Tính cách ấy đã để lại những dấu ấn đẹp đẽ và sâu sắc trong các tác phẩm văn học – nghệ thuật, phản ánh về con người và cuộc sống ở vùng đất phương Nam và cũng là đối tượng nghiên cứu củ
Trang 1KHOA VĂN HÓA HỌC
-
LƯU CÔNG MINH
NGƯỜI NỮ TRONG VĂN HÓA
NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
Tp HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
-
LƯU CÔNG MINH
NGƯỜI NỮ TRONG VĂN HÓA
NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học:
TS HUỲNH VĂN SƠN
Tp HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 3Lời cảm ơn
Đầu tiên xin cảm ơn quý thầy cô giáo trong và ngoài Khoa đã truyền đạt kiến thức về văn hóa học, bản sắc văn hóa, văn hóa Nam Bộ cho người viết suốt ba năm qua
Tiếp theo, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Huỳnh Văn Sơn đã tận tình hướng dẫn trong quá trình làm luận văn
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này
Học viên: Lưu Công Minh
Trang 4Mục lục
Phần mở đầu 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử vấn đề 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14
5.1 Ý nghĩa khoa học 14
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 15
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 15
7 Bố cục luận văn……….16
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 18
1.1 Cơ sở lý luận _18 1.2 Cơ sở thực tiễn – Nam Bộ nhìn từ hệ toạ độ không gian, thời gian, chủ thể 24 1.2.1 Không gian……….24
1.2.2 Thời gian………26
1.2.3 Chủ thể………28
Tiểu kết 32 Chương 2 Người nữ nhìn từ văn hóa nhận thức của người Việt Nam Bộ………33
Trang 52.1 Nhận thức về vũ trụ _ 33 2.2 Nhận thức về con người 37
2.2.1 Nhận thức của xã hội về phụ nữ……… 37
2.2.2 Nhận thức của phụ nữ về gia đình và xã hội………43
Tiểu kết _47 Chương 3 Người nữ trong văn hóa tổ chức của người Việt Nam Bộ 48
3.1 Văn hóa tổ chức đời sống tập thể (gia đình, nông thôn, đô thị, quốc gia)48 3.2 Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân 54
3.2.1 Tín ngưỡng 54
3.2.2 Phong tục 62
3.2.3 Giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ 66
3.2.4 Nghệ thuật thanh sắc 79
3.2.5 Nghệ thuật hình khối 88
Tiểu kết 91
Chương 4 Người nữ trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam Bộ 92
4.1 Ứng xử với môi trường tự nhiên _93 4.1.1 Ăn uống và giữ gìn sức khỏe……… 93
4.1.2 Mặc và làm đẹp con người………98
4.1.3 Ở và đi lại………105
4.2 Tính cách của người nữ Việt Nam Bộ trong ứng xử với môi trường xã hội 106 Tiểu kết 119
Kết luận 120
Trang 6Tài liệu tham khảo 123 Phụ lục 131
Trang 7Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Văn hoá là một phức hợp tâm lý chỉnh thể, được hình thành và phát triển trong hoạt động, phản ánh dấu ấn về một cộng đồng Bởi, trong mỗi nét tâm
lý của cá nhân đều có dấu ấn riêng của cộng đồng, của môi trường mà cá nhân
đó sinh sống Văn hóa Việt Nam thiên về âm tính, trọng tình, trọng nữ Hình ảnh người phụ nữ luôn được khắc họa rõ nét và đề cao trong mọi lĩnh vực của văn hóa Việt Nam
Vùng đất Nam Bộ có nhiều tộc người cùng sinh sống như người Việt, Hoa, Khmer… Giữa họ đã có sự giao lưu văn hóa với nhau suốt chiều dài lịch sử Nam Bộ và sau này cùng giao lưu với phương Tây Người Việt ở Nam Bộ có nguồn gốc từ miền Bắc, miền Trung di cư vào vùng đất mới này để khai phá nên văn hóa ở đây vừa mang những dấu ấn đặc trưng truyền thống hàng ngàn năm của văn hóa Việt, vừa có những nét riêng do điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử - xã hội quy định
Người Việt Nam Bộ có tính phóng khoáng, hiếu khách, thật thà, thẳng thắn Trong đó, người phụ nữ Nam Bộ vẫn giữ được nét truyền thống của phụ
nữ Việt Nam như dịu dàng, nhân hậu, thủy chung nhưng bên cạnh đó, họ rất chất phác, trong sáng, rộng lượng và nhường nhịn Tính cách ấy đã để lại những dấu ấn đẹp đẽ và sâu sắc trong các tác phẩm văn học – nghệ thuật, phản ánh về con người và cuộc sống ở vùng đất phương Nam và cũng là đối tượng nghiên cứu của không ít công trình viết về Nam bộ ở các góc độ: văn hóa học, tâm lý học, xã hội học… Điều đó cho thấy, hình tượng người nữ Việt
ở Nam Bộ đã tạo được lực hấp dẫn - mà thông thường người ta gọi là “nét duyên” - trong tính cách và phẩm chất của họ, thể hiện trong thực hành bổn phận với gia đình và xã hội
Trang 8Không chỉ là đối tượng được nghiên cứu, phản ánh trong các công trình khoa học và các tác phẩm nghệ thuật, người phụ nữ Nam Bộ còn là chủ thể góp công rất lớn cho nền văn hóa Việt Nam bằng tài năng và trí tuệ Đó là những nữ sỹ tiên phong của phong trào nữ quyền trên lĩnh vực văn chương như: Sương Nguyệt Anh, Mộng Tuyết, Bạch Vân, Manh Manh Đó là những nghệ sỹ tiền bối của nghệ thuật dân tộc, như: Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nam,
Tư Đồ, Ba Ngoạn và những thế hệ tiếp theo cũng làm rạng danh cho sân khấu Cải lương miền Nam như: Thanh Nga, Ngọc Hương, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết Đó là những nhà khoa học hoạt động miệt mài trong lĩnh vực tự nhiên
và xã hội; những nhà quản lý đầy tâm huyết, những anh hùng lao động “dám nghĩ dám làm” trong thời kỳ đổi mới và những nghệ nhân quyết tâm giữ gìn các nghề thủ công để trao truyền lại cho con cháu đời sau Và biết bao người
mẹ, người chị, người em ở Nam Bộ đã hy sinh tuổi xuân, chồng con và thậm chí tính mạng để đóng góp vào sự nghiệp kháng chiến cứu quốc và giải phóng dân tộc
Do vậy, người nữ Việt ở quê hương Nam Bộ rất đáng được nghiên cứu, bảo vệ và trân trọng Với mong muốn góp chút công sức với những người đi trước, cùng với những kiến thức và kỹ năng được đào luyện ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, người viết đã
chọn đề tài “Người nữ trong văn hóa người Việt Nam Bộ” làm luận văn tốt
nghiệp Cao học Văn hóa học
2 Mục đích nghiên cứu
Do nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách người Nam Bộ Ngoài tính hiếu khách, tính bộc trực, mạnh mẽ , hào phóng và đôn hậu, người Nam Bộ còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân
Trang 9hậu, bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực Đặc biệt phụ nữ miền Nam rất đỗi vị tha, dịu dàng lại khéo tay, chiều chồng nhưng đáng quý nhất là
sự hy sinh cho chồng con, cho quê hương, đất nước Điều đó đã được minh chứng suốt quá trình hơn 300 năm lịch sử của Nam Bộ
Đề tài nghiên cứu nhằm nêu bật vai trò, vị thế, hình ảnh và tính cách của người phụ nữ Nam Bộ từ xưa đến nay, trong tất cả các lãnh vực của văn hóa Cái đẹp bên ngoài, cái đẹp trong tâm hồn được thể hiện qua ca dao, tục ngữ, thơ văn, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, sân khấu… giúp nhận ra nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Nam Bộ như: yêu nước, nghĩa tình, chịu thương, chịu khó, dịu dàng, trung hậu, đảm đang… Qua đó, nhằm tìm hiểu sâu hơn về con người và văn hóa Nam Bộ
Việc tìm hiểu về người nữ Việt Nam Bộ với ý nghĩa không chỉ cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp hình thức và tâm hồn trong các lĩnh vực văn hóa như văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử mà sâu xa hơn, người viết muốn gửi gắm một thông điệp đến với mọi người: hãy quan tâm nhiều hơn nữa đến quyền lợi của phụ nữ, gạt bỏ những quan niệm lỗi thời, lạc hậu, góp phần bình đẳng giới Các cơ quan Đảng, chính quyền, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên và một số tổ chức chính trị - xã hội khác cần đưa ra những chủ trương, chính sách ưu ái, quan tâm hơn nữa đến người phụ nữ, nâng cao trình độ văn hóa cho họ vì họ có hiểu biết thì họ mới tự đấu tranh, bênh vực cho quyền lợi chính đáng của họ
Trang 10Lư Nhất Vũ, Lê Giang năm 1983 viết “Tìm hiểu dân ca Nam Bộ” đã cho
thấy hình ảnh người phụ nữ luôn luôn hiện hữu trong các bài dân ca miền Nam, vừa chân chất, thủy chung nhưng cũng rất là táo bạo, phóng khoáng
Bảo Định Giang năm 1984 với “Ca dao, dân ca Nam Bộ”, trong đó hình
ảnh và tâm hồn người phụ nữ được thể hiện rất nhiều qua các câu ca dao, dân
ca
Hoàng Như Mai năm 1986 viết cuốn “Sân khấu cải lương” cho thấy hình
tượng người phụ nữ luôn luôn được đề cao trong cải lương, một loại hình sân khấu độc đáo của miền Nam
Huỳnh Ngọc Trảng năm 1992 có cuốn “Địa Nàng – Chặp bóng tuồng hài Nam Bộ ” nói đến một loại hình nghệ thuật dân gian, liên quan mật thiết đến
tín ngưỡng, tâm linh
Phan Thị Yến Tuyết năm 1993 với công trình nghiên cứu “Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long” nghiên cứu văn
hóa vật chất của các dân tộc sinh sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long như dân tộc Việt, Hoa, Khmer, Chăm
Đức Tiến với “Người phụ nữ và bản sắc văn hóa dân tộc” năm 1999: vai
trò của người phụ nữ trong việc góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc
Trần Văn Khê năm 2000 với “Văn hóa với âm nhạc dân tộc” cho thấy
người phụ nữ tham gia rất nhiều hoạt động âm nhạc, điển hình ở Nam Bộ là đờn ca tài tử và cải lương
Nguyễn Kim Anh năm 2001 với bài viết “Một số đặc điểm của thơ văn nữ Nam Bộ trong thế kỷ XX” trong Tạp chí KHXH điểm qua một số nhà văn, nhà
thơ nữ xuất sắc trong thế kỷ XX
Trang 11Lê Ngọc Canh năm 2002 viết “Đại cương nghệ thuật múa” khái quát các
điệu múa của các dân tộc, các vùng miền trong cả nước, trong đó đương nhiên
có các điệu múa của người Việt Nam Bộ, mà người phụ nữ đóng vai trò qua trọng trong việc truyền tải cái hay, cái đẹp đến công chúng
Huỳnh Quốc Thắng năm 2003 viết “Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam
Bộ - khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc” đã chỉ rõ các lễ hội mà đối tượng
thờ cúng là người có công với làng, với nước, trong đó có không ít là hình ảnh được thờ phượng là các Bà, các Cô
Ngô Phương Lan năm 2005 viết về một mảng khác trong kho tàng văn
hóa nghệ thuật, là nghệ thuật thứ bảy trong cuốn “Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam” Hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ bao chiến
công oanh liệt, thủy chung, nhân hậu, chịu thương chịu khó được khắc họa rõ nét trong phim ảnh
Đinh Bằng Phi năm 2005 với “Nhìn về sân khấu hát bội Nam Bộ” cũng
dành một phần mô tả người phụ nữ được trong hát bội như thế nào và các diễn viên nữ thể hiện ra sao
Huỳnh Văn Sinh năm 2005 viết “Tính cách văn hóa người Việt” trong
Luận văn Thạc sĩ ngành Văn hóa học năm 2005 đề cập đến những thành tố văn hóa góp phần hình thành tính cách con người đồng bằng sông Cửu Long
và những định hướng phát huy các thành tố ấy trong sự nghiệp phát triển hiện nay
Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền năm 2006 với luận văn Thạc sĩ “Văn hóa ứng
xử với môi trường sông nước của người Việt miền Tây Nam Bộ” đã đi sâu làm
rõ văn hóa tận dụng môi trường sông nước trong ăn uống, cư trú, đi lại, sản
xuất, đánh giặc và văn hóa đối phó với môi trường sông nước trong việc giữ gìn sức khỏe, cư trú, đi lại, trang phục, sản xuất của cư dân Nam Bộ
Trang 12Năm 2010, Phạm Thị Thanh Bình có viết luận văn Thạc sỹ “Người phụ
nữ Nam Bộ trong thời kỳ chống Mỹ từ góc nhìn văn hóa” Trong luận văn
này, tác giả chỉ đề cập đến phụ nữ thời chống Mỹ trong văn hóa ăn, ở, mặc, đi lại
3.2 Các tác phẩm đề cập đến người phụ nữ Việt Nam Bộ ở góc độ kinh tế - chính trị - xã hội
Nguyễn Thị Loan năm 1961 khắc họa hình ảnh những người phụ nữ Nam
Bộ kiên cường, bất khuất, đảm đang trong sách “Những người mẹ miền Nam”
Lê Thi năm 1991 có bài “Vấn đề đào tạo việc làm tăng thu nhập nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay” chủ yếu đề cập đến vấn đề việc làm của phụ nữ
và đưa ra một vài số liệu thống kê
Văn Ngọc Lan năm 1994 với bài viết “Vai trò của người phụ nữ trong gia đình”, in trong cuốn “Xây dựng gia đình văn hóa tại TP.HCM” cũng đề cập
đến vai trò của người phụ nữ trong gia đình như vai trò làm vợ, làm mẹ, tăng thu nhập
Cuốn “Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ, Mười hai năm một chặng đường” của Tổ
sử phụ nữ Nam Bộ năm 1995: quá trình ra đời và phát triển của Bảo tàng, nơi
lưu giữ hàng nghìn hiện vật, hình ảnh liên quan đến người phụ nữ Nam Bộ
Ngô Thị Kim Dung năm 1996 viết “Phụ nữ ngoại thành TPHCM và việc chuyển đổi việc làm trong quá trình đô thị hóa nhanh” cũng đề cập đến việc
làm của phụ nữ nhưng nhấn mạnh đến quá trình đô thị hóa đã làm ảnh hưởng đến công việc, thu nhập như thế nào
Lưu Phương Thảo năm 1998 viết bài “Lao động xã hội và lao động gia đình ở người nữ trí thức TP.HCM” trong tạp chí Xã hội học số 21, phạm vi
Trang 13nghiên cứu chỉ ở TP.HCM, đối tượng khảo sát là phụ nữ trí thức, vừa đảm đương công việc xã hội, vừa gánh vác vai trò làm vợ, làm mẹ trong gia đình
Dương Thiệu Tống năm 2000 với công trình “Suy nghĩ về văn hóa giáo dục Việt Nam” là một tập hợp các bài viết của tác giả Dương Thiệu Tống về
văn hóa giáo dục Việt Nam liên quan đến 2 chủ đề lớn: Nền văn hóa giáo dục Việt Nam truyền thống và Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa và công nghiệp hóa bao gồm những bài viết của tác giả từ năm 1990 đến 1999, trong đó có đề cập đến người phụ nữ dưới góc nhìn giáo dục
Nguyễn Minh Khiếu năm 2001 có bài “Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa – xã hội nông thôn” viết về mối liên hệ mật thiết giữa phụ nữ và gia
đình trong quá trình phát triển nông thôn
Nguyễn Minh Hạnh năm 2002 với bài “Ảnh hưởng của toàn cầu hóa kinh
tế đến lao động được trả lương của người phụ nữ” đã đề cập đến sự tác động
của toàn cầu hóa trong kinh tế ảnh hưởng đến thu nhập của người phụ nữ
Lê Quý Đức và Vũ Thy Huê viết “Người phụ nữ trong văn hóa gia đình
đô thị” năm 2003: trong gia đình ở đô thị, người phụ nữ có vai trò như thế
Trương Trần Hoàng Phúc bảo vệ công trình luận văn thạc sỹ năm 2010
với đề tài “Vai trò phụ nữ trong đời sống gia đình ở Tp HCM hiện nay” đưa
