giáo và đa màu sắc (Hồ Tĩnh Tâm, 2009)

Từ khi NB bị Pháp đánh chiếm và biến thành xứ thuộc địa, thực dân Pháp đã chiếm lĩnh toàn bộ Lục Tỉnh Nam Kỳ, đặt bộ máy cai trị chính thức của người Pháp lên đất Nam Kỳ (Huỳnh Lứa & nhiều tác giả khác, 2005, tr.164) Nếu như sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa từ người Pháp mang tính tập hợp các giá trị truyền thống của phương Tây thì sự chiếm đóng của người Mỹ sau này đã mang đến NB nói chung, miền TNB nói riêng những yếu tố văn hóa đa dạng và hiện đại hơn

Sau khi thống nhất hai miền Nam - Bắc năm 1975, NB là một vùng đất mà giao lưu, tiếp biến văn hoá đã và đang diễn ra với tốc độ rất nhanh Hệ quả là hầu như không có hiện tượng văn hoá nào ở nơi đây còn nguyên chất thuần Việt mà luôn có bóng dáng của những nền văn hoá khác, đã hội tụ nơi đây trong hơn ba thế

kỷ qua (Lý Tùng Hiếu, 2009)

Như vậy, văn hóa miền TNB đã hình thành trong một hệ tọa độ không gian, chủ thể, thời gian văn hóa đa dạng và phong phú, với nhiều đặc trưng riêng Trong luận án này, chúng tôi sẽ nghiên cứu về NPN TNB trên và trong các yếu tố “định vị” ấy của vùng văn hóa TNB

1.3 Tiếp cận vấn đề giới và văn hóa giới

“Giới” và “Giới tính” là hai thuật ngữ đã trở nên quen thuộc, tuy liên quan với nhau nhưng khác nhau Giới tính là khái niệm chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ, giúp phân biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, sự khác biệt có sẵn từ khi con người được sinh ra Ví dụ nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú Nhận thức giới tính có thể là nam, nữ, vừa nam vừa nữ,

Trang 33

không phải nam không phải nữ,… Đây chính là giới tính mong muốn của mỗi cá nhân, tồn tại trong suy nghĩ của chính họ Nhận thức giới tính khác với thể hiện giới tính (chẳng hạn một người đàn ông có giới tính sinh học là nam và ý thức mình là đàn ông nhưng có điệu bộ, cử chỉ và cách cư xử như phụ nữ - thể hiện giới tính là

nữ tính) Không phải tất cả những người có giới tính sinh học khác với giới tính bản chất mà họ tự xác định đều thể hiện giới tính đó ra bên ngoài vì lý do xã hội hay những quy tắc xung quanh, dần hình thành nên văn hóa giới

1.3.1 Khái niệm giới và văn hóa giới

“Giới” là một loạt các đặc tính vật lý, sinh học, tâm thần và hành vi liên

quan đến sự khác biệt giữa nam và nữ, đồng thời chỉ các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm xã hội hình thành được coi là chuẩn của nam giới và nữ giới Trong cách hiểu chung, nhiều người thường lẫn lộn giữa “giới” và “giới tính”, không phải ở mặt thuật ngữ mà trong thực tế Họ thường đánh đồng những khác biệt giữa nam và nữ về vai trò giới với những khác biệt về mặt sinh học Sai lầm phổ biến này hiểu giới như “giới tính” - chỉ những khác biệt giới thuộc về sinh học Thực ra “Giới” là một khái niệm khá mới mẻ những năm gần đây Nghĩa của từ này xuất hiện trong bối cảnh vai trò xã hội của những người đàn ông và phụ nữ đã phổ biến rộng rãi và phát triển bởi các phong trào nữ quyền từ năm 1970 trở đi Nói đến giới tức là nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho người nam và người nữ, gồm cả việc phân chia lao động, các kiểu phân chia nguồn lợi và tương quan về địa vị xã hội của nam giới và nữ giới trong một bối cảnh văn hoá xã hội cụ thể Thuật ngữ “giới” đề cập đến những đặc tính và cơ hội về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm lý gắn với việc là phụ nữ hay nam giới Trong phần lớn các xã hội, một người đàn ông hay là một NPN không chỉ có các đặc điểm sinh học khác nhau mà còn phải đối diện với những mong đợi khác nhau, những định khuôn khác nhau của xã hội về mặt ngoại hình, cách cư xử, tính cách, công việc được cho là thích hợp đối với giới tính của người đó Có thể phân biệt khái niệm giới và giới tính qu bảng sau của Peter Chown:

Trang 34

Bảng: Phân biệt giữa Giới và Giới tính (Nguồn: Peter Chown, 2008)

Giới mô tả chúng ta thể hiện nam tính

hoặc nữ tính

Giới tính mô tả chúng ta là nam hay nữ

Được xây dựng nên bởi xã hội - nó

là những vai trò, trách nhiệm và hành

vi mong đợi ở nam và nữ trong một

văn hóa hoặc xã hội cụ thể

Văn hóa - những yếu tố của giới khác

nhau giữa các nền văn hóa và bên

trong các nền văn hóa

Bạn được sinh ra với giới tính của bạn - điều này không thể thay đổi

Vấn đề giới được du nhập vào Việt Nam vào khoảng những năm 80 của thế

kỷ trước và nhanh chóng được các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội học tiếp nhận Song vấn đề về giới cũng vì thế có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau Một trong những vấn đề được quan tâm, tranh luận nhiều hơn cả là vai trò của người nam và nữ; người già/ người trẻ trong các mối quan hệ gia đình, họ tộc Những quan điểm về sự sắp xếp cá nhân trong xã hội phụ thuộc vào đặc điểm sinh học hay bị quy định bởi môi trường văn hóa xã hội xuất phát từ hai trường phái khác nhau

Những người theo quan điểm quyết định luận sinh học cho rằng, sự phân công xã hội bị quyết định bởi những yếu tố do chọn lọc tự nhiên Vũ Mạnh Lợi (2000) phân tích vấn đề này như sau:

Họ lập luận rằng, những khác biệt giữa nam và nữ trong các vai trò xã hội, cấu trúc thứ bậc xã hội, trong các quan hệ quyền lực, phân công lao động, v.v trong gia đình và giữa gia đình và xã hội rộng lớn hơn có thể quy về những khác biệt đã được chương trình hóa về mặt sinh học giữa hai giới tính

Trang 35

như những khác biệt giữa nam và nữ về các chiến lược tái sinh sản, các hóc môn, kích thước và hình dạng của não bộ, các nhịp sống theo thời gian trong ngày, đồng hồ sinh học liên quan đến các thời kỳ phát triển trong chu trình sống,

Theo quan điểm này thì nam giới luôn có sự vượt trội về mặt trí tuệ và khả năng nhận thức và họ nắm quyền thống trị Trong khi đó, nữ giới lại có những khả năng tình cảm đặc biệt Theo đó, những hành vi như ngoại tình, hiếp dâm, phân biệt chủng tộc hay sự không chung thủy ở nam giới… đều có nguồn gốc từ di sản sinh học của con người

Các nhà nghiên cứu về khoa học xã hội lại không cho là như vậy Theo họ, văn hóa học hỏi có tính xã hội chiếm một vai trò quan trọng Những suy luận từ nghiên cứu động vật; các suy diễn từ các loài sang đặc điểm tâm lí không đủ khách quan và luôn cho kết quả sai lệch

Vũ Mạnh Lợi (2000) trích dẫn Epstein (1988) chỉ ra rằng:

Những người chống lại quyết định luận sinh học xã hội lập luận rằng mặc dù các quá trình sinh học có đặt ra những kiềm chế đối với cuộc sống con người, những quá trình này cũng chịu sự biến đổi dưới ảnh hưởng của các môi trường xã hội và văn hóa của con người… Điều đặc biệt đáng chú ý là thực tế có một số lượng lớn các nghiên cứu so sánh các nền văn hóa và bên trong mỗi nền văn hóa đã cho thấy sự biến thiên lớn trong tổ chức gia đình-điều khó có thể được giải thích bằng quan điểm sinh học đơn giản hóa Những bằng chứng nhân chủng học xã hội đã cho thấy có nhiều xã hội mà ở

đó phụ nữ không lệ thuộc vào đàn ông, cùng tham gia một cách bình đẳng với đàn ông trong phân công lao động; ở đó việc phụ nữ lựa chọn bạn đời và chủ động khởi xướng hành vi tình dục là "một thực tế phổ biến" (Epstein 1988: 65-66)

Quan điểm của chúng tôi trong vấn đề này là không phủ nhận những đặc tính sinh học tạo nên bất bình đẳng giới (như cơ thể, sức mạnh…) Thực tế, tính bất bình đẳng sinh học cho phép người nam có những lợi thế về mặt thể chất, cơ bắp, nên họ

Trang 36

phù hợp hơn, hiệu quả hơn với một số công việc lao động thiên về sức mạnh như trong xây dựng, hầm mỏ hay một số công việc đòi hỏi sức mạnh khác Tuy nhiên vai trò của nam/nữ trong xã hội lại phụ thuộc nhiều đến các quan điểm, sự tác động của các yếu tố văn hóa, thiết chế xã hội, phong tục tập quán, cấu trúc gia đình Điều này quyết định vai trò của phụ nữ trong xã hội Từ quan điểm này, chúng tôi sẽ nhìn nhận, xem xét về cá tính NPN TNB cũng như vai trò của họ được nhìn nhận qua các mối quan hệ gia đình, gia tộc và làng nước

Văn hóa giới (cultural gender) là văn hóa về những yếu tố của giới khác

nhau giữa các nền văn hóa và bên trong các nền văn hóa Việc thể hiện giới tính hay vai trò giới là một nhóm các chuẩn mực hành vi gắn liền với nam giới hay nữ giới được nền văn hóa xã hội quy định và chấp nhận Đây có thể là một dạng phân chia công việc, vai trò cũng như vị trí xã hội giữa nam và nữ Văn hóa giới kể từ khi có

lý thuyết nữ quyền (feminist theory) ra đời và đứng ở góc nhìn nhân bản, cho rằng:

“Nam giới là phái mạnh, phải đảm trách các công việc nặng nhọc, phải gánh vác gia đình, phải xung phong ra chiến trường” Hệ thống quy chuẩn về vai trò giới thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, sự phát triển của xã hội, và tồn tại như một sự khác biệt giữa các vùng địa lý, quốc gia, tôn giáo hay sắc tộc, và vì thế văn hóa giới cũng thay đổi theo thời gian và các hệ quy chiếu như vừa nêu

Ngay từ thời cổ đại, triết gia người Hy Lạp Aristotle đã nhìn phụ nữ từ phương diện không hoàn thiện của giới tính: “Phụ nữ chỉ là một người đàn ông khiếm khuyết” Tư tưởng này ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu bền ở phương Tây Còn J Bruyère, nhà phê bình người Pháp, nhìn đàn bà ở sự cực đoan hơn: “Đàn bà là cái gì

đó vô cùng cực đoan, họ hoặc vượt trội hoặc thấp kém hơn so với đàn ông” Ngược lại, thánh Augustin thì nói về phụ nữ như một chiều sâu cần khám phá: “Điều bí ẩn lớn nhất là trong nụ cười của người phụ nữ” Phụ nữ được thánh Augustin đề cao dưới nhiều góc độ: tâm hồn tinh tế, nhạy cảm; là hiện thân cho sắc đẹp và sự đam

mê Nhìn chung, dưới mắt của các triết gia, phụ nữ hiện lên từ hai mặt đối lập: dịu dàng và gai góc, yếu đuối và mạnh mẽ, khờ dại và khôn ngoan,…

Trang 37

Các nhà nghiên cứu văn hóa giới nhận thấy rằng hành vi cụ thể của một cá nhân là kết quả của những quy tắc và giá trị do xã hội quy định kết hợp với những đặc điểm mang tính cá nhân như tính cách, nhận thức, quan điểm sống Một số chuyên gia nhấn mạnh yếu tố hệ thống xã hội khách quan và các nhà nghiên cứu khác thì nhấn mạnh yếu tố thiên hướng, đặc điểm chủ quan Cả nam giới và phụ nữ đóng nhiều vai trò trong xã hội và các vai trò này là khác nhau theo giới Các vai trò giới là tập hợp các hành vi, cảm xúc ứng xử trong văn hóa giới mà xã hội mong đợi

ở phụ nữ và nam giới Nó liên quan đến những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi

là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ trong một xã hội hay một nền văn hóa cụ thể nào đó Do phụ nữ và nam giới thực hiện các vai trò giới khác nhau nên họ cũng

có những nhu cầu giới, văn hóa giới khác nhau

Trong công trình Tâm lý học xuyên văn hóa, Knud S Larsen & Lê Văn Hảo (2015) đã viết:

“Quan niệm chung về giới xuất phát từ những khác biệt về sinh học giữa nam

và nữ Những trải nghiệm khác nhau về tâm lý của việc làm con trai hay con gái (sau này là đàn ông hay phụ nữ) được ăn sâu vào cái nền sinh học Dù các khác biệt về sinh học là quan trọng, nhưng những định khuôn và giá trị mà chúng ta gán cho nam hay nữ phần lớn được quy định bởi văn hóa” (tr.367) Liên quan đến việc nghiên cứu về giới, Bà Jacquetta Newman, một nhà chuyên nghiên cứu về giới và phụ nữ ở Canada, cho rằng, mặc dù giới tính được xác định chủ yếu dựa vào yếu tố sinh học, nhưng cách mà mọi người thảo luận về giới thì có ý nghĩa rộng hơn Khái niệm giới là một phạm trù xã hội học được xây dựng dựa trên các nền tảng văn hoá (mặc dù trong đó, các yếu tố văn hoá về nam và

nữ cũng có mối quan hệ trực tiếp đến vấn đề sinh học) Cũng chính vì mối quan hệ này mà Newman cho rằng vấn đề giới tính (sex) thường được đề cao trong khái niệm giới (gender) và mọi người có khuynh hướng ít đề cập đến các vấn đề khác như tôn giáo, năng lực của con người, tình trạng xã hội,… Các nghiên cứu tiếp cận

về giới gần đây đang cố gắng khắc phục tình trạng này bằng cách nghiên cứu kỹ hơn mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố vừa nêu nhằm hiểu rõ hơn về đời sống của con người Newman cũng chỉ ra rằng các nền văn hoá không phải từ phương

Trang 38

Tây, không nhất thiết có cùng quan điểm về khái niệm giới và vai trò của giới trong văn hóa

Như vậy, vai trò của giới trong văn hóa là điều không còn phải bàn cãi Sự biểu hiện của văn hóa giới lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính xã hội và các thiết chế xã hội chứ không đơn thuần ảnh hưởng bởi mặt sinh học, thể chất Luận án

sử dụng quan điểm này để soi chiếu về người phụ nữ Việt ở Tây Nam Bộ trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội

1.3.2 Sự tiếp biến luân thường Nho giáo truyền thống với văn hóa giới

Trong văn hóa Việt Nam truyền thống, ở miền Bắc, quan niệm đối với phụ

nữ rất khắt khe Nho giáo chủ trương “nam nữ thụ thụ bất thân” nghĩa là phải có sự ngăn cách, phân biệt rõ ràng “nam nữ hữu biệt” thì mới tránh được những trò “trên bộc trong dâu” Tuy nhiên, theo Toan Ánh thì việc nam nữ “hữu biệt” hay “bất thân” như thế chỉ có ở những gia đình trưởng giả, còn trong giới bình dân thì không đến nỗi quá ràng buộc, bởi vì phong tục cũng như sinh hoạt hằng ngày đã tạo nên nhiều dịp để họ có thể gặp nhau

Về quan niệm trinh tiết, với nữ giới, trinh tiết là một phạm trù để đánh giá đạo đức, phẩm tiết của một NPN Quan niệm này không chỉ có ở Việt Nam mà còn phổ biết ở nhiều nước phương Đông Còn đàn ông, chưa có bất kỳ một chế độ hoặc một chủng tộc nào quy vấn đề trinh tiết vào phạm trù phẩm tiết Và lợi dụng những đặc điểm “hạn chế” này của giới nữ, một số bộ tộc đã đề ra những hủ tục rất man rợ, nhất là các nước chậm phát triển ở vùng Trung Đông (hiến trinh tiết của phụ nữ cho cha xứ trước lúc lấy chồng, “khóa” âm hộ nếu có chồng ra trận lâu ngày, thủ tiết, hoặc thiêu chết theo chồng, nếu chẳng may chồng chết…) Về mặt tính dục, nam giới là bản nguyên chủ động, nữ giới là bản nguyên thụ động (Trần Huyền Sâm, 2009)… Những quan niệm và phong tục như vậy đã thể hiện những định kiến về văn hóa giới rất rõ, tác động và chi phối đến vị thế, vai trò của người phụ nữ trong những quan hệ xã hội nhất định

Văn hóa dân gian NB thuộc dòng phi chính thống, không chịu sự ràng buộc trực tiếp, chặt chẽ bởi tư tưởng Nho giáo, song sự chi phối, ảnh hưởng của nó đến

Trang 39

đời sống dân gian là điều tất yếu Tất nhiên, sự ảnh hưởng này mang tính khúc xạ, tiếp biến, tạo nên nét đặc thù rất riêng của NB Dù văn hóa dân gian NB thể hiện một đặc điểm dễ nhận ra là ưa giao tiếp, cởi mở nhưng trong khởi đầu các cuộc hẹn

hò lứa đôi, NPN đều thể hiện sự e dè về giới tính: Đêm nằm thao thức vào ra,/ Chờ cha mẹ ngủ, lén qua thăm mình./ Tôi than hết sức, tôi dứt hết tình,/ Thiếu điều cắt ruột trao mình, mình ơi! (Sở Văn hóa Thông tin Tiền Giang, 1985, tr.54); “Anh ơi, đừng vạch vách, bẻ rào/ Vườn quê mới lập, quả đào còn non” (Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ, 1997, tr.331)

Có thể nói, một đặc điểm nổi trội có thể nhận thấy trong tính cách của người con gái Nam Bộ là sự táo bạo trong tình yêu Trong văn học trung đại, Nguyễn Đình Chiểu khi viết Lục Vân Tiên cũng đã đề cập ảnh hưởng của quan niệm Nho giáo Nàng Kiều Nguyệt Nga khi chủ động định đến gần Lục Vân Tiên để thể hiện lòng biết ơn chàng đã cứu mạng nàng, thì chàng Lục vội vã can ngăn: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra/ Nàng là phận gái ta là phận trai” Cô gái Trung Bộ cũng rất chủ động trong tình yêu: “Đường Ninh Diêm cong cong, vẹo vẹo/ Gái Ninh Diêm chưa ghẹo đã theo,/ Thò tay ngắt ngọn dưa leo,/ Để anh lo lễ cưới, đừng theo họ cười” (e

- cadao.com, câu số 14018) Trong khi các cô gái Bắc Bộ thì e ấp, kín đáo hơn nhiều: “Chàng ơi buông áo em ra/ Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa” (Chu Xuân Diên,

2002, tr.499) Khi so sánh với câu ca đầy tình tứ này của Bắc Bộ, ta không khỏi bỡ ngỡ, thích thú với cách bày tỏ tình cảm trên của cô gái NB Họ táo bạo nhưng không thô thiển, táo bạo mà vẫn đằm thắm, dịu dàng Đặc biệt, việc không quá e dè

và do dự trong quan hệ về giới tính là một nét đẹp rất riêng của NPN NB

Xét về mối quan hệ giới, nếu như ở NPN Việt Bắc Bộ chịu ảnh hưởng Nho giáo đậm nét nên sự phân biệt giới tính khắt khe hơn, thì ở NB nói chung và TNB nói riêng, với tinh thần thoáng mở, họ không quá khắt khe khi đề cập đến những mối quan hệ khác giới Một số nhà nghiên cứu văn hóa đã cho rằng ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam có tình trạng càng ngược Bắc thì càng đậm, càng xuôi Nam thì càng nhạt Về quan điểm này, có những ý kiến trái chiều khi một số nhà nghiên cứu dựa trên thuyết trung tâm và ngoại biên cho rằng: nho giáo càng ở xa trung tâm thì càng được bảo lưu mạnh mẽ Và nếu vậy, thì nho giáo ở Nam Bộ phải

Trang 40

được bảo lưu tốt hơn là ở miền Bắc Chúng tôi cho rằng, về loại hình quan điểm này không sai đối với một hệ tư tưởng hay một loại hình văn hóa nào đó Tuy vậy, cần xem xét thêm các đặc điểm thực tiễn và bối cảnh lịch sử của vấn đề trung tâm hay ngoại biên Chúng ta biết rằng, nếu nói về trung tâm nho giáo thì phải tính ở Trung Quốc Như vậy, tư tưởng nho giáo ở Việt Nam và các nước khác có thể xem là ngoại biên Cũng tương tự như vậy là trường hợp của văn hóa, văn học, càng ở xa trung tâm thì quy luật phát triển của các nền văn hóa, văn học ngoại biên lại có xu hướng li tâm, phát triển độc lập thành một nền văn hóa, văn học khác có bản sắc riêng Thêm nữa, lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ cũng có đặc thù riêng Bên cạnh những yếu tố như một định mệnh thúc bách của lịch sử buộc phải Nam tiến, những lưu dân đầu tiên vào khai phá Nam Bộ đều có chung một tính cách mạnh mẽ (họ có thể là những tội phạm, những người có xu hướng phá vỡ các thiết chế truyền thống để rời bỏ quê hương, dấn thân, dám phiêu lưu vào vùng đất mới) Do vậy, tính chất ảnh hưởng của các quy phạm đạo đức nho giáo đối với những lưu dân đầu tiên này vốn đã lỏng lẻo, nay vào vùng đất mới, tính tự do, sự phóng khoáng… lại

có dịp được phát huy cao độ

Thêm nữa, “ý thức hệ Nho giáo thật khó lòng bén rễ trong lòng con người ở Nam Kỳ”, nhất là ở miền TNB Thời gian tồn tại của Nho giáo ở NB không dài (từ thế kỷ XVII), đến thời Pháp thuộc thì Nho giáo xem như bị xóa bỏ, và miền TNB là nơi “ít ai rành chữ Hán” lại bị người Pháp thí điểm xóa bỏ chữ Hán Nôm trước (Sơn Nam, 2005, tr.59 - 60) Phần lớn những người đỗ đạt làm quan dưới triều nhà Nguyễn đều tập trung ở miền Đông NB Hơn nữa, phần lớn những lưu dân người Việt vốn mang trong lòng sự bất mãn, phẫn uất với chế độ phong kiến, các tư tưởng Nho giáo về tam cương, ngũ thường đã có phần lung lay đáng kể trong lòng người

Từ những suy luận này, chúng tôi cho rằng, việc ảnh hưởng nho giáo ở Nam

Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng nhạt hơn so với Bắc và Trung Bộ là có cơ

sở Tất nhiên, quá trình tiếp thu này cũng được biến đổi theo thời gian cho phù hợp với bối cảnh của vùng đất mới Sự khúc xạ văn hóa của Đạo Nho ở Việt Nam thể hiện ở mức độ khác nhau trong các tầng lớp xã hội: quan lại, nho sĩ chịu ảnh hưởng nhiều hơn so với những người bình dân Sự khúc xạ đó cũng biểu hiện ở những mức

Ngày đăng: 16/06/2021, 22:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm