1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôi chùa trong văn hóa người việt ở nam bộ

163 18 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 8,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, các công trình đã đề cập ở trên, hoặc là đề cập tới ngôi chùa như là cơ sở tôn giáo tín ngưỡng, hoặc là đề cập tới một bộ phận, khía cạnh nào đó của ngôi chùa Việt Nam nói ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

PHẠM HOÀI PHONG

NGÔI CHÙA TRONG VĂN HÓA

NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số: 60.31.70

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHAN THU HIỀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DẪN NHẬP 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10

7 Cấu trúc luận văn 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 Cơ sở lý luận 12

1.1.1 Tôn giáo 12

1.1.2 Văn hóa tôn giáo 14

1.1.3 Ngôi chùa như một cơ sở tôn giáo 15

1.1.4 Vùng văn hóa và văn hóa vùng 17

1.1.4.1 Vùng văn hóa 17

1.1.4.2 Văn hóa vùng 18

1.2 Định vị văn hóa người Việt Nam Bộ 19

1.2.1 Không gian văn hóa 19

1.2.2 Chủ thể văn hóa 22

1.2.3 Thời gian văn hóa 23

Chương 2 NGÔI CHÙA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ NHÌN TỪ THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA 27

2.1 Ngôi chùa người Việt Nam Bộ nhìn từ thời gian văn hóa 27

2.1.1 Sự hình thành ngôi chùa người Việt ở Nam Bộ 27

2.1.2 Ngôi chùa người Việt trong diễn trình Phật giáo Nam Bộ 31

2.2 Ngôi chùa người Việt Nam Bộ nhìn từ không gian văn hóa 40

2.2.1 Không gian xung quanh ngôi chùa 40

2.2.2 Không gian trong khuôn viên ngôi chùa 43

2.2.3 Không gian nội thất ngôi chùa 59

Trang 3

2.3.3.1 Kiến trúc và kết cấu kỹ thuật kiến trúc 59

2.3.3.2 Một số hoa văn họa tiết trang trí tiêu biểu 65

2.3.3.3 Một số cách bài trí nội thất tiêu biểu 73

Chương 3: NGÔI CHÙA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ NHÌN TỪ CHỦ THỂ VĂN HÓA 89

3.1 Vai trò của ngôi chùa trong đời sống cư dân người Việt Nam Bộ 89

3.1.1 Trong đời sống tâm linh 89

3.1.2 Trong đời sống văn hóa xã hội 96

3.1.2.1 Trong đời sống văn hóa 96

3.1.2.2 Trong đời sống xã hội 102

3.2 Ngôi chùa trong tâm thức cư dân người Việt Nam Bộ 110

3.2.1 Ngôi chùa trong văn chương Nam Bộ 110

3.2.1.1 Ngôi chùa trong văn học dân gian 110

3.2.1.2 Ngôi chùa trong văn học viết 113

3.2.2 Ngôi chùa trong nghệ thuật 122

3.2.2.1 Ngôi chùa trong hội họa, điêu khắc 122

3.2.2.2 Ngôi chùa trong nghệ thuật sân khấu 125

3.2.2.3 Ngôi chùa trong nghệ thuật điện ảnh 129

KẾT LUẬN 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

DANH MỤC HÌNH 147

DANH MỤC BẢNG 152

DANH MỤC SƠ ĐỒ 153

PHỤ LỤC ẢNH 154

Trang 4

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Ở nước ta, đình, chùa là những cơ sở tín ngưỡng gắn liền với đời sống cộng đồng qua nhiều thế kỷ Nếu như đình có nguồn gốc bản địa, mang tính truyền thống thì chùa lại là cơ sở tín ngưỡng có nguồn gốc ngoại sinh Tuy nhiên, gần 2000 năm

kể từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng lan tỏa và bám rễ vào văn hóa dân tộc đến độ ở nhiều phương diện, người ta khó lòng tách biệt rạch ròi đâu là văn hóa truyền thống dân tộc, đâu là văn hóa Phật giáo

Ở Nam Bộ, do là vùng đất mới nên sự có mặt của Phật giáo trên vùng đất này cũng chỉ khoảng 300 năm trở lại đây Mặc dù vậy, ngay từ buổi đầu, được sự ủng

hộ của các chúa Nguyễn, Phật giáo nhanh chóng phát triển và định hình trên vùng đất mới khẩn hoang này Cùng với quá trình đó, ngôi chùa xuất hiện như là một dấu

ấn quan trọng của Phật giáo Nam Bộ và trở thành hình ảnh quen thuộc trong đời sống cư dân nơi đây Ngôi chùa hiện diện trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng – đó

là một điều tất yếu, ngôi chùa hiện diện trong ngôn ngữ đời thường, ngôi chùa hiện diện trong âm nhạc, sân khấu, ngôi chùa hiện diện trong hội họa, thơ ca Có thể nói, ở Nam Bộ, ngôi chùa hiện diện hầu như ở khắp nơi, trong nhiều phương diện đời sống con người, nó trở thành biểu tượng văn hóa, biểu tượng đạo đức của cộng đồng

Từ đó cho thấy, việc nghiên cứu ngôi chùa ở Nam Bộ chính là tìm hiểu các giá trị văn hóa của dân tộc nói chung và văn hóa Phật giáo nói riêng Và đó cũng chính là lý do thứ nhất để người viết chọn ngôi chùa người Việt Nam Bộ làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn của mình

Mặt khác, người viết là một tu sĩ Phật giáo, sống và tu học trong chùa chiền Nam Bộ Chính vì vậy, vùng đất Nam Bộ chính là nơi chôn nhau cắt rốn, còn ngôi chùa là môi trường gần gũi nhất góp phần giáo dục, hun đúc đời sống tâm linh của mình Vì vậy, việc tìm hiểu ngôi chùa trong đời sống văn hóa người Việt Nam Bộ là

Trang 5

cơ hội để người viết tìm hiểu về quê hương, tìm hiểu về cái nôi hun đúc con người

mình Đó chính là lý do thứ hai để người viết quyết định chọn đề tài Ngôi chùa

trong văn hóa người Việt Nam Bộ làm đề tài Luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử vấn đề

Ghi chép và nghiên cứu ngôi chùa nói chung và ngôi chùa người Việt Nam

Bộ nói riêng không phải là vấn đề hoàn toàn mới Theo những tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được thì trước chúng tôi, đã có một số công trình, bài viết, ghi chép có liên quan tới ngôi chùa Có thể khái quát các công trình này theo một số hướng sau: Hướng thứ nhất nghiên cứu ngôi chùa như là một cơ sở tu hành của các nhà

sư Phật giáo Các tác giả của các công trình nghiên cứu theo hướng này đa phần là

các nhà sư Phật giáo Có thể kể tới một số công trình như Việt Nam Phật giáo sử

lược của Thích Mật Thể, Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Thích Minh Tuệ, Đạo Phật Việt Nam của Thích Đức Nghiệp, Lịch sử Phật giáo Việt Nam do Nguyễn Tài

Thư chủ biên Trong các công trình này, ngôi chùa chủ yếu được tiếp cận từ phương diện lịch sử, gắn với quá trình hình thành, phát triển của Phật giáo Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đất nước

Một hướng nghiên cứu khác là tiếp cận ngôi chùa từ phương diện kiến trúc

Theo hướng nghiên cứu này có thể kể đến các công trình sau: Kiến trúc Phật giáo

Việt Nam của tác giả Nguyễn Bá Lăng, Mỹ thuật Việt Nam của Nguyễn Phi Hoanh

Trong đó, đáng chú ý là công trình Kiến trúc Phật giáo Việt Nam của tác giả

Nguyễn Bá Lăng Nhưng tiếc rằng công trình chỉ dừng lại ở tập một và chỉ khái quát được một số đặc điểm kiến trúc chùa Việt Nam từ thời Trần trở về trước Tuy vậy, tác phẩm đã có những phát hiện lý thú về nguồn gốc của một số mô hình kiến trúc của các ngôi chùa Việt Nam [1972: 33] Và đó chính là một trong các đóng góp quan trọng của tác giả trong việc nghiên cứu kiến trúc dân tộc nói chung và kiến trúc Phật giáo Việt Nam nói riêng

Trang 6

Hướng thứ ba nghiên cứu hoặc đề cập tới ngôi chùa từ một phương diện của

nó như Việt Nam phong tục (1915) của Phan Kế Bính, Phật lục của Trần Trọng Kim (1940), Phật giáo trong mạch sống dân tộc của Thích Thanh Từ Những công

trình này ngoài việc mô tả và lý giải ý nghĩa biểu trưng của tượng thờ trong các ngôi chùa Việt Nam (Trần Trọng Kim), cấu trúc tượng thờ (Phan Kế Bính), còn hướng tới việc xác định vai trò của ngôi chùa trong lòng dân tộc (Thích Thanh Từ) Ngoài ra, ngôi chùa còn được đề cập lướt qua trong nhiều công trình như

Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh, Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần

Quốc Vượng chủ biên, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm

Nhìn chung, các công trình đã đề cập ở trên, hoặc là đề cập tới ngôi chùa như

là cơ sở tôn giáo tín ngưỡng, hoặc là đề cập tới một bộ phận, khía cạnh nào đó của ngôi chùa Việt Nam nói chung, thậm chí chỉ lướt qua ngôi chùa như là một cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt

Về ngôi chùa người Việt Nam Bộ cũng đã có nhiều công trình đề cập trước đây, với một số hướng tiếp cận tiêu biểu Ở đây, có thể nêu lên một số hướng cụ thể sau:

Hướng thứ nhất, nghiên cứu một bộ phận hay một phương diện nào đó của ngôi chùa Theo hướng này, trước hết có thể kể tới những công trình tiêu biểu như:

“Về bộ tượng 5 vị tại các ngôi chùa cổ ở Nam Bộ” (1992) của tác giả Trần Hồng

Liên, Tượng mục đồng ở Nam Bộ của hai tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại

Phúc (1996)… Những công trình này chủ yếu nghiên cứu những bộ phận, những thành tố hay một phương diện nào đó của ngôi chùa nhằm phát hiện những đặc trưng của nó trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ

Hướng thứ hai, đi sâu nghiên cứu ngôi chùa nói chung như một tổng thể bao gồm mỹ thuật, kiến trúc, cách bài trí tượng thờ và ý nghĩa của chúng Theo hướng này, có thể kể đến một số công trình sau:

Trước hết là công trình Những ngôi chùa ở thành phố Hồ Chí Minh (1993),

các tác giả chủ yếu tập trung giới thiệu khái quát về kiến trúc và mỹ thuật Phật giáo

Trang 7

của các ngôi chùa trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là mỹ thuật, điêu khắc thể hiện qua một số những vật dụng trong chùa như bàn thờ, bao lam, câu đối, hoành phi, phù điêu và các pho tượng Phật… Phần còn lại, tác phẩm chủ yếu giới thiệu về những ngôi chùa cụ thể ở thành phố Hồ Chí Minh, từ những ngôi chùa cổ xưa nhất như Giác Lâm, Phước Tường, Huê Nghiêm, Phụng Sơn cho tới những ngôi chùa mới xây dựng như Ấn Quang, Vĩnh Nghiêm, Nam Thiên Nhất Trụ…

Công trình thứ hai: Những ngôi chùa ở Nam Bộ (1994) Tác phẩm này khái

quát về những ngôi chùa ở Nam Bộ, trong đó đề cập cả những ngôi chùa của người Khmer và người Hoa Tuy nhiên, đúng như tên gọi của nó, công trình chỉ dừng lại ở việc khái quát một số nét đặc trưng cơ bản nhất của ngôi chùa ở Nam Bộ chứ chưa nêu được vai trò của nó trong đời sống cư dân người người Nam Bộ nói chung và

cư dân người Việt Nam Bộ nói riêng

Đến năm 1995, khi công trình Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam

Bộ - Việt Nam của tác giả Trần Hồng Liên được xuất bản thì ngôi chùa ở Nam Bộ

mới thực sự được tiếp cận một cách khá toàn diện Trong tác phẩm này, tác giả đã dành hơn 30 trang sách viết về ngôi chùa Nam Bộ cùng với những nét văn hóa đặc trưng của nó trong liên hệ so sánh với các vùng khác trong cả nước Đặc biệt, căn

cứ vào điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội Nam Bộ, tác giả đã tìm hiểu và lý giải về những đặc trưng kiến trúc, cách bài trí tượng thờ, mỹ thuật, điêu khắc…trong các ngôi chùa Nam Bộ Tuy nhiên, tác giả chỉ chủ yếu tập trung nói về các ngôi chùa Bắc tông và như thế, đã bỏ qua những ngôi chùa Nam tông của người Việt và những tịnh xá của Khất sĩ ở Nam Bộ

Năm 2006, công trình Những ngôi chùa nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh

do Trương Ngọc Tường và Võ Văn Tường được xuất bản Công trình được viết bằng hai ngôn ngữ Việt và Anh với nội dung dừng lại ở việc giới thiệu lịch sử, văn hóa, điêu khắc của 26 ngôi chùa mà các tác giả cho là nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

Theo hướng thứ hai này còn có thể kể tới một số công trình như Chùa Việt

Nam của tập thể tác giả Hà Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Long (2008), Di tích và danh thắng Việt Nam (2010) của tác giả Nguyễn Đình Quang Nếu như ở công trình Di tích và danh thắng Việt Nam, tác giả chủ yếu đề cập lịch sử, văn hóa, kiến trúc

của từng ngôi chùa cụ thể, riêng biệt thì ở công trình Chùa Việt Nam, ngoài việc

giới thiệu lịch sử của những ngôi chùa ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam, tác phẩm còn có một bài nghiên cứu về ngôi chùa Việt Nam của Hà Văn Tấn được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao Tuy nhiên, người đọc dễ dàng nhận ra bài nghiên cứu của ông chủ yếu đề cập tới đặc trưng văn hóa của chùa Bắc Bộ, trong khi đó những đặc trưng riêng của chùa Nam và Trung Bộ mặc dù có đề cập nhưng lại khá ít và mờ nhạt

Hướng thứ ba, là những công trình, bài viết nghiên cứu trường hợp những

ngôi chùa cụ thể Theo hướng này, có thể kế tới ba công trình tiêu biểu: Đặc điểm

lịch sử và văn hóa của hệ thống kiến trúc chùa Giác Lâm (1991) của Phạm Anh

Dũng và Chùa Giác Lâm – di tích lịch sử và văn hóa (1999) của tác giả Trần Hồng Liên, Chùa Giác Lâm trong bối cảnh chùa Nam Bộ (2003) của tác giả Hồ Ngọc

Liên Đây là những nghiên cứu mang tính trường hợp được tiếp cận một cách hệ thống, do đó cung cấp và gợi mở nhiều vấn đề bổ ích để người viết hoàn thành luận văn của mình

Ngoài ra có thể kể đến hai công trình nổi tiếng là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) và Đại Nam nhất thống chí (1847 – 1883) của Quốc sử quán triều Nguyễn Mặc dù là những tác phẩm thiên về lịch sử nhưng những ghi chép trong đó mang ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp cho chúng ta một cái nhìn lịch đại về những ngôi chùa ở Nam Bộ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôi chùa người Việt ở Nam Bộ xét trong mối liên hệ với đời sống văn hóa của cư dân người Việt nơi đây Về phạm vi

Trang 9

nghiên cứu, đề tài được xác định theo ba tiêu chí: (1) Về thời gian: Từ thế kỷ XVII đến nay, (2) Về không gian: Vùng đất Nam Bộ, (3) Về chủ thể: người Việt

4 Mục đích nghiên cứu

Mục đích trước nhất của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm tìm hiểu các giá trị và đặc trưng văn hóa của ngôi chùa trong đời sống văn hóa người Việt Nam Bộ Mục đích thứ hai là nghiên cứu ngôi chùa nhằm nhận diện các đặc điểm văn hóa Phật giáo ở Nam Bộ, từ đó có thể góp phần nhận diện đặc điểm văn hóa Phật giáo Việt Nam và rộng hơn là văn hóa dân tộc

Mục đích thứ ba là từ kết quả này, người viết muốn góp tiếng nói của mình cho việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của ngôi chùa như là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Căn cứ trên những nguồn tài liệu tương đối đa dạng và phong phú cùng với việc khảo sát đối tượng ở cả các hệ phái Phật giáo khác nhau tồn tại ở Nam Bộ, luận văn sẽ mang đến cho người đọc một cái nhìn tương đối hệ thống và toàn diện về ngôi chùa người Việt ở vùng đất mới này – điều mà các công trình trước đây chưa

có điều kiện giới thiệu hoặc đi sâu nghiên cứu

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm hay tiếp tục nghiên cứu đầy đủ và toàn diện hơn về đối tượng

Cuối cùng, luận văn có thể góp phần đánh động ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa liên quan tới ngôi chùa không những đối với cộng đồng Phật giáo mà còn đối với toàn xã hội

Trang 10

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Để triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Phương pháp này đặt đối tượng nghiên

cứu trong sự tương thuộc với các thành tố văn hóa khác của cộng đồng người Việt Nam Bộ Nhờ đó, rút ra được những ảnh hưởng của cộng đồng đối với sự hình thành các đặc trưng văn hóa của ngôi chùa; đồng thời cũng thấy được những tác động của ngôi chùa lên toàn bộ đời sống cộng đồng nơi đây

Phương pháp so sánh: Ở đây, phương pháp so sánh được người viết sử

dụng chủ yếu là so sánh nội văn hóa Tuy vậy, nhiều chỗ trong luận văn, người viết cũng sử dụng phương pháp so sánh liên văn hóa nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề

mà đề tài quan tâm Đây là phương pháp chủ yếu và trọng tâm nhất của luận văn, thông qua đó người viết mô tả và lý giải, rút ra những nét đặc trưng cơ bản nhất của ngôi chùa người Việt Nam Bộ so với ngôi chùa người Việt Bắc Bộ và một số ngôi chùa của các vùng và dân tộc khác khi cần thiết

Phương pháp điền dã: Phương pháp này giúp chúng tôi khảo sát trực tiếp đối

tượng chứ không chỉ thông qua những mô tả của những người đi trước Điều này, chắc chắn sẽ giúp cho những mô tả và lý giải của chúng tôi mang tính xác thực và

mở ra nhiều vấn đề thú vị hơn

Ngoài ra, vì đề tài có liên quan đến nhiều khía cạnh thuộc các chuyên ngành khác như: Sử học, Văn học, Ngôn ngữ học, Xã hội học, Tôn giáo học, Ký hiệu học văn hóa,… nên chúng tôi còn sử dụng hướng tiếp cận liên ngành như là một phương pháp nghiên cứu trong luận văn, nhằm lý giải vấn đề một cách sâu sắc và toàn diện hơn

Trang 11

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1: Những tiền đề lý luận và thực tiễn Trong chương này, ngoài việc

trình bày khái quát cách hiểu khái niệm tôn giáo, văn hóa tôn giáo và xem xét ngôi

chùa như bộ phận cấu thành của một tôn giáo, luận văn cũng khái quát đôi nét về khái niệm vùng văn hóa và văn hóa vùng để làm cơ sở lý luận cho các chương kế tiếp của luận văn

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn này, luận văn tiếp tục đi vào tìm hiểu ngôi chùa người Việt ở Nam Bộ trong hệ tọa độ văn hóa thời gian, không gian và chủ thể nội dung này thể hiện qua hai chương kế tiếp của luận văn:

Trước hết là Chương 2: Ngôi chùa Nam Bộ nhìn từ thời gian và không gian văn hóa Ở chương này, luận văn đi sâu vào tìm hiểu quá trình hình thành của ngôi chùa ở Nam Bộ cũng như sự có mặt của nó trong diễn trình lịch sử; đồng thời luận văn cũng mô tả, lý giải nhằm phát hiện những đặc điểm mang tính đặc trưng thể hiện qua một số phương diện như kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật và cách thờ tự của ngôi chùa người Việt ở Nam Bộ

Cuối cùng là Chương 3: Ngôi chùa người Việt Nam Bộ nhìn từ chủ thể văn hóa Ở chương này, ngoài việc tìm hiểu vai trò và những tác động ảnh hưởng của ngôi chùa trong đời sống văn hóa, xã hội Nam Bộ, luận văn còn khảo sát đối tượng qua các phương diện thuộc đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân nơi đây nhằm thấy được sự ảnh hưởng sâu rộng của ngôi chùa trong đời sống văn hóa – xã hội Nam Bộ

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Mục đích của chương này là tìm hiểu một số khái niệm liên quan tới luận văn; đồng thời cũng định vị vùng đất Nam Bộ trên phương diện không gian, thời gian và chủ thể văn hóa nhằm xác định ranh giới, quá trình hình thành và thành phần các tộc người sinh sống ở đây với tư cách là chủ nhân của một vùng văn hóa Để đạt được mục tiêu này, người viết sẽ đề cập tới một số khái niệm như tôn giáo, văn hóa tôn giáo, ngôi chùa và xác định ngôi chùa như một cơ sở tôn giáo Trong đó, có khái niệm chủ yếu được người viết tổng hợp từ những tài liệu của những người đi trước, chẳng hạn như khái niệm tôn giáo, có khái niệm được người viết trình bày theo quan điểm cá nhân của mình trên cơ sở tham khảo, đối chiếu với quan điểm của các nhà khoa học về những khái niệm liên quan, ví dụ như khái niệm văn hóa tôn giáo, ngôi chùa và ngôi chùa như một cơ sở tôn giáo Ngoài ra, người viết còn đề cập tới quan điểm về vùng văn hóa và văn hóa vùng như là khung lý thuyết cho việc tìm hiểu đối tượng của đề tài ở các chương sau

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Tôn giáo

Một trong những vấn đề khó khăn nhất trong việc tìm hiểu nội hàm của khái

niệm văn hóa tôn giáo nằm ở chỗ thuật ngữ này là sự kết hợp của hai thuật ngữ văn

hóa và tôn giáo mà cho tới nay, cả hai vẫn chưa có sự nhất trí nào từ phía các nhà

nghiên cứu Chỉ riêng về thuật ngữ tôn giáo cũng đã có quá nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau Các định nghĩa này vừa bổ túc và phong phú hóa cho nhau, vừa dị biệt, tương phản và nhiều khi loại trừ nhau Lý do của sự khác biệt này rất đa diện và phức tạp, nhưng yếu tố chính vẫn do bản chất của các tôn giáo lịch sử, cũng như do thế đứng, góc nhìn, quan điểm và chọn lựa của người nghiên cứu

Trang 13

Ở Việt Nam, tình hình này cũng diễn ra tương tự Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là chưa có sự thống nhất giữa các nhà khoa học về khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng Có người cho rằng, tôn giáo và tín ngưỡng mà các nhà nghiên cứu đề cập hiện nay thực chất chỉ là một [Đặng Nghiêm Vạn 1998: 11-36]