ra rất nhiều cứ liệu khảo sát định tính, định lượng đáng tin cậy nhưng chỉ trong phạm vi gia đình ở TP.HCM
Trang 14Huỳnh Văn Sơn năm 2010 với cuốn “Văn hóa và sự phát triển tâm lý”
nói về quan hệ giữa văn hóa và phát triển, văn hóa gia đình và sự phát triển tâm lý – nhân cách, mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển trong công tác giáo dục
Ngoài ra, có các tác phẩm là cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận văn như:
Trần Ngọc Thêm với các tác phẩm “Bản sắc văn hóa Việt Nam trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ mới” (2001), “Tập bài giảng lý luận văn hóa học” (2005), “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” (2004), “Tính cách văn hoá người Việt Nam bộ như một hệ thống” (2008); Lê Ngọc Trà với “Văn hoá Việt Nam - Đặc trưng và cách tiếp cận” năm 2001 đưa ra một số khái
niệm, nhận định, đánh giá về văn hóa, về bản sắc, về cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu Đây là nền tảng lý luận khá quan trọng để tiếp cận về người nữ tại Nam Bộ một cách hệ thống và khoa học
Các tác phẩm viết về lịch sử, văn hóa Nam Bộ khác như:
Phan Quang năm 1981 với cuốn “Đồng bằng sông Cửu Long”; Huỳnh Lứa năm 1987 với công trình “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”; Trần Bạch Đằng năm 1986 viết “Đồng bằng sông Cửu Long 40 năm”; Nguyễn Công Bình năm 1990 có “Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long”; Sơn Nam với “Văn minh miệt vườn” (1992) và “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” (2009); Trần Văn Giàu năm 1999 viết “Nam Bộ xưa và nay”; Thạch Phương năm 2000 “Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ”; Trung tâm nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á năm 2000 có “Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á”; Lê Bá Thảo năm 2002 với “Việt Nam - Lãnh thổ và các vùng địa lý”; Hồ Bá Thâm năm 2003 viết “Văn hóa Nam Bộ
- Vấn đề và phát triển”; Ngô Đức Thịnh có cuốn: “Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam” (2003), “Văn hóa, Văn hóa tộc người và Văn hóa
Trang 15Việt Nam” (2006); Hội khoa học lịch sử năm 2004 có “Nam Bộ - Đất và người”; Nguyễn Văn Đông năm 2005 viết “Văn hóa và con người Nam Bộ trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc” khái quát về con người và văn hóa
Việt Nam, trong đó có nói đến Nam Bộ và phụ nữ Nam Bộ
Có thể nói, trong các công trình nghiên cứu khác nhau thì hình ảnh người
nữ được đề cập ở nhiều góc nhìn nhưng để nghiên cứu một cách toàn diện người nữ trong văn hóa người Việt Nam Bộ đó dưới góc nhìn văn hóa học một cách hệ thống thì chưa ai nghiên cứu nên đề tài không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là người nữ Việt ở vùng Nam Bộ Người viết không đề cập đến các dân tộc khác như người Hoa, Khmer, Chăm… Người phụ nữ Việt Nam Bộ được đặt trong các mối quan hệ giữa các thành tố văn hóa để nêu bật hình ảnh, vai trò, vị thế, tầm quan trọng, tính cách của họ trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Thời gian nghiên cứu: từ khi người Việt có mặt ở Nam Bộ chính thức được tính từ năm 1698 (thế kỷ 17) đến nay
Không gian nghiên cứu: vùng Nam Bộ, trong đó gồm Đông và Tây Nam
Bộ
Góc độ nghiên cứu: người phụ nữ Việt ở Nam Bộ được nghiên cứu chủ yếu dưới góc nhìn văn hóa học, chứ không đi sâu nghiên cứu ở các góc độ như tâm lý học, xã hội học, dân tộc học…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 16Về ý nghĩa khoa học thì người viết dùng cách tiếp cận từ văn hóa học, tức
là nghiên cứu từ tọa độ không gian - thời gian - chủ thể và các thành tố văn hóa như: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử… Từ đó, sẽ có cái nhìn khái quát hình tượng người phụ nữ Việt Nam Bộ trên mọi mọi lãnh vực văn hóa và xã hội
Đây cũng là những luận cứ khoa học từ góc nhìn văn hóa học để minh chứng rằng văn hóa có tính chất địa phương và tâm lý của con người phát triển như là một sản phẩm của văn hóa Tâm lý, tính cách người phụ nữ Nam
Bộ có những nét giống với đặc điểm tâm lý của người phụ nữ Việt Nam, nhưng vẫn có những đặc trưng riêng do điều kiện địa lý, hoàn cảnh kinh tế, xã hội quy định
Đề tài góp một phần nhỏ bổ sung tri thức vào phần lý luận của văn hóa học Việt Nam, làm cơ sở cho việc nghiên cứu và soạn thảo các công trình về vùng
đất Nam Bộ Nghiên cứu người nữ trong văn hóa người Việt Nam Bộ nhằm
đưa ra những nhận định, đánh giá, gợi ý và kiến nghị để các nhà nghiên cứu
đi sau tiếp tục tìm hiểu
Trang 176 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Đề tài thuộc lĩnh vực văn hóa học nên người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
+ Phương pháp liên ngành: vận dụng kiến thức và phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành liên quan như: lịch sử, ngữ văn, nhân học, xã hội học, tâm lý học, nghệ thuật học…
+ Phương pháp hệ thống – cấu trúc: tiếp cận văn hóa như một hệ thống (văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử là những thành tố của hệ thống văn hóa)
+ Phương pháp lịch sử: xem xét quá trình nghiên cứu đối tượng theo hướng lịch đại và đồng đại
+ Phương pháp so sánh: so sánh người nữ trong văn hóa người Việt Nam
Bộ với các dân tộc khác ở Nam Bộ và so sánh với người nữ trong văn hóa người Việt với các vùng miền khác ở Việt Nam
Các thao tác: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp
Các nguồn tư liệu được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
+ Các công trình nghiên cứu: sách, bài báo, bài tham luận của hội thảo khoa học có liên quan về lý luận văn hóa học, văn hóa Nam Bộ, văn hóa Việt Nam…
+ Các thông tin, tài liệu, hình ảnh… của chuyên ngành văn hóa học và tâm lý học (vùng văn hóa, văn hóa học, bản sắc, tâm lý học, âm nhạc, nghệ thuật…) tập hợp từ thư viện, cá nhân và các tổ chức khác
7 Bố cục luận văn
Bố cục của luận văn gồm có bốn chương đi từ khái quát đến cụ thể:
Trang 18Chương một là chương cơ sở lý luận và thực tiễn, là nền tảng cho những
nội dung tiếp theo, làm cơ sở cho việc triển khai đề tài
Chương hai là người nữ trong văn hóa nhận thức, gồm có nhận thức về vũ
trụ và nhận thức về con người, trong đó có nhận thức của xã hội về phụ nữ và nhận thức của phụ nữ về gia đình và xã hội
Chương ba là chương nói về người nữ trong văn hóa tổ chức gồm có: tổ
chức đời sống tập thể, tổ chức đời sống cá nhân
Chương bốn đi vào người nữ trong văn hóa ứng xử gồm có: ứng xử với
môi trường tự nhiên, tính cách của họ trong ứng xử với môi trường xã hội
Trang 19Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1.1 Cơ sở lý luận
Để nghiên cứu “Người nữ trong văn hóa người Việt Nam Bộ”, thiết nghĩ
nên bắt đầu từ việc tìm hiểu những vấn đề có tính chất khái quát như: văn hóa, văn hóa học, bản sắc văn hóa, văn hóa người Việt, người nữ… Tất cả các nội dung trên sẽ góp phần tạo nên cơ sở lý luận cho đề tài
1.1.1 Văn hóa và văn hóa học
