ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN KIỀU ANH Tên đề tài: “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT CÁC XÃ, PHƯỜNG PHÍA TÂY BẮC VÀ ĐÔNG BẮC THÀNH PHỐ T
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN KIỀU ANH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN
MÔI TRƯỜNG ĐẤT CÁC XÃ, PHƯỜNG PHÍA TÂY BẮC VÀ ĐÔNG
BẮC THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2008-2013”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính Môi trường Khoa : Quản Lý Tài nguyên Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN KIỀU ANH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN
MÔI TRƯỜNG ĐẤT CÁC XÃ, PHƯỜNG PHÍA TÂY BẮC VÀ ĐÔNG
BẮC THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2008-2013”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014 Giáo viên hướng dẫn : TS Hoàng Văn Hùng
Thái Nguyên, 2014
Trang 3L IC M ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại các trường Đại học Đây là thời gian giúp cho mỗi sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, củng cố những kiến thức lý thuyết và vận dụng những kiến thức đó vào thực tế, là kết quả của quá trình tiếp thu kiến thức thực tế, qua đó giúp cho sinh viên tích lũy kinh nghiệm để phục vụ cho quá trình công tác sau này
Để đạt mục tiêu trên, được sự nhất trí của Khoa Quản Lý Tài Nguyên,
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành nghiên cứu chuyên
đề:“Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất các
xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013”
Để hoàn thành khoá luận này trước tiên tôi xin chân trọng cảm ơn Ban
giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm sâu sắc của thầy giáo TS Hoàng Văn Hùng , cảm ơn tập thể cán bộ khoa Quản Lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề
Trong quá trình nghiên cứu có những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên
để giúp tôi hoàn thành khoá luận được tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Kiều Anh
Trang 4đoạn 2008-2013 51
Bảng 4.4: Hàm lượng chì (Pb) trong môi trường đất tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008-2013(Đơn vị: mg/kg) 54 Bảng 4.5: Hàm lượng kẽm (Zn) trong môi trường đất tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008-2013 56 Bảng 4.6: Hàm lượng Asen (As) trong môi trường đất tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008-2013 58 Bảng 4.7: Tương quan giữa hàm lượng các kim loại nặng 60 Bảng 4.8: Hiểu biết và ý kiến của người dân về ảnh hưởng của phát triển đô thị đến môi trường khu vực nghiên cứu thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 62
Trang 5Đồ thị 4.5: Hàm lượng Asen (As) trong môi trường đất tại khu vực nghiên
cứu giai đoạn 2008-2013 59
Hình 4.6: Kết quả phân tích tương ứng giữa vị trí lấy mẫu và hàm lượng kim loại nặng 61
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Ý nghĩa học tập và thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Khái quát về đô thị và phát triển đô thị 4
2.1.1 Khái quát về đô thị 4
2.2.1.1 Khái niệm đô thị và quy định về đô thị 4
2.2.1.2 Điểm dân cư đô thị 5
2.2.1.3 Phân loại đô thị 6
2.2.1.4 Chức năng của đô thị 6
2.2.1.5 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 7
2.1.2 Khái quát về phát triển đô thị 8
2.1.2.1 Khái niệm phát triển đô thị 8
2.1.2.2 Xu hướng phát triển đô thị 8
2.1.2.3 Mối quan hệ giữa quá trình phát triển đô thị và quá trình công nghiệp hóa 10
2.1.3 Quá trình phát triển đô thị ở thế giới và Việt Nam 11
2.1.3.1 Quá trình phát triển đô thị trên thế giới 11
2.1.3.2 Quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam 15
2.2 Khái quát về môi trường đô thị, ô nhiễm môi trường đô thị, ô nhiễm môi trường đất 18
2.2.1 Khái niệm về môi trường đô thị 18
2.2.2 Ô nhiễm môi trường 20
Trang 82.2.3 Những căn cứ pháp lý về môi trường và ô nhiễm môi trường 21
2.2.4 Môi trường đất và ô nhiễm môi trường đất trong đô thị 22
2.2.5 Các nhân tố tác động đến môi trường đất trong đô thị 25
2.3 Tình hình ô nhiễm môi trường ở nước ta và Thành phố Thái Nguyên 27
2.3.1 Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay 27
2.3.2 Ô nhiễm môi trường tại Thành phố Thái Nguyên 31
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
3.3 Nội dung nghiên cứu 33
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu và thực trạng phát triển đô thị của các xã phường khu vực phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên 33
3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Thái nguyên 34
3.3.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của thành phố Thái nguyên 34
3.3.1.3 Thực trạng phát triển đô thị của thành phố Thái Nguyên 34
3.3.2 Ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị đến biến động diện tích đất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 34
3.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 34
3.3.3.1 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến hàm lượng pH trong môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 34
3.3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến hàm lượng Chì (Pb) trong môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 34
Trang 93.3.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến hàm lượng Kẽm (Zn) trong môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố
Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 34
3.3.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến hàm lượng Asen (As) trong môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 34
3.3.4 Đánh giá mối tương quan giữa hàm lượng kim loại nặng và các vị trí lấy mẫu của khu vực Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 35
3.3.5 Đánh giá mối tương quan hàm lượng kim loại nặng trong đất tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 - 2013 35
3.3.6 Đánh giá hiểu biết và ý kiến của người dân về ảnh hưởng của phát triển đô thị ảnh hưởng đến môi trường khu vực nghiên cứu thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 35
