1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sông nước trong văn hóa người việt tây nam bộ

142 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 4,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và những thay đổi phức tạp của môi trường, môi sinh vùng Tây Nam Bộ trong những năm gần đây như hiện tượng diện tích đất nhiễm phèn,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60 31 70

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS PHAN THU HIỀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở Khoa Văn hóa học đã dạy bảo trong quá trình đào tạo Cao học để tôi có được những kiến thức như ngày hôm nay, cụ thể

là qua kết quả luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phan Thu Hiền – người đã tận tình hướng dẫn, khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Và tôi không quên gửi lời cảm ơn trước sự động viên từ phía gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp

Dù đã cố gắng rất nhiều để hoàn thành luận văn nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong quý thầy cô và bạn bè góp ý

TP.HCM, tháng 8 năm 2012

Tác giả

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

Trang 3

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

QUY ƯỚC VIẾT TẮT 3

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Mục đích nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 12

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 13

7 Bố cục luận văn 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 15

1.1.1 Khái niệm văn hóa 15

1.1.2 Hướng nghiên cứu Địa - văn hóa 18

1.1.3 Sông nước và văn hóa 21

1.2 ĐỊNH VỊ VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ 23

1.2.1 Không gian văn hóa 23

1.2.2 Chủ thể văn hóa 28

1.2.3 Thời gian văn hóa 32

CHƯƠNG 2 YẾU TỐ SÔNG NƯỚC TRONG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ 35

2.1 VĂN HÓA SẢN XUẤT 35

2.1.1 Nông nghiệp lúa nước 35

2.1.2 Khai thác thủy sản 38

2.1.3 Các nghề thủ công 53

2.1.4 Buôn bán trên sông 56

2.2 VĂN HÓA ẨM THỰC 60

2.2.1 Nguyên liệu chế biến 60

2.2.2 Cách chế biến 62

2.2.3 Phong cách ăn 64

2.3 VĂN HÓA TRANG PHỤC 65

Trang 5

2.4 VĂN HÓA CƯ TRÚ 67

2.4.1 Hướng và kết cấu của ngôi nhà 67

2.4.2 Vật liệu cất nhà 70

2.5 VĂN HÓA GIAO THÔNG 74

2.5.1 Mạng lưới đường sông 74

2.5.2 Phương tiện giao thông 76

CHƯƠNG 3 YẾU TỐ SÔNG NƯỚC TRONG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ 80

3.1 Văn hóa tổ chức xã hội 80

3.1.1 Tổ chức làng xã 80

3.1.2 Tổ chức đô thị 84

3.2 VĂN HÓA TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG 88

3.2.1 Tín ngưỡng thờ Thủy thần 88

3.2.2 Tín ngưỡng thờ cô hồn chết trôi 93

3.3 PHONG TỤC, LỄ HỘI 94

3.3.1 Một số phong tục 94

3.3.2 Những kiêng kỵ 96

3.3.3 Lễ hội 97

3.4 VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT 98

3.4.1 Văn học dân gian 98

3.4.2 Nghệ thuật diễn xướng 105

3.4.3 Nghệ thuật thị giác 109

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 124

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thứ nhất, người Việt là tộc người chiếm đa số trong các tộc người cùng sinh sống trên dải đất Việt Nam, đồng thời giữ vai trò chủ đạo tạo nên diện mạo chung mang tính thống nhất của văn hóa Việt Nam Nhưng bên cạnh sự thống nhất ấy vẫn

có những khác biệt rất tinh tế trong các lĩnh vực của văn hóa của người Việt miền Bắc, miền Trung và miền Nam Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt

đó là do đặc điểm sinh thái – môi trường cư trú đã tạo nên diện mạo rất riêng trong văn hóa của người Việt ở mỗi vùng miền

Thứ hai, dù rằng nói Nam Bộ, nhưng trên thực tế, Nam Bộ gồm hai vùng mang hai màu sắc văn hóa rất riêng Đó là vùng văn hóa Đông Nam Bộ gồm các tỉnh thành: Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, TP HCM và vùng văn hóa Tây Nam Bộ gồm các tỉnh thành: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long Trong đó, Tây Nam Bộ với địa hình sông nước, kênh rạch chằng chịt đã tạo nên màu sắc đặc trưng cho văn hóa của người Việt Tây Nam Bộ so với người Việt Đông Nam Bộ và rộng hơn là người Việt Bắc Bộ và Trung Bộ

Thứ ba, trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và những thay đổi phức tạp của môi trường, môi sinh vùng Tây Nam Bộ trong những năm gần đây như hiện tượng diện tích đất nhiễm phèn, nhiễm mặn ngày càng tăng, hiện tượng đắp đê ngăn đập đã làm thay đổi dòng chảy của hệ thống sông,… đã tác động rất lớn đến đời sống văn hóa của người Việt Tây Nam Bộ nói riêng và tất cả các tộc người anh

em cùng sinh sống tại đây nói chung

Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Sông nước trong văn hóa người

Việt Tây Nam Bộ” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề

Môi trường sông nước Tây Nam Bộ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả ở nhiều lĩnh vực khác nhau, góc độ khác nhau khi tìm hiểu về vùng đất này

Dưới góc độ sử học có các công trình của Ngô Sĩ Liên viết ở thế kỷ XV cho

thấy mối liên hệ giữa sông nước với người Việt trong quân sự và thủy lợi Trong Gia

Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có đề cập nhiều đến sự phong phú và đa

dạng nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng sông nước Nam Bộ nói chung Một cách khách quan, tác giả ghi nhận sự hình thành các khu dân cư, chợ hay các đồn lũy đa phần đều hình thành ở cạnh những con sông lớn Công trình của Trịnh Hoài Đức có giá trị lớn cho những ai muốn tìm hiểu sâu về vùng đất Tây Nam Bộ

Trong Thời đại Hùng Vương: lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

(1973), tác giả Văn Tân cho rằng sông nước rất quan trọng và gần gũi đối với đời sống con người Do đó, loại địa danh có nguồn gốc xa xưa hơn cả là thủy danh – địa danh đặt tên theo sông nước (sông, suối, hồ, đầm láng ) và nhất là tên những con sông lớn Bên cạnh đó, tác giả cũng nhận thấy vai trò của sông nước trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và văn hóa nhưng lại không phân tích chi tiết

Với công trình Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam (2004),

Phạm Hồng Sơn đã cho thấy từ xưa cha ông ta đã biết tận dụng môi trường sông nước trong công cuộc đánh giặc giữ nước Tác giả đưa ra nhiều minh chứng như trong cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của nhà Tống Lý Thường Kiệt đã tận dụng thế sông Như Nguyệt để dồn quân Tống vào thế khốn cùng Trong cuộc chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền chấm dứt một ngàn năm đô hộ của nhà nước phong kiến Trung Hoa đối với Việt Nam

Dưới góc độ địa lý, các công trình như Địa lý đồng bằng châu thổ sông Cửu

Long (1986), Thiên nhiên Việt Nam (2002) của Lê Bá Thảo Những công trình này

nghiên cứu về địa lý các vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam trong đó có Đồng bằng

sông Cửu Long Đặc biệt, trong hai công trình Địa lý Đồng bằng châu thổ sông Cửu

Long và Thiên nhiên Việt Nam, tác giả cho rằng hai đồng bằng châu thổ lớn nhất

nước ta là Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long

Trang 8

chính là hai “món quà” của sông Hồng và sông Cửu Long Bên cạnh đó tác giả cũng

đề cập gián tiếp đến cách con người tận dụng và đối phó với sông nước trong ăn uống, cư trú và sản xuất nông nghiệp

Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình của nhà nghiên cứu kỳ cựu ở Nam

Bộ là Sơn Nam Tác giả, đã cho chúng ta một kho tư liệu quý giá để nghiên cứu về

vùng đất Tây Nam Bộ qua hàng loạt những biên khảo của mình như Lịch sử khẩn

hoang miền Nam, Tìm hiểu đất Hậu Giang, Đất Gia Định xưa, Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa, Văn minh miệt vườn, Cá tính miền Nam

Khía cạnh ngôn ngữ chúng tôi chưa có dịp tiếp cận nhiều nhưng có thể kể

đến luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học với đề tài Ngôn ngữ sông nước của Nguyễn Thị

Thanh Phượng (1997) Công trình này tác giả đã phân tích chi tiết sự ảnh hưởng của sông nước trong các khía cạnh của ngôn ngữ

Trên phương diện dân tộc học, trong công trình Nhà ở, trang phục, ăn

uống của các dân tộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long (1993), Phan Thị Yến Tuyết

nghiên cứu ba dạng thức cơ bản của nền văn hóa vật chất của các tộc người: Việt, Kh’mer, Chăm Thông qua việc trình bày một cách chi tiết về các khía cạnh ẩm thực, trang phục và nhà cửa của các tộc người này, công trình đã cho thấy sự tận dụng và đối phó với môi trường sông nước của cộng đồng cư dân sinh sống ở Tây Nam Bộ

Trong lĩnh vực văn hóa có thể đề cập đến một số công trình như Văn minh

sông rạch trong văn hóa của cư dân Sài Gòn – Gia Định (1992) của Đinh Văn

Liên Tác giả cho rằng chung sống với sông rạch, thích nghi với sông rạch là một thuận lợi và thử thách của cư dân Sài Gòn Gia Định trong 300 năm Từ điều kiện địa lí, tác giả phác họa về không gian văn hóa và những yếu tố văn minh đặc biệt gọi là văn minh sông rạch

Qua công trình Văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ (1992), Thạch Phương

đề cập đến sự hình thành làng xã, thị tứ, sinh hoạt văn hóa dân gian, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán và các loại hình kể chuyện, nghề thủ công… của người Việt Nam Bộ Tác giả cho thấy nét đặc thù của người Việt Nam Bộ trong cư trú đó

Trang 9

là việc hình thành các làng xã thị tứ dọc theo các tuyến sông, sự hiện diện của cảnh quan sông nước trong các sáng tác và sinh hoạt văn hóa dân gian Nam Bộ

Với Con người Môi trường và Văn hóa (2003) của Nguyễn Xuân Kính đã

phân tích rõ vai trò của nước đối với lĩnh vực văn hóa tinh thần Theo tác giả, từ việc nhận thức được vai trò của sông nước đối với sinh hoạt và sản xuất đã dẫn người Việt đến sự trân trọng và thiêng hóa nước trong đời sống tâm linh

Trần Quốc Vượng trong công trình Việt Nam cái nhìn địa - văn hóa (1998)