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [Tylor E.B
2000: 24] Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này
mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của
con người
Năm 1952, A.L Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions Trong đó, tác giả đã trích lục
khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước
khác nhau Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất rộng
F Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất
và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [anthdep.edu.vn]
Trang 20Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người
Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L Kroeber và Kluckhohn đưa ra là
“Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người…
Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”…[anthdep.edu.vn]
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau
Đào Duy Anh viết: “Người ta thường cho rằng văn hoá là chỉ những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hoá vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là
ở trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị,
về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là
ở trong phạm vi văn hoá hay sao? Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá là sinh hoạt” [Đào Duy Anh 2006: 13]
Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [Huỳnh Văn Sơn 2010: 16]
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách
nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những
lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng
đã nhận định “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và
Trang 21rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài, khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa
do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo
hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức
hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương
mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa
là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[anthdep.edu.vn]
Nhưng định nghĩa về văn hóa và Văn hóa học theo phương pháp hệ thống – cấu trúc của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm là khái quát nhất:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.[Trần Ngọc
Thêm 2004: 25]
“Văn hóa học là một ngành khoa học nhân văn giáp ranh với khoa học xã hội, có đối tượng nghiên cứu là văn hóa với tư cách một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng, bằng hệ phương pháp lý luận định tính mang tính liên
Trang 22ngành với độ bao quát rộng các sự kiện và tính khái quát cao trong yêu cầu khảo cứu” [Trần Ngọc Thêm 2005: 40] Văn hoá học là một khoa học chuyên
ngành đặc biệt Cái đặc biệt là ở độ bao quát rộng các sự kiện và tính khái quát cao trong yêu cầu khảo cứu Vậy ở đề tài này, người viết sử dụng khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa… của Trần Ngọc Thêm để làm công cụ nghiên cứu, làm cơ sở lý luận để nghiên cứu vấn đề
1.1.2 Bản sắc văn hóa
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về văn hóa đưa ra khá nhiều định nghĩa
về bản sắc từ các hướng tiếp cận khác nhau Bản sắc văn hóa dân tộc là sự tổng hợp và kết tinh những giá trị tinh thần mang tính bền vững, kế thừa và phát triển qua từng thế hệ nối tiếp của lịch sử Mỗi dân tộc, mỗi xã hội đều có đời sống tinh thần riêng và chính đời sống tinh thần ấy làm nên sức mạnh của dân tộc Khi giao lưu, những nền văn hóa đó phải đấu tranh, sàng lọc và phát triển nhưng không để mất đi bản sắc dân tộc
Với quan điểm của Ngô Đức Thịnh thì “các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa dân tộc, hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước” là bản sắc văn hóa [baotangnhanhoc.org] Có thể nói một
cách vắn tắt rằng bản sắc dân tộc – đó là những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh hoa bền vững Bản sắc văn hóa của một dân tộc là các giá trị tinh thần tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa của dân tộc ấy
Các giá trị đặc trưng của bản sắc văn hóa mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn Do vậy, muốn nhận biết nó phải thông qua các sắc thái văn hóa với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy Nếu bản sắc văn hóa là cái trừu tượng, bền vững, tiềm ẩn thì các sắc thái biểu hiện của nó tương đối bộc lộ cụ thể và khả biến hơn
Trang 23Bản sắc có thể là những cái độc đáo, riêng biệt do chính tộc người đó sáng tạo, cũng có thể là cái tiếp thu từ bên ngoài nhưng đã có chọn lọc, tiếp biến, thay đổi cho phù hợp
Ở Việt Nam, từ cơ sở thuyết loại hình kinh tế - văn hóa, tác giả Trần Ngọc Thêm đã xây dựng một hướng tiếp cận tổng hợp, dựa vào các đặc trưng địa lý
- khu vực và các đặc điểm mang tính lịch sử - kinh tế để từ đó xác định loại hình văn hóa Theo ông, trên thế giới, có hai loại hình văn hóa cơ bản là: văn hóa gốc nông nghiệp - trọng tĩnh, điển hình là các nền văn hóa phương Đông
và văn hóa gốc du mục - trọng động, tiêu biểu cho các nền văn hóa phương Tây Việt Nam thuộc Đông Nam Á - một trong những cái nôi đầu tiên xuất hiện loài người, với điều kiện tự nhiên: nắng nóng, mưa nhiều, sông ngòi dày đặc, cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, do vậy, văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong bài giảng về Bản sắc văn hóa Việt Nam đã đưa ra nhận định bản sắc văn hóa là một hệ thống giá trị tinh thần tồn
tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên tính đặc thù, khu biệt dân tộc ấy với các dân tộc khác Giữa bản sắc văn hóa và văn hóa có mối liên hệ với nhau Bản sắc văn hóa gắn liền, là một thuộc tính
và là phần chung nhất, khái quát nhất của văn hóa Bản sắc văn hóa được xác định với ba cấp độ: khái quát, cụ thể và phái sinh Các cấp độ này tương ứng với: hệ thống các đặc trưng bản sắc (khái quát), hệ thống các đặc điểm cụ thể của các đặc trưng bản sắc (cụ thể) và hệ thống các hệ quả và hậu quả của các đặc trưng bản sắc (phái sinh) Có năm đặc trưng tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam, đó là: ưa hài hòa, thiên về âm tính, cộng đồng tình cảm, trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ, tổng hợp, và linh hoạt
Trang 241.1.3 Các thành tố văn hóa
Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồng người nhất định – một chủ thể văn hóa Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng người – chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu, và do vậy đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và về bản thân con người –
đó chính là hai vi hệ của tiểu hệ văn hóa nhận thức
Tiểu hệ thứ hai liên quan trực tiếp đến những giá trị văn hóa nội tại của cộng đồng người – chủ thể văn hóa: đó là văn hóa tổ chức cộng đồng Nó bao gồm hai vi hệ là văn hóa tổ chức đời sống tập thể (những vấn đề liên quan đến