3.3.7 Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường đất trước sự phát triển đô thị các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 35
3.3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu 35
3.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 35
3.3.3 Phương pháp lấy mẫu phân tích môi trường ngoài thực địa 36
3.3.4 Phương pháp điều tra phỏng vấn 37
3.3.5 Phương pháp phân tích mẫu 37
3.3.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 37
3.3.7 Phương pháp bản đồ 38
3.3.8 Phương pháp chuyên gia 38
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thực trạng phát triển đô thị của các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 39
Trang 104.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
4.1.1.1 Vị trí đia lý 39
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo 40
4.1.1.3 Khí hậu 40
4.1.1.4 Thủy văn 41
4.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 41
4.1.1.6 Thực trạng môi trường 43
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên 43
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 43
4.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 44
4.1.2.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển và đô thị hóa của thành phố Thái Nguyên 45
4.1.3 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 47
4.2 Ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị đến biến động diện tích đất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2013 48
4.3 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 51
4.3.1 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến hàm lượng pH trong môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 51
4.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến hàm lượng Chì (Pb) trong môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 53
4.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến hàm lượng Kẽm (Zn) trong môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 56
4.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến hàm lượng Asen (As) trong môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 58
Trang 114.4 Đánh giá mối tương quan hàm lượng kim loại nặng trong đất tại khu vực
nghiên cứu giai đoạn 2008 - 2013 59
4.5 Phân tích tương ứng giữa vị trí các điểm lấy mẫu và kim loại nặng 60
4.6 Đánh giá hiểu biết và ý kiến của người dân về ảnh hưởng của phát triển đô thị ảnh hưởng đến môi trường khu vực nghiên cứu thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 61
4.7 Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường đất trước sự phát triển đô thị các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 63
4.7.1 Các giải pháp chung 63
4.7.2 Các giải pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất 67
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 12PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, phát triển đô thị luôn là
động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Đô thị hoá được xem
là vấn đề hết sức quan trọng hiện nay đối với Việt Nam (Nguyễn Thế Chinh, 2004)[9] Ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết đinh số 1519/QĐ-TTg lấy ngày 8/11 hằng năm là Ngày Đô thị Việt Nam, nhằm động viên và thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, chính quyền các đô thị các nhà quy hoạch, kiến trúc, các nhà đầu tư phát triển đô thị, các chuyên gia
và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp tích cực tham gia xây dựng và phát triển
đô thị (Võ Kim Cương, 2010)[10] Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong việc phát triển đô thị gắn liền với các mục
tiêu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Hệ thống các đô thị đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng, chất lượng và quy
mô Diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, tạo dựng được những không gian đô thị mới, từng bước đáp ứng nhu cầu về môi trường sống và làm việc có chất lượng Đô thị đã khẳng định vai trò là động lực cho phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước v.v(Nguyễn Hữu Thái, 2003)[18]
Tuy nhiên, phát triển đô thị tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa
đáp ứng yêu cầu phát triển Bên cạnh đó, hệ thống đô thị Việt Nam cũng đang
phải đối diện với những thách thức mới nảy sinh do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Đây là những thách thức lớn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đô thị, điều kiện, môi trường sống của dân cư và đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, đặt ra nhiều vấn đề mới trong công tác quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị hiện nay
Trang 13Thành phố Thái Nguyên là thành phố tỉnh lị của tỉnh Thái Nguyên, là một trong những thành phố lớn ở miền Bắc, trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc, có tốc độ phát triển đô thị nhanh và mạnh (UBND TP Thái Nguyên, 2008-2013)[21] Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, bộ mặt
đô thị của thành phố Thái Nguyên đã có những chuyển biến vượt bậc Việc
phát triển đô thị đã diễn ra với tốc độ cao và đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, thu hút đầu tư và việc làm Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng làm mất diện tích đất nông nghiệp đáng kể, đã ảnh hưởng đến quá trình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp cũng như đời sống của người dân (UBND TP Thái Nguyên, 2008-2013)[21]
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên & Môi trường, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới
sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: TS Hoàng Văn Hùng, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi
trường đất các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013”
1.2 Mục đích của đề tài
Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến chất