đã nghiên cứu các vùng văn hóa Việt Nam theo hướng địa văn hóa Theo tác giả, các di tích sơ kỳ kim khí cách nay khoảng 4000 năm nằm dày đặc dọc theo lưu vực các con sông lớn, cho thấy lưu vực của các con sông là địa bàn sinh sống cổ xưa của người Việt

Vào 12/2003, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phối hợp với Trường Đại

học Cần Thơ tổ chức Hội thảo Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa, văn nghệ dân

gian Nam Bộ Những báo cáo trong hội thảo này cho thấy đặc trưng sông nước của

thiên nhiên Tây Nam Bộ đã để lại dấu ấn trên nhiều khía cạnh văn hóa của cư dân

Nam Bộ Vưu Nghị Lực với bài viết Văn hóa ứng xử dân gian đồng bằng sông Cửu

Long đối với môi trường thiên nhiên đã phác họa những quy tắc ứng xử dân gian

của cư dân Tây Nam Bộ đối với môi trường sông nước Trần Diễm Thúy với báo

cáo Thiên nhiên trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ đã đưa ra kết luận: “Thiên

nhiên sông nước là một đối tượng được phản ánh thường xuyên trong ca dao dân ca Nam Bộ” [Trần Diễm Thúy 2003]1 Nguyễn Thị Phương Châm với báo cáo “Tìm

hiểu đặc trưng ngôn ngữ của ca dao sưu tầm ở Nam Bộ” cho thấy sự xuất hiện với

tần số cao các danh từ chỉ địa hình sông nước và hệ thống hình ảnh của môi trường sông nước trong ca dao Nam Bộ Các bài viết này phân tích rất chi tiết sự tác động của sông nước đến văn hóa của cư dân Tây Nam Bộ nhưng chỉ tập trung ở một vài khía cạnh như ngôn ngữ, ứng xử

1 Trích từ “Thiên nhiên trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ” in trong Kỷ yếu Hội thảo Tìm hiểu

đặc trưng di sản văn hóa, văn nghệ dân gian Nam Bộ do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phối

hợp với Trường Đại học Cần Thơ tổ chức 12/2003.- NXB KHXH

Trang 10

Trong công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2004), Trần Ngọc Thêm

phân tích sự ảnh hưởng của sông nước trong sản xuất nông nghiệp, văn hóa tộc người Đặc biệt, sông nước đóng vai trò quan trọng và chi phối mạnh mẽ trong cơ cấu bữa ăn, giao thông của người Việt Trong bài viết “Nước, văn hóa và hội nhập”

đăng trong kỷ yếu hội nghị khoa học Khoa học xã hội và nhân văn trong bối cảnh

hội nhập quốc tế - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí

Minh tổ chức năm 2003; Trần Ngọc Thêm từ việc phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa nước và văn hóa, tác giả trình bày một cách hệ thống về một khía cạnh văn hóa gọi là văn hóa nước nhưng chỉ giới hạn ở những cách thức con người ứng xử với nước thông qua văn hóa tận dụng, đối phó, sùng bái và lưu luyến nước

Luận văn thạc sĩ văn hoá học trường Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn

Đại học Quốc gia TP HCM của Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền 2006 với đề tài Văn hoá

ứng xử với môi trường sông nước của người Việt miền Tây Nam Bộ đã trình bày

một cách hệ thống, chi tiết văn hóa tận dụng và đối phó của người Việt Tây Nam

Bộ trên các phương diện ẩm thực, giữ gìn sức khỏe, cư trú, trang phục, giao thông, sản xuất và đánh giặc Trong các công trình đã trình bày ở trên, đây là công trình đầu tiên trình bày một cách có hệ thống và xem sông nước như một đối tượng nghiên cứu

Năm 2008, với công trình “Văn hóa dân gian Nam Bộ, những phác thảo”

Nguyễn Phương Thảo đã cho thấy sự chi phối mạnh mẽ, sự ảnh hưởng xuyên suốt của sông nước nói riêng và cảnh quan thiên nhiên nói chung lên các nhân tố trong văn hóa dân gian người Việt Tây Nam Bộ như lễ hội, tín ngưỡng, văn học dân gian

Vào 12/2010, khoa Văn hóa học trường Đại học KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh và Văn phòng Đại diện Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí

Minh đã phối hợp tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề Văn hóa phi vật thể người

Việt miền Tây Nam Bộ Trong hội thảo có trên 30 báo cáo, trong đó có một vài báo

cáo trình bày về văn hóa ứng xử với nước của người Việt miền Tây Nam Bộ

Ngoài ra, thông qua website của khoa Văn hóa học trường Đại học khoa học

Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã tiếp cận được rất nhiều

Trang 11

công trình như “Văn minh sông Cửu Long – Một cấu trúc mới của văn minh sông nước” của Nguyễn Tri Nguyên, “Tính cách văn hoá Nam Bộ như một hệ thống” của Trần Ngọc Thêm,… trong đó, các tác giả đã xem văn hóa, văn minh sông nước như một đặc trưng nổi bật của vùng văn hóa Tây Nam Bộ

Các công trình của các học giả nước ngoài

Trước hết, phải kể đến công trình của học giả nước ngoài đã được dịch ra

Tiếng Việt Văn hóa nguyên thủy (1871) của Edward Burnett Tylor Trong công

trình này, tác giả cho thấy ở các nền văn hóa cổ xưa nước đã hiện diện trong đời sống tâm linh của con người, nước theo tư duy nguyên thủy rất linh thiêng được sử dụng trong các nghi lễ tẩy uế bởi nước là biểu tượng của sự trong sạch Đồng thời tác giả cũng nhận thấy, trong xã hội cổ xưa con người đã biết tận dụng các nguồn thức ăn từ sông suối để sinh tồn

Mặt khác, qua trang google book tôi có tiếp cận được một số công trình như

The historic river: rivers and culture down the ages (Dòng sông lịch sử: những con

sông và các thời đại văn hóa) (1991) Sylvia Mary Haslam và Ethics and urban

design: culture, form, and environment (Đạo đức và thiết kế đô thị: văn hóa, hình

thức và môi trường) (1995) của Gideon Golany Công trình của Sylvia Mary Haslam nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường ven sông trên tất cả các khía cạnh của cuộc sống Nó đưa ra những bằng chứng và dấu hiệu của nhiều liên kết giữa con sông và đời sống con người Cuốn sách là một nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, nhưng

hiện tại chúng tôi chỉ tiếp cận được một phần của nó Trong khi đó Ethics and urban

design: culture, form, and environment là công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực Đô

thị học Trong công trình này, tác giả nghiên cứu các khu định cư của con người từ buổi bình minh của nền văn minh đến nay và nhận ra rằng đa số các đô thị cổ đại đều nằm cạnh những con sông lớn chẳng hạn các thành phố ở thung lũng sông Indus, các thành phố Ai Cập của sông Nile và các thành phố thủ đô của Trung Quốc cổ đại ở cạnh sông Hoàng Hà và Trường Giang Từ đó, tác giả phác họa các thành phố nhằm khôi phục lại trạng thái cân bằng giữa môi trường tự nhiên và xã hội

Trang 12

Như vậy, cho đến nay hầu hết các công trình nghiên cứu về sông nước của các học giả trong và ngoài nước đều tìm hiểu một cách khái quát hoặc chỉ đi vào một số vấn đề cụ thể trong phạm vi hẹp hay chỉ được nghiên cứu ở một số lĩnh vực như địa lý, đô thị và trong lịnh vực văn hóa thì chỉ có các công trình nghiên cứu riêng lẻ sự ảnh hưởng của sông nước lên một số thành tố của văn hóa người Việt Tây Nam Bộ như trong ứng xử, ngôn ngữ, ca dao dân ca… mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu và toàn diện sự tác động của sông nước đến văn hóa của người Việt miền Tây Nam Bộ Do đó, với công trình này chúng tôi hướng đến sự chuyên sâu và toàn diện hơn Những công trình nghiên cứu trước sẽ là nguồn tài liệu quý giá trong việc tổng hợp để nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Với luận văn này, trước hết chúng tôi muốn có một cái nhìn về đặc trưng sông nước đối với văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ Mặt khác, làm nổi bật lên

sự khác biệt trong văn hóa của người Việt ở miền Tây Nam Bộ với Đông Nam Bộ

và giữa miền Tây Nam Bộ với các vùng miền khác

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ dưới sự tác động của môi trường sông nước

Về chủ thể: nghiên cứu giới hạn ở người Việt miền Tây Nam Bộ

Về không gian: công trình đặt giới hạn nghiên cứu từ khu vực cửa sông trở vào trong đất liền trong phạm vi các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ

Về thời gian: Từ thế kỷ XVII đến nay

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: đưa đến một cách nhìn đúng về vùng văn hóa Tây Nam

Bộ Đóng góp thêm một công trình cho mảng nghiên cứu địa - văn hóa

Ý nghĩa thực tiễn: luận văn này sẽ giúp cho các nhà quản lý văn hóa ở miền Tây Nam Bộ thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của văn hóa sông nước để

Trang 13

từ đó có những biện pháp đúng đắn trong việc giữ gìn, phát huy và khắc phục những nhược điểm của văn hóa sông nước trong quá trình phát triển và hội nhập

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sông nước trong văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ chính là nghiên cứu sự tác động qua lại giữa môi trường sông nước và văn hóa của người Việt

Tây Nam Bộ, do đó luận văn sẽ áp dụng phương pháp liên ngành kết hợp thành tựu

của nhiều ngành như: địa lý học, dân tộc học, nhân học… để tiếp cận đối tượng

Đặt vấn đề nghiên cứu bản sắc văn hóa của người Việt Tây Nam Bộ,là nghiên cứu nguồn gốc, lịch sử, sự hình thành và phát triển, cũng như nhận thức, tổ chức cộng đồng và việc ứng xử với môi trường tự nhiên - xã hội; vì vậy, luận văn

sử dụng phương pháp lịch sử áp dụng cái nhìn lịch đại và đồng đại để quan sát,

nghiên cứu tọa độ, chủ thể, không gian và thời gian văn hóa của người Việt Tây Nam Bộ

Môi trường sông nước là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa của người Việt Tây Nam Bộ, tạo nét đặc sắc cho cả không gian văn hóa Tây Nam Bộ nên việc

nghiên cứu phải sử dụng phương pháp quan sát điền dã, miêu tả, tổng hợp để có một

cái nhìn thực chứng, đem đến những thông tin đáng tin cậy cho công trình

Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống – cấu trúc để hệ

thống hóa những tác động của sông nước trong các khía cạnh của văn hóa, làm nổi bật văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của người Việt Tây Nam Bộ

