1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử phát triển đô thị thế giới

4 2,5K 120

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 19,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THẾ GIỚI Thời kì Thời kì Cổ đại -Chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã nhà nước chiếm hữu nô lệ hình thành đầu tiên xuất hiện khoảng 4000-5000 năm TCN ở Châu Á

Trang 1

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THẾ GIỚI Thời

Thời

kì Cổ

đại

-Chế độ cộng sản nguyên

thủy tan rã nhà nước chiếm

hữu nô lệ hình thành (đầu tiên

xuất hiện khoảng 4000-5000

năm TCN ở Châu Á và Bắc

Phi) gắn liền với sự xuất hiện

của chế độ tư hữu và sự phân

chia xã hội thành các giai cấp

đối kháng

-Nhà nước không ngừng củng

cố và tập trung quyền lực vào

tầng lớp thống trị với sự hỗ

trợ của quân đội và tôn giáo

-Cơ sở kinh tế của nhà nước

chiếm hữu nô lệ là quan hệ

sản xuất đặc trưng bởi chế độ

chiếm hữu tư nhân về tư liệu

sản xuất và nô lệ

-Kết cấu xã hội gồm 2 giai

cấp chính là chủ nô và nô lệ.,

ngoài ra còn tồn tại tầng lớp

thợ thủ công, dân tự do…

-Mâu thuấn xã hội nảy sinh

-đô thị là các trung tâm kinh tế chính trị xã hội quan trọng, có ai trò chi phối sự phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh

-là địa bàn phát triển của nền văn minh nhân loại -phân chia nơi ở của các khu nô lệ, khu chủ nô, khu dành cho xây dựng cung điện, khu nhà ở của quý tộc,

… +đô thị Ai Câp cổ đại:ở hạ lưu sông Nin, tôn giáo chi phối mạnh mẽ đến cấu trúc đô thị

+đô thị Hy Lạp cổ đại: quy hoạch đô thị phản ánh đặc điểm của xã hội dân chủ, hình thức quảng trường

và nhiều công trình công cộng bên cạnh các nhà thờ tôn giáo;đô thị có hai phần chính là Agora-trung tâm chính trị, hành chính, thương mại và Acropole-trung tâm tôn giáo tín ngưỡng;chức năng đô thị gồm 4 khu vực lưu trú, tôn giáo-tín ngưỡng(được đặc biệt quan tâm), sinh hoạt công cộng, sản xuất TCN và thương nghiệp

+ đô thị La Mã cổ đại: phản ánh tính chất xã hội chế độ cộng hòa đế quốc La Mã, trong đô thị xây dựng các quảng trường hoặc nhóm quảng trường với các công trình công cộng, bố cục nhóm quảng trường thường phức tạp , kiến trúc, trang trí lộng lẫy, công phulối sinh hoạt giàu có và ý thức thẩm mỹ cao của giai cấp thống trị

-Có sự phân chia nơi ở của các khu

nô lệ, khu chủ nô, nơi dành cho xây dựng cung điện, nhà ở quý tộc +đô thị cổ Ai Cập hình chữ nhật,

đa tâm, thờ thần mặt trời ,khu nhà ở quý tộc có vườn vật liệu đá, bố cục chặt chẽ;khu tầng thấp là nhà cho người nghèo, xây bằng đất nung đổ, đơn giản bố cụ tự do mật độ xây dựng cao

+đô thị Hy Lạp cổ đại: kiểu tự do hay bố cụ ô cờ

+đô thị La Mã cổ đại: mặt bằng thành phố thường có hình khối vuông, có thành lũy bảo vệ - mang tính chất phòng thủ,có 4 cổng chính,được nối với các trục giao thông quan trọng hướng B_N và

Đ-T , trung tâm nằm ở các điểm giao nhau giữa hai trục đường, khu dân

cư được phát triển phía ngoài

Thời

trung

đại

-Sự suy vong của chế độ

chiếm hữu nô lệ và sự hình

thành của chế độ phong kiến

dẫn đến việc nông nghiệp hóa

-Đô thị phát triển chậm, quy mô nhỏ (không vượt quá 5000-10000 người)