tổ chức xã hội trong một quy mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, quốc gia,
đô thị) và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan đến đời sống mỗi người như tín ngưỡng, phong tục, đạo đức, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật… )
Cộng đồng người (chủ thể văn hóa) hiển nhiên là tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường – môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu… ) và môi trường xã hội (hiểu ở đây là các xã hội, dân tộc, quốc gia, láng giềng) Cho nên, hệ thống văn hóa còn bao gồm hai tiểu hệ nữa liên quan đến cách thức
xử sự của cộng đồng dân tộc với hai loại môi trường ấy Hai tiểu hệ đó là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Với mỗi loại môi trường, đều có thể có hai cách xử thế phù hợp với hai loại tác động của chúng (tạo nên hai vi hệ): tận dụng môi trường (tác động tích cực) và đối phó với môi trường (tác động tiêu cực) Với môi trường tự nhiên, có thể tận dụng để ăn uống và giữ gìn sức khỏe để tạo ra các vật dụng hàng ngày; đồng thời phải đối phó với thiên tai (trị thủy), với khoảng cách (giao thông), với khí hậu và thời tiết (quần áo, nhà cửa, kiến trúc) Với môi trường xã hội, bằng các quá trình giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa, mỗi dân
Trang 25tộc đều cố gắng tận dụng các thành tựu của các dân tộc, quốc gia lân bang để làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình, đồng thời lại phải lo đối phó với họ trên các mặt trận quân sự, ngoại giao… [Trần Ngọc Thêm 2006: 29]
1.1.4 Văn hóa người Việt và người nữ
Văn hóa người Việt là văn hóa vật chất và tinh thần (hay gọi theo UNESCO là văn hóa vật thể và phi vật thể) do người Việt kế thừa của ông cha, sáng tạo cái mới và giao lưu văn hóa với các dân tộc khác, đất nước khác Nước ta có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Việt chiếm đa số Trong ngành Dân tộc học (nay gọi là Nhân học) thì thuật ngữ dân tộc có hai nghĩa: toàn thể con người Việt Nam và dân tộc – tộc người
Người nữ là toàn bộ phụ nữ nói chung Nghiên cứu người nữ trong văn hóa người Việt Nam Bộ tức là nghiên cứu người phụ nữ Việt ở Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học Từ đó nổi bật lên vai trò, vị trí, nét đẹp, tính cách… của người phụ nữ Việt Nam Bộ qua các thời kỳ
Trên đây là những khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa, các thành tố văn hóa như: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử, người nữ… Nhưng con người bao giờ cũng chịu tác động bởi các yếu tố địa lý, địa hình, lịch sử văn hóa, xã hội nên phần tiếp theo không thể thiếu là phần cơ sở thực tiễn
1.2 Cơ sở thực tiễn – Nam Bộ nhìn từ hệ toạ độ không gian, thời gian, chủ thể
1.2.1 Không gian
Văn hóa Việt Nam được chia thành 6 vùng văn hóa là cách phân chia hợp
lý và phổ biến nhất, gồm: 1 Vùng văn hóa Tây Bắc; 2 Vùng văn hóa Việt Bắc; 3 Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ; 4 Vùng văn hóa duyên hải Trung
Trang 26Bộ; 5.Vùng văn hóa Tây Nguyên; 6 Vùng văn hóa Nam Bộ [Trần Ngọc Thêm 2006: 62]
Nam Bộ là nơi gặp gỡ của nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi: gần xích đạo nhưng mùa hè không quá nóng và ẩm như miền Bắc ở sâu trong lục địa, không quá khô và quanh năm không bao giờ bị bão lớn như miền Trung Nam
Bộ còn là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế: Việt Nam với Đông Nam Á; Việt Nam với thế giới phương Tây; ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương
Nam Bộ gần xích đạo nhưng không quá nóng Nam Bộ gồm hai tiểu vùng: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Nam Bộ có hai mùa mưa và khô với mênh mông sông nước và kênh rạch nên văn hoá ở đây còn gọi là văn hoá miệt vườn, văn hoá sông nước
Hai hệ thống sông lớn nhất trong vùng là sông Đồng Nai và sông Cửu Long Sông Đồng Nai có lượng phù sa thấp Ngược lại, sông Cửu Long có lượng nước đổ về trung bình 4.000 tỷ mét khối và vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa trong một năm, đóng vai trò rất quan trọng đối với đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 39.734km² [anhcoo.com] Cách đây hàng triệu năm, vùng này vốn là một vịnh lớn và được bồi đắp dần lên bởi phù sa sông MeKong
Nam Bộ là vùng đất cực nam của Việt Nam có địa hình khá bằng phẳng, ít núi non, bao gồm phía Tây giáp với Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp với biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp với Campuchia, và một phần phía Đông Bắc giáp với vùng Nam Trung Bộ Địa hình khu vực Đông Nam
Bộ có độ cao từ 100 - 200m, chủ yếu là đất đỏ bazan và đất phù sa cổ Khu vực đồng bằng sông nước phì nhiêu diện tích 6.130.000ha và trên 4.000 kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài lên đến 5.700km Phía Tây Nam Bộ có độ
Trang 27cao trung bình gần 2m và chủ yếu là miền đất phù sa mới, ở đây chỉ có một số núi thấp nơi miền tiếp giáp với vùng Tây Nguyên và miền Tây tỉnh Kiên Giang giáp với Campuchia
Khu vực có đồi núi chủ yếu tập trung ở khu vực phía Đông Nam Bộ như núi Bà Rá (Bình Phước) cao 736m, núi Chứa Chan (Đồng Nai) cao 839m, núi Bao Quan (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao 529m, núi Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao 461m, núi Bà Đen (Tây Ninh) cao 986m Khu vực phía Tây Nam Bộ có dãy Thất Sơn (An Giang) và dãy Hàm Ninh (Phú Quốc - Kiên Giang)
Do những điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội… sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long ít nhiều có những nét khác biệt với các vùng khác trên đất nước ta [Trần Bạch Đằng 1986: 5] Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng rộng lớn nhất ở Việt Nam, cũng là một trong số các đồng bằng rộng lớn trên thế giới Đồng bằng sông Cửu Long vốn là vùng sản xuất lương thực, nông sản hàng hóa, nông sản xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam [Huỳnh Lứa 1987: 7]
1.2.2 Thời gian
Nam Bộ là tên gọi khu vực phía cực nam của Việt Nam thay cho tên gọi Nam Kỳ sau khi Việt Nam giành được độc lập (năm 1945) Nam Bộ là một trong ba vùng chính của lãnh thổ Việt Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ) Dưới thời Quốc gia Việt Nam (1949 - 1955) và Việt Nam Cộng hòa (1955-1975), Nam Bộ còn được gọi là Nam phần
Thời chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, vùng đất này là xứ Gia Định (Gia Định thành), mới được khai khẩn từ thế kỷ 17 Xứ Gia Định được chia thành
3 dinh: Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ Năm 1698, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh vào “kinh lý” miền Nam Đó là cuộc kinh lý miền biên
Trang 28cảnh - khi ấy đất đai đã mở rộng khắp miền Đông Nam Bộ ngày nay.[lichsuvietnam.info]
Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược đất Việt Nam Năm 1862, ngày 13 tháng 4, triều đình Huế cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp Sự kiện đánh chiếm ba tỉnh Tây Nam Bộ năm 1867, Pháp đơn phương tuyên bố toàn
bộ sáu tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp Hiệp ước Quý Mùi (25 tháng 8 năm 1983), Pháp nhập thêm tỉnh Bình Thuận vào Nam Kỳ để trừ số tiền bồi thường chiến phí còn lại mà triều đình Huế chưa trả hết Nhưng năm sau, Hiệp ước Giáp Thân (6 tháng 6 năm 1984) lại trả tỉnh Bình Thuận về cho Trung Kỳ Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương Năm 1933, quần đảo Trường Sa sát nhập vào Nam Kỳ Tháng 3 năm 1945, Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ thành Nam Bộ Đến năm 1945, thời Đế quốc Việt Nam, chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố Nam Kỳ là một bộ phận của nước Việt Nam Cách mạng tháng Tám thành công, Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam mới: nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Song, thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945 rồi dần dần đánh rộng ra chiếm lại Nam Bộ, Pháp thành lập Nam Kỳ quốc hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam Năm 1946, trước khi sang Pháp tìm kiếm một giải pháp hòa bình, Hồ Chí Minh đã viết
thư gửi đồng bào Nam Bộ, trong đó ông khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!” Không đánh bại được Việt Minh, Pháp phải dùng “giải pháp Bảo Đại”, công nhận nền độc lập và sự thống nhất của Việt Nam Cuối
cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam Nam Bộ trở thành lãnh thổ nằm trong
Trang 29quốc gia Việt Nam Năm 1975, Nam Bộ được hoàn toàn giải phóng sau 20 năm kháng chiến chống Mỹ
Đất mới, con người cũng mới, trên vai không trĩu nặng truyền thống hàng ngàn năm và sau này chịu ảnh hưởng phương Tây mạnh mẽ nên con người trở nên mạnh bạo, năng động, cởi mở, thoáng, phóng khoáng, năng động… Nam
Bộ có cơ tầng văn hóa Khmer, rồi từ thế kỉ XVII có một lớp phủ dày văn hóa Việt lan dần từ Đông sang Tây Nam bộ, thành nền tảng văn hóa Đồng Nai – Gia Định, dân Việt chuyên chở di sản văn hóa Việt từ Trung Nam bộ vào
miền “đất mới”
1.2.3 Chủ thể
Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm thì tính cách truyền thống của văn hoá Việt Nam có năm đặc trưng chính: Thiên về âm tính; Ưa hài hòa; Tính tổng hợp; Tính cộng đồng; và Tính linh hoạt Tính cách văn hóa người Việt Nam Bộ như tính sông nước, tính bao dung, tính năng động, tính trọng nghĩa, tính thiết thực là sản phẩm tổng hợp của ba nhân tố chính: truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam tiếp biến với văn hóa phương Tây trong bối cảnh tự nhiên - xã hội Nam Bộ
Nam Bộ là một vùng địa lý có nhiều nét riêng biệt, ở vào vị trí mở về thiên nhiên, kinh tế và văn hóa Với một vị trí địa lý thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, nước và khí hậu, Nam Bộ đã trở thành vùng đất hứa của những người đi mở đất, mở nước 300 năm qua Nhưng vốn là vùng đất hoang, trước đó nhiều thế kỷ chưa được khai phá, nên thiên nhiên Nam Bộ cũng hết sức khắc nghiệt, nhất là trong buổi đầu khai hoang mở đất Quá trình khai phá Nam Bộ là một quá trình lao động vất vả lâu dài của nhiều thế hệ nối tiếp nhau, là kết quả của sự nỗ lực lớn lao và những sáng kiến phong phú trong lao động.[vanhoahoc.edu.vn]
Trang 30Quy chiếu về vùng đất của tộc Kinh (Việt) thì mảnh đất Nam Bộ là “đất mới”, “mới” đây là tương đối so với đất Tổ Bắc Bộ lưu vực sông Hồng “quê hương buổi đầu của người Việt”, cũng tương đối mới so với mảnh đất miền
Trung Thuận Quảng
So với Bắc phần và Trung Bộ thì Nam Bộ là nơi dễ sống Đất rộng, người
thưa, người dân có cuộc sống thảnh thơi “vừa làm vừa chơi cũng đủ ăn” [Sơn Nam 2009: 79] Ngày nay ta vẫn thường nghe nói dân miền Nam “làm chơi ăn thiệt”
Trước khi các chúa Nguyễn và vua triều Nguyễn thiết lập những đơn vị hành chánh, khẳng chủ quyền trên mảnh đất phía Nam từ rất sớm, cư dân Việt vốn là những nông dân xiêu tán, thợ thủ công cùng khổ, những binh lính lao dịch lưu đày dưới sự áp bức bóc lột của địa chủ phong kiến, của chiến tranh địch họa, thiên tai đã buộc phải rời bỏ xóm làng vào Nam khẩn hoang lập nghiệp Từ những ngày đầu, họ đã phải đối mặt với bao khó khăn thử thách trên bước đường chinh phục thiên nhiên, thuần hóa đất đai, lập làng dựng nghiệp trên vùng đất mới
“Đến đây xứ sở lạ lùng Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”
Trang 31Tới đây thì ở lại đây Bao giờ bén rễ, xanh cây thì về
Nam Bộ cũng là một vùng đất đa tộc người Tuy nhiên, chủ thể văn hoá chính của toàn vùng vẫn là người Việt, tộc người đa số mà dân số ở riêng Nam Bộ lên đến hơn 26 triệu người, chiếm 90,9% dân số của vùng [vanhoahoc.edu.vn]
Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến động, người dân Nam Bộ đã tạo dựng một nếp sống tinh thần ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa huynh đệ làm trọng, sống chết có nhau, giữ trung can nghĩa khí lúc khó khăn, thời vận đổi thay Trong nhiều đền miếu Nam Bộ có thờ Quan Công là bày tỏ sự ngưỡng mộ tinh thần ấy Nhà nghiên cứu Đỗ Thái Đồng, trong một lần điền
dã vùng Bảy Núi đã phát hiện câu đối trong một ngôi đền: “Quân phi quân, thần phi thần, quân thần giai cộng lạc/ Phụ bất phụ, tử bất tử, phụ tử thị đồng hoan” (Vua không là vua, tôi không hẳn tôi, vua tôi cùng chung vui/ Cha
không là cha, con không là con, cha con cùng vui vẻ) đã khái quát một cách sâu sắc cá tính người Nam Bộ
Những đặc trưng của người Nam Bộ là điều kiện để họ dễ dàng giao lưu
văn hóa với các tộc người khác Cá tính Nam Bộ chịu ảnh hưởng của “khí hậu, đất trời và môi trường sinh trưởng” mới; cởi mở trong giao lưu, nhạy
bén với cái mới, thấm nhuần một tinh thần bình đẳng, nhân nghĩa, bao dung, nhưng rạch ròi, quyết liệt và rất mực giản dị, thiết thực, vượt ra khỏi những ràng buộc, gò bó của khuôn mẫu
Có người nhận xét: càng đi về phương Nam, chất “phong kiến” nhạt dần,
thay vào đó là tinh thần dân chủ, bình đẳng thể hiện ngay trong đời sống cộng đồng làng xã, gia đình, càng về phương Nam càng là đất mở, đất của những
người nổi dậy… Con người tới đây là con người “liều”, ngang tàng, nghĩa
Trang 32khí, coi nhẹ tính mạng, xem tiền tài như rơm rác, lấy nghĩa khí là trọng Tính cách của người Việt Nam Bộ cũng có nhiều nét khác biệt với người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ: cởi mở, không ưa sự ràng buộc, chuộng
sự bình đẳng; trong mưu sinh thì có tinh thần mạo hiểm, bươn chải, đầu óc sáng tạo, nhanh nhạy với cái mới; trong ứng xử thì bộc trực, hào hiệp, trọng nghĩa, khinh tài, thích ăn chơi xả láng…
Người Nam Bộ không kỳ thị tôn giáo và thói ăn nét ở của người khác Họ biết tự kiềm chế để sửa đổi cho nếp sống, cách nghĩ của mình đừng trở nên
khác biệt với mọi người Có người nhận xét “Ra đường gặp vịt cũng lùa/ Gặp duyên cũng kết gặp chùa cũng tu” (ca dao Nam Bộ) không hoàn toàn là sự dễ