Cuối cùng, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để so sánh sự ảnh

hưởng của môi trường sông nước trong văn hóa của người Việt Tây Nam Bộ với các vùng khác

6.2 Nguồn tài liệu: nghiên cứu tài liệu của các tác giả đi trước đã viết và

công bố về người Việt Tây Nam Bộ; các công trình nghiên cứu, biên khảo, bài viết đăng tải trên các tạp chí, hội thảo, hội nghị về các lãnh vực văn học, văn hóa dân gian, tín ngưỡng…

Trang 14

Khảo sát điền dã các tỉnh miền Tây Nam Bộ để khai thác, thu thập một số tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương Một: “Cơ sở lí luận và thực tiễn” Nội dung của chương trình bày

khái niệm: văn hóa, địa văn hóa, nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho việc triển khai chương hai và ba Đặt văn hóa của người Việt trong hệ tọa độ ba chiều nhằm định vị: không gian, chủ thể và thời gian của văn hóa người Việt Tây Nam Bộ nhằm cung cấp thông tin cho việc phân tích trong các chương tiếp theo

Chương Hai: “Yếu tố sông nước trong văn hóa vật chất của người Việt Tây

Nam Bộ” gồm các nội dung: sự tác động của sông nước đến các khía cạnh của văn

hóa vật chất của người Việt Tây Nam Bộ như văn hóa sản xuất, ẩm thực, trang phục, cư trú và giao thông

Chương Ba: “Yếu tố sông nước trong văn hóa tinh thần của người Việt Tây

Nam Bộ” gồm các nội dung về sự tác động của môi trường sông nước đến lĩnh vực:

văn hóa tổ chức xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục - lễ hội, văn học - nghệ thuật

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Về mặt từ nguyên, nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng nghĩa ban đầu của “văn hóa” xuất phát từ tục xăm hình thủy quái của ngư dân ở vùng đồng bằng sông nước, tiếng Hán là “văn” Đến thời nhà Trần, tục này rất phát triển, nó như một biểu tượng của người Việt lúc bấy giờ nhằm phân biệt người Việt với những tộc người Khác Vậy, theo nghĩa ban đầu “văn hóa” là biểu tượng mà qua đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác

Ở Trung Hoa “văn hóa” có nguồn gốc từ hai khái niệm văn trị và giáo hóa

Trong Kinh Dịch có câu: “Quan thiên văn dĩ sát thời biến; Quan nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” Có nghĩa: nhìn hiện tượng trên trời để xét lại sự biến đổi của thời tiết; xem dáng vẻ con người lấy đó mà sửa đổi thiên hạ” Về sau, người Trung Quốc

lấy hai từ văn và hóa ghép lại để dịch từ culture của phương Tây [Trần Quốc

Vượng 2008: 17- 18]

Ở phương Tây, từ tương ứng với “văn hóa” của tiếng Việt là culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức, có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với nghĩa là giữ gìn, chăm sóc, trồng trọt

Theo đó, cách mà con thích ứng với tự nhiên, vượt qua cuộc sống hoang dã ban đầu

của họ bằng kỹ thuật canh tác để đảm bảo cuộc sống của mình chính là văn hóa

[Trần Quốc Vượng 2008: 18]

Có mặt rất sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây và phương Đông

nhưng đến thế kỷ XVIII, từ văn hoá mới được sử dụng như một thuật ngữ khoa học Năm 1855, khi Klemm công bố công trình Khoa học chung về văn hoá đã đánh dấu

sự hình thành khoa học về văn hóa Với công trình Văn hoá nguyên thuỷ của

E.B.Tylor công bố năm 1871, ngành khoa học về văn hoá chính thức được khẳng

Trang 16

định E.B.Tylor đã đưa ra định nghĩa về văn hóa được các học giả đánh giá là khoa học: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội” [E.B.Tylor 2001:13] Một nhà nghiên cứu về văn hóa cũng đã đưa ra một quan điểm tương đồng, cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ những của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người” [Dẫn theo Nguyễn Đăng Duy 2001:25]

Về mặt ngữ nghĩa, khái niệm “văn hóa” mang nội hàm rộng với rất nhiều

cách hiểu khác nhau Nhưng nhìn chung có thể quy về hai cách hiểu chính: nghĩa

hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, văn hóa được hiểu là các hoạt động nghệ thuật như mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là

cách sống, tri thức tiếp nhận được Vì thế, trước đây trong các chứng từ có để một tiêu chí là trình độ văn hóa, hay thường ngày người ta vẫn chê những người có lời

ăn tiếng nói không phải phép là vô văn hóa Theo nghĩa rộng, khái niệm văn hóa

bao quát mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Con người có khả năng sáng tạo văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác

Với nội hàm rộng như vậy, việc đưa ra một định nghĩa thống nhất về văn hóa rất khó khăn Từ định nghĩa đầu tiên về văn hóa của Tylor, cho đến nay, có thể nói,

có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hóa Ở Việt Nam, trong một công trình nghiên cứu, Phan Ngọc quan niệm: “Văn hóa không phải là một đồ vật, mà là một quan hệ, có mặt ở mọi tộc người và chỉ ở con người mà thôi” [Phan Ngọc 2006:16] Quan niệm này của ông đã góp phần khẳng định văn hóa chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội loài người Còn Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2006: 25]

Trang 17

Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng các nhà nghiên cứu đều có những điểm thống nhất sau đây:

Thứ nhất, văn hóa là một sản phẩm đặt biệt do con người sáng tạo và chỉ tồn tại ở xã hội loài người Không một cá nhân đơn lẻ nào có thể xây dựng được một nền văn hóa, mà đó là kết quả sáng tạo của cả một cộng đồng Con người là động vật duy nhất phụ thuộc vào văn hóa của mình cho sự sinh tồn

Trong khi, động vật tồn tại bằng bản năng săn mồi, thì con người sử dụng các công cụ đánh bắt để khai thác tự nhiên, phát triển kỹ thuật canh tác để trồng trọt nhằm tăng nguồn thực phẩm phục vụ các nhu cầu thiết yếu Động vật chống chọi với môi trường, với kẻ thù bằng cơ chế sinh học bên trong cơ thể như tắc kè, sâu, ngụy trang bằng cách thay đổi màu sắc của da, gấu Bắc cực ngủ đông trong thời gian dài thì con người sáng tạo vũ khí, sáng tạo bộ trang phục để chống chọi lại kẻ thù và sự khắc nghiệt của tự nhiên

Thứ hai, văn hóa là sản phẩm đặc biệt phát triển liên tục từ kết quả của quá trình sáng tạo không ngừng nghỉ của con người Các thế hệ kế tiếp lĩnh hội văn hóa

từ gia đình và môi trường xung quanh của mình chứ không phải là sản phẩm của sự

di truyền khi sinh ra Nói cách khác, khi mở mắt chào đời, con người đã được đặt trong một cộng đồng, một nền văn hóa nhưng khi ấy bản thân vẫn chưa có văn hóa

mà một cách vô hình các thành viên trong xã hội từ lúc sinh ra mới dần tiếp nhận văn hóa của xã hội mà anh ta đang sống trong sự tương tác với các thành viên khác; đến bản thân mình, các thành viên đó trong quá trình lĩnh hội và tương tác với xã hội lại sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới

Thứ ba, văn hóa là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa môi trường tự nhiên

và con người Trong quá trình sinh tồn, con người không chỉ thiết lập mạng lưới quan

hệ với con người mà còn thiết lập mối quan hệ với tự nhiên Và cách thức mà con người ứng xử với tự nhiên cũng góp phần sáng tạo ra văn hóa Sự thích nghi với môi trường tự nhiên hoặc ứng phó với nó là nền tảng tạo nên đặc trưng trong đời sống của cộng đồng cư dân đó, nên nó cũng là nét biểu hiện của đời sống văn hóa ấy

Trang 18

Cuối cùng, văn hóa mang tính đặc thù Mỗi xã hội đều có một nền văn hóa khác nhau, nơi mọi thành viên chia sẻ một ngôn ngữ, truyền thống, hành vi và nhận thức Văn hóa mang lại cho họ một bản sắc và làm cho họ duy nhất và khác nhau với các nền văn hóa khác

Tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một định nghĩa về

văn hóa để làm công cụ nghiên cứu Trong công trình này, kế thừa kết quả của các

học giả đi trước, chúng tôi mượn định nghĩa của Trần Ngọc Thêm làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, vì xét thấy nó đáp ứng được những yêu cầu của đề tài Đồng thời, chúng tôi sử dụng cách phân chia văn hóa thành hai thành tố: Văn hóa vật chất

và văn hóa tinh thần, trong đó văn hóa vật chất được hiểu là các hoạt động sản xuất – ăn – mặc – ở – đi lại và văn hóa tinh thần là các lãnh vực: tổ chức xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục – lễ hội, văn học – nghệ thuật Cách phân chia này sẽ giúp cho công trình có một cái nhìn hệ thống và toàn diện

1.1.2 Hướng nghiên cứu Địa - văn hóa

Trên thế giới, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa địa lý và văn hóa - xã hội thực sự phát triển trong khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhưng mầm mống của nó đã xuất hiện từ thời cổ đại “Plato và Aristotle đã dùng địa lý để giải thích lý

do tại sao người Hy Lạp phát triển sớm hơn so với các xã hội tại cùng một thời điểm chính là do sự khác biệt của vùng khí hậu nóng và lạnh Thêm vào đó, Aristotle đã đưa ra hệ thống phân loại khí hậu của mình để giải thích lý do tại sao con người gặp khó khăn khi giải quyết một số vấn đề trong xã hội ở những khu vực trên thế giới” [Thomas R Martin: Ancient Greece (Hi Lạp cổ đại)]2

Học giả Ibn Khaldun, một nhà xã hội học Ả Rập được xem là người đặt nền

móng cho thuyết Quyết định luận môi trường trong thế kỷ XX Một số học giả trong

thuyết này cho rằng “môi trường không chỉ quyết định nền văn hóa của một xã hội,

mà ngay cả các đặc tính vật lý của cư dân trong một xã hội”3

2 http://www.scribd.com/doc/17302419/ancient-greece-from-prehistoric-to-hellenistic-times