-Các đô thị lớn bị tàn phá, trở nên hoang vắng không còn là những trung tâm chính trị, kinh tế xã hội quan

-Các pháo đài, những thành luỹ xây dựng bằng gỗ với hào nước, cầu rút

ý nghĩa bảo vệ và phòng thủ

Trang 2

nền kinh tế các đô thị lớn

cũng tàn lụi theo

+ Thế kỉ V-XI:xã hội phong

kiễn với nền kinh tế tự cung

tự cấp,chủ yếu dựa vào sản

xuất nông nghiệp, chiến tranh

liên miên, trật tự xã hội

không ổn định do các lãnh

chúa chinh phục đất đai, củng

cố quyền lực kìm hãn sự

phát triển của đô thị

trọng, nơi tập trung dân cư đông đúc chi phối sự phát triển của vùng lãnh thổ xung quanh như đã tồn tại trong xã hội cổ đại

- Đặc điểm nổi bật của đô thị thời kì này là sự phân tán rải rác trong cảnh quan nông thôn các đô thị- pháo đài, đô thị dinh thự quy mô nhỏ

- Từ thế kỉ XII :Nhà nước

phong kiến độc lập khảng

định vai trò thống trị,thủ công

nghiệp xuất hiện, kéo theo sự

phát triển của thương mại là

cơ sở thúc đẩy sự phát triển

của các đô thi phong kiến

-Việc trao đổi hàng hóa, giao

lưu bằng đường thủy giữa các

vùng hình thành nên các đô

thị cảng và đô thị nằm trên

các đầu mối giao thông

-đô thị phát triển khá nhanh, đặc biệt ở các vị trí có khả năng hoạt động thương nghiệp như cảng sông, cảng biển và đầu mối giao thông

- hình thành các đô thị là trung tâm thương mại, ngoại thương có vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển

-ba yếu tố quảng trường chợ, nhà thờ và toà thị chính gắn bó chặt chẽ với nhau, nhà thờ giữ vai trò trọng tâm cuả bố cục đô thị

+châu Âu:cải tạo và mở rộng các đô thị thời phục hưng, nghiên cứu quy hoạch đô thị, đô thị lý

tưởng Vd :tp Pari(Pháp), Petecbua(Nga), Luân Đôn(Anh), Roma(Ý),

+châu Á:đô thị là nơi ở vủa vua chúa, là trung tâm chính trị, văn hóa của giai cấp thống trị, quy mô rất lớn, xây dựng theo kiểu thành quách, vừa có ý nghĩa bảo vệ vừa thể hiện sức mạnh quyền uy của giai cấp thống trị Vd: Trường An(Trung Quốc), Cổ Loa(VN)

-đô thị được tổ chức xây dựng theo các phường hội thủ công chuyên môn hóa với thành lũy, hào nước bảo vệ phía ngoài cùng

-mặt bằng đô thị thường phát triển

tự do một cách hài hòa với tự nhiên theo nhu cầu phát triển của đô thị, nhà thờ giữ vai trò trọng tâm của bố cục đô thị

Thời

cận

đại

-cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ

XIX xã hội phong kiến và

quân chủ châu Âu bước vào

một thời kì hoàn toàn mới,

-sự hình thành và phát triển của các đô thị chịu sự tác động bởi những mâu thuẫn của sức ản xuất và quan

hệ sản xuất -tính tự phát trong phân bố sức sản xuất dẫn đến sự

-trung tâm đô thị thường tập trung nhiều công trình(ngân hàng, sở giao dịch, công ty, cơ quan, khách sạn, nhà hàng, khu giải trí, biệt thự)