lượng môi trường đất giai đoạn 2008-2013 Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường đất trước sự phát triển đô thị các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Yêu cầu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển đô thị của các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Trang 14- Đánh giá thực trạng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất các
xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013
- Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng của phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái
Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá ảnh hưởng của phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường đất trước sự phát triển đô thị các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
1.4 Ý nghĩa học tập và thực tiễn
- Ý nghĩa học tập: Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều sâu của kiến thức ngành học cho bản thân
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất biện pháp để khắc phục và phòng tránh tác
động tiêu cực của phát triển đô thị tới đất nông nghiệp, góp phần nâng cao đời
sống người dân cho các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương có điều kiện tương tự
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái quát về đô thị và phát triển đô thị
2.1.1 Khái quát về đô thị
2.2.1.1 Khái niệm đô thị và quy định về đô thị
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và
hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống
và làm việc theo kiểu thành thị
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông
nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thức đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện
Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi
nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay trung tâm tổng hợp; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền, của một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện (Vũ Thị Bình, 2008)[22]
2 Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn)
3 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 65% trong tổng
số lao động, là nơi có sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển
Trang 164 Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân
cư đô thị
5 Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị phù hợp với
đặc điểm của từng vùng
2.2.1.2 Điểm dân cư đô thị
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân
phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị
Mỗi nước có một quy định riêng về điểm dân cư đô thị.Việc xác định quy mô tối thiểu của đô thị phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội của mỗi nước và tỷ lệ phần trăm dân phi nông nghiệp của đô thị
Một số đặc điểm của điểm dân cư đô thị
a Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở điểm dân cư đô thị chỉ tính trong phạm vi nội thị
Lao động phi nông nghiệp bao gồm những lao động làm việc trong các lĩnh vực:
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
- Lao động xây dựng cơ bản
- Lao động phục vụ: giao thông vận tải, bưu điện, tín dụng, ngân hàng, thương mại, dịch vụ công, du lịch
- Lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, xã hội, giáo dục, y
tế, nghiên cứu khoa học …
- Những lao động khác ngoài nông nghiệp (Vũ Thị Bình, 2008)[22]
Trang 17- Hạ tầng xã hội: nhà ở tiện nghi, các công trình dịch vụ công cộng văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, cây xanh, vui chơi giải trí…(Vũ Thị Bình, 2008)[22]
2.2.1.3 Phân loại đô thị
Tại Điều 4 Nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị quy
định:
Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại
III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận
1 Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc
2 Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành
3 Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị
4 Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị
5 Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương (Nghị định 42, 2009)[23]
2.2.1.4 Chức năng của đô thị
Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khác nhau, nhìn chung có mấy chức năng chủ yếu sau
Trang 18* Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng
và đa dạng hoá Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị
* Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Chức năng
xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại thay đổi
* Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí cao Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn
* Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân Do đó chính quyền địa phương phải
có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị (Nguyễn Thế Bá, 2011)[5]
2.2.1.5 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại,
văn hoá của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ
sở vật chất kỹ thuật và văn hoá
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy CNH nhanh chóng Đô thị tối ưu hoá việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao Các đô thị
Trang 19tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước
Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh
2.1.2 Khái quát về phát triển đô thị
2.1.2.1 Khái niệm phát triển đô thị
Khái niệm phát triển đô thị là một phần của khái niệm đô thị hóa:
+ Theo nghĩa rộng: Phát triển đô thị được hiểu như một quá trình phát triển toàn diện kinh tế và xã hội, liên hệ mật thiết với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các hệ thống xã hội và tổ chức môi trường sống của cộng
mô dân số
2.1.2.2 Xu hướng phát triển đô thị
Quá trình phát triển đô thị diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế xã hội Trình độ phát triển đô thị phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội
Quá trình phát triển đô thị thực chất cũng là một quá trình phát triển kinh tế xã hội, hơn nữa nó còn là quá trình phát triển văn hóa và không gian
Trang 20kiến trúc Nó gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới Quá trình phát triển đô thị có thể theo 2 xu hướng
a Phát triển đô thị theo hướng tập trung
Là toàn bộ công nghiệp và dịch vụ công cộng tập trung vào các thành phố lớn, hình thành và phát triển các đô thị lớn, khác biệt nhiều với nông thôn Đó chính là sự tích tụ các nguồn lực tư bản và chất xám hình thành nên các trung tâm đô thị công nghiệp tập trung cao độ, những thành phố toàn cầu như Tokyo, Seoul, Điều này sẽ dẫn đến xu hướng “CNH co cụm”, khi đó, chỉ những khu vực đô thị trung tâm là nơi thu hút vốn đầu tư, tập trung các hoạt động công nghiệp, trong khi các lĩnh vực vẫn chỉ là nông thôn và sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo tạo ra sự đối lập giữa đô thị và nông thôn, đồng thời gây ra mất cân bằng sinh thái
b Phát triển đô thị phân tán
Là hình thái mạng lưới điểm dân cư có từng bước phát triển cân đối công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ công cộng, bảo đảm cân bằng sinh thái, tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư đô thị và nông thôn Hình thành và phát triển mạng lưới đô thị vừa và nhỏ trên các vùng, có vai trò thúc đẩy phát triển nông thôn, giảm khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn Là xu hướng dịch chuyển đầu tư và hoạt động sản xuất công nghiệp từ các lĩnh vực trung tâm ra các vùng ngoại vi, tạo nên hiệu
ứng lan toả, thúc đẩy sự ra đời và hình thành các trung tâm vệ tinh công
nghiệp Điều này dẫn đến tiến trình “CNH lan toả”, các hoạt động công nghiệp ở đô thị trung tâm có xu hướng dịch chuyển ra ngoại vi để chuyển sang các hoạt động công nghiệp mức cao hơn, hay chuyên môn hoá các lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ Xu hướng này sẽ đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiện việc làm, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho người dân đô thị và nông thôn
Quá trình phát triển đô thị có thể được chia thành 3 thời kỳ:
Trang 21+Thời kỳ tiền công nghiệp (trước thế kỷ XVIII)
- Phát triển đô thị phát triển mang đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp
- Các đô thị phân tán, quy mô nhỏ phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu
đơn giản Tính chất đô thị chủ yếu là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp
- Đô thị thời kỳ này phát triển chậm, bố cục thành phố lộn xộn, phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, môi trường đô thị không hợp lý
+Thời kỳ công nghiệp (đến nửa thế kỷ XX)
Cuộc cách mạng công nghiệp làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh chóng Sự tập trung sản xuất và dân cư tạo nên những đô thị lớn và cực lớn, các xí nghiệp công nghiệp phát triển mạnh, các khu nhà ở mọc lên rất nhanh bên cạnh các khu vực sản xuất Cơ cấu đô thị phức tạp hơn, thành phố mang nhiều chức năng khác nhau như: thủ đô, thành phố cảng, thành phố công nghiệp, thành phố du lịch…
Đặc trưng của thời kỳ này là sự phát triển thiếu kiểm soát của các thành
phố
+ Thời kỳ hậu công nghiệp
Cơ cấu sản xuất và phương thức sinh hoạt ở các đô thị đã có nhiều thay
đổi nhờ sự phát triển của công nghệ tin học Không gian đô thị có cơ cấu tổ
chức phức tạp, quy mô lớn Hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo kiểu cụm, chuỗi (Nguyễn Quốc Thông, 2011)[24]
2.1.2.3 Mối quan hệ giữa quá trình phát triển đô thị và quá trình công nghiệp hóa
Phát triển đô thị là một quá trình song song với sự phát triển CNH và cách mạng khoa học kỹ thuật Quá trình ĐTH phản ánh tiến trình CNH-HĐH trong nền kinh tế thị trường Không ai phủ nhận rằng một quốc gia được coi là CNH thành công lại không có tỷ lệ cư dân đô thị ngày càng chiếm vị trí áp
Trang 22đảo so với cư dân nông thôn Đó cũng là lý do mà kinh tế học phát triển đã
coi sự gia tăng tỷ lệ cư dân đô thị như một trong những chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình trạng “có phát triển” của nền kinh tế chậm phát triển đang tiến hành CNH hiện nay ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH và sau này là hệ quả của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng HĐH: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP Đồng thời, trong điều kiện đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, ĐTH giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường ĐTH xúc tiến tối đa CNH-HĐH đất nước Sự nghiệp CNH-HĐH muốn thực hiện thành công cần phải chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật cao, thay đổi cơ cấu lao động Trước hết có sự tập trung cao các điểm dân cư, kết hợp với xây dựng đồng bộ và khoa học các cơ quan và các xí nghiệp trung tâm Quá trình này là bước chuẩn bị lực lượng ban đầu cho CNH-HĐH đất nước Khi đó máy móc hiện đại được đưa vào sản xuất nhiều hơn kéo theo việc nâng cao trình
độ tay nghề công nhân, đồng thời nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý ĐTH
sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển mới của tiến trình CNH, trong đó, công nghiệp và dịch vụ trở thành lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế, không chỉ xét
về phương diện đóng góp tỷ trọng trong GDP mà còn cả về phương diện phân
bố nguồn lao động xã hội
2.1.3 Quá trình phát triển đô thị ở thế giới và Việt Nam
2.1.3.1 Quá trình phát triển đô thị trên thế giới
Thời kỳ cổ đại
Đó là thời tiền sử được tính từ 5000 năm đến 1000 năm trước Công
nguyên và giai đoạn cổ đại tính đến năm 500 sau Công nguyên
Các đô thị phát triển thời kỳ này gồm: vùng Lưỡng Hà, Ai Cập, vùng Tiểu Á, Trung Á, Ấn Độ và Trung Quốc
Trang 23i) Về quan điểm định cư
Mỗi điểm dân cư là một bộ lạc, xây dựng dọc ven sông, nguồn nước
được coi là yếu tố cơ bản của sự tồn tại:
+ Kinh tế: Các cơ sở sản xuất nông nghiệp và thương mại được coi là
Người Ai Cập cổ đại sống tập trung dọc theo sông Nin Các vua chúa