3

http://www.isca.ox.ac.uk/fileadmin/ISCA/JASO/JASO_Archive_pdfs/1996_JASO_27.pdf

Trang 19

“Quyết định luận môi trường” chính thức nổi lên trong cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Lập luận cơ bản của các nhà quyết định luận môi trường là khía cạnh địa lý - vật lý Họ cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến tâm lý của các cá nhân, rồi lần lượt xác định hành vi và văn hóa của xã hội mà những cá nhân hình thành Chẳng hạn: khí hậu nhiệt đới được cho là nguyên nhân của sự lười biếng, thái độ tùy tiện và bừa bãi; trong khi sự thay đổi thường xuyên thời tiết của các vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới đã dẫn đến sự quyết tâm trong công việc và thúc đẩy tính kỷ luật Mặc dù, có những hạn chế nhất định nhưng sự ra đời của trường phái này góp phần bác bỏ lý thuyết “truyền bá văn hóa” mang tính chất phân biệt chủng tộc của các nhà dân tộc học tư sản phương Tây cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Các nhà nghiên cứu theo thuyết “Truyền bá văn hóa” nhìn thấy sự tương đồng về văn hóa ở những khu vực khác nhau nhưng khi đi tìm nguyên nhân để lý giải cho sự tương đồng đó họ lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm và tư tưởng kỳ thị chủng tộc Họ thường giải thích sự tương đồng văn hóa là do hiện tượng “khuyếch tán”, “thiên di” văn hóa và phủ nhận khả năng sáng tạo văn hóa của của các tộc người ngoài châu Âu Ở Anh, vào đầu thế kỷ XX, trường phái “Truyền bá văn hóa”

do G.E Smith khởi xướng cho rằng “mọi nền văn hóa trên thế giới đều được sinh ra

từ khởi nguồn là văn minh Ai cập” [Vũ Minh Chi 2004: 60]

Trong khoảng nửa cuối thế kỷ XX, sự phê phán về thuyết “Địa – văn hóa cũ” nổi lên mạnh mẽ dẫn đến sự ra đời của thuyết “Địa – văn hóa mới” thay thế cho lý thuyết “Quyết định luận môi trường” Thay vì nghiên cứu các khu vực được xác định trước dựa trên phân loại môi trường, “Địa – văn hóa mới” đã quan tâm đến sự tương tác giữa các cảnh quan tự nhiên và con người Và chính sự tương tác đó đã tạo ra những cảnh quan văn hóa Nói cách khác, văn hóa là phương tiện để con người có thể thích ứng với môi trường Sự tương tác giữa văn hoá và môi trường có thể được nghiên cứu dựa trên mối quan hệ nhân - quả luân hồi, chứ không phải là sự tác động một chiều Ở Việt Nam, Trần Quốc Vượng đã có một số công trình nghiên cứu văn hóa dựa trên tinh thần của thuyết “Địa - văn hóa mới” Theo ông: “Thiên nhiên Việt Nam là điểm xuất phát của văn hóa Việt Nam Văn hóa là sự thích nghi

và biến đổi tự nhiên Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những

Trang 20

thách đố Văn hóa là sản phẩm của con người, là sự phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách đố của tự nhiên” [Trần Quốc Vượng 2008: 279]

Tiếp nhận quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng ta thừa nhận tính tương đối đồng nhất về địa lý cảnh quan đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất của con người, tới các đặc trưng tâm lý và văn hóa bởi “cách sinh hoạt của con người, tức là văn hóa có quan hệ rất mật thiết với điều kiện tự nhiên, cho nên nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, ta phải nghiên cứu hoàn cảnh

tự nhiên của dân tộc ấy trước” [Đào Duy Anh 2000: 12] Theo Bùi Quang Thắng, không thể có cách giải thích nào hợp lý hơn ngoài cách lý giải về sự tác động trực tiếp của môi trường tự nhiên đến đời sống văn hóa của con người về sự khác biệt giữa nhà ở của người Eskimo, Ai Cập và Việt Nam Hay tại sao cư dân vùng sa mạc lại mặc màu trắng và trùm kín người, tại sao tạo hình trong hang động của các bộ tộc Á châu không thể có những chú tuần lộc như trong các hình vẽ của người Cree

ở Canada Rõ ràng, dưới sự tác động của tự nhiên con người đã tìm cách thích nghi

và ứng phó với nó

Tuy nhiên, một trong hệ thống các nhân tố góp phần hình thành nên văn hóa của một cộng đồng người là quá trình giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau Khi đó, nhất thiết sẽ xuất hiện một trung tâm nắm giữ vai trò chủ đạo Chẳng hạn, văn hóa người Việt Nam Bộ xuất phát từ trung tâm là văn hóa của người Việt ở Bắc và Trung Bộ Nhưng chúng ta không được phủ nhận những sáng tạo văn hóa của người Việt trên vùng đất mới trong quá trình khai phá thiên nhiên và cộng cư với các tộc người khác Như vậy, một mặt chúng ta chú ý đến vai trò của trung tâm nhưng mặt khác,chúng ta phải thừa nhận sự sáng tạo của con người ở vùng ngoại biên, có như thế mới không sa vào chủ nghĩa trung tâm cực đoan

Trong một vùng văn hóa, có một số tiểu môi trường cảnh quan như biển, đồi núi và các hoạt động sản xuất khác nhưng vẫn dễ dàng nhận thấy loại cảnh quan chiếm vị trí chủ đạo tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất, tâm lý và văn hóa của cộng đồng cư dân đó Nhưng yếu tố con người mới là trung tâm, bởi trong cùng một cảnh quan môi trường nhưng chính “ý chí tự do” của họ mới quyết định cách

họ nhận thức và ứng xử như thế nào với nó

Trang 21

Như vậy, văn hóa không phải là cái bất biến mà nó là một phạm trù lịch sử,

nó có quá trình hình thành, có sự thay đổi về phạm vi, đặc trưng Sự biến động ấy phụ thuộc vào tự tương tác giữa môi trường địa lí và môi trường nhân văn với con người trong một quá trình lịch sử lâu dài Bởi “Con người tồn tại trong môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn và môi trường xã hội” [Nguyễn Xuân Kính 2009:9]

Như vậy, tiếp nhận quan điểm của thuyết “Địa – văn hóa mới” và phương pháp nghiên cứu hệ thống loại hình thì văn hóa hình thành dựa trên mối quan hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau của nhiều nhân tố Ngoài sự tương tác với tự nhiên, quan

hệ giao lưu, tác động lẫn nhau giữ con người với con người cũng góp phần hình thành văn hóa

1.1.3 Sông nước và văn hóa

Mặc dù 70% diện tích của trái đất được nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng lượng nước trên trái đất nằm trong các nguồn có thể khai thác dùng làm nước uống Nguồn nước trên trái đất được khai thác từ biển, nước ngầm và ở sông suối Trong khi chưa có phương tiện để biến nguồn nước mặn thành nước ngọt để phục vụ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống thì nguồn nước từ mạch nước ngầm, sông suối là rất quan trọng đối với con người

Lịch sử đã chứng minh chính những con sông trên thế giới đã góp phần tạo nên những cánh đồng phì nhiêu Không ít dòng sông là nơi khởi nguồn những nền văn minh, văn hóa của nhân loại Văn hóa của người Pueblo cổ đại hình thành ở khu vực trên sông Gila, New Mexico và Arizona Sông Nile với nguồn nước dồi dào đã tạo nên vùng thung lũng trù phú nhất “lục địa đen” Nó đã góp phần rất lớn tới sự hình thành nền văn minh Ai Cập cổ đại, với những kim tự tháp kỳ vĩ Sông Nin đã ảnh hưởng lớn tới nền văn hoá Ai Cập cổ ngay từ thời đại đồ đá Người dân

Ai Cập coi sông Nile như một vị thần linh thiêng Hàng năm họ tổ chức lễ chào mừng ngày sông Nile dâng nước với lòng biết ơn và sự trân trọng, thành kính nhất Đồng bằng Ấn - Hằng cái nôi của một nền văn hóa – văn minh cổ xưa và rực rỡ ở châu Á, được tạo thành bởi hai con sông lớn là sông Ấn và sông Hằng Người Ấn

Trang 22

Độ tôn thờ và thần thánh hóa nước: họ tin rằng tắm nước sông Hằng có thể tẩy sạch mọi tội lỗi, uống nước sông Hằng sẽ kéo dài tuổi thọ và được thả tro xác ở sông Hằng sau khi chết sẽ được lên trời

Từ thời cổ đại, tổ tiên người Hán đã định cư ở vùng đồng bằng rộng lớn của hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử Vùng đồng bằng sông Hồng được xem là cái nôi của văn hóa Việt Nam Các đô thị cổ trong lịch sử Việt Nam phần lớn đều hình thành bên cạnh những vùng sông nước: Cổ Loa, Thăng Long, Phố Hiến Không phải ngẫu nhiên mà các đa số các tộc người ở Đông Nam Á đều có huyền thoại về những trận đại hồng thuỷ

Trần Quốc Vượng đã khẳng định rằng: “Sự đa dạng của môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên là yếu tố góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa Trong vô vàn yếu tố tác động đến cuộc sống hằng ngày từ góc độ tự nhiên, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hầu như đều nêu bật hai tính trội của văn hóa Việt Nam truyền thống: sông nước và thực vật” [Trần Quốc Vượng 2008: 35] Cao Xuân Huy cũng đã khẳng định: “Tính cách người Việt là tính cách giống như nước, uyển chuyển, linh họat, không cứng nhắc, không cố chấp, ở hồ ao thì nó có hình tròn, ra sông suối thì nước dài Nước biết tựu theo hoàn cảnh, có thể thay đổi hình thức, nhưng bản chất của nước thì bao giờ cũng giữ vững” [Nguyễn Xuân Kính 2009: 29] Như vậy, có một mối liên hệ giữa sông nước và sự sống của sinh vật, của văn hóa của con người

Từ những dẫn chứng trên chúng ta có thể đi đến một kết luận về sự tồn tại mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa và sông nước Đặc biệt trong các nền văn hóa phương Đông, điển hình là Việt Nam và các nước Đông Nam Á bởi lẽ đây là vùng chịu ảnh hưởng lớn của sông nước Việt Nam có khoảng 2360 con sông dài trên 10km, trung bình cứ 20km bờ biển có một cửa sông Không phải ngẫu nhiên mà người Việt cho rằng mình là con rồng - một sinh vật có nguồn gốc từ vùng sông nước (truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ)

Địa hình cư trú là vùng sông nước nên ở đây mọi thứ đều phải thích nghi với nước: từ thực vật, động vật đến con người Và người Việt đã tạo nên một nền văn

Trang 23

hóa sông nước đa dạng Ẩm thực của Việt Nam là sản phẩm của nền nông nghiệp lúa nước, nhà của người Việt Nam thể hiện sự thích nghi với vùng có nhiều sông suối với đặc trưng chung là nhà sàn Ngoài nhà sàn, ở Việt Nam còn rất phổ biến hình thức cư trú gọi là nhà thuyền, nhà bè để tận dụng sông nước mà đánh bắt cá4

Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm đã cho thấy từ xa xưa người Việt đã biết tận dụng địa hình sông nước trong quân sự Những trận thắng lớn của nhân dân

ta trên sông nước: Bạch Đằng 938 và 1285, Rạch Gầm Xoài Mút 1785

Bên cạnh những thuận lợi mà sông nước đã đem đến cho cuộc sống văn hóa vật chất của con người thì sông nước cũng đem đến những bất lợi nhất định và khi khả năng đối phó với những bất lợi đó cũng như sự hiểu biết về các quy luật tự nhiên còn nhiều hạn chế thì con người trở nên linh thiêng hóa nước Theo Trần Quốc Vượng, những vật tổ đại diện cho vùng sông nước như rồng và rùa đã có xu thế ảnh hưởng mạnh hơn khi người Việt tiến sâu xuống đồng bằng chứng minh sự ảnh hưởng của sông nước đến đời sống sinh hoạt cũng như tâm linh người Việt Trên trống đồng Đông Sơn đã cho chúng ta thấy cách cư trú trên những con thuyền

và mai táng trong những quan tài bằng thuyền của người Việt cổ

Sông nước giữ vai trò quan trọng với văn hóa người Việt như vậy nhưng sự ảnh hướng của sông nước đối với văn hóa người Việt Bắc Bộ và Tây Nam Bộ có những khác biệt đáng kể Sự khác biệt đó một phần là do đặc điểm lý tính khác nhau của hai con sông lớn đã chi phối văn hóa của hai đồng bằng này là sông Hồng

và sông Cửu Long

1.2 ĐỊNH VỊ VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ

1.2.1 Không gian văn hóa

Về không gian tự nhiên: Tây Nam Bộ là vùng đất nằm ở phía tây nam Việt Nam Tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, biên giới với Campuchia , tiếp giáp với biển của các nước Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan, Malaisia, Philipine, Indonesia Đây là khu vực có nhiều đường giao thông hàng hải quốc tế quan trọng,

4 ngoc-them-nuoc-van-hoa-va-hoi-nhap.html

Trang 24

http://www.vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/van-hoa-va-phat-trien/25-tran-nối Nam Á với Đông Á, châu Úc và các quần đảo trong Thái Bình Dương Với vị thế nằm ở ngã tư quốc tế là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á nên Tây Nam Bộ sớm

có sự tiếp xúc với các nền văn hóa bên ngoài

Theo số liệu thống kê năm 2005, Tây Nam Bộ có diện tích 39.738,7 km2, bao gồm 13 tỉnh thành: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long

Các nhà nghiên cứu lịch sử về vùng đất này cho rằng nơi này vốn là một vịnh lớn nhưng đã được bồi đắp dần bởi phù sa của sông Cửu Long Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hình thành vùng châu thổ Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa được mang đến cửa sông và được lắng tụ thành châu thổ

Sông Cửu Long là một phần của sông MéKong bắt nguồn từ Tây Tạng (Trung Quốc) chảy qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi vào Việt Nam chia thành hai nhánh: Tiền Giang và Hậu Giang Bên cạnh hệ thống sông Cửu Long, Tây Nam Bộ còn có một hệ thống sông chính nữa là sông Vàm Cỏ

Về tính chất dòng chảy: Tất cả dòng chảy trên sông Cửu Long đều có cửa ra

là biển nên tính chất thủy văn Đồng bằng sông Cửu Long mang tính chất vùng cửa sông chịu ảnh hưởng của thủy triều Ở Tây Nam Bộ chỉ có chế độ nhật triều, nguyệt triều và niên triều5 chứ không có lũ lớn như ở Bắc Bộ và Trung Bộ “Hằng ngày, tùy theo vị trí, sông nào cũng có từ hai con nước trở lên (nước lớn và nước ròng) Những ngày rằm và ba mươi (âm lịch), có những con nước lớn hơn những con nước bình thường làm chao động cả mặt sông vì sự vận động của chúng” [Lê Bá Thảo 2009:260] Hiện tượng thủy triều ở sông Cửu Long mang tính chất hỗn hợp Thủy triều không chỉ làm cho mực nước sông và kênh rạch bị ảnh hưởng mà còn làm cho dòng chảy bị đảo ngược Đi kèm với thủy triều là sự xâm nhập của nước bị nhiễm

5 Chế độ nhật triều, nguyệt triều nghĩa là mỗi ngày có hai con nước: con nước lớn/con nước ròng; mỗi tháng có hai con nước: con nước rong/con nước kém; Ngoài ra, mỗi năm có một mùa nước nổi tràn ngập các cánh đồng

Trang 25

mặn Đây là một khó khăn lớn cho hoạt động nông nghiệp và dân sinh về vấn đề nước sinh hoạt

Về độ dốc: Đa số hệ thống sông ngòi Bắc Bộ có độ dốc lớn trong khoảng cách ngắn, lưu lượng dòng chảy khắc nghiệt và dòng nước chảy theo một chiều đổ

ra biển Trong khi đó hệ thống sông ở Tây Nam Bộ có độ dốc thấp Nếu cho cao độ của phần hạ lưu sông Hồng và sông Cửu Long bằng 0 (bằng với mực nước biển) ta tính ra được độ dốc của sông Hồng là 15%, độ dốc của sông Cửu Long là 11% Các sông lớn trong hệ thống sông Cửu Long (sông Vàm Cỏ, sông Tiền, sông Hậu ) trước khi đổ ra biển đều được nối với nhau qua nhiều kênh tự nhiên và nhân tạo Điều này làm cho sự phân nước từ đầu nguồn đổ xuống được dễ dàng hơn, góp phần làm cho dòng chảy của các sông rạch ở Tây Nam Bộ trở nên hiền hòa hơn

Do nhu cầu dẫn nước ngọt phục vụ tưới tiêu, sinh hoạt và nhu cầu giao thông đường thủy, người ta đã tiến hành đào vét thêm rất nhiều kênh rạch nhân tạo Chỉ tính riêng từ sau khi đất nước thống nhất đến nay, đã đào hơn 5.000km nâng chiều dài hệ thống sông rạch tại Tây Nam Bộ lên trên 42.000km và hiện nay là hơn 54.000km Có thể thấy, kiểu đào kênh, xẻ rạch dẫn nước của người Tây Nam Bộ đã làm dày thêm hệ thống kênh rạch vốn đã chi chít, dày đặc ở vùng đất này Đồng thời chúng đã nối thông sông Tiền với sông Vàm Cỏ, nối thông các vùng nằm sâu trong nội địa đồng ra sông chính, nối sông Tiền sang sông Hậu và sông Hậu ra vịnh Thái Lan, ra sông Cái Lớn và các sông ở phía nam như Mỹ Tranh, Gành Hào, Ông Đốc Vì thế mà người Tây Nam Bộ được gọi là cư dân của “văn minh kênh rạch”

Theo các nhà khí tượng học, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt “Nhiệt độ trung bình hằng năm từ 24 đến 27 độ, biên độ nhiệt trung bình năm 2 đến 3 độ, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm thấp, ít có bão hoặc nhiễu loạn thời tiết Có hai mùa rõ rệt: mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau” [Nguyễn Minh Tuệ (cb) 2010: 303] Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất bồi do phù sa từ thượng nguồn và vùng Biển hồ chảy xuống kết hợp với sự lắng

tụ phù sa của sông MéKông, hàng năm đều có mùa nước nổi, mực nước tùy năm ở một số nơi có thể dâng cao lên đến ba mét Các tộc người dân sinh sống nơi đây da

Trang 26

số làm nông nghiệp và phổ biến là trồng lúa nước Cứ khởi đầu mùa lúa sạ, nước tràn vào các cánh đồng tạo môi trường thích hợp cho các loài cá nước ngọt đẻ trứng sinh sôi nẩy nở, rồi đến mùa nước giựt6, nước chảy ngược ra các vàm kinh rạch để

đổ ra biển người dân lại được mùa thu hoạch các loại thủy sản

Về mặt địa hình, Tây Nam Bộ có những khác biệt rõ rệt so với Đông Nam

Bộ “Miền Đông Nam bộ đến hồi đầu thế kỷ XX từng nổi danh với ma thiêng nước

độc Nơi đất đỏ, đất xám mà thực dân khai thác cây cao su trong buổi đầu” [Sơn Nam 2005b: 18]

Tây Nam Bộ là vùng phù sa mới, có độ cao trung bình chỉ gần 2m, hàng năm

có tới 1 triệu ha bị ngập nước mặn trong thời gian từ 2 đến 4 tháng Chỉ có một số núi thấp ở khu vực tiếp giáp với vùng Tây Nguyên, phía tây tỉnh Kiên Giang và Campuchia “Phía Rạch Giá - Cà Mau là đất xấu, xưa kia ít vườn tược, nước mặn đồng chua, con người “chân cẳng đóng phèn, quần áo mốc thích (thếch)” [Sơn Nam 2005b:13] Trong khi đó, Đông Nam Bộ có độ cao trung bình so với mực nước biển gần 200m Hệ thống sông chính của vùng là hệ thống sông Đồng Nai có lượng phù

sa khá thấp, tốc độ bồi lắng ven biển chậm Địa hình không bị chia cắt nhỏ bởi sông rạch như miền Tây Nam Bộ

Rừng Tây Nam Bộ cũng rất đặc trưng, nó là rừng ngập nước nằm ở vùng trũng ngập nội địa “Rừng ở đây mang chức năng hồ chứa nước (vùng U Minh Hạ, Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên…) để canh tác vào mùa khô” [Đinh Thị Dung 2010: 10] Rừng tràm nằm trong đất liền có rất nhiều các loài cá nước ngọt sinh sống Rừng đước ở ven biển thuộc hệ sinh thái ngập mặn Đặc biệt, với đặc trưng là rừng ngập mặn, các cánh rừng ở Tây Nam Bộ chỉ thích hợp cho cây công nghiệp ngắn ngày như: tràm, cừ, đước, mắm phát triển Trong khi đó rừng ở Đông Nam Bộ chỉ phù hợp cho cây công nghiệp lâu năm như cao su, cây lấy gỗ

Với đặc điểm về địa hình, chế độ thủy văn như trên, từ góc nhìn địa – văn hóa, Đinh Thị Dung đã chia Tây Nam Bộ ra làm 5 tiểu vùng và tất cả các tiểu vùng

đó đều cho thấy sự hiện hữu sự tác động của nhân tố sông nước:

6 Nước giựt: cách nói của người miền Tây Nam Bộ, ý ám chỉ mùa nắng ở vùng này (NTTH)

Trang 27

“Tiểu vùng Đồng lũ kín (Đồng Tháp Mười): có địa hình đồng trũng, thường ngập nước

Tiểu vùng Đồng lũ hở (Tứ giác Long Xuyên): có địa hình thấp trũng, khi xổ

lũ lại đem triều mặn vào, thích hợp cho dừa nước và bạch đàn phát triển

Tiểu vùng Phù sa ngọt: có địa hình bằng phẳng, tạo nên văn minh miệt vườn và cũng thể hiện rõ văn hoá sông nước với chợ nổi, nhà sàn ven sông, cầu khỉ

Tiểu vùng Giồng duyên hải: là vùng chịu ảnh hưởng nhật triều với hiện tượng độc đáo là lúc con nước chưa xuống hết thì lại bắt đầu lên lại, người dân gọi

là con nước lửng

Tiểu vùng ngập mặn (Bán đảo Cà Mau): vùng đất thấp, địa hình cao ở phía biển thấp dần về phía nội địa, vùng đất phèn mặn, nổi bật với đặc trưng sinh thái hồ

- rừng độc đáo” [Đinh Thị Dung 2010: 10 - 12]

Có thể nói, chính các vùng phù sa, giồng tự nhiên, sông rạch, với các khu rừng ngập nước đã tạo môi trường sống thuận lợi cho các loài lưỡng cư, các loài bò sát cộng với hơn 120 loài cá nước ngọt, các loài tôm nước ngọt; nơi cửa sông là cá bống, cá đối, cua, các loài tôm,…

Về không gian nhân văn: Tây Nam Bộ là cái nôi của nền văn hoá Óc Eo phát triển rực rỡ vào những năm đầu Công nguyên Nền văn hoá này còn để lại nhiều kiến trúc khác nhau như vết tích nhà sàn, những kiến trúc đồ sộ bằng gạch đá lẫn lộn thể hiện trình độ cao trong kỹ thuật xây dựng

Đến thế kỷ XVII, cơ bản Tây Nam Bộ vẫn là vùng đất hoang vu chưa được khai phá và dân cư rất thưa thớt Cho nên lớp dân cư Việt mới đến được tự do lựa chọn nơi ăn chốn ở và khẩn hoang: “các làng xóm trong buổi đầu được hình thành một cách tự phát, dựa vào tinh thần tương thân tương trợ là chính, chưa bị ràng buộc bởi luật lệ, quy chế nghiêm ngặt với lệ làng, hương ước phức tạp”[Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa 1992: 38]

Đến vùng đất mới, làng xã người Việt nằm dọc theo những con sông lớn như sông Tiền, sông Hậu Cư trú ven sông rạch đã đem lại nhiều lợi ích, họ có thể khai

Trang 28

thác nguồn thức ăn ngay từ trong kênh mương, sông rạch, ven bìa rừng, đây là những hoạt động phù hợp với trình độ sản xuất thấp Do đó, nếu đặc trưng không gian sinh thái của người Việt Bắc Bộ là hệ thống ao hồ thì ở Tây Nam Bộ là mạng lưới dày đặc các kênh rạch

Có thể nói cùng chung sống, cùng nhau phát triển kinh tế và luôn tôn trọng đời sống văn hóa của nhau là một nét văn hóa rất đẹp trong ứng xử của những tộc

người sinh sống tại Tây Nam Bộ Theo Trịnh Hoài Đức trong Gia Định Thành

Thông Chí: “Gia Định là đất phương Nam của nước Việt Khi mới khai thác, lưu

dân nước ta cùng người kiều ngụ như người Đường (Hoa), người Cao Miên, người Tây Phương, người Phú lang sa (Pháp), người Hồng Mao (Anh), Mã Cao, người Đồ

Bà (Java), ở lẫn lộn, nhưng về y phục, khí cụ thì người nước nào theo tục ấy” [Dẫn lại Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990: 39]

Hiện nay, ở khu vực Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long có khoảng 17 triệu người đang sinh sống (số liệu thống kê vào đầu năm 2006) Vấn đề đặt ra là cần duy trì và bảo tồn môi trường vốn có đã hình thành nên nền văn minh sông nước đa dạng ở châu thổ sông Cửu Long để phát triển nó một cách vững bền

Trang 29

Nam Bộ là vùng đất mới so với các vùng khác trong cả nước đồng thời là một vùng đất đa tộc người; trong đó người Việt giữ vai trò chủ thể văn hoá chính của toàn vùng chiếm 91,97% dân số của vùng, người Kh’mer chiếm 6,88%, người Hoa 1,03%,

người Chăm chiếm 0,09%, các dân tộc còn lại chiếm 0,05% (xem bảng 1)

Trước thế kỷ VII, người Kh’mer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Ngày nay, họ tập trung sinh sống ở ba vùng môi sinh lớn là: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Campuchia Người Kh’mer trước đây cũng có tập tục ở nhà sàn Qua quá trình cộng cư, ngày nay người Kh’mer sống chủ yếu trong các ngôi nhà nền đất

Người Chăm đến sinh sống ở Đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng thế kỷ XVIII, chủ yếu theo đạo Hồi trong các ngôi nhà sàn cao cẳng và tập trung thành các paley (làng) khép kín Họ sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu Sản phẩm thủ công nổi tiếng của họ là thổ cẩm Người Chăm ở Tây Nam Bộ có dân số ít và sinh hoạt khép kín nên không tác động đáng kể vào văn hoá Việt trong vùng

Người Hoa đến Tây Nam Bộ vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII;

họ là quan, quân nhà Minh không thuần phục nhà Thanh, ly hương thành từng đoàn vượt biển đến vùng đất này và coi đây như quê hương thứ hai của mình Một bộ phận lớn tập trung ở Mỹ Tho và Hà Tiên lập nên hai trung tâm thương mại lớn nổi tiếng thời bấy giờ Bộ phận còn lại cùng với cộng đồng người Việt khai phá rừng làm rẫy trồng hoa màu ở vùng Cái Nước, Lô Hai, Lô Ba…, mở mang nhiều nghề để sinh sống, đặc biệt họ chú trọng thương mại và rất sành nghề đi biển Một bộ phận người Hoa (chủ yếu là con cháu của di dân người Hoa đến Nam Bộ vào thế kỷ XIX-XX) vẫn còn giữ nguyên ý thức tộc người mà trước đây gọi là người Đường

Sự xuất hiện của người Việt tại vùng đất này đã tạo nên một bước ngoặc quan trọng, họ đã làm cho vùng đất hoang vu ngày càng màu mỡ Theo dòng lịch

sử, các lớp lưu dân người Việt tới Nam Bộ nói chung, Tây Nam Bộ nói riêng vào

Results.pdf&ei=KdxGUPmCPOiRiQf24YDYCA&usg=AFQjCNELSUz4URC-1KNeddHQ0qiCSPL5mA&sig2=yC34nIZO8m5H2J1c5kB3Gw

Trang 30

những thời điểm lịch sử khác nhau và gốc gác của họ cũng khác nhau Trần Văn Giàu chia ra làm bốn lớp với bốn thời điểm như sau:

Lớp thứ nhất: vào Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII Tiên phong là những người dân miền Trung, miền Bắc bần cùng, không có đất, không có phương kế sinh sống ngay trên đất tổ, lưu tán không chịu nổi sự áp bức của chính quyền phong kiến hay muốn tránh cuộc phân tranh đẫm máu giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn Từ đầu thế

kỷ XVII, một số người có ít tiền của, có quyền thế, chiêu mộ dân nghèo đi vào Nam khẩn đất theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn Lính tráng cùng với những tội

đồ bị sai phái, bắt buộc vào Nam lập đồn điền vừa giữ trị an biên cương vừa mở ruộng lập vườn quanh cứ điểm quân sự, đã rời quê hương tìm đến vùng đất mới để kiếm sống và an thân Đây là thành phần lưu dân trước hết và đông nhất

Lớp thứ hai: họ là những nông dân nghèo khổ đến Nam bộ do sự tác động của người Pháp thông qua chủ trương khai thác thuộc địa, vào lao động tại các đồn điền cao su, chè và khai phá vùng phía tây sông Hậu

Lớp thứ ba: họ đến Nam Bộ sau Hiệp định Genevère năm 1954 và những năm 60 của thế kỷ trước

Lớp thứ tư: những người tới định cư tại Nam Bộ sau 1975

Tuy đến từ những địa phương khác nhau, phong tục, tập quán, cách thức làm

ăn, thân phận giàu nghèo, dân tộc và tôn giáo có thể không giống nhau, nhưng do nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên những tính cách rất đáng trân trọng ở người Nam Bộ Họ là những người dám đối mặt với khó khăn, thử thách, đương đầu với hiểm nguy và không cam phận Tất cả họ đều chung một mục tiêu lớn là đẩy lùi đầm lầy, cây dại, thú dữ để canh tác, biến vùng đất hoang hóa trở thành ruộng đồng phì nhiêu, xóm làng mới trù phú

Là vùng đất mới, lưu dân từ miền Bắc và miền Trung, đặc biệt là dân vùng Ngũ Quảng tới khai phá, nên họ thấy cuộc sống dễ dàng thì trụ lại, bằng khó khăn thì lại khăn gói chống xuồng ra đi tìm đến vùng đất mới khác nữa Cứ thế họ ra đi

và mở dần diện tích khai hoang ngày một rộng lớn hơn, không có gì ràng buộc ngăn trở bước chân của những người thực hiện cuộc Nam tiến để tìm cuộc sống dễ chịu

Trang 31

hơn Đặc biệt, tại nơi này, như những vùng khác ở Nam Bộ, lưu dân Việt vẫn xem làm ruộng là nghề gốc Đất rộng, người thưa, thiên nhiên trù phú lắm cá nhiều tôm, chim muông thú vật hằng hà cho nên con người không cần phải thâm canh tăng vụ

mà vẫn lúa gạo đầy bồ thông qua hình thức quảng canh là chính

Quan niệm làm một vụ sống đủ quanh năm, hay đất làm chơi ăn thiệt đã tạo

cho con người nơi đây có những tính cách riêng trong sinh hoạt, ứng xử Do ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, của những lề thói, khuôn phép phong kiến lỗi thời; người dân vùng này cởi mở trong việc tiếp thu những ảnh hưởng các nền văn hóa của các dân tộc khác đã mang đến trong quá trình cộng cư Có thể nói, đây chính là vùng đất

mở ra nhiều cơ hội cho con người chịu bám trụ ở lại cày sâu cuốc bẫm

Cùng trải qua những khó khăn, vất vả, thành công và thất bại như nhau trong quá trình chinh phục thiên nhiên nơi đất mới, đã giúp lưu dân nhận ra rằng: muốn chiến thắng mọi trở lực thì phải cố kết với nhau thành một khối, phải cưu mang, đùm bọc lẫn nhau Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết dám hy sinh vì nghĩa lớn là đặc trưng nổi bật của những người đi khai hoang mở đất Chữ “nghĩa” và tinh thần tương thân, tương