dãi mà chính là thái độ ứng xử, bước ra khỏi mọi định kiến ràng buộc khuôn
mẫu, gò bó để “đạt đạo” sống theo cách của người Nam Bộ
Những đức tính nổi trội, dễ nhận biết của người Nam Bộ không phải bỗng nhiên có được Nó phải trải qua thời gian dài hun đúc, tôi luyện trong suốt quá
trình lập nghiệp Nhà văn Hồ Biểu Chánh từng viết: “Chúng tôi sinh trưởng trong đất Gia Định là vùng ông cha chúng tôi liều xương máu mà chiếm cứ, rồi rưới mồ hôi nước mắt mà khai thác Chúng tôi nhờ hy sinh với công lao tổ tiên mà nung đúc tinh thần quốc gia, thương đất nước, thương giống nòi”
[vanchuongviet.org] Đó là nguồn gốc tâm hồn, cá tính Nam Bộ vậy
Ngày nay, cái “… xứ sở lạ lùng/ Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh” đã lùi vào quá khứ Nam Bộ đã là vùng đất năng động, trù phú của cả
nước, nhưng cá tính Nam Bộ nảy mầm và phát triển trong suốt quá trình mở đất mở nước phương Nam vẫn bảo tồn, phát triển và trở thành lợi thế và cả tiềm năng - là một phần sức mạnh của người Nam Bộ, để hội nhập và phát triển trong xu thế mới
Trang 33Trong thời gian hai mươi năm trở lại đây, miền Đông Nam Bộ có tốc độ
đô thị hóa nhanh hơn miền Tây Nam Bộ dẫn đến hàng loạt thay đổi trong văn hóa như lối sống, quan niệm, giữ gìn văn hóa truyền thống, quan hệ trong gia đình… Con người ở miền Đông cũng mạnh mẽ, táo bạo, hiện đại hơn miền Tây do trình độ văn hóa chênh lệch và do ảnh hưởng của những luồng văn hóa Tây phương Mặt khác, văn hóa truyền thống ở miền Tây, ở nông thôn được giữ gìn tốt hơn, sâu rộng hơn so với miền Đông, so với thành thị
Vậy chủ thể của vùng Nam Bộ vẫn là người Việt nhưng là “người Việt mới” Họ vẫn giữ được truyền thống hàng ngàn năm của người Việt như trọng
tình, trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ nhưng ở người Việt Nam Bộ, trong quá trình lịch sử đi khai hoang mở đất, đứng trước bao hiểm nguy, khó khăn tạo nên con người nơi đây mạnh mẽ, táo bạo, phóng khoáng, dám nghĩ dám làm nhưng cũng rất đoàn kết, hòa hợp, chân chất, thật thà
Tiểu kết
Để hiểu hơn người nữ trong văn hóa người Việt Nam Bộ như thế nào, điều quan trọng không thể thiếu là cơ sở lý luận và thực tiễn vì nó là nền tảng cho những vấn đề tiếp theo ở các chương sau Những khái niệm về văn hóa, về bản sắc văn hóa sẽ giúp đề tài đi đúng hướng chuyên ngành Văn hóa học Muốn hiểu con người Nam Bộ, người phụ nữ Nam Bộ như thế nào thì trước hết phải hiểu được điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất này Chính không gian, thời gian, chủ thể sẽ quyết định đến văn hóa ứng xử và tính cách con người nơi đây Hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ thủy chung, nhân hậu, đảm đang, chân thật, bình dị, phóng khoáng… sẽ được thể hiện qua các thành tố văn hóa như: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử
Trang 34Chương 2 Người nữ nhìn từ văn hóa nhận thức của
người Việt Nam Bộ
Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồng người nhất định – một chủ thể văn hóa Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng người – chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu, và do vậy đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và về bản thân con người –
đó chính là hai vi hệ của tiểu hệ văn hóa nhận thức
2.1 Nhận thức về vũ trụ
Văn hóa Việt Nam vốn trọng âm, trọng nữ, trọng tình Trên hành trình Nam tiến, người Việt nói chung, trong đó có người phụ nữ đã mang tâm thức văn hóa cội nguồn từ miền Bắc, miền Trung để ứng dụng trong đời sống thường nhật thông qua lao động sản xuất, thực hành tín ngưỡng, chế biến ẩm thực, tổ chức cuộc sống gia đình và ứng xử trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội theo quy luật vận động của vũ trụ
2.1.1 Âm dương giao hòa nảy sinh vạn vật
Theo Trần Ngọc Thêm, triết lý Âm - Dương có hai quy luật cơ bản:
- Quy luật thành tố: Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm Vì vậy muốn xác định tính chất âm dương của một vật cần xác định đối tượng so sánh, sau đó còn phải xác định
cơ sở so sánh
- Quy luật về quan hệ: Âm và Dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau: âm cực sinh dương, dương cực sinh âm Bản chất của
vũ trụ cũng từ âm dương Bao giờ âm cũng cần dương, dương cũng cần âm
Triết lý âm dương thể hiện trong tư duy con người như: “Trong phúc có họa, trong họa có phúc”, “Mía có đốt sâu đốt lành”, “Tham thì thâm”… Đối với
Trang 35nam giới, phụ nữ được xem như “một nửa” không thể thiếu trong đời sống
tâm - sinh lý và sự nghiệp của họ: “Đôi ta xứng kép xứng đào Phải duyên chồng vợ anh vào thăm em”; hay: “Nếu mà không lấy đặng em Anh về đóng cửa cài rèm đi tu” hoặc: “Vắng cơm ba bữa còn no Vắng em một bữa giở giò không lên”.
Người phụ nữ Nam Bộ dù học cao hay học ít thì vẫn nhận thức được quy luật âm - dương theo cách của mình, để rồi ứng dụng vào trong cách nghĩ, cách hành xử chủ yếu để duy trì sự bình ổn và phát triển của gia đình Với họ,
âm – dương phải hài hòa thì mới phát triển: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” Và như vậy thì: “Chồng giận thì vợ làm lành Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì”, “Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”…
2.1.2 Âm dương trong tín ngưỡng, tâm linh
Trong đời sống tín ngưỡng, tâm linh của cư dân Nam Bộ, bên cạnh việc thờ phượng các vị nam thần (là những người có công với đất nước) thì tục thờ
Bà (thờ Mẫu thần, Nữ thần) khá phổ biến ở vùng nông thôn và đô thị Bà không chỉ ngự trị trong miễu – nơi thể hiện niềm tin của cộng đồng mà còn hiện diện trên trang thờ tại gia với tư cách là phúc thần độ mạng cho người
nữ Tín ngưỡng Mẫu Liễu ở miền Bắc, bà mẹ xứ sở Pô Inư Naga của người Chăm, Thần Mẹ của người Hoa khi đến vùng đất Nam Bộ đã biến đổi thành tục thờ Mẹ Sanh, Mẹ Độ, Thiên Y Ana, Linh Sơn thánh mẫu, Chúa Xứ nguyên nhung, Ngũ Hành nương nương, Thất tinh nương nương, Chúa Tiên, Chúa Ngọc, Thiên Hậu, Cửu Thiên huyền nữ, Thủy long công chúa, Bà Chúa thượng động, Bà Hỏa, Bà Cố Hỷ Đặc biệt, thờ Ngũ hành – 5 yếu tố tạo nên
vũ trụ được sánh như 5 vị nữ thần đem lại phúc lành cho bá tánh Với một danh sách dài và thần phả phong phú của các Bà đã cho thấy vai trò, vị thế
Trang 36của người nữ trong đời sống văn hóa tâm linh của các tộc người, đặc biệt sâu sắc đối với người Việt Và đó còn là bản sắc văn hóa độc đáo của vùng Nam
Bộ
Miền Bắc thì hướng về đồng bằng, miền Trung thì hướng ra biển vì điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế còn miền Nam hướng lên núi vì nhu cầu tâm linh, cần sự cân bằng âm – dương của một miền đất mênh mang sông nước
nặng tính âm có nhu cầu hướng núi, hướng dương Và dù hướng đồng bằng,
hướng biển hay hướng núi thì rồi tại nơi đó, một vị Thánh Mẫu uy nghi bao giờ cũng là linh tượng được nhân dân vun đắp trở thành hình tượng tối cao trong tâm thức, là nơi gửi gắm trọn vẹn niềm kính ngưỡng Chính vì vậy, dù