đề cao cuộc sống sau khi chết nên tập trung xây dựng các lăng mộ, điển hình
là các Kim tự tháp
Đô thị cổ Ai Cập ở hạ lưu sông Nin thường là hình chữ nhật, xây dựng
vào khoảng 3500 năm trước Công nguyên
Đế quốc La Mã hình thành từ thế kỷ III trước Công nguyên và hưng
thịnh nhất vào khoảng thể kỷ II và thế kỷ nhất cho đến năm 30 trước Công nguyên
Trang 24Quy hoạch và kiến trúc La Mã cổ đại đã tiếp thu được những thành tựu của nền văn hóa trước đó và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Hy Lạp
Thành phố cổ La Mã phản ánh tính chất xã hội của chế độ cộng hòa đế quốc La Mã với những đô thị mang tính phòng thủ
*) Văn minh Lưỡng Hà (4300 năm trước Công nguyên)
Thành phố lớn nhất là Babilon xây dựng vào khoảng năm 602 - 562 trước công nguyên và trở thành một trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại mang nhiều truyền thuyết Nền văn minh Lưỡng Hà đã tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều thành phố
*) Nền văn minh Trung Hoa
Ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, Mencius đã đề
xuất hệ thống quy hoạch sử dụng đất theo bố cục 9 ô vuông Mỗi ô có một chức năng riêng, mỗi cạnh dài khoảng 1000 bước
Cách bố trí theo kiểu phân lô này cũng được ứng dụng cho Bắc Kinh về sau Bắc Kinh hình thành từ 2400 năm trước CN và trở thành thủ đô Trung Quốc năm 878 sau CN
Đô thị thường được bao bọc bởi tường thành cau xây gạch bên ngài hào
sâu mang đặc trưng là thành lũy quân sự Cấu trúc thường có 3 vòng tường thành giới hạn từng khi vực cho 3 tầng trong xã hội phong kiến Trung Quốc
Hình dạng đô thị:
- Mặt bằng tổ chức theo hình vuông trục chính theo hướng Nam - Bắc
và đô thị thường được xây dựng trên các vùng đất có địa hình bằng phẳng
- Nguyên tắc bố trí các khu vực trong đô thị theo triết lý Nho giáo thể hiện mối tương quan trong xã hội phong kiến Trong đó, yếu tố chủ thể được
đặt ở vị trí quan trọng nhất nhằm thể hiện quyền lực của thiên tử
Trang 25- Quy mô đô thị lớn, dân cư được tổ chức thành từng đơn vị có quản lý bởi hệ thống hành chính rõ rệt
- Cây xanh được quan tâm tổ chức thành quần thể đẹp phục vụ cho tầng lớp thống trị
*) Các vùng khác
Trung Quốc (thế kỷ III trước công nguyên): đề xuất quy hoạch sử dụng
đất đô thị theo hệ thống 9 ô vuông Cách bố trí này được ứng dụng cho Bắc
Kinh về sau
Ấn Độ cũng có những thành phố được hình thành từ 3000 năm trước
công nguyên Thành phố cũng được xây dựng theo kiểu phân lô
Nhiều nơi khác cũng xuất hiện các điểm dân cư đô thị nhưng không để lại những tính chất điển hình
Thời kỳ trung đại
Đô thị xuất hiện chủ yếu vào đầu công nguyên thuộc chế độ phong
kiến Quy mô thành phố nhỏ, không lớn hơn 5000 đến 10.000 người, hầu hết
có thành quách bao ngoài
Thế kỷ III, đô thị phát triển hơn do sự xuất hiện của thủ công nghiệp, hình thành nhiều đô thị cảng và đô thị nằm trên đầu mối giao thông
Thế kỷ XV, XVI nền văn hóa Phục Hưng phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của các đô thị ở châu Âu, đặc biệt là Ý, Pháp …
Châu Á với chế độ phong kiến kéo dài ảnh hưởng đến tính chất các đô thị phong kiến Tiêu biểu là Trung Quóc, thành phố có quy mô lớn trở thành chỗ ở và thể hiện uy quyền của các vua chúa phong kiến, là trung tâm chính trị văn hóa của giai cấp thống trị Các đô thị này thường được xây dựng theo kiểu thành quách
Nói chung đô thị thời kỳ này phát triển chậm, bố cụ thành phố lộn xộn, phát triển tự phát, thiếu quy hoạch và môi trường đô thị không hợp lý
Trang 26Thời kỳ cận đại
Giữa thế kỷ XVII, công nghiệp phát triển thu hút nguồn nhân lực lớn, các khu nhà ở mọc lên nhanh chóng bên cạnh các khu vực sản xuất Các nước công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, dân số đô thị tăng lên nhanh chóng
Các thành phố phát triển và phân bố không đồng đều do ảnh hưởng của
sự phsat triển kinh tế Các thành phố lớn có số dân tập trung cao: New York:
5 triệu người (1920), London gần 5 triệu người, Berlin trên 4 triệu người
Đô thị phát triển ồ ạt dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tổ chức không
gian đô thị Nhà ở đô thị nảy sinh nhiều vấn đề, đặc biệt là sự thiếu thốn các khu nhà ở cho người lao động
Môi trường đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng do sự phát triển của công nghiệp và dân số, thiếu những khu cây xanh, công viên
Công trình công nghiệp xây dựng lộn xộn Mật độ xây dựng cao và các công trình phát triển nhiều theo chiều cao
Những vấn đề trên đã dẫn tới sự khủng hoảng của đô thị thời kỳ này, do
đó đòi hỏi cần phải có những cuộc cải tổ và những tư tưởng mới cho sự phát
triển của ngành quy hoạch đô thị hiện đại (Đặng Thái Hoàng, 2010)[10]
2.1.3.2 Quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam
*Tình hình phát triển các điểm dân cư đô thị đến thế kỷ thứ XVIII:
Dấu vết đô thị đầu tiên ở nước ta là thành Cổ Loa hay còn được gọi là Loa thành của An Dương Vương ở tả ngạn sông Hồng Loa thành là đô thị
đầu tiên được xây dựng vào năm 25 trước CN, là trung tâm chính trị của nước
Âu Lạc Chiều dài của ba tường thành chính dài trên 16km có hào sâu bao bọc nối liền với song Hồng đã làm tăng khả năng phòng thủ của Thành Ngoài các cung điện của vua và các trại lính, trong thành còn có nhà dân thường Đây là
điểm dân cư tập trung đông đúc nhất lúc bấy giờ, dân số ước tính tới hàng
tram ngàn người
Trang 27Trong thời kì Bắc thuộc, một số thành thị khác nhau mạng tính chất quân sự và thương mại như thành Lung Lâu, thành Long Biên, Từ Phố, Bạch Trưởng…cũng được hình thành Một trong những đô thị lớn nhất thời Bắc thuộc đến thế kỉ XIX là thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay) Sử chép rằng năm 865 tướng Cao Điền (Trung Quốc) đã mở rộng thành để chống quân khởi nghĩa Thành dài 1982,5 trượng (7930m), cao 2,5 trượng (10m), trên tường thành có 55 điểm canh Một vài đoạn thành còn sót lại cho đến ngày nay
Năm 1010 sau khi ổn định tình hình chính trị trong nươc, Lý Thái Tổ quyết dịnh dời đô về trung tâm Đại La (trong thành Tống Bình cũ) và đổi tên