Trang 3

hàng loạt cuộc cách mạng TS

nổ ra phá vỡ nền tảng chế độ

pk Tây Âu, Tư sản lên năm

quyển tạo điều kiện cho cuộc

cách mạng CN ra đời và phát

triển xuất hiện nhiều khu

CN, dân tập trung ở cac thành

thị càng nhiềuđô thị >1

triệu dân ra đời, vô sản ngày

càng phát triển về số lượng

mâu thuẫn và đấu tranh

giữa vô sản và tư sản

-tiến bộ KHKT thúc đẩy sự

nhảy vọt về CN, các cơ sở xí

nghiệp CN lớn cần rất nhiều

nhân công  khu nhà ở mọc

lên ngay cạnh các xí nghiệp

SX

phát triển và phân bố đô thị không đều -dân số đô thị tăng nhanh,xuất hiện hàng loạt các đô thị mới,dân cư tăng nhanh và đông đúc hơn, thuật ngữ “đô thị nấm”xuất hiện

-xuất hiện nhều “vấn đề đô thị” như ô nhiễm môi trường, sự cố và tai nạn giao thông, tăng giá đât đô thị, bốc lột lao động làm thuê,sự lạc hậu của các thành phố trung bình và nhỏ,…xảy ra phổ biến ở các

đô thị TBCN

-ngoại ô là các khu nhà ở chật chội, kiến trúc nghèo nàn, chắp vá, sát các khu sản xuất

Thời

hiện

đại

-cuối thế kỉ XIX đến thế kỉ

XX, công nghiệp phát triển,

giao thông vận tải được cải

tiến, cơ giới hóa trong nông

nghiệp…dẫn đến dư thừa lao

động trong nông nghiệp làm

nảy sinh các luồng di dân từ

nông thôn vào đô thị

-sau chiến tranh thế giới thứ

hai các vấn đề về NIC,

CNH-HĐH, toàn cầu hóa, khu vực

hóa,…làm cho sự phát triển

và các tác động của nó đối

với sự hình thánh và phát

triển các đô thị trên thế giới

-đô thị phát triển mạnh, dân số đô thị tăng rất nhanh -sự khác nhau về kinh tế chính trị là cho bức tranh đô thị cũng khác nhau, tùy vào chế độ chính trị (xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa) mà tính chất và hoạt động cảu các đô thị là khác nhau

- sau chiến tranh thế gới thứ II các đô thị bị tàn phá trong chiến tranh được cải tạo và khôi phục, các đô thị tiếp tục mở rộng, làm xuất hiện hàng loạt đô thị lớn và cực lớn với chức năng công nghiệp, thương mại, tập trung cao độ về giao thông, tài chính kinh doanhxuất hiện các đô thị triệu dân đô thị có dân

số trẻ và đông đúc -ở nhiều nước các đô thị phát triển dựa trên cơ sở phân bố mạng lưới dân cư theo kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân, điều chỉnh hợp lý, đảm bảo đồng

-đô thị dạng dải gồm các dải xây dựng chạy dọc các tuyến giao thông chínhtạo nên các dải xây dựng tương đối hẹpkhu làm việc, dịch

vụ và nơi ở không xa nhau -đô thị tập trung đồng tâm hình sao:gồm các khu xây dựng dọc các tuyến giao thông xuyên tâm,các nền cây xanh đan xem giữa các tuyến nối từ ngoại ô vào sâu trong đô thị, mỗi cách sao được quy hoạch tương tự như dải tập trungrút ngắn khoảng cách vùng xung quanh đến trung tâm

-đô thị quy hoạch không gian phân

Trang 4

có sự chuyển biến mạnh mẽ đều giữa đô thi và nông thôn

-xuất hiện nhanh chóng các cụm đô thị, dải đô thị, siêu đô thi khổng lồ, đô thị đặc biệt lớn

-sự tập trung dân số đô thị quá lớn ảnh hưởng tiêu cực tới KTXH, môi trường

tán (đô thị trong đô thị) và tập trung với hệ thống giao thông đan xen, có thể cân xứng đều đặn hoặc tự do -đô thị vệ tinh gồm đô thị trung tâm với một cụm đô thị nhỏ xung quanhtạo ra nhiều không gian trống giữa đô thị và nội thành

Ngày đăng: 20/09/2016, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w