có rất nhiều đối tượng tôn thờ nhưng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Y A Na Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu (bà Mưk Jưk) mang dấu ấn tính cách của cư dân ba miền Bắc Trung Nam đã được nhân dân cả nước coi như chị em ruột thịt, là ba con gái của Ngọc Hoàng, chia nhau cai quản ba miền của đất nước Thánh Mẫu Liễu Hạnh cai quản Bắc bộ, Thiên Y A Na Thánh Mẫu cai quản Trung bộ, Linh Sơn Thánh Mẫu cai quản Nam Bộ và phủ, điện lớn thờ ba bà đều là trung tâm hành hương của nhân dân cả nước
2.1.3 Âm dương trong nhu cầu sinh tồn
Ẩm thực là nhu cầu sinh tồn của con người Ẩm thực của mỗi dân tộc mỗi quốc gia còn là nét văn hóa vô cùng độc đáo Theo quan niệm của các gia đình nề nếp ở Nam Bộ, một người con gái trước khi lấy chồng phải biết “tề gia, nội trợ”, phải đầy đủ “công, dung, ngôn, hạnh” để chứng minh cho sự giáo dục nề nếp của gia đình Do đó, người phụ nữ chí ít phải biết nấu nướng
từ những món “ăn chơi” (các loại chè, bánh), các món ăn trong bữa cơm hàng ngày cho đến các món được bày trên mâm cúng vào các dịp lễ, tết trang trọng (đám giỗ, đám cưới và các ngày tết)
Trang 37Ẩm thực của người Việt Nam Bộ, mà chủ thể sáng tạo, chế biến là người
nữ, cũng theo truyền thống bảo đảm cân bằng âm dương và theo quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc của người Việt nói chung Tuy nhiên, do điều kiện địa lý đặc thù và giao lưu tiếp biến văn hoá, cơ cấu bữa ăn thông thường
của người Việt nơi đây đã được điều chỉnh thành cơm - canh - rau - tôm - cá
Để cân bằng với khí hậu nóng nực, người Việt nơi đây rất chuộng ăn canh, và
do tiếp biến các món canh chua của người Khmer, nên các món canh chua Nam Bộ cực kỳ phong phú “Văn hóa cuốn” cũng là đặc trưng của món ăn
ngày Tết Nam Bộ
Món ăn ngày tết của miền Nam nhiều cá, thịt, cây trái Khi chế biến, món
gì cũng được cắt to, thái dày do sản vật miền Nam phong phú Chẳng hạn, món thịt kho ngày tết bao giờ cũng thái vuông lớn thay vì thái lát mỏng như ngày thường Người miền Nam còn sắp trái cây theo kiểu chơi chữ theo triết
lý quân bình như “cầu vừa đủ xài” với quả mãng cầu, dừa (vừa), đu đủ (đủ)
và xoài (xài) Xét về mặt âm dương - ngũ hành thì một mâm ngũ quả hài hòa nên có các yếu tố bổ sung, tương hỗ cho nhau, như bản chất cuộc sống trong
tự nhiên và xã hội đòi hỏi như vậy Cần cân đối giữa những trái cây có màu xanh hay màu nhạt, dịu mát tượng trưng cho âm với các trái màu nóng như đỏ cam, vàng rực… tượng trưng cho dương Người Việt cũng thiên nhiều về hai hành thổ (sinh kim, tiền tài) và mộc (phát triển, nảy lộc, bám rễ lâu bền) nên mâm ngũ quả chủ yếu là các trái có vị ngọt (thuộc thổ) như lê, dưa hấu, đu đủ, xoài… và những trái có vị chua (thuộc mộc) như bưởi, cam
Trong chọn cây chưng tết thì cách làm theo phong thủy là chọn cây theo hành làm chủ đạo (hành bản mệnh gia chủ), rồi bổ sung thêm hành sinh chủ
và hành chủ sinh, điểm xuyết hành chủ khắc tại các vị trí xấu, còn lại để tự nhiên và bố trí theo công năng, thẩm mỹ Ví dụ một ngôi nhà với gia chủ thuộc hành kim, nhà sơn màu trắng xám, thì nên chọn các cây xén tròn, đặt
Trang 38trong chậu vuông hoặc tròn (thổ sinh kim), đồng thời có thể thêm một số cây
thủy sinh để kim sinh thủy
2.2 Nhận thức về con người
2.2.1 Nhận thức của xã hội về phụ nữ
Các nhà tâm lý học, xã hội học (trong đó có phụ nữ học), văn hóa học…
đã có những công trình nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ, tính cách con người
Nam Bộ, nhận định về phụ nữ Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng ở
các bình diện như: phẩm chất cá nhân, quan hệ xã hội, vị trí của họ trong gia
đình và xã hội…
Lê Duẩn có câu “Người phụ nữ là người có tính dân tộc hơn ai hết, và cái
đẹp đẽ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, trước hết là của phụ nữ Việt Nam”
[Lê Thị Nhâm Tuyết 1975: 9]
Nhìn chung, người phụ nữ Nam Bộ được nhìn nhận rất là thủy chung,
nhân hậu, đảm đang như những người phụ nữ Việt Nam khác nhưng cũng có
những nét khác biệt, đặc trưng riêng như cởi mở, phóng khoáng, dịu dàng,
chân thật, chiều chồng hết mực…
Việt Nam thời phong kiến "trọng nam khinh nữ", điều này gây nhiều bất
hạnh cho người phụ nữ Phụ nữ phải thực hiện "tam tòng tứ đức" Sau khi lập
nước năm 1945, Chính phủ công nhận chính thức quyền bình đẳng nam nữ
Hồ Chí Minh viết tặng chị em phụ nữ 8 chữ vàng "anh hùng, bất khuất, trung
hậu, đảm đang" [vi.wikipedia.org]
Những đức tính của người phụ nữ Nam Bộ được thể hiện bằng những hình
ảnh, tác phẩm văn chương, tài liệu, tư liệu, hiện vật trong các thư viện, bảo
tàng… Ngoài Bảo tàng phụ nữ Việt Nam ở Hà Nội, không thể không nói tới
Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ là một trong những Bảo tàng lớn ở phía Nam, hiện
Trang 39tọa lạc tại Q3, TP.HCM Nơi đây tập trung rất nhiều hình ảnh, các tác phẩm nghệ thuật, các công trình của các nhà nghiên cứu về phụ nữ Nam Bộ Điều này chứng tỏ Nhà nước, xã hội ta đã nhìn nhận công lao và tôn vinh hình tượng người phụ nữ Nam Bộ Tại hội nghị quốc tế lần I về bảo tàng phụ nữ tại Italy với sự tham gia của đông đảo đại biểu từ 23 bảo tàng phụ nữ trên thế giới (năm 2008), Bảo tàng đă có dịp giới thiệu về truyền thống của phụ nữ Việt Nam nói riêng và lịch sử văn hóa dân tộc nói chung với bạn bè thế giới
Hình 1 Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ [http://vi.ciao.vn/diemden/7979-bao-tang-phu-nu-nam-bo.html]
Một vị khách nước ngoài đã ghi lại những cảm xúc khi đến tham quan Bảo
tàng “ Các vật trưng bày được lựa chọn với lòng yêu mến trân trọng làm tôi sửng sốt một dân tộc có truyền thống yêu quý và tôn trọng phụ nữ là một dân tộc mạnh mẽ, sáng suốt và có tương lai” [cinet.gov.vn]
Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ có diện tích trưng bày khoảng 2000m2 gồm 10 phòng trưng bày về truyền thống dựng nước và giữ nước của phụ nữ Nam Bộ
Trang 40Có một hội trường 800 chỗ ngồi, một phòng chiếu phim, một thư viện và một kho lưu giữ hàng chục ngàn hiện vật, tranh ảnh quý hiếm.[vi.wikipedia.org] Dân tộc Việt Nam có truyền thống trọng nữ nhưng ở Nam Bộ, truyền thống ấy càng được phát huy mạnh mẽ do tính cách con người nơi đây phóng khoáng, cởi mở Việc mở một bảo tàng dành riêng cho phụ nữ miền Nam đã nói lên sự tôn trọng sâu sắc ấy
Hình 2 Tranh vẽ Sương Nguyệt Anh [http://diepdoan.violet.vn/entry/show/entry_id/2974034]
Cứ đến ngày Quốc tế phụ nữ 8 tháng 3, ở nhiều diễn đàn người ta lại đề cập khá nhiều về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội, gia đình có những vấn đề đã trở thành bức xúc, nóng bỏng từ nhiều thập kỷ nay – đó là quyền bình đẳng của phụ nữ trong xã hội như vấn đề thu nhập của phụ nữ, phân biệt đối xử trong một số nghề nghiệp, số phụ nữ tham gia vào bộ máy Đảng, Chính quyền, Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân còn ít,