Do đó, tất cả các hiện tượng văn hóa tâm linh diễn ra trong xã hội Việt Nam hiện nay như thờ Mẫu, thờ Thành hoàng, thờ tổ tiên đều được hiểu là các hiện tượng tôn giáo Trong khi đó, có người cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng là hai khái niệm khác biệt nhau [Nguyễn Đăng Duy 2001: 7-26] Thậm chí có người còn cho rằng tôn giáo là một hiện tượng văn hóa cao hơn tín ngưỡng một bậc [Dẫn lại Nguyễn Quốc Tuấn 2009: 218]

Thật ra, xét về phương diện văn hóa, không có một hiện tượng văn hóa nào cao hơn hiện tượng văn hóa nào, và càng không thể gọi là tôn giáo cao hơn tín ngưỡng một bậc

Gần đây, có lẽ không muốn tạo nên một sự tranh cãi không cần thiết, một số tác giả có xu hướng sử dụng khái niệm tôn giáo tín ngưỡng hay tín ngưỡng tôn giáo

để chỉ một số hiện tượng văn hóa tôn giáo tín ngưỡng nói chung Tuy nhiên, từ góc

độ nghiên cứu một hiện tượng thuộc về văn hóa tôn giáo, người viết vẫn tán đồng ý kiến của các nhà nghiên cứu trong việc phân biệt sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng, ít nhất là về phương diện cấu trúc Tôn giáo bao gồm các yếu tố cấu thành sau: thần phả, giáo lý, tổ chức tôn giáo, nghi lễ và cơ sở thờ tự Trong khi đó, một hiện tượng văn hóa được xem là tín ngưỡng không nhất thiết phải có các yếu tố này Tín ngưỡng không nhất thiết phải có thần phả Trong tín ngưỡng, người ta có thể biểu hiện niềm tin đối với bất kỳ một đối tượng nào, cho dù đối tượng đó là một sự vật hay một hiện tượng Tín ngưỡng cũng không nhất thiết phải có giáo lý, vì tín ngưỡng thực chất chỉ là niềm tin của con người đối với các sự vật, hiện tượng mà họ cho là có ảnh hưởng hoặc chi phối hoặc ít, hoặc nhiều đến đời sống của họ Tín ngưỡng cũng không nhất thiết phải có tổ chức, vì trong tín ngưỡng, bất kỳ ai cũng

có thể thực hiện các hoạt động, hành vi tín ngưỡng Cuối cùng, tín ngưỡng cũng

Trang 14

không nhất thiết phải có nghi lễ, cơ sở thờ tự, vì người ta có thể thực hiện hoạt động tín ngưỡng theo cách của họ và thực hành bất cứ ở đâu

Dĩ nhiên, cách phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng theo các tiêu chí vừa đề cập ở trên chỉ có giá trị tương đối Bởi vì, không phải bất kỳ một hiện tượng tôn giáo nào cũng đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành nên một tôn giáo; và ngược lại không phải bất kỳ hiện tượng tín ngưỡng nào cũng thiếu vắng các yếu tố kể trên Ở đây, quan niệm tôn giáo theo hướng hiện đại này chỉ có thể áp dụng đối với các tôn giáo

đã có một quá trình phát triển lâu đời, thậm chí đã trở thành thiết chế văn hóa tôn giáo tín ngưỡng gắn liền với đời sống của một cộng đồng, quốc gia dân tộc

1.1.2 Văn hóa tôn giáo

Văn hóa tôn giáo là một khái niệm kép, kết hợp từ hai thuật ngữ văn hóa và

tôn giáo Tùy theo cách hiểu về văn hóa mà văn hóa tôn giáo có một nội hàm tương ứng Nhưng văn hóa lại là một khái niệm rộng và chưa có sự nhất trí từ phía các nhà nghiên cứu, do đó khái niệm văn hóa tôn giáo chắc chắn còn có nhiều vấn đề chưa được hiểu một cách thống nhất

Trong công trình Giá trị hiện đại và công năng của văn hóa tôn giáo, một tác

giả người Trung Quốc cho rằng, văn hóa tôn giáo là một bộ phận cấu thành của văn hóa truyền thống, nó không chỉ ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tinh thần của các tín

đồ tôn giáo mà còn tác động quan trọng đến toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần xã hội1 Điều này cho thấy, văn hóa tôn giáo là một thành tố quan trọng của văn hóa

Nó ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống của cộng đồng không phân biệt đó là cộng đồng tôn giáo hay cộng đồng không theo tôn giáo

Trong khi đó, ở Việt Nam, từ góc độ giá trị văn hóa, trong tác phẩm Lên đồng

– hành trình của thần linh và số phận, Ngô Đức Thịnh cho rằng, văn hóa tôn giáo là

“toàn bộ những hiện tượng và những giá trị văn hóa mang tính hệ thống được hình thành, tích hợp và phát triển trên một nền tảng ý niệm, một giáo lý, một hệ thống tổ

1

http://www.qygxt.com/Article/rdwz/200707/583.html

Trang 15

chức tôn giáo nào đó, chúng tạo ra các giá trị đích thực và thỏa mãn những nhu cầu

về nhận thức, lối sống thẩm mỹ của con người” [2010: 197]

Có thể còn rất nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa tôn giáo từ phía các nhà nghiên cứu Ở đây, chúng tôi sử dụng định nghĩa văn hóa tôn giáo của Ngô Đức Thịnh vừa nêu trên như là một định nghĩa chính thức nhằm làm tiền đề cho nghiên cứu của mình trong luận văn

1.1.3 Ngôi chùa như một cơ sở tôn giáo

Chùa nói chung là một danh từ có nguồn gốc khá mơ hồ và không thống nhất Căn cứ vào hình dạng ban đầu của ngôi chùa ở Việt Nam, có người cho rằng chùa bắt nguồn từ chữ thupa (tiếng Pali) hay stupa (tiếng Sanskrit) của Ấn Độ Nhưng theo Hà Văn Tấn, đó cũng chỉ là một trong số các giả thuyết về nguồc gốc của từ

“chùa” [2009: 2]

Ở Việt Nam, trong thư tịch cổ người ta còn dùng chữ chiền với tính cách là

một từ độc lập để chỉ chùa.2Ngày nay, từ chiền không còn dùng độc lập nữa thay vào đó người ta dùng từ chùa chiền như một từ ghép để chỉ chung những ngôi chùa

thờ Phật

Ngoài chữ chùa người Việt còn dùng nhiều từ gốc Hán để chỉ chùa như: Tự,

già lam, phạm sát Ở Nam Bộ, do sự phóng khoáng, linh hoạt trong việc tiếp thu

các giá trị văn hóa mới mà ngôi chùa ở đây còn có thêm nhiều tên gọi khác để phù hợp với thực tiễn như: tịnh xá, tu viện, thiền viện, trong đó có nhiều tên gọi chỉ xuất hiện ở Nam Bộ như pháp viện, thiền thất, thiền tự

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì chùa là công trình được

xây cất lên làm nơi thờ Phật [2006: 181] Định nghĩa này không sai, nhưng chưa đủ, chưa khái quát được hết thực tế chức năng sinh động của ngôi chùa

2

Chữ của Trần Nhân Tông, trong bài phú Cư trần lạc đạo, hội thứ 10: Núi hoang rừng hoạnh, ấy là nơi dật

sĩ tiêu dao/ Chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hý

Trang 16

Trong bài viết Ý nghĩa các tên gọi của ngôi chùa dưới góc độ ngôn ngữ văn

hóa, tác giả Tạ Đức Tú cho rằng, chùa là một tập hợp kiến trúc nhà làm nơi thờ

Phật Đó là tài sản chung của một cụm người cư trú trên địa bàn nhất định.3

Trong khi đó, ở công trình Chùa Hà Nội, tác giả Lạc Việt cho rằng, chùa là

nơi đặt thờ tượng Phật và là chỗ cư trú, tu hành đạo Phật của tăng ni, nơi thực hành các nghi thức tôn giáo tín ngưỡng của Phật tử [2009: 29] Mặc dù, so với quan điểm của Tạ Đức Tú, quan điểm này có phần khái quát hơn nhưng nó vẫn không bao quát được thực tiễn ngôi chùa người Việt Bởi vì, chùa người Việt không chỉ là nơi thờ Phật, mà trong nhiều trường hợp, chùa còn là nơi thờ Tổ, các bậc Thánh tăng, thậm chí nhiều chùa còn thờ cả thần, thánh trong Nho giáo, Đạo giáo và các tôn giáo tín ngưỡng dân gian khác

Ở đây, căn cứ vào những định nghĩa vừa dẫn trên cùng với thực tiễn của ngôi chùa người Việt ở vùng đất Nam Bộ, chúng ta có thể hiểu, chùa là một hệ thống kiến trúc chủ yếu dùng để thờ Phật, các vị tổ sư, các vị tiền bối hữu công với Phật giáo; là nơi cư trú, sinh hoạt, tu học của tăng ni, Phật tử đồng thời cũng là nơi diễn

ra các hoạt động văn hóa – xã hội, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng của đạo Phật và

một số tín ngưỡng ngoài đạo Phật Hay nói một cách khái quát, chùa là một hệ

thống kiến trúc mà các nhà sư Phật giáo dùng để cư trú và sinh hoạt nhằm mục đích thực hiện các chức năng tôn giáo, tín ngưỡng và chức văn hóa, xã hội của mình

Từ cách hiểu này, có thể thấy, ngôi chùa có quan hệ gắn bó hữu cơ với đời sống của cộng đồng Hay nói cụ thể hơn, ngôi chùa hình thành từ nhu cầu thực tiễn của cộng đồng Do đó những tác động từ phía cộng đồng là cội nguồn của những thay đổi mang tính quyết định nhằm góp phần tạo nên diện mạo đặc trưng riêng của ngôi chùa Và tới lượt những cái riêng này lại làm nên sự đa dạng của ngôi chùa trong đời sống văn hóa Phật giáo của mỗi quốc gia, dân tộc hay ít nhất là một vùng đất với tính cách là một vùng văn hóa Các tác động của các cá nhân, tổ chức lên

3

ten-goi-cua-chua-duoi-goc-do-ngon-ngu-van-hoa.html

Trang 17

http://www.vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/t-mainmenu-114/van-hoa-viet-nam/1425-ta-duc-tu-y-nghia-cac-ngôi chùa, nếu có, chỉ nhằm hỗ trợ, điều chỉnh phù hợp sao cho khi các http://www.vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/t-mainmenu-114/van-hoa-viet-nam/1425-ta-duc-tu-y-nghia-cac-ngôi chùa hiện diện luôn đảm bảo được nhu cầu và khuynh hướng thẩm mỹ chung của cộng đồng

Mặt khác, khi nói tới ngôi chùa là nói tới cơ sở tôn giáo của Phật giáo Và cơ

sở tôn giáo này gắn bó hữu cơ với các thành tố khác trong cấu trúc của Phật giáo, xét như một tôn giáo, bao gồm thần phả, giáo lý, tố chức, nghi lễ Bởi vì, chính từ ngôi chùa, người ta có thể nhận diện được thần phả của Phật giáo như các vị Phật, các vị Bồ tát, La hán Cũng từ ngôi chùa, người ta có thể nhận diện được, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp hệ thống tổ chức của Phật giáo Cũng từ ngôi chùa, thông qua các hoạt động hoằng pháp của các nhà sư, người ta có thể nhận thức được giáo

lý của nhà Phật Và cuối cùng, cũng từ ngôi chùa nghi lễ Phật giáo được biểu hiện thông qua các hoạt động tụng kinh, bái sám của các nhà sư và các tín đồ Phật tử Tóm lại có thể nói, cùng với các yếu tố khác như thần phả, giáo lý, tổ chức, nghi lễ, ngôi chùa là một trong những thành tố quan trọng cấu thành nên Phật giáo, xét như một tôn giáo Và thông qua ngôi chùa, người ta có thể nhận diện được nhiều phương diện khác nhau của Phật giáo ứng với không gian tồn tại của nó Thậm chí, thông qua đó, người ta còn có thể nhận diện được một số các đặc điểm văn hóa của một cộng đồng, dân tộc