là Thăng Long Đây cũng là cái mốc khai sinh cho thành phố Hà Nội ngày nay Từ đó Thăng Long phát triển mạnh về tất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và đã trở thành một đô thị có một vị trí quan trọng nhất trong cả nước
Thăng Long có hệ thống thành dài 25km bao bọc xung quanh khu vực cung đình và điểm dân cư, là dấu hiệu đầu tiên của đô thị hóa đọc đáo Ngoài
ra, nhiều công trình được xây dựng trong thành như các đền chùa, miếu mạo
Đây là thời kỳ thịnh vựng nhất của nền phong kiến Việt Nam, rất nhiều đền
chùa, bảo tháp được xây dựng vào thời kỳ này như: 950 ngôi chùa được xây dựng vào năm 1031 dưới sự đài thọ của nhà vua Chùa Diên hựu (chùa Một Cột) xây vào năm 1049 – Chùa Diên Hựu đánh dấu một bước phát triển cao
về nghệ thuật kiến trúc bấy giờ và cho đến ngày nay nó vẫn là một biểu tượng trong trái tim Hà Nội Năm 1954 trước khi rút chạy thực dân Pháp đã đặt mìn phá hủy Ngay sau đó vào năm 1955 chùa đã được xây dựng lại
Một điều đáng chú ý trong quy hoạch phát triển đô thị lúc bấy giờ là việc xâu dựng khu Văn Miếu năm 1070, được gọi là Quốc Tử Giám vào năm
1076 Là khi đại học đầu tiên của Việt Nam, đây thực sự là chỗ chọn nhân tài của đất nước, hàng năm có hàng ngàn người đến xinh học và dự thi Trên 82 bia Tiến sĩ bảng đá ghi lại danh nhan, các nhà bác học đã chứng tỏ sự quan
Trang 28tâm đặc biệt của Nhà nước lúc bấy giờ về mặt văn hóa giáo dục và đã làm cho Việt Nam một thời rạng rỡ
Dưới thời phong kiến, ở nước ta nhiều loại đô thị khác nhau cũng hình thành Đó là nơi đóng đô chính của cua chúa phong kiến như thành Hoa Lư (kinh đô của nhà Định), thành Tây Đô (kinh đô của nhà Hồ), thành Phú Xuân (kinh đô của nhà Nguyễn), là những trung tâm chính trị quan trọng
Thành Tây Đô (thành nhà Hồ) được xây dựng rất kiên cố, phía ngoài
được ghép đá trên một khu đất bằng phẳng ở Thanh Hóa có hình vuông, mỗi
cạch dài 500m Cổng thành là ba vòm ghép đá rất đẹp có kỹ thuật cao rất công phu Có những phiến đá dài tới 7m, cao 1,5m, nặng tới 15 tấn ở cổng ra vào
Sau chiến thắng quan Minh, Lê Lợi xây dựng lại đất nước Đô thị Việt Nam dưới thời bấy giờ đã phát triển mạnh, đặc biệt Thăng Long được tu sửa
từ cung điện, đền đài đến Hoàng thành và La thành Diện tích Hoàng thành rộng hơn nhiều so với thời Lý - Trần Theo bản đồ của Hồng Đức vẽ năm
1470, địa giới của Hoàng thành gồm Hoàng Thành đời Lý - Trần cộng với mở rộng ở phía Đông ra tới tân bờ sông Hồng
Ở chính giữa Hoàng thành là điện Kính Thiên: nơi cua hội họp với các đại thần, bên phải là điện Chí Thiệu, bên trái là điện Chính Kính, phía sau là điện Vạn Thọ, phía trước là điện Thị Triều nơi các quan vào chầu vua, từ đó
nhìn ra là cửa Đoan Môn
Cung điện của Hoàng Thái Tử ở hướng Đông gọi là Đông cung, phía trước Đông cung là Thái miếu thành bố cục theo hệ trục vuông, lấy điện Kính Thiên làm chuẩn Các công trình chính được đặt theo hướng Bắc - Nam, các cung điện được xây dựng rất đẹp Phía Nam Hoàng thành là khu vực quan lại gần của Đại Hưng, Lê Thánh Tông đã cho phép xây dựng viện Đại Lâu cho các quan nghỉ lúc vào chầu, xây đình Quảng Văn là nơi yết thi các pháp lẹnh của triều đình Nhiều đền chùa được xây dựng thời đó còn lưu đến ngày nay
Trang 29như đến Ngọc Sơn, đến Bà Kiệu, chùa Trần Quốc, chùa Kim Liên, Văn Miếu
được xây dựng lại và mở rộng thành khu đại học lớn nhất thời phong kiến
Ngoài Hoàng thành, phố phường được phát triển, hoạt động thương mại ngày càng mạnh mẽ, các cửa hiệu buôn bán của người Hà Lan, Anh mọc dọc theo sông Vào thế kỷ XVII Khi dân cư đã có nhà hai tầng, nhiều nhag làm thêm gác lửng để phòng lụt lội Như người phương Tây đã nhận xét: Thăng Long vào thế kỷ XVII là đô thị lớn ở Châu Á Ở đây có nhiều phường chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công, có những phường nổi tiếng như làm nghề làm giấy ở phường Yên Thái, nghề dệt vải ở Thụy Chương, nhuộm điều tơ lụa ở Hàng Đào…dân số trong thành ngày càng đông
*Đô thị thời nhà Nguyễn:
Từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, khi các nước Châu Âu đã có nền kinh tế mạnh, văn minh thì Việt Nam vẫn là nước nông nghiệp lạc hậu Nhưng điều luật phong kiến ngặt nghèo đã kìm hãm sự phát triển của đất nước, kể cả trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch và xây dựng Dân đô thị lúc bấy giờ chỉ chiếm khoảng 1% dân số cả nước Đầu thế kỷ XIX một điểm dân
cư lớn của Việt Nam là Hà Tiên đã bắt đầu phát triển mạnh nhờ sự di dân vào miền Bắc, Trung Quốc, Campuchia và Thái Lan. (Trương Quang Thao, 2003)[20]
2.2 Khái quát về môi trường đô thị, ô nhiễm môi trường đô thị, ô nhiễm môi trường đất
2.2.1 Khái niệm về môi trường đô thị
Môi trường đô thị là một bộ phận trong toàn bộ môi trường nói chung Tất cả các yếu tố môi trường xét trong không gian đô thị đều thuộc phạm vi môi trường đô thị
Môi trường đô thị bao gồm môi trường thiên nhiên bên ngoài bao quanh đô thị (nước, không khí, đất, động thực vật…) tất cả những gì tạo nên
Trang 30cấu trúc vật thể đô thị, bắt đầu từ khoảng không gian bên trong đến khu đất rộng lớn khu dân cư, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí…của đô thị Ngoài ra, môi trường đô thị còn bao gồm cả những yếu tố nhân văn đa dạng phát sinh do hoạt động của con người như tiếng ồn, điện từ trường, rung
động… Môi trường đô thị được tổ chức và phát triển theo hệ thống quy luật
phức tạp gồm các phân hệ xã hội và phân hệ các thành phần vật thể của đô thị Giữa hai phức hệ này có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau, trong đó phân hệ xã hội chính là môi trường xã hội, đặc trưng bởi dân cư đô thị và mối quan hệ của nó như chế độ xã hội, dân số, phân bố dân cư lao động, công ăn việc làm, thu nhập, văn hóa giáo dục, y tế, kinh tế, quan hệ xã hội và tệ nạn xã hội (Lê Văn Khoa, 2004)[14]
Theo định nghĩa trên môi trường đô thị bao gồm môi trường tự nhiên trong và xung quanh đô thị và môi trường nhân tạo trong đô thị, nó được tổ chức theo hệ thống tầng bậc từ quy mô căn hộ gia đình đến quy mô lớn hơn trong cấu trúc đô thị và có ảnh hưởng đến quy mô toàn cầu Môi trường đô thị bao gồm các chức năng hoạt động của thành phần: môi trường khu ở, môi trường khu công nghiệp; môi trường giao thông đô thị; hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị (cấp thoát nước, rác thải, cây xanh…); khu ở người nghèo…
Môi trường đô thị có ảnh hưởng quan trọng tới sự hoạt động, tồn tại và phát triển của đô thị trong đó con người là hạt nhân trung tâm, vừa là đối tượng nghiên cứu vừa là người nghiên cứu nhằm giải quyết hợp lý các mối quan hệ phức tạp đó Chính vì vậy mà ông phó chủ tịch phụ trách phát triển môi trường đô thị bề vững của ngân hàng thế giới tại hội nghị ngân hàng thế giới lần thứ hai bàn về môi trường đô thị đã khẳng định: “Chương trình nghị
sự về môi trường đô thị là vấn đề con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, cách sống của con người mà đặc biệt là những người nghèo và con em
họ, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến hiệu quả các hoạt động kinh tế văn hóa của xã hội loài người” Đó là những vấn đề cơ bản của đô thị.Các thành phần
Trang 31trong môi trường đô thị gồm thành phần môi trường tự nhiên và thành phần môi trường nhân tạo
2.2.2 Ô nhiễm môi trường
* Ô nhiễm môi trường:
Theo Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “ Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường”
* Ô nhiễm môi trường nước:
Là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu
* Nước thải sinh hoạt: Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt
động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở trường học khác
* Nước thải công nghiệp: Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu
* Nước thải đô thị: Nước thải đô thị là một thuật ngữ chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên
Trang 32* Nước thải thấm qua: Là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố gas hay hố xí
* Nước thải tự nhiên: Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng
* Tiêu chuẩn môi trường: Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui
định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”
2.2.3 Những căn cứ pháp lý về môi trường và ô nhiễm môi trường
- Căn cứ Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 ngày 29/11/2005
- Căn cứ Luật số 17/2012/QH13 của Quốc hội : Luật tài nguyên nước
- Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước
- Nghị định số 142/2013/NĐ-CPgày 24 /10/ 2013 của Chính Phủ: Quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và
Trang 33- Nghị định số 162/2003/ NĐ – CP ngày 19 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ ban hành quy chế thu thập, quản lí, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước
- Thông tư 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005: Hướng dẫn thực
hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước
- Thông tư số 29/2011/TT-BTNMT quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa
- Quyết định số 341/QĐ-BTNMT về việc ban hành Danh mục lưu vực
sông nội tỉnh
- TCVN 5942-1995: Giá trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước mặt
- TCVN 5945:2005 Nước thải công nghiệp – tiêu chuẩn thải
- TCVN 5992 - 1995 Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
- QCVN 08 : 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường nước mặt
- QCVN 14:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
- QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp
2.2.4 Môi trường đất và ô nhiễm môi trường đất trong đô thị
Môi trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô sinh sắp xếp thành cấu trúc nhất định Các thực vật, động vật và vi sinh vật sống trong lòng trái đất Các thành phần này có liên quan mật thiết và chặt chẽ với nhau Môi trường đất được xem như là môi trường thành phần của hệ môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu
Trang 34Con người và nhiều loại sinh vật tồn tại, phát triển trên và trong đất
Đất cung cấp cho con người những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống (lương
thực, thực phẩm …); Đất là nơi xây dựng các công trình, các đô thị … Do đó
đất là tài nguyên quý giá của loài người Sự hình thành đất là quá trình phức
tạp do kết quả hoạt động tổng hợp các yếu tố: động – thực vật, đá, khí hậu, địa hình, thời gian và con người, trong đó tác động của con người là lớn nhất Con người có thể làm cho đất khô cằn, bị ô nhiễm hoặc ngược lại có thể làm cho đất ổn định và màu mỡ Điều đó tùy thuộc vào thái độ và hành vi của con người (Lê Văn Khoa, 2000)[13]
Trong quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế, con người đã chiếm dụng đất canh tác để xây dựng nhà cửa, đường sá … cho đô thị Đất được dùng vào mục đích xây dựng tăng lên nhiều Quỹ đất xây dựng đã gây xói mòn phá hoại đất do hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, sinh hoạt đã đưa vào đất một lượng phế thải, rác thải, nước thải, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật … gây ô nhiễm đất
Lượng phân hóa học, thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp đã ảnh hưởng đến đất Từ đất mới ảnh hưởng đến rau xanh con người ăn rau xanh sẽ
ảnh hưởng đến sức khỏe
Rác thải, phế thải công nghiệp, chất thải rắn từ sinh hoạt, bệnh viện, thương nghiệp – dịch vụ … không qua phân loại đã chuyển thẳng đến bãi chon lấp rác không đảm bảo điều kiện vệ sinh của thành phố là nguồn độc hại gây ô nhiễm nước, đất Nguy hại nhất là rác chỉ thu gom vận chuyển 70%, số còn lại đổ đống ven sông, nơi đất trống, chỗ công cọng đã ngấm xuống đất làm ô nhiễm đất Hiện nay ở hầu hết các thành phố đều chưa có bãi chứa rác hợp vệ sinh Trong quy hoạch chung chưa xác định được ngay vị trí bãi rác của thành phố Do đó khi một bãi rác sắp đầy phải lo làm thủ tục xin đất, đền