ái được đặt lên hàng đầu “Nơi hẻo lánh, khách tha phương lập nghiệp luôn luôn thấy

cô độc, vì vậy rất hiếu khách Gặp khách quen thân một quê xứ, cần tiếp đón để có lượng thông tin về quê cũ của mình Gặp khách lạ lại càng thú vị, họ sẽ kể lại bao chuyện mà chủ nhà chẳng bao giờ nghe được lần nào” [Sơn Nam 2005: 75 – 76]

Như vậy, cùng với hành trang mà người Việt Tây Nam Bộ đã thừa hưởng ở quê

cũ, đến vùng đất mới trong sự giao lưu văn hóa với các tộc người cùng cộng cư họ đã tạo nên một nét văn hóa rất đặc sắc “Từ miệng sông (Hậu Giang – NTTH) đi về hướng tây 60 dặm đến Trường – tàu, … có đủ người Việt người Tàu người Cao miên ở chung lộn” [Trịnh Hoài Đức (Tu Trai Nguyễn tạo dịch), tập Thượng 1972: 94] Đây là một hình ảnh sinh động phản ánh sự cộng cư của các tộc người ở vùng đất xa xôi tận cùng của tổ quốc

Trang 32

1.2.3 Thời gian văn hóa

Trước khi người Việt khai phá ở vùng đất này, nơi đây đã từng tồn tại nhiều nền văn hóa cổ Gần đây, các nhà khảo cổ tìm thấy ở An Sơn phía Đông Bắc tỉnh Long An các di chỉ hậu kỳ đồ đá mới cách nay 3.000 năm

Lịch sử nền văn minh sông nước ở Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên với nền văn minh Phù Nam rực rỡ có phạm

vi phân bố chủ yếu là ở vùng trũng miền tây sông Hậu, gồm địa bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Cà Mau và một phần đất đông nam Campuchia Phù Nam là một điển hình văn minh sông nước hạ lưu MéKong trong quá khứ

Theo nhiều nhà nghiên cứu, vào khoảng năm 550, vương quốc Chân Lạp tiêu diệt Phù Nam Nền văn hoá Óc Eo vẫn còn tiếp diễn ở một số nơi trên Đồng bằng sông Cửu Long nhưng đến cuối thế kỷ VIII thì tàn lụi hẳn

Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI, vùng đất này rơi vào tình trạng hoang phế Châu Đạt Quan, một sứ thần nhà Nguyên - Mông khi đi qua vùng này đã nhận xét:

“Từ chỗ vào Chân Bồ (Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) trở đi, hầu hết là rừng thấp cây rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy” [Châu Đạt Quan 2007: 68-69]

Đến khoảng cuối thế kỷ XVI, những người Việt đầu tiên vượt biển tới khai phá vùng đất này “Nhờ cuộc hôn nhân giữa công chúa Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II vào năm 1618 Theo chân công chúa Ngọc Vạn, lưu dân người Việt vào Nam lập nghiệp nhiều ngày càng hơn Với chính sách khuyến khích khéo léo của chính quyền, làn sóng vào Nam càng lúc càng mạnh mẽ” [Dẫn lại Nguyễn Đình Đầu 1994: 79 - 87]

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý và bình định đất Sài Gòn Đây là một hoạt động chính trị -

Trang 33

quân sự mang tính chiến lược của triều đình nhà Nguyễn vào Nam lập nghiệp Sau

đó họ di chuyển dần xuống vùng Đồng bằng sông Cửu Long Sự xuất hiện của người Việt tại vùng đất này đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng, họ đã làm cho vùng đất hoang vu ngày càng màu mỡ

Đến năm 1757, cương vực của phủ Gia Định đã mở rộng đến tận Hà Tiên và mũi Cà Mau, bao gồm cả các hải đảo ngoài biển Đông và Vịnh Thái Lan bao trùm toàn vùng Nam Bộ hiện nay Chỉ riêng Trà Vinh và Sóc Trăng có giao lại cho vua Chân Lạp cai quản một thời gian, nhưng đến năm 1835 cũng được sát nhập vĩnh viễn vào lãnh thổ Việt Nam

Năm Nhâm Tuất 1802, chúa Nguyễn lên ngôi - tức Vua Gia Long, vùng đất phương Nam được gọi là Gia Định thành Năm 1832, sau khi tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt mất, vua Minh mạng đổi trấn thành tỉnh, chia đất miền Nam làm 6 tỉnh gọi là Nam kỳ lục tỉnh, gồm Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên

Sau đó người Pháp chiếm Sài Gòn, nhà Nguyễn không còn mở rộng đất đai ngoại vi, mà tập trung khai khẩn vùng nội địa bằng cách đào thêm kênh rạch (kinh Vĩnh Tế, kinh Vĩnh An), lập thêm đồn canh để bảo vệ lãnh thổ và đưa người Việt ở Bắc và Trung vào khai phá và phát triển vùng đất Nam Bộ nói chung và Tây Nam

Bộ nói riêng

Trên vùng đất mới, lúc mới khẩn hoang tuy khắc nghiệt vì hoang dã nhưng lại hào phóng với khí hậu thuận hòa, sông rạch chằng chịt thuận lợi cho đường thủy phát triển, nhiều cửa sông lớn đổ ra đại dương tạo nên nhiều nét đặc thù cho sự quần cư và phát triển cuộc sống mới Và sau khi khai phá vùng đất này ổn định thì không lâu sau, lưu dân Việt đã sớm tiếp cận nền kinh tế thị trường do có sản phẩm hàng hóa từ nghề làm ruộng và khai thác thủy sản để bán hoặc đổi lấy sản phẩm khác trên các chợ nổi hay tại các bến cảng sầm uất

Trang 34

TIỂU KẾT

Nghiên cứu về văn hóa của người Việt ở miền Tây Nam Bộ, dù trên lãnh vực nào, các nhà nghiên cứu cũng xác lập cho mình một hướng tiếp cận phù hợp Với công trình này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hướng Địa – văn hóa Bởi theo chúng tôi cũng như nhiều nhà nghiên cứu trước đó cho rằng: môi trường tự nhiên, điều kiện sinh thái đã tác động không nhỏ đến đời sống của con người và đó cũng là

cơ sở để hình thành văn hóa của cộng đồng người tại nơi đó

Miền Tây Nam Bộ là vùng đất mới do sự hội tụ phù sa của sông MéKong Đây là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi duy trì và phát triển thảm thực vật, các hệ động vật, trở thành vùng có hệ sinh thái đa dạng, phong phú và mang tính đặc trưng của một đồng bằng để những lưu dân Việt đầu tiên đến chọn làm địa bàn cư trú

Là một phần của Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ cũng có những mẫu số chung

về thời tiết: 2 mùa mưa, nắng Theo số lượng thống kê cho biết, tổng chiều dài của

hệ thống sông ngòi, kênh rạch ở miền Tây Nam Bộ hơn 54.000km Con số này phản ánh đặc trưng vùng này là vùng sông nước

Đây còn là vùng đất “mới”, được khẩn hoang vào khoảng đầu thế kỷ XVII

Lúc bấy giờ, khắp nơi hoang vắng, rừng cây rậm rạp, thú dữ trên rừng, dưới sông dẫy đầy là một trong những trở ngại lớn đối với những lưu dân người Việt mới vào khẩn hoang để tìm một con đường sống

Từ buổi đầu khai phá, cùng cộng cư với các tộc người Hoa, Kh’mer, Chăm

và sau này là với các nước phương Tây; hành trình của người Việt ở miền Tây Nam

Bộ là ý chí sống còn ở vùng đất mới, phải khắc phục và cải tạo thiên nhiên hoang dã này để phục vụ cho cuộc sống của con người Lưu dân Việt từng bước xác lập và ổn định cuộc sống của tộc người nơi đây để tạo nên sắc thái văn hóa mới trên nền văn hóa chung của người Việt

Trang 35

đề tài quan tâm nghiên cứu

2.1 VĂN HÓA SẢN XUẤT

Từ các miền khác nhau trên đất nước tìm về cực Nam để sinh sống, đối với người Việt ở Tây Nam Bộ, trong quá khứ, họ đã nhận thức rằng đây là vùng đất thích hợp để lập nghiệp, bởi sự trù phú của tài nguyên vùng sông nước, trong dân

gian thường nói: “Cần Thơ gạo trắng nước trong/Ai về xứ bạc thong dong cuộc

đời” hay “Ai về Gia Định thì về/Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn”

2.1.1 Nông nghiệp lúa nước

Theo các nhà nghiên cứu đi trước, hàng trình chinh phục vùng sông nước Tây Nam Bộ chính là “hành trình tìm đất mới của cư dân trồng lúa nước… Năm

1930, toàn Nam Kỳ đã có 2.434.000 ha đất trồng lúa… Năm 1942, đồng bằng sông Cửu Long đã đạt đến tỉ lệ có 2.184.100 ha đất trồng lúa”” [Nguyễn Chí Bền 2003:

47 - 49] Tuy nhiên, với sự khác biệt giữa hệ thống sông ngòi nơi đây so với hệ thống sông ngòi ở Bắc Bộ và Trung Bộ nên nghề trồng lúa nước ở đây đã có những khác biệt đáng kể:

Thứ nhất, người Việt Tây Nam Bộ ngoài việc chọn đất dọc theo các bờ sông

để tận dụng nguồn nước mang hàm lượng phù sa màu mỡ từ các sông rạch, kênh mương phục vụ cho tưới tiêu, sinh hoạt Càng vào sâu bên trong xa sông một chút thì sau khi phát hoang, họ tiến hành lên liếp, đào mương dẫn nguồn nước từ sông

Trang 36

rạch vào chứ không đắp đê, ngăn đập như kiểu canh tác truyền thống của người Việt

ở miền Bắc và Trung Bộ

Thứ hai, buổi đầu đến đây do đặc điểm địa hình “dân cư thưa thớt, làm nông

theo lối đao canh hỏa thực (đốn chặt cây cỏ cho sạch, dùng lửa đốt cháy, rồi lấy dao chọc lỗ trồng lúa)” [Trịnh Hoài Đức (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch) Tập Thượng 1972:

64] và cũng do điều kiện thiên nhiên ưu đãi “làm một vụ sống đủ quanh năm”, cho

nên người Việt Tây Nam Bộ canh tác theo kiểu “quảng canh” là chính chứ không

“thâm canh tăng vụ” như nghề trồng lúa nước ở các vùng miền khác Chính phương

thức canh tác quãng canh đã làm cho thời gian rỗi kéo dài ra, điều này góp phần không nhỏ trong việc hình thành tính cách “quỡn đãi8”của người Việt Tây Nam Bộ

H.1: Đồng lúa Châu Thành, Hậu Giang Ảnh: NTTH chụp ngày 18/5/2011

Thứ ba, nghề trồng lúa nước ở Tây Nam Bộ gắn với nền kinh tế hàng hóa chứ

không còn mang tính tự cung tự cấp như ở Bắc Bộ, Trung Bộ Sản lượng lúa do nông dân sản xuất ra tiêu thụ tại chỗ không hết thì họ biến thành hàng hóa mang đi nơi

8 Phương ngữ Nam Bộ Chỉ tính cách “Đặng chẳng mừng, thất chẳng lo” của người Việt vùng này,

NTTH

Trang 37

khác để trao đổi thu tiền về hoặc mua các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người Điều này cho thấy, lúa gạo đối với người Việt làm nghề nông ở Tây Nam Bộ “không còn đơn thuần là lương thực như nghề trồng lúa nước ở châu thổ Bắc Bộ” [Nguyễn Chí Bền 2003:49] Một nhà nghiên cứu về Nam Bộ, đã viết: “ Lưu dân người Việt đã có một kỳ công chinh phục thiên nhiên thật vĩ đại, tạo

ra một vùng đất không chỉ đơn thuần là nơi cất nhà làm chỗ trú chân, dung thân, mà còn tận dụng sự màu mỡ của đất để làm kinh tế rất tốt” [Nguyễn Thị Thoa 2011:16], đúng như nhận định trước đây của người xưa: “Các hạt Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, đất cấy lúa không bằng Gia Định, nhân dân ăn nhờ vào gạo miền Nam” [Dẫn theo Nguyễn Chí Bền 2003: 50]

Thứ tư, trong dân gian có câu: Nhứt nước, nhì phân, tam cần, tứ giống để

nhằm chỉ vai rò quan trọng của nước trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, với người Việt Tây Nam Bộ, sông nước còn có vai trò đặc biệt ngoài việc tưới tiêu; bởi đặc điểm của vùng đất Tây Nam Bộ là hàng năm cứ vào khoảng từ tháng Tám cho đến tháng Mười âm lịch là mùa nước nổi và người Việt đã linh hoạt “sử dụng nước nhằm cải tạo môi trường, để rửa phèn, ém phèn, tháo chua, rửa mặn cho vùng đất trũng chua phèn” [Trần Trọng Lễ 2011: 44] ở một số vùng như: Miệt thứ U Minh,

Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười:

Tháp Mười nước mặn, đồng chua, Nửa mùa nắng cháy, nửa mùa nước dâng

Cũng từ những đặc điểm thế đất bị trũng ngập, chua phèn mà lưu dân Việt khai hoang ngày xưa, ngoài canh tác các giống lúa truyền thống, “tại vùng đất trũng

bị ngập nhiều tháng trong năm như Long Xuyên, Châu Đốc, lúa được gieo trực tiếp hoặc người ta dùng loại lúa nổi” [Huỳnh Lứa 1987: 228] và kỹ thuật dùng phảng phát cỏ, đốt rồi cấy lúa rất hợp với thiên nhiên ngập tràn cỏ năng của vùng đất này

Thứ năm, phù sa từ sông nước đã giúp cho người nông dân Việt đạt được kết

quả cao trong việc làm nông Không chỉ giải quyết được nhu cầu về cái ăn, môi sinh của vùng sông nước Cửu Long còn tạo nhiều thuận lợi trong sinh hoạt và sản xuất:

“Ruộng vườn tốt, rau cải cũng tốt, cá tôm dư ăn trong gia đình, quanh năm nước

Trang 38

ngọt, mùa nước nổi nhà không bị ngập, muốn đi xóm hoặc chuyên chở thì dùng đường thủy, ngoài huê lợi ruộng còn huê lợi vườn” [Sơn Nam 2005b: 83] quả đúng như nhận định của Trịnh Hoài Đức: “Dân cư ở đây có ruộng vườn làm ăn hàng ngày… Nhà cửa ruộng vườn thạnh tốt” [Trịnh Hoài Đức (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch) Tập Thượng 1972: 62-67]

Có thể nói, ngoài nghề trồng lúa nước, sự phát triển của nghề làm vườn chuyên canh của nông dân Tây Nam Bộ là một đặc điểm khác biệt rất lớn so với nông dân Bắc Bộ Vườn của nông dân Bắc Bộ chỉ “cố gắng tổ chức bố cục mảnh đất của mình như một đơn vị sinh thái hoàn chỉnh” [Vũ Tự Lập (chủ biên) 1991: 66], thì vườn của người Việt ở Tây Nam Bộ là những vùng chuyên canh và trở thành những làng nghề nổi tiếng Điều này cho thấy, “lưu dân Việt Nam Bộ, một mặt vẫn gắn bó với nghề trồng lúa nước, một mặt lại phát triển nghề làm vườn,

không trồng lúa nước” [Nguyễn Chí Bền 2003: 52]

Mặt khác, lưu dân Việt miền Tây Nam Bộ vốn có tổ tiên là người Việt miền Bắc Bộ và Trung Bộ cho nên trong tâm thức của họ ngoài việc chinh phục vùng đất ven sông ngập nước này thành vùng đất trù phú nuôi sống con người bằng nghề trồng lúa nước thì còn có thể sống bằng nghề làm vườn tuy có đôi chút khác biệt

Cụ thể, người Việt ở miền Bắc đào ao trong vườn của mình để trữ nước tưới tiêu và sinh hoạt thì người Việt Tây Nam Bộ lại đào mương, lên liếp để lập vườn trồng cây

trái Ca dao Nam Bộ có câu: “Lập vườn thì phải khai mương” Điều này cũng giúp

chúng ta thấy rõ sự khác biệt trong cách thức làm vườn giữa người Việt Bắc Bộ với người Việt Nam Bộ ở chỗ: “Con người sống có vườn, nhưng là gắn với ao và không

có hệ thống kinh mương như vườn của người dân Việt Bến Tre nói riêng, Đồng bằng sông Cửu Long nói chung” [Dẫn theo Nguyễn Phương Thảo 1997: 49]

2.1.2 Khai thác thủy sản

Không phải ngẫu nhiên, chúng ta thấy xuất hiện rất nhiều dị bản của câu ca

dao: “Ba phen quạ nói với diều/Ngã ba Rạch Cát có nhiều cá tôm” Vẫn giữ nguyên

văn trong câu thứ nhất nhưng ở câu thứ hai, người ta đã thay thế Ngã ba Rạch Cát

bằng địa danh của những nơi mà họ đang cư trú cũng đầy ắp cá tôm: Cù lao Ông

Trang 39

Chưởng có nhiều cá tôm hay là Cù lao Ông Hống có nhiều cá tôm hoặc là Đi về Phong Mỹ có nhiều cá tôm cũng như Đi về Trại Đáy có nhiều cá tôm hay Đi về sông Cái 9 có nhiều cá tôm… Đây là những địa danh có nhiều tôm cá Hàng năm,

hàng ngàn chủng loại tôm cá theo dòng sông MéKong vào vùng đất Tây Nam Bộ rồi sinh sản tự nhiên trong các sông nhỏ, mương, kênh, rạch, đồng ruộng trở thành nguồn lợi của thiên nhiên ban tặng cho con người nơi đây

Nghề đánh bắt thủy sản

Tại vùng đất Tây Nam Bộ, vào mùa nước nổi, tôm cá từ thượng nguồn của sông Tiền, sông Hậu, Biển Hồ đổ về theo dòng chảy của nước, tràn lên các cánh đồng đẻ trứng, sinh con; rồi khi nước rút lại men theo các kênh rạch trở về sông Lúc này, cá bị người dân dùng các phương tiện đánh bắt chặn lại

Có thể nói, ngư cụ để đánh bắt thủy hải sản của người Việt ở Tây Nam Bộ rất đa dạng Ngư cụ đánh bắt nói chung gồm có: các loại lưới như: lưới bén, lưới kéo, lưới giăng; các loại cần câu như: câu cắm, câu giựt, câu giăng; các cỡ chài, ngư cụ làm từ tre như: đăng, đó, mành mành v.v… Tuy nhiên, với mỗi loại địa hình sinh thái, người Việt Tây Nam Bộ sẽ chế tác ra những ngư cụ đặc thù để khai thác nguồn thủy sản thiên nhiên cho phù hợp Thí dụ: Đánh bắt thủy sản trên sông thì không cần huy động nhiều người chỉ cần ba hay bốn người cũng được (ngoại trừ mỗi lần có nhà tát đìa (chụp đìa), vét hầm thì sử dụng khoảng chục người tát nước và bắt phụ cá cho kịp trong ngày); phương tiện gồm có ghe, xuồng các cỡ, các loại còn ngư cụ chủ yếu bao gồm: các loại đáy, các loại vó như vó gạt, vó bè, vó càng; chất chà, lưới kéo, v.v… Đánh bắt thủy sản

9 Một chi lưu nhỏ của sông Tiền thuộc địa phận huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang {NTTH}

H.2: Lú – Dụng cụ bắt cá của cư dân Miệt Thứ

Ảnh: Mỹ Duyên 2011:39

Trang 40

trên đồng ruộng, rạch, mương, kênh thì chỉ cần hai hay ba người là đủ, thậm chí có khi chỉ có một mình thì cũng xong, với ngư cụ tương đối đơn giản, thô sơ hơn nhiều như:

lú, ống trúm, nơm cá, chỉa, kích, lờ, lợp, rổ xúc, rọ, chài quăng, v.v…

Môi trường đánh bắt cá ở vùng này rất đa dạng ở sông, rạch, kênh, mương, đồng ruộng, trong các cánh rừng ngập nước Thời điểm thu hoạch bội thu cá là mùa nước nổi Nước về càng nhiều thì cá tôm càng dồi dào Khi nước từ thượng nguồn bắt đầu đổ về, cũng là lúc nhiều người chuẩn bị ngư cụ như ghe xuồng, lưới, trúm…

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w