1.1.4 Vùng văn hóa và văn hóa vùng

1.1.4.1 Vùng văn hóa

Từ lâu, việc xác định vùng miền, phân biệt, lý giải sự tương đồng và khác biệt văn hóa giữa các vùng này với vùng khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác đã được nhiều người biết đến

Ở Việt Nam, khuynh hướng phân vùng văn hóa như một khoa học nhằm tìm hiểu các đặc trưng văn hóa vùng miền, dân tộc, địa phương chỉ mới thực sự định hình trong những thập niên gần đây Tuy nhiên, trong tâm thức người Việt, sự phân biệt vùng miền, địa phương với các sắc thái văn hóa khác nhau đã xuất hiện từ rất

Trang 18

lâu đời Có thể thấy rõ điều này qua các tác phẩm văn học dân gian gắn liền với những tên làng, tên đất, tên sản vật đặc trưng của từng vùng đất cụ thể của Việt Nam Ý thức phân biệt vùng miền còn được thể hiện qua các tác phẩm địa chí ghi chép về một làng, một xã, một tỉnh, một thành phố Thậm chí, người ta còn có thể thấy điều này thể hiện trong phân chia địa giới hành chính nữa Dĩ nhiên, theo Ngô Đức Thịnh, đó chỉ mới là những cảm nhận, những tiên nghiệm và ý niệm về “không gian văn hóa”, chứ chưa phải là tư duy phân vùng văn hóa với tư cách là một khái niệm khoa học như chúng ta hiểu ngày nay

Mãi cho đến thập niên 60 trở đi, những công trình của nhiều tác giả thuộc các chuyên ngành khác nhau bắt đầu công bố trên các tạp chí chuyên ngành, thì ở Việt Nam, vùng văn hóa mới thực sự trở thành một khái niệm khoa học Tuy nhiên, do xuất phát từ những mục đích, hướng nghiên cứu khác nhau mà nội hàm khái niệm vùng văn hóa có nhiều điểm chưa thống nhất4 Ở đây, với mục đích nghiên cứu một hiện tượng văn hóa tôn giáo vùng, người viết chọn cách hiểu vùng văn hóa của Ngô Đức Thịnh làm tiền đề cho nghiên cứu của mình Theo đó, vùng văn hóa được phát

biểu là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư

sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân,

có thể phân biệt với vùng văn hóa khác [Ngô Đức Thịnh 2004: 64]

1.1.4.2 Văn hóa vùng

Văn hóa vùng là một khái niệm cho tới nay vẫn chưa được thống nhất cao bởi

các nhà nghiên cứu Trong công trình Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt

Nam, Ngô Đức Thịnh cho rằng, văn hóa vùng là một dạng thức của văn hóa [2006:

42] Đó là các nét văn hóa/ hệ giá trị văn hóa mang tính đặc trưng của vùng, mà tại

4

Xem thêm Ngô Đức Thịnh 2004: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam – TP.HCM: NXB Trẻ,

tr 53-61

Trang 19

đó, căn cứ vào những nét hay hệ giá trị văn hóa này, người ta có thể nhận biết được một không gian hay vùng văn hóa

Trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Quốc Vượng thì cho rằng văn

hóa vùng là những nét văn hóa tương đồng và khác biệt hình thành trên cơ sở điều kiện lịch sử, xã hội khác nhau của các tộc người trong một không gian văn hóa nhất định [Trần Quốc Vượng 2009: 208] Cách hiểu này cho thấy, văn hóa vùng là sự tổng hợp hay nói đúng hơn là sự dung hợp văn hóa của các tộc người diễn ra trong quá trình hình thành và phát triển của các tộc người ấy trong một không gian văn hóa nhất định Tại đó, các tộc người trong cộng đồng vừa sinh hoạt, lưu giữ các giá trị văn hóa riêng của mình nhưng đồng thời cũng vừa tiếp nhận các giá trị văn hóa mới của tộc người khác như là một kết quả tất yếu của quá trình cộng cư giữa các tộc người

Từ những cách hiểu trên, chúng ta có thể hiểu văn hóa vùng là một hệ thống

các giá trị văn hóa hình thành trên nền tảng của sự giao lưu, dung hợp văn hóa của tộc người hay một cộng đồng trong một không gian văn hóa xác định, từ đó tạo nên những sắc thái văn hóa chung tiêu biểu cho cả vùng, có thể khu biệt với văn hóa các vùng khác

Căn cứ vào cách hiểu trên, có thể thấy Nam Bộ là một vùng văn hóa với các nét văn hóa đặc trưng có thể khu biệt với văn hóa các vùng khác trong cả nước Các nét văn hóa đặc trưng này, biểu hiện sâu rộng trong đời sống văn hóa cộng đồng cư dân Nam Bộ cả về đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần

1.2 Định vị văn hóa người Việt Nam Bộ

1.2.1 Không gian văn hóa

Nam Bộ là vùng đất phía Nam của Việt Nam, phía Tây tiếp giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia, gồm địa bàn 19 tỉnh thành

Trang 20

Về phương diện văn hóa, có thể chia Nam Bộ thành ba tiểu vùng khác nhau: tiểu vùng Đông Nam Bộ, tiểu vùng Tây Nam Bộ và tiểu vùng Sài Gòn – Gia Định [Ngô Đức Thịnh 2006: 32]

Đông Nam Bộ là vùng phù sa cổ đệm giữa cao nguyên đất đỏ và châu thổ sông Cửu Long rộng khoảng 26.000km2, gồm các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh Địa hình nơi đây bao gồm vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ xen kẽ những những dãy đồi núi thưa thớt có độ cao trung bình 100m-200m Nằm kề Tây Nam Bộ - vùng lương thực thực phẩm lớn nhất cả nước, lại có giao thông thủy bộ thuận lợi, nên Đông Nam Bộ rất dễ dàng giao lưu với các vùng khác trong cả nước Đặc biệt, cụm cảng Sài Gòn

và Vũng Tàu còn là cửa ngõ để Đông Nam Bộ hướng ra giao lưu với thế giới bên ngoài nhằm phát triển kinh tế, thương mại và văn hóa

Bên cạnh thuận lợi về giao thông, Đông Nam Bộ còn có nhiều thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên, trong đó rừng là một dạng tài nguyên quan trọng ở Đông Nam

Bộ Mặc dù không quá lớn như ở các vùng miền núi phía Bắc nhưng rừng Đông Nam Bộ cũng góp phần rất lớn trong việc cung cấp gỗ dân dụng và gỗ củi cho thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nam Bộ Ngoài ra, ở đây còn có khu vườn quốc gia Cát Tiên nổi tiếng, nơi còn bảo tồn được nhiều loài thú quý hiếm

Nếu như Ðông Nam Bộ là vùng phù sa cổ đệm giữa cao nguyên đất đỏ và châu thổ sông Cửu Long, thì Tây Nam Bộ lại là vùng phù sa mới với độ cao trung bình từ 1m - 2m so với mặt biển Hiện tại, Tây Nam Bộ bao gồm 12 tỉnh thành và một thành phố trực thuộc Trung ương: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Ðồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trãng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ Ðây là vùng đất được đặc trưng bởi những giồng cát chạy dọc ven biển, ven sông với một hệ thống sông rạch dày đặc vào bậc nhất ở nước ta So với những vùng khác ở Trung và Bắc Bộ, những con sông ở Tây Nam

Bộ không có độ dốc lớn, do đó tốc độ dòng chảy cũng không cao bằng Mặt khác,

do được nối với một hệ thống kênh rạch chằng chịt nên việc phân lũ vào mùa mưa cũng trở nên dễ dàng hơn so với các vùng khác trong cả nước Người dân có thể lưu

Trang 21

thông trên các con sông, các con kênh rạch bằng các loại ghe xuồng một cách dễ dàng Đặc điểm này khiến cho Tây Nam Bộ trở thành một không gian văn hóa sông nước đặc trưng so với các vùng khác trong cả nước

Do điều kiện địa lý đặc thù quy định, Tây Nam Bộ có hệ sinh thái hết sức đa dạng: ngọt, lợ, mặn đan xen Tính da dạng và phong phú của hệ sinh thái vừa là tiềm năng trong khai thác kinh tế, vừa là điều kiện quy định phương thức sinh hoạt, lối sống, sáng tạo văn hóa của con người nơi đây

Ngoài ra, với vị thế ba mặt tiếp giáp biển, với tổng chiều dài trên 700 km, Tây Nam Bộ có một ưu điểm mà khó có vùng nào có được, đó là môi trường giao lưu rộng mở, rất thuận lợi cho tiếp xúc và giao lưu văn hóa – phát triển kinh tế.5

Nằm đệm giữa vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ là thành phố Sài Gòn, nay

là thành phố Hồ Chí Minh Đây là vùng đất đầu mối giao thông thủy, bộ quan trọng của Nam Bộ; đồng thời cũng là nơi đi đầu trong việc tiếp xúc, giao lưu văn hóa với các nước bên ngoài Nhờ dẫn đầu về tiếp xúc văn hóa nên Sài Gòn sớm trở thành đầu tàu cho cả nước trong tiến trình đổi mới, tiếp thu, sàn lọc văn hóa trong khu vực

và thế giới, đặc biệt là phương Tây

Về phương diện khí hậu, Nam Bộ có khí hậu nhiệt đời gió mùa điển hình với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt, nhiệt độ quanh năm nóng ẩm Tuy nhiên, nhờ được bao phủ bởi hệ sống kênh rạch dày đặc và ba bề giáp biển nên mức độ nóng ở Nam

Bộ không quá gay gắt như ở Trung, Bắc Bộ Ngoài ra, Nam Bộ cũng ít thiên tai bão

lũ, rất thuận lợi cho các loài động thực vật sinh trưởng và phát triển [Lê Bá Thảo 2008: 266] Đây là điều kiện thuận lợi để cư dân Nam Bộ yên tâm lao động sản xuất, làm giàu thêm cho vùng đất mới

Nhìn chung, có thể nói, so với các vùng khác trong cả nước, Nam Bộ là vùng đất trẻ, vùng đất mới Tuy nhiên, do nằm trong khu vực địa lý đặc thù, thuận lợi về

5

hoa-du-lich-tu-goc-nhin-su-van-hoa-va-dia-van-hoa.html

Trang 22

http://www.vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-du-lich/1509-dinh-thi-dung-van-giao thông nên Nam Bộ sớm trở thành vùng văn hóa năng động, đi đầu trong cả nước về giao lưu với văn hóa khu vực và quốc tế

Bộ, các tộc người như Mạ, Xtiêng, Châu Ro lại chủ yếu sống bằng nghề trồng rẫy, khai thác lâm nghiệp Họ sinh hoạt có phần khép kín so với các dân tộc khác Nhìn chung, về phương diện tộc người, Nam Bộ là nơi dung nạp nhiều thành phần tộc người khác nhau trong cả nước Mỗi tộc người đều giữ cho dân tộc mình những nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng riêng, tạo nên đặc trưng đa văn hóa cho cả vùng Nam Bộ Tính chất đa văn hóa, đa tộc người này từng được Trịnh Hoài Đức

ghi nhận trong Gia Định thành thông chí như sau: “Gia Định là đất phương Nam

của nước Việt Khi mới khai thác, dân lưu tán nước ta và người Đường, người Tây Dương, người Cao Miên, người Chà Và… cùng cư ngụ xen kẽ lẫn nhau, mà áo mặc,

đồ dùng thì người nước nào theo tục nước ấy” [Trịnh Hoài Đức 1820/1999: 143]