bù đất … Trong rác, phân và chất thải sinh hoạt đô thị có hàm lượng chất hữu
cơ cao, độ ẩm cao, là môi trường thuận tiện cho các loại vi khuẩn gây bệnh
Trang 35phát triển Trong rác có nhiều thành phần độc hại và những chất vô cơ khó phân hủy (sợi nhân tạo, thủy tnh, sành sứ vụn …); các kim loại phế thải công nghiệp sẽ “âm thầm” ngấm vào trong đất trong thời gian dài và gây tác hại khôn lường, làm thay đổi tính chất cơ lý và thành phần đất cho bản than vùng
đất đó và các vùng xung quanh Từ các nghiên cứu người ta nhận thấy rằng:
- Khả năng di chuyển các chất độc hại trong đất xa hơn nhiều so với phạm vi trực tiếp bị ô nhiễm
Khả năng tích tụ tồn lưu chất độc trong đất lâu hơn nhiều so với bầu không khí và nước
Ngoài ra, trên phạm vi đô thị do san lấp đất xây dựng công trình đường
sá đã phá hủy thảm thực vật (lớp hữu cơ trên cùng), phá hoại điều kiện cân bằng tự nhiên của đất, thay đổi địa hình, cản trở dòng chảy… gây hiện tượng sạt lở mái dốc, làm suy yếu lớp đất nền và ảnh hưởng đến cảnh quan khu vực
Đất đai trong đô thị trực tiếp sử dụng để bố trí các khu chức năng của
đô thị (sản xuất, sinh hoạt, nghỉ ngơi, hạ tầng kỹ thuật) do đó phải đảm bảo
bảo điều kiện vệ sinh để giữ an toàn sức khỏe cho dân cư đô thị, đồng thời phải sử dụng có hiệu quả loại tài nguyên này, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp, để đảm bảo an toàn lương thực quốc gia Muốn sử dụng đất có hiệu quả phải đánh giá đất đai, đánh giá khả năng, chất lượng đất Bảo vệ đất chính
là bảo vệ cuộc sống của con người (Môi trường đô thị)
Ô nhiễm đất có quan hệ chặt chẽ với ô nhiễm môi trường nước Dưới góc độ môi trường đô thị vấn đề ô nhiễm đất bao gồm: thoái húa đất tự nhiên
và đất canh tác( sa mạc húa, xói mòn, axit húa ), nhiễm bẩn do công nghiệp và sinh hoạt ( do bãi rác, khu công nghiệp ô nhiễm và nghĩa địa) và việc cạn kiệt nguồn tài nguyên khi
đất canh tác bị lạm dụng biến thành đất ở
Việc thoái hóa đất do hoạt động của đô thị cũng là nguyên nhân quan trọng Tốc độ đô thị húa tăng nhanh làm phạm vi đô thị mở rộng chiếm cả
Trang 36những vùng đất nhạy cảm với môi trường như đất ngập nước, đất sinh thái, lấp hồ ao và kênh thoát nước Khi những vùng đất này bị chuyển đổi thành
đất ở, hệ sinh thái ở đây mất cân bằng nghiêm trọng Không những chỉ vùng
đó bị hủy hoại mà cả những vùng đất liên quan, chịu ảnh hưởng của các vùng đất ngập nước, khu vực phòng hộ cũng bị suy thoái
Đô thị luôn có nhu cầu sử dụng đất làm bãi chứa các chất thải công
nghiệp, bãi chứa nguyên vật liệu ( kể cả độc hại), bãi chứa rác thải sinh hoạt
và nghĩa trang Đô thị càng hiện đại, càng phát triển càng đòi hỏi đất cho các nhu cầu trên lớn hơn Những khu vực vày sau một thời gian hoạt động trở lên lạc hậu hoặc không sử dụng được (do hết niên hạn phục vụ như bãi rác) hoặc buộc phải di dời ra ngoài thành phố (do ô nhiễm, do không kinh tế nữa) Chúng trở thành những vùng đất kém phát triển trong lòng đô thị Nếu cải tạo chúng thành đất ở đảm bảo môi trường thì chi phí rất cao; nếu đưa vào sử dụng ngay có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng
2.2.5 Các nhân tố tác động đến môi trường đất trong đô thị
Con người và nhiều loại sinh vật tồn tại, phát triển trên và trong đất
Đất cung cấp cho con người những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống (lương
thực, thực phẩm …); Đất là nơi xây dựng các công trình, các đô thị … Do đó
đất là tài nguyên quý giá của loài người Sự hình thành đất là quá trình phức
tạp do kết quả hoạt động tổng hợp các yếu tố: động – thực vật, đá, khí hậu, địa hình, thời gian và con người, trong đó tác động của con người là lớn nhất Con người có thể làm cho đất khô cằn, bị ô nhiễm hoặc ngược lại có thể làm cho đất ổn định và màu mỡ Điều đó tùy thuộc vào thái độ và hành vi của con người
Trong quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế, con người đã chiếm dụng đất canh tác để xây dựng nhà cửa, đường sá … cho đô thị Đất được dùng vào mục đích xây dựng tăng lên nhiều Quỹ đất xây dựng đã gây xói mòn phá hoại đất do hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, sinh
Trang 37hoạt đã đưa vào đất một lượng phế thải, rác thải, nước thải, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật … gây ô nhiễm đất
Lượng phân hóa học, thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp đã ảnh hưởng đến đất Từ đất mới ảnh hưởng đến rau xanh con người ăn rau xanh sẽ
ảnh hưởng đến sức khỏe
Rác thải, phế thải công nghiệp, chất thải rắn từ sinh hoạt, bệnh viện, thương nghiệp - dịch vụ … không qua phân loại đã chuyển thẳng đến bãi chon lấp rác không đảm bảo điều kiện vệ sinh của thành phố là nguồn độc hại gây ô nhiễm nước, đất Nguy hại nhất là rác chỉ thu gom vận chuyển 70%, số còn lại đổ đống ven sông, nơi đất trống, chỗ công cọng đã ngấm xuống đất làm ô nhiễm đất Hiện nay ở hầu hết các thành phố đều chưa có bãi chứa rác hợp vệ sinh Trong quy hoạch chung chưa xác định được ngay vị trí bãi rác của thành phố Do đó khi một bãi rác sắp đầy phải lo làm thủ tục xin đất, đền
bù đất … Trong rác, phân và chất thải sinh hoạt đô thị có hàm lượng chất hữu
cơ cao, độ ẩm cao, là môi trường thuận tiện cho các loại vi khuẩn gây bệnh phát triển Trong rác có nhiều thành phần độc hại và những chất vô cơ khó phân hủy (sợi nhân tạo, thủy tnh, sành sứ vụn …); các kim loại phế thải công nghiệp sẽ “âm thầm” ngấm vào trong đất trong thời gian dài và gây tác hại khôn lường, làm thay đổi tính chất cơ lý và thành phần đất cho bản than vùng
đất đó và các vùng xung quanh Từ các nghiên cứu người ta nhận thấy rằng:
- Khả năng di chuyển các chất độc hại trong đất xa hơn nhiều so với phạm vi trực tiếp bị ô nhiễm
Khả năng tích tụ tồn lưu chất độc trong đất lâu hơn nhiều so với bầu không khí và nước
Ngoài ra, trên phạm vi đô thị do san lấp đất xây dựng công trình đường
sá đã phá hủy thảm thực vật (lớp hữu cơ trên cùng), phá hoại điều kiện cân