Trang 23

Không chỉ đa văn hóa, đa tộc người, Nam Bộ còn là vùng đất đa tôn giáo, tín ngưỡng [Nguyễn Đắc Hưng 2010: 292] Có thể nói so với các vùng miền khác trong

cả nước, kể cả Bắc Bộ, Nam Bộ là nơi có nhiều tôn giáo nhất Trong số các tôn giáo

đó, nổi lên nhiều tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin lành Ngoài những tôn giáo lớn này, ở Nam Bộ xuất hiện một số các đạo giáo đặc thù mà sức ảnh hưởng của nó rất mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân như đạo Cao Đài, Hòa Hảo,

Tứ Ân Hiếu Nghĩa [Thích Đồng Bổn 2007: 53] Mặc dù có nguồn gốc khác nhau, lại không đồng tôn giáo, nhưng người Nam Bộ luôn sống hòa hợp với nhau, tôn trọng lẫn nhau Với họ đạo nào cũng tốt, miễn sao việc thực hiện hành vi tôn giáo, tín ngưỡng không vi phạm những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của cộng đồng [Phan Xuân Biên 2004: 95]

Như vậy, việc cộng cư của nhiều tộc người ở Nam Bộ chính là cơ sở tạo nên tính đa dạng của văn hóa nơi đây Tính đa dạng đó là sản phẩm tất yếu của quá trình dung hợp, tiếp biến và sáng tạo văn hóa của nhiều tộc người khác nhau ở vùng đất phương Nam này, trong đó, đóng vai trò nổi bật nhất là các tộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm… Tuy nhiên, chủ thể văn hóa của cả vùng lại chính là người Việt – một tộc người chiếm đa số và đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên sắc thái văn hóa chung cho cả vùng đất Nam Bộ này

1.2.3 Thời gian văn hóa

Căn cứ vào công cuộc mở đất về phương Nam của dân tộc thì Nam Bộ là một miền đất mới, vùng đất trẻ Tuy nhiên, đứng về phương diện văn hóa thì vùng đất này đã có lịch sử rất lâu đời Kết quả khảo cổ học gần đây đã chứng minh sự tồn tại của các nền văn hóa trước đó ở Nam Bộ không chỉ thông qua các chủng loại công

cụ lao động, âm nhạc nghệ thuật… mà còn thể hiện qua những di vật chứng tỏ cư dân nơi đây đã trải qua một quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với các vùng phụ cận và khu vực [Huỳnh Công Bá 2008: 266]

Trên cơ sở đó, vào khoảng thế kỷ thứ I, lớp cư dân này bắt đầu tiến xuống chinh phục vùng đồng bằng sông Cửu Long và phía Đông Campuchia, hình thành

Trang 24

nên vương quốc Phù Nam hùng mạnh với các trung tâm văn hóa, kinh tế – chính trị khá nổi tiếng, mà tiêu biểu nhất là đô thị cảng Óc Eo – Ba Thê Sự ra đời của nhà nước Phù Nam và việc hình thành đô thị này, theo Thạch Phương, đã đánh dấu một bước tiến có ý nghĩa lịch sử trong việc chinh phục vùng đất đồng bằng sông Cửu Long [1992: 26] của con người nơi đây Tuy nhiên, chỉ sau vài thế kỷ, vương triều Phù Nam suy tàn dần, tạo nên một sự đứt gãy văn hóa cho tới khi người Khmer thực

sự bắt tay vào công cuộc khai phá vùng đất mới này vào khoảng thế kỷ XIII

Mãi đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt mới bắt đầu

công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ Đây có thể xem là giai đoạn mở đầu cho sự

định hình văn hóa vùng Nam Bộ mà sử sách gọi là giai đoạn hay thời kỳ khẩn hoang Đặc biệt là từ thế kỷ XVII trở đi, sự xuất hiện lần lượt của ba tộc người Việt,

Hoa và Chăm cùng với sinh hoạt văn hóa của họ đã tạo nên một sự chuyển biến lớn

về văn hóa, xã hội ở vùng đất Nam Bộ

Trước tình hình phát triển của vùng đất mới, năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu sai thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược miền Nam, trên cơ sở cư dân lúc bấy giờ, ông đã cho thiết lập bộ máy hành chính tại vùng đất này Cũng từ năm này, chính quyền chúa Nguyễn đưa người tới đây để xây dựng làng mạc và bắt đầu

tổ chức hệ thống thuế ở phương Nam [Dẫn lại Choi Byung Wook 2011: 39]

Như vậy, cùng với các tộc người bản địa, sự xuất hiện của các cư dân người Việt, người Hoa, người Chăm từ thế kỷ XVI, XVII trở đi tạo nên một diện mạo văn hóa mới cho cả vùng Nam Bộ Đó là những nét văn hóa đặc trưng hình thành trong quá trình cộng cư, giao lưu văn hóa giữa các tộc người nơi đây Trong đó góp phần làm nổi bật diện mạo văn hóa Nam Bộ không thể không kể tới văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng, mà tại đó Phật giáo được xem là một tôn giáo có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng

Đến cuối thế kỉ XIX, Nam Bộ rơi vào tay thực dân Pháp, mở đầu cho thời kỳ

giao lưu của Nam Bộ đối với phương Tây Thực ra, ngay từ thế kỷ XVIII, trước khi

Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam năm 1858, việc tiếp xúc văn hóa phương Tây của

Trang 25

Nam Bộ đã diễn ra, thông qua các nhà truyền giáo và buôn bán Có điều sau năm

1858, việc tiếp xúc với văn hóa phương Tây ở Nam Bộ diễn ra mạnh mẽ hơn Nhất

là sau năm 1867 khi Nam Kỳ lục tỉnh trở thành thuộc địa của Pháp, thì văn hóa phương Tây đã chi phối mạnh mẽ đến người Nam Bộ Lúc ấy, để phục vụ cho chính sách thực dân, người Pháp đã cố gắng tạo ra một thiết chế văn hóa mới theo kiểu phương Tây trên các lĩnh vực chữ viết, giáo dục, truyền thông, giải trí, kiến trúc, trang phục, ẩm thực… dưới hình thức cưỡng bức Từ những thiết chế văn hóa đó, người Pháp chi phối gần như toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng cư dân Nam Bộ Tuy vậy, với tư cách là một tôn giáo có mặt từ những ngày đầu khai

mở đất, Phật giáo vẫn ít nhiều ảnh hướng đến nhiều phương trong diện đời sống sinh hoạt của cộng đồng

Đến khi Pháp rút khỏi Nam Bộ, Mỹ nhanh chóng thay thế và xây dựng chính quyền mới ở đây cho tới khi công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam hoàn thành năm 1975 Trong thời gian này, Mỹ đã đẩy mạnh đầu tư, tăng cường phát triển hệ thống đô thị bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng như

mở rộng mạng lưới giao thông, sân bay, cầu cảng… nhằm phục vụ cho chiến tranh Cùng với quá trình đó, những yếu tố văn hóa mới cũng dần dần ảnh hưởng đến đời sống cư dân Nam Bộ, đặc biệt là ở các đô thị lớn Mặc dù vậy, những sinh hoạt văn hóa của Phật giáo ở Nam Bộ vẫn tiếp tục duy trì và phát triển Thậm chí, trong nhiều trường hợp, cộng đồng còn ra sức đấu tranh, bảo vệ Phật giáo cùng các sinh hoạt của nó như là cách bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp lâu đời của dân tộc

Sau giải phóng 1975, đặc biệt từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, Nam Bộ chủ động hội nhập cùng thế giới, giao lưu với Phương Tây và khu vực trên tất cả các lĩnh vực khoa học, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục Sự giao lưu, hội nhập văn hóa khu vực và thế giới khiến cho Nam Bộ nhanh chóng phát triển trên nhiều phương diện Trong tình hình đó, Phật giáo cũng nhanh chóng hội nhập với Phật giáo khu vực và thế giới Quá trình này thể hiện sâu rộng qua nhiều phương diện

Trang 26

khác nhau của Phật giáo ở Nam Bộ, đặc biệt là ở phương diện giáo dục, hoạt động giao lưu Phật giáo quốc tế

Tóm lại, mặc dù Nam Bộ là vùng đất có bề dày lịch sử, song lớp văn hóa của

cư dân đầu tiên bị đứt gãy từ thế kỷ thứ VIII, trong khi lớp văn hóa của cư dân thứ hai bắt đầu hình thành từ thế kỷ thứ XIV chủ yếu tập trung ở một số địa phương ở Tây Nam Bộ, do đó chưa đủ để tạo nên diện mạo văn hóa chung cho cả vùng Nam

Bộ Chỉ từ thế cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII trở đi, khi lớp cư dân người Việt cùng với người Hoa, người Chăm lần lượt tiến vào Nam Bộ, ra sức khẩn hoang, tạo lập cuộc sống mới thì văn hóa vùng đất này mới thực sự định hình với nhiều đặc trưng tiêu biểu cho cả vùng Nam Bộ Từ thế kỷ XIX đến nay, Nam Bộ bước vào thời kỳ giao lưu và hội nhập quốc tế, trở thành vùng đất “đi sau về trước” trên nhiều phương diện so với các vùng khác trong cả nước Cùng với mỗi lớp văn hóa đó, sự xuất hiện của Phật giáo đã góp phần làm phong phú, đa dạng hơn đặc trưng văn hóa của cả vùng Nam Bộ, đặc biệt là văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng

Trang 27

Chương 2 NGÔI CHÙA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ NHÌN TỪ THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA

Bất cứ một hiện tượng văn hóa nào cũng gắn với một chủ thể văn hóa nhất định, một không gian văn hóa nhất định và một thời gian văn hóa nhất định Hay nói cách khác, chủ thể, không gian và thời gian văn hoá là cái trục, là hệ quy chiếu

để xét một hiện tượng văn hóa

Đối với ngôi chùa người Việt Nam Bộ, chủ thể chính là người Việt, còn không gian và thời gian chính là không gian tồn tại của ngôi chùa xét trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của nó trong đời sống cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Thông qua các chiều kích này, khuynh hướng vận động, phát triển cùng với những đặc trưng văn hóa của ngôi chùa được thể hiện rõ nét như là một trong những yếu tố tạo nên diện mạo văn hoá tôn giáo, tín ngưỡng Phật giáo ở vùng đất Nam Bộ này

2.1 Ngôi chùa người Việt Nam Bộ nhìn từ thời gian văn hóa

2.1.1 Sự hình thành ngôi chùa người Việt ở Nam Bộ

Phật giáo với tính cách là một triết lý, đạo đức sống được khởi nguồn từ bài pháp đầu tiên do chính Tất-đạt-đa (Siddhartha), tức đức Phật thuyết lên cho năm anh em tôn giả A-nhã Kiều-trần-như (Ajnata Kundinya), tại vườn Nai (Mrgadava) ở ngoại thành Ba-la-nại (Varamasi) [Thánh Nghiêm 2006: 40] Đó cũng là điểm khởi đầu của quá trình hình thành tăng đoàn của Phật giáo Ấn Độ

Từ Ấn Độ, Phật giáo truyền bá sang các quốc gia khác, trước hết là các quốc gia phương Đông Tại đây Phật giáo có hai hệ phái chính: Nam tông còn gọi là Phật

Trang 28

giáo Nguyên thủy (Theraveda), Bắc tông hay gọi là Phật giáo phát triển, Phật giáo Đại thừa (Mahayana) Theo các nhà nghiên cứu trước đây, Phật giáo Đại thừa có khuynh hướng phóng khoáng, còn Phật giáo Nguyên thủy có khuynh hướng bảo thủ

Ở Việt Nam, Phật giáo cũng có mặt từ rất sớm và chủ yếu phát triển mạnh ở vùng Dâu – Thuận Thành – Hà Bắc [Phạm Xuân Nam 2008: 231] Trải qua các thời

kỳ lịch sử, Phật giáo từng bước trở thành tôn giáo được đông đảo cư dân người Việt tôn sùng và tin theo Ở Nam Bộ, ngay từ lúc đầu của cuộc di dân, Phật giáo đã dần dần có mặt và định hình trong đời sống cộng đồng Theo Trần Hồng Liên, con đường du nhập này có thể khái quát thành 4 hướng chủ yếu sau [2000: 10 - 11]:

1 Hướng thứ nhất, trong số đoàn người di dân từ miền đất Thuận – Quảng vào khái phá vùng đất mới có cả những nhà sư người Việt và người Hoa Và chính họ là những người đặt nền móng đầu tiên cho Phật giáo vào Nam Bộ theo đường bộ

2 Hướng thứ hai, theo đường thủy, từ Trung Quốc, đạo Phật được các nhà sư đến thẳng vùng Đồng Nai, Gia Định, Mỹ Tho rồi từ đó lan tỏa ra các vùng lân cận

3 Hướng thứ ba, đầu thế kỷ XVIII, Mạc Cửu người Quảng Đông, từ Chân Lạp sang vùng đất mới, đặt tên là Hà Tiên và cho xây dựng chùa Tam Bảo Đây là một trong những hướng du nhập của Phật giáo Trung Hoa vào Nam Bộ theo hướng ngược lại của cuộc di dân

4 Hướng thứ tư, năm 1938, Hộ Tông truyền bá Phật giáo Nam Tông từ Campuchia vào Nam Bộ Đây là một trong những nhân tố góp phần tạo ra một nét mới cho Phật giáo Nam Bộ nói chung và Ngôi chùa người Việt nói riêng

Trong công trình Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nguyễn Duy Hinh cũng

cho rằng Phật giáo vào Nam Bộ theo 4 hướng trên với các nhân vật đại biểu tương ứng với ý kiến của tác giả Trần Hồng Liên Tuy nhiên, khi phân chia các dòng Phật giáo thì ông đã nhập Khất sĩ và Nam tông người Việt làm một và cho rằng hai truyền thống này thuộc Nam tông dạng Campuchia [2011: 327] Đó là một cách tiếp cận Tuy nhiên theo người viết, không thể đồng nhất Phật giáo Khất sĩ với Phật giáo

Trang 29

Nam tông người Việt được Lý do là, Phật giáo Khất sĩ là sản phẩm của sự kết hợp giữa Phật giáo Nam tông và Phật giáo Đại thừa Bắc tông, nó không hẳn là Phật giáo Nam tông, cũng không hẳn là Phật giáo Bắc tông

Điều cần nói thêm ở đây là, trước khi Phật giáo người Việt và người Hoa có mặt ở Nam Bộ thì nơi đây Phật giáo của người Khmer đã có mặt từ rất lâu đời Kết quả khảo cổ học ngày nay ở vùng đất Tây Nam Bộ cho thấy rất rõ điều đó Tuy nhiên, Phật giáo mà người Khmer tin theo là Phật giáo Nam tông, còn gọi là Phật giáo Nguyên thủy, du nhập vào đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng thế kỷ XIII, XIV [Nguyễn Văn Diệu 2001: 126] Trong khi đó, Phật giáo mà những lưu dân đến Nam Bộ tin theo là Phật giáo Đại thừa Đó là một hệ phái Phật giáo phát triển cực thịnh ở Trung Hoa và ảnh hưởng sâu rộng ở một số nước trong khu vực như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam

Như vậy, căn cứ vào các hướng Phật giáo du nhập vào Nam Bộ này, có thể nhận định một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, về chủ thể đặt nền tảng cho Phật giáo Nam Bộ Ở đây, ba hướng sau

có phần dễ xác định vì được lịch sử ghi nhận khá rõ ràng Trong khi đó ở hướng thứ nhất, vấn đề chủ thể hay thành phần đặt nền móng cho Phật giáo Nam Bộ thực sự chưa rõ lắm Bởi vì, khác với vùng Bắc Bộ, khi vào Nam Bộ, ngoài những hành trang cần thiết phục vụ đời sống vật chất, các cư dân miền Thuận – Quảng còn mang theo cả phong tục, tập quán và cả tôn giáo, tín ngưỡng để đáp ứng đời sống tinh thần của họ Trong đó, Phật giáo vốn là tôn giáo được các cư dân người Việt này tin theo từ rất lâu đời, dĩ nhiên cũng trở thành một phần trong hành trang ấy Chính vì vậy, có thể những người đặt nền móng đầu tiên cho Phật giáo ở vùng đất này là các nhà sư Phật giáo, nhưng cũng không ngoài trường hợp có thể Phật giáo

do những cư dân (không kể các nhà sư) Nam tiến mang tới đây

Thứ hai, về phương diện hệ phái, các hướng truyền bá này hình thành nên hai

hệ phái Phật giáo, bao gồm Phật giáo Bắc Tông (kể cả Phật giáo người Hoa) và Phật giáo Nam Tông người Việt

Trang 30

Ngoài ra, căn cứ vào lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo ở Nam Bộ, người ta còn ghi nhận thêm một hệ phái Phật giáo nữa, xuất hiện khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, đó là hệ phái Phật giáo Khất sĩ Cùng với Phật giáo Nam tông người Việt, sự có mặt của hệ phái Phật giáo Khất sĩ ở Nam Bộ đánh dấu một cột mốc quan trọng, biến Phật giáo người Việt nơi đây từ Phật giáo chỉ có một hệ Bắc tông duy nhất thành Phật giáo có nhiều hệ phái Và dĩ nhiên, cùng với quá trình

đó, ngôi chùa với tính cách là cơ sở tôn giáo cũng hình thành thêm ít nhất hai đặc điểm khác biệt nhau tương ứng với hai hệ phái Phật giáo này

Về thời điểm xuất hiện cụ thể của Phật giáo nói chung và ngôi chùa người Việt nói riêng cho tới nay chưa có tài liệu nào đề cập đến Chỉ biết rằng, căn cứ vào

những ghi chép trong tác phẩm Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí

và tài liệu ghi chép lưu giữ ở các ngôi chùa thì đến thế kỷ XII, ở Nam Bộ đã có một

số ngôi chùa Bắc tông rồi, chẳng hạn như chùa Long Thiền – Đồng Nai (1664), chùa Vạn An được Hiển Tông hoàng đế sắc tứ từ năm 1711 Mãi đến thế kỷ XX, các ngôi chùa của các hệ phái Phật giáo Nam tông người Việt mới xuất hiện ở Nam

Bộ Trong đó, chùa Bửu Quang – Thủ Đức (1938) là ngôi chùa đầu tiên, là cái nôi của Phật giáo Nam tông người Việt ở Nam Bộ Đến năm 1946, ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Khất sĩ cũng hình thành, lấy tên là tịnh xá Mộc Chơn (Vĩnh Long) Như vậy, có thể khái quát sự xuất hiện của ngôi chùa người Việt Nam Bộ trong bảng 2.1 dưới đây:

Bảng 2.1: Quá trình xuất hiện ngôi chùa Phật giáo người Việt Nam Bộ

Nam tông người Việt Thế kỷ XX (1938) Chùa Nam tông người

Việt

Trang 31

2.1.2 Ngôi chùa người Việt trong diễn trình Phật giáo Nam Bộ

Nam Bộ là vùng đất mới, do đó việc thừa hưởng văn hóa trước đó của cha ông

là một tất yếu lịch sử Mặt khác, lưu dân từ Thuận - Quảng vào Đồng Nai – Gia Định lúc bấy giờ chủ yếu là người nghèo, nên hành trang văn hóa mà họ mang theo đến vùng đất mới chủ yếu là văn hóa dân gian, bao gồm câu hò, điệu lý cũng như các loại hình diễn xướng, các tập tục sinh hoạt cùng thiết chế văn hóa tín ngưỡng từ làng xã của quê hương bản quán [Huỳnh Ngọc Trảng 1999: 31] Trong đó, thiết chế văn hóa tín ngưỡng làng xã: đình - chùa – miễu – vũ trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của họ

Nếu như đình là thiết chế văn hóa tín ngưỡng chính thống, được nhà nước công nhận thì phần lớn chùa lại là thiết chế văn hóa tín ngưỡng mang tính dân gian, cộng đồng Như đã đề cập, ban đầu, khi Phật giáo du nhập vào đất Nam Bộ, ngôi chùa người Việt chỉ là những thảo am nhỏ do các nhà sư trong nhóm người Nam tiến lập ra, chủ yếu để tu tập, trao dồi giới hạnh Sau đó, do điều kiện dân số, kinh tế

- xã hội của vùng đất Nam Bộ ngày một phát triển, nhu cầu tín ngưỡng của cư dân nơi đây ngày càng cao, đòi hỏi phải có những ngôi chùa lớn hơn để người dân có nơi cúng bái, cầu nguyện, tìm sự bình an trong lúc sống, siêu thoát khi qua đời Từ những nhu cầu thiết yếu này, những ngôi chùa lớn dần dần được dựng lên ở Nam

Bộ Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết có 34 ngôi chùa trong phạm vi Nam Kỳ

Lục Tỉnh [Dẫn lại Trần Hồng Liên 2000: 18], trong đó có cả những ngôi chùa người Việt lẫn người Hoa

Dĩ nhiên, đó chỉ là con số tương đối và có phần ít hơn rất nhiều so với con số thực tế của ngôi chùa ở Nam Bộ Bởi vì, cũng như ở Bắc Bộ, ở Nam Bộ ngoài các ngôi chùa lớn thường được sử sách nhắc đến, người ta còn thấy xuất hiện rất nhiều ngôi chùa làng ẩn mình trong thôn xóm Có những ngôi chùa làng nhỏ, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một cộng đồng nhỏ bé là một làng, một xóm, nhưng cũng có những ngôi chùa làng tương đối lớn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng chung cho cả vùng rộng lớn, bao gồm nhiều làng, nhiều xóm Ở Nam Bộ, nhất là Gia Định, thường thì

Trang 32

làng nào cũng có chùa [Phan Đại Doãn 2004: 253; Nguyễn Khắc Thuần 2001: 156], một số nơi, một làng có thể có nhiều ngôi chùa khác nhau

Những ngôi chùa đầu tiên ở đất Nam Bộ được sử sách ghi nhận thời chúa Nguyễn phần lớn là những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Vạn An (thôn Phước An, huyện Phước An, Đồng Nai), chùa Long Thiền (Đồng Nai), chùa Bửu Phong (núi Bửu Long – Đồng Nai) kiến lập giữa thế kỷ XVII, chùa Đại Giác (Đồng Nai) kiến lập cuối thế kỷ XVII, chùa Long Hòa (Bà Rịa – Vũng Tàu) kiến lập năm 1737

Trong đó, có lẽ chùa Vạn An là ngôi chùa xưa nhất ở Nam Bộ Sách Đại Nam Nhất

Thống chí ghi rằng: “chùa Vạn An ở thôn Phước An Bản triều Hiển tông hoàng đế

ban cho 5 chữ: Sắc tứ Vạn An tự, bên hữu khắc 8 chữ Vĩnh Thạnh lục niên thất

nguyệt cát nhật; bên tả khắc 8 chữ Quốc chủ Thiên Túng đạo nhân ngự đề Năm

Minh Mạng thứ 16 (1835), chùa bị thất hỏa, trụ trì chùa ấy dời đem tấm bảng sang

chùa Hưng Long [Nguyễn Tạo (dịch) 1973: 47]

Từ vùng đất Đồng Nai, các nhà sư di chuyển dần xuống vùng đất Gia Định xưa để hoằng dương Phật pháp Theo đó, các ngôi chùa cũng dần dần được dựng lên ở nơi đây như chùa Phước Tường (1741), chùa Giác Lâm (1744), chùa Kim Chương (1755) Có một điểm đáng chú ý là, nếu như ở Bắc Bộ và phần nào ở Trung Bộ những ngôi chùa lớn, nổi tiếng thường là những ngôi chùa công, được các vua quan triều đình xây dựng, thì ở Nam Bộ, chùa chiền phần lớn là do chính các nhà sư đứng ra xây dựng hoặc do tư nhân xây dựng rồi mời các nhà sư về trụ trì Điều này cũng góp phần khiến cho diện mạo cũng như quy mô kiến trúc của ngôi chùa Nam Bộ có phần khác với diện mạo và quy mô kiến trúc chùa Bắc, Trung Bộ Song song với quá trình đó còn có sự xuất hiện của các ngôi chùa do người Hoa theo chân của nhóm Mạc Cửu, Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vào Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho dựng lập Có thể kể tới một số ngôi chùa tiêu biểu như chùa Tam Bảo (khoảng 1708 – 1725) ở Hà Tiên, chùa Huệ Quang – Bến Tre (1784)

Trang 33

Dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945), các ngôi chùa người Việt tiếp tục được xây dựng ở khắp nơi 6 [Hoàng Ngọc Vĩnh 2011: http//:vanhoahoc.edu.vn] Trong

đó, có nhiều ngôi chùa nổi tiếng còn lại tới ngày nay như chùa Phụng Sơn (khoảng

1802 – 1820), chùa Giác Viên (Tp HCM); Long Bàn (1848), chùa Phước Lâm – Bà Rịa – Vũng Tàu (1886); chùa Phước Lâm - Tây Ninh (1857); chùa Tôn Thạnh – Long An (1808); Phước Hậu – Vĩnh Long (1850) Những ngôi chùa này, vừa là nơi để các nhà sư Phật giáo truyền đạo, vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của cộng đồng Trong đó, nhiều ngôi chùa đã đóng vai trò của một trung tâm giáo dục,

in ấn phổ biến kinh sách Phật giáo trong cộng đồng

Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định và sau đó, đặt ách thống trị của chế độ thuộc địa lên nước ta Phật giáo dần dần bị suy thoái Ngôi chùa đứng trước tình hình khó khăn mới Đặc biệt là từ sau 1900, với chủ trương khai thác thuộc địa, tiến tới cắt đứt truyền thống văn hóa dân tộc của Pháp đã khiến cho ngôi chùa ở vùng đất Nam Bộ lâm vào cảnh xáo trộn, hoang tàn Nhiều ngôi chùa lớn bị thực dân phá hủy Các ngôi chùa nhỏ còn lại trong hẻm nhỏ thì hoạt động cầm chừng, thiếu sinh khí Sinh hoạt Phật giáo đi vào tình trạng suy thoái [Thích Thiện Hoa 1970: 28]

Tình trạng này kéo dài cho tới đầu thế kỷ XX, khi phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu manh nha đầu tiên ở Nam Bộ Tuy nhiên, công bình mà nói, Phật giáo suy thoái, chùa chiền bị xuống cấp không chỉ hoàn toàn do người Pháp phá hủy mà còn đến từ nội bộ Phật giáo Nếu như một cơ thể sống đã cằn cỗi, không còn đủ sức thích ứng với điều kiện mới của môi trường thì nó bị chết dần đi thì cũng vậy, Phật giáo lúc bấy giờ không còn đủ sức thích ứng với thời đại, các sinh hoạt tôn giáo tỏ

ra lỗi thời, thiếu sinh động Việc học hỏi giáo lý bị đình đốn nên đời sống các tăng

sĩ có phần dễ dãi, bỏ gốc theo ngọn, truyền bá mê tín dị đoan, cúng sao giải hạn, xin xăm bói quẻ, xem ngày lành tháng tốt [TV Chơn Không 2007: 19, 20] Nhiều ngôi chùa bị phá dỡ hoặc không có người trụ trì suốt thời gian dài Đó cũng là một trong

6

http://www.vanhoahoc.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2109&Itemid=75

Trang 34

các lý do khiến cho các nhà sư tâm huyết phải nghĩ tới con đường chấn hưng, mở đường cho sự phục hưng của Phật giáo trên cả nước nói chung và Phật giáo Nam Bộ nói riêng

Về mặt kiến trúc, ngôi chùa ở giai đoạn này đa phần là các ngôi chùa gỗ được dựng lên theo các mô hình khác nhau, quy mô cũng khác nhau Có những ngôi chùa

to lớn nhưng cũng có ngôi chùa chỉ là một ngôi nhà tranh hoặc lá đơn sơ Theo thời gian, một số các ngôi chùa này dần dần bị hư hại, một số khác bị phá hủy và đã được trùng tu, phục dựng lại qua các đời trụ trì Các thay đổi sau những đợt trùng tu chắc chắn ít nhiều làm mất đi một số nét văn hóa kiến trúc của ngôi chùa cũ, thay vào đó là kiểu hoặc các chi tiết kiến trúc mới của phương Tây Tuy vậy, ở Nam Bộ, rất nhiều ngôi chùa còn giữ được cái thần thái của kiến trúc xưa cũ như chùa Long Bàn, chùa Giác Lâm (Tân Bình), chùa Giác Viên (quận 11), chùa Phước Lâm, Long Hòa (Bà Rịa – Vũng Tàu) Điều này cho thấy ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa ngôi chùa vẫn còn rất sâu đậm trong cộng đồng cư dân người Việt Nam Bộ

Như vậy, từ khi xuất hiện cho tới trước thời chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ

XX, mặc dù có những bước thăng trầm nhất định, nhưng nhìn chung, về phương diện kiến trúc, ngôi chùa vẫn giữ được những nét văn hóa đặc trưng của chùa người Việt Nam Bộ, trừ một số ít các ngôi chùa lớn được trùng tu vào thập niên đầu của thế kỷ XX như chùa Vĩnh Tràng – Tiền Giang (1907), chùa Giác Lâm – Tân Bình (1906-1909) đã đưa thêm các yếu tố kiến trúc phương Tây vào trong kiến trúc ngôi chùa

Đầu thế kỷ XX, ở Trung Hoa phong trào chấn hưng Phật giáo do các nhà sư khởi xướng đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ Trong khi đó, tình hình Phật giáo ở Việt Nam ngày càng sa sút Các hoạt động tu học của tăng sĩ và Phật tử bị ngưng trệ, hiện tượng mê tín dị đoan tràn ngập trong các cửa chùa đến nỗi có nhà trí thức cho rằng trừ việc cúng lễ ra, Phật giáo không làm gì lợi ích cho xã hội [Dẫn lại Nguyễn Đại Đồng, Nguyễn Thị Minh 2008: 79] Đứng trước tình hình đó, Hòa thượng Khánh Hòa và một số các nhà sư khác đã ra sức kêu gọi các chùa và tăng ni

Trang 35

tích cực tham gia phong trào phục hưng và làm mới các giá trị văn hóa truyền thống Phật giáo, mà trước hết là thực hiện ba mục tiêu trước mắt: (1) chỉnh đốn tăng già, (2) kiến lập các Phật học đường nhằm nâng cao trình độ tu học cho các tu sĩ, (3) diễn dịch và xuất bản kich sách Việt ngữ [Thiện Chiếu 1927].

Trên tinh thần đó, các lớp gia giáo, trường Phật học ra đời ở nhiều nơi như: lớp gia giáo chùa Tuyên Linh (Bến Tre), lớp gia giáo chùa Phi Lai (Châu Đốc),

trường Phật học dành cho Ni chúng chùa Giác Hoa (Bạc Liêu) Trong tác phẩm 50

năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Thích Thiện Hoa cho biết, chỉ trong vòng hai

thập niên đầu của cuộc chấn hưng, riêng Nam Bộ, số lượng các trường gia giáo, trường Phật học được thành lập lên đến khoảng 10 ngôi [1970: 32], trong đó có một

số ngôi chùa được xây dựng mới như chùa Giác Hoa ở Bạc Liêu, chùa Từ Lâm (Tây Ninh) Bên cạnh đó, các học hội Phật giáo cũng ra đời hàng loạt gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong quần chúng Chẳng hạn như Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học và tờ

tạp chí Từ Bi Âm ra đời ở Nam Kỳ vào tháng giêng năm 1932 Rồi sau đó, tháng 6 năm 1933, tờ nguyệt san Việt Âm ra đời ở Huế làm cơ quan nghiên cứu của Hội

Phật học Trung Kỳ; tháng 11 năm 1934 tới phiên Hội Phật học Bắc kỳ được thành

lập do Tổng đốc Hoàng Trọng Phu và Nguyễn Năng Quốc đứng đầu; năm sau Đuốc

Tuệ ra đời làm cơ quan tuyên truyền cho Hội ấy [Trần Văn Giàu 1993: 228] Ngoài

ra, còn một số Hội và một số tờ báo nổi tiếng khác như Hội Phật học Lưỡng Xuyên

với tờ báo Duy Tâm, Hội liên hữu Thiên Thai Thiền giáo tông với nguyệt san Bát

Nhã Âm, Hội Phật học Nam Việt với tạp san Từ Quang Trong các tờ báo này, Duy Tâm là tờ báo có tiếng nói mạnh mẽ nhất lúc bấy giờ Mặc dù những nỗ lực từ

phong trào chấn hưng này không đủ để đưa Phật giáo thành một phong trào chống Pháp, nhưng đã góp phần rất lớn trong việc truyền bá đạo đức, cải tạo phong hóa xã hội [Nguyễn Thanh Tuấn 2009: 34] Có thế nói, việc vận động chấn hưng Phật giáo của các nhà sư, không chỉ làm nền tảng cho việc phát triển Phật giáo nói chung, mà

về phương diện cơ sở tôn giáo, nó còn đưa đến việc xuất hiện của nhiều ngôi chùa mới ở Nam Bộ Trong đó, nhiều ngôi chùa đồng thời cũng là các lớp gia giáo, các

Trang 36

trường Phật học, các cơ sở in ấn, phổ biến kinh sách, thậm chí in ấn các tài liệu cung ứng cho nhu cầu đấu tranh giải phóng dân tộc

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là ở con số mà quan trọng hơn là vào giai đoạn này, ở Nam Bộ xuất hiện thêm hai hệ phái Phật giáo mới là hệ phái Phật giáo Nam tông người Việt và hệ phái Khất sĩ Nam Bộ Cả hai hệ phái này đều cho ra đời những ngôi chùa mới mang phong cách khác hẳn với phong cách chùa truyền thống của người Việt Nam Bộ trước đó

Về ngôi chùa Phật giáo Nam tông người Việt, đó là một kiểu thức chùa ít nhiều mang dáng dấp của phong cách chùa Khmer Tây Nam Bộ, nhưng đã được Việt hóa ít nhiều các yếu tố kiến trúc Nó không còn là ngôi chùa cao vút vươn lên trời xanh với mái ngói ba tầng, sáu mái cổ kính của chùa Khmer nữa mà có phần gần gũi hơn với kiến trúc chùa Bắc tông Nam Bộ Một số khác xây dựng theo lối kiến trúc hiện đại như thiền viện Phước Sơn (Đồng Nai), đôi khi cũng phảng phất nét văn hóa kiến trúc Ấn Độ như chùa Bửu Đức

Ban đầu, Phật giáo Nam tông người Việt chỉ có một vài ngôi chùa nhỏ ở Sài Gòn, trong đó, chùa Bửu Quang (Thủ Đức) là cái nôi của hệ phái Phật giáo này Từ năm 1945 đến năm 1950 Phật giáo Nam tông người Việt thành lập thêm 2 ngôi chùa nữa ở Nam Bộ: chùa Giác Quang và chùa Kỳ Viên Từ đó đến nay, chùa Nam tông người Việt không ngừng phát triển trên đất Nam Bộ và một phần nhỏ đã vượt ra khỏi phạm vi vùng Theo thống kê của tác giả Thiện Minh, hiện nay số lượng chùa Nam tông người Việt trên cả nước có khoảng 60 ngôi.7 Đó là số liệu được thống kê

từ năm 1994 Tuy nhiên, theo thống kê gần đây, chùa Nam tông người Việt đã lên đến con số 73 ngôi,8 trong đó, chủ yếu là ở vùng đất Nam Bộ Mặc dù với số lượng tương đối khiêm tốn so với ngôi chùa Bắc tông người Việt nhưng những hoạt động của các ngôi chùa này cũng khá sâu rộng trong đời sống cộng đồng

Trang 37

Trong khi đó, mặc dù ra đời muộn hơn (khoảng năm 1946), nhưng tịnh xá Khất sĩ cũng góp phần mang đến cho diện mạo ngôi chùa người Việt Nam Bộ một

số nét đặc trưng riêng mà các vùng khác trong cả nước chưa hề có Ở đây, có thể nói thêm rằng, có ít nhất là 5 hệ phái Khất sĩ sinh hoạt song song với nhau ở Nam

Bộ Tuy nhiên, đứng về phương diện ngôi chùa mà xét, thì chỉ có hệ phái Khất sĩ do

tổ sư Minh Đăng Quang – vị tổ đầu tiên kết hợp Phật giáo Nam tông với Bắc tông thành Phật giáo Khất sĩ mang bản sắc Việt Nam thành lập mới thực sự tạo ra nét đặc trưng cho ngôi chùa người Việt Nam Bộ

Cũng như các ngôi chùa khác ở Nam Bộ, ban đầu tịnh xá Khất sĩ cũng chỉ là những thảo am nhỏ do tổ sư Minh Đăng Quang thành lập đủ để ông và một số đệ tử theo ông làm nơi tu học Năm 1946, lần đầu tiên, ông cho dựng tịnh xá lấy tên là Mộc Chơn (Mỹ Tho) với quy mô lớn để truyền bá Phật pháp Đây là ngôi tịnh xá đầu tiên trong sự nghiệp truyền bá Phật pháp của ông Đến năm 1948, tổ sư Minh Đăng Quang cho thành lập một tiểu giáo hội gồm 20 vị tỳ kheo Từ những khởi đầu này, hệ phái Khất sĩ nhanh chóng phát triển ở khắp nơi trong cả nước, đặc biệt là ở Nam Bộ Song song với quá trình đó là sự xuất hiện hàng loạt các ngôi tịnh xá Khất

sĩ ở Nam Bộ Theo thống kê của Thích Hạnh Thành, chỉ trong vòng 10 năm, hệ phái Khất sĩ của tổ sư Minh Đăng Quang hướng dẫn đã dựng được 30 ngôi tịnh xá ở khắp nơi thuộc Nam Bộ [2007: 37]: tịnh xá Mộc Chơn (Mỹ Tho), Pháp Vân, Trúc Viên (Vĩnh Long), Ngọc Trung, Ngọc Minh (Cần Thơ), Ngọc Quang (Đồng Tháp), Ngọc Thọ (An Giang), Ngọc Vân (Trà Vinh), Ngọc Thành (Long An), Ngọc Thạnh (Tây Ninh), Ngọc Chánh, Ngọc Sơn (Sài Gòn), Ngọc Khánh (Sóc Trăng), Ngọc Bình (Bình Dương), Ngọc Bích (Vũng Tàu), Bửu Long (Đồng Nai) Phần lớn các ngôi tịnh xá này đều xây dựng theo một kiến trúc duy nhất hình bát giác, một kiểu kiến trúc hoàn toàn mới so với kiến trúc chùa người Việt nói chung và chùa Nam

Bộ nói riêng

Từ năm 1975 trở đi, nhất là sau thập niên 90 của thể kỷ XX, trước sự phát triển của văn hóa, kinh tế, xã hội, số lượng Phật tử ở Nam Bộ cũng đông hẳn lên, chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so với Bắc Bộ Có thể thấy tình hình này qua bảng thống kê

Trang 38

số lượng tín đồ Phật giáo năm 1999 do Phan Thu Hiền lập trên cơ sở số liệu của Tổng cục thống kê như sau [2011: 56]:

có Phật giáo, cũng góp phần đưa đến sự phát triển của ngôi chùa người Việt ở Nam

Bộ, thậm chí còn phát triển nhanh hơn các vùng khác trong cả nước, kể cả Bắc Bộ [Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh 2011: 335] Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi căn cứ trên số liệu của Văn phòng II Trung ương GHPGVN, tính đến năm 2007, số lượng ngôi chùa người Việt ở Nam Bộ đã đạt đến con số 4.682 ngôi, trong đó tập trung nhiều nhất ở thành phố Hồ Chí Minh (1064 ngôi), Bà Rịa – Vũng Tàu (591 ngôi), Đồng Nai (478 ngôi) Đó là chưa kể, vì lý do nào đó, một số ngôi chùa chưa đăng ký sinh hoạt Giáo hội và do đó chưa có số liệu cụ thể cho các ngôi chùa này

Về đặc trưng kiến trúc, do tiếp xúc với văn hóa các nước phương Tây và hội nhập Quốc tế, ở giai đoạn này, rất nhiều các ngôi chùa được xây dựng mang phong cách kiến trúc mới, hiện đại như chùa Vĩnh Nghiêm (1964), thiền viện Quảng Đức (quận 3), chùa Huệ Nghiêm (Bình Chánh), chùa Quốc Ân Khải Tường (Đồng Nai), chùa Thiên Khánh (Long An) Do Nam Bộ là vùng đất cộng cư của nhiều tộc người, lại là vùng đất đi đầu trong việc tiếp thu ảnh hưởng văn hóa từ nước ngoài,

Trang 39

nên bên cạnh việc giữ gìn các yếu tố văn hóa truyền thống, các ngôi chùa này còn dung hợp các yếu tố văn hóa kiến trúc phương Tây và các nước trong khu vực Chẳng hạn như việc kết hợp các yếu tố văn hóa kiến trúc Trung Hoa trong ngôi chùa Viên Giác (Tân Bình), chùa Huệ Nghiêm (Bình Chánh), kết hợp yếu tố kiến trúc Việt và Ấn – Hồi trong kiến trúc chùa Phật Tích Tòng Lâm (Đồng Nai), kết hợp yếu tố kiến trúc Việt – Campuchia – Thái Lan trong kiến trúc chùa Bửu Long (quận 9) Điều đó góp phần biểu hiện sinh động tính dung hợp, năng động của Phật giáo Nam Bộ Tính dung hợp, năng động đó không chỉ biểu hiện qua phong cách kiến trúc hiện đại, mà còn biểu hiện qua qui mô của nó so với những ngôi chùa trước đây Nếu như trước đây, ở Nam Bộ, người ta rất ít khi gặp các ngôi chùa có quy mô lớn chứa hàng trăm, hàng ngàn tín đồ thì ngày nay, những ngôi chùa như thế không còn hiếm hoi nữa Bên cạnh đó, từ bố cục mặt bằng, nghệ thuật kiến trúc cho tới các kiểu thức tượng thờ và hình thức thờ tự cũng có nhiều biến đổi mới cho phù hợp với thời đại, nhất là các chùa lớn như chùa Quốc Ân Khải Tường (Đồng Nai), chùa Đại Tùng Lâm (Bà Rịa - Vũng Tàu), chùa Huê Nghiêm II (quận 2), tịnh

xá Ngọc Viên (Vĩnh Long), thiền viện Phước Sơn (Đồng Nai) và nhất là thiền viện Trí Đức, thiền viện Thường Chiếu (Đồng Nai) Điều này cho thấy, ngoài tính dung hợp, ngôi chùa người Việt còn thể hiện tính linh hoạt trong sinh hoạt của nó nữa Tính linh hoạt này không làm mất đi các yếu tố văn hóa truyền thống vốn có của ngôi chùa mà càng làm phong phú, đa dạng hơn các đặc trưng văn hóa chùa người Việt Nam Bộ

Như vậy, cùng với sự phát triển của Phật giáo ở Nam Bộ, ngôi chùa người Việt được trùng tu và xây dựng mới nhiều hơn ở cả 3 hệ phái: Nam tông, Bắc tông

và Khất sĩ Mỗi hệ phái có những ngôi chùa mang đặc trưng văn hóa riêng, cùng góp phần làm phong phú, đa dạng hơn cho đặc trưng kiến trúc văn hóa chùa người Việt Nam Bộ

Trang 40

2.2 Ngôi chùa người Việt Nam Bộ nhìn từ không gian văn hóa 2.2.1 Không gian xung quanh ngôi chùa

Cảnh quan thiên nhiên là một phần quan trọng của các công trình kiến trúc Đặc biệt ở các nước phương Đông, trong các công trình kiến trúc tôn giáo, yếu tố thiên nhiên luôn đóng vai trò hết sức quan trọng

Ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng cũng vậy, khi xây dựng một công trình kiến trúc tôn giáo như ngôi chùa người ta luôn luôn hướng tới việc chọn lựa một cảnh quan phù hợp Trước hết là chọn đất tốt mà có người gọi là “linh địa” Linh địa là vùng đất tươi tốt, cao ráo, sáng sủa, sạch sẽ Ở đấy sức sống dồi dào, con người cảm thấy yên ổn, sảng khoái vì đó là nơi hút được tinh túy của trời đất [Nguyễn Thị Mai 2004: 25] Không chỉ chọn đất, cũng như người Việt Bắc Bộ truyền thống, khi khởi công dựng chùa, người Việt Nam Bộ còn quan tâm tới các kiêng kỵ khác trong xây dựng

Sau khi chọn được đất, người ta mới bắt đầu chọn hướng dựng chùa Thông thường, người ta hay chọn hướng Nam để dựng chùa – một hướng truyền thống trong việc xây nhà ở của người Việt Trong Phật giáo, hướng Nam còn là hướng của trí tuệ, Bát nhã Tuy nhiên, ở Nam Bộ, do địa hình sông nước, kênh rạch chằng chịt cùng với tính cách cởi mở, thực tế của cư dân nơi đây, nên việc chọn hướng dựng chùa cũng không có tính cách quá khắt khe theo kiểu chọn hướng cất đình, chùa của người Việt Bắc Bộ, mà còn tùy thuộc vào không gian cư trú của cộng đồng nữa Hướng nào cũng có thể dựng chùa được, miễn sao khu đất rộng rãi, thoáng mát và tương đối gần với khu dân cư, phù hợp việc đi lại của mọi người là được Khảo sát các ngôi chùa ở Nam Bộ, có thể thấy, các ngôi chùa thường được dựng dọc theo bờ sông, thuận tiện việc giao thông sinh hoạt của các nhà sư mà cũng thuận tiện cho việc đi lại của cộng đồng Điều này rất khác so với không gian chùa Bắc Bộ, thậm chí cả Trung Bộ Chùa Kim Cang (Long An), chùa Long Khánh (Trà Vinh), chùa Hội Sơn (quận 9), chùa Tiên Châu (Vĩnh Long) đều là những ngôi chùa dựng dọc theo hai bờ sông như thế Một số các ngôi chùa khác thì được dựng lên ở miệt vườn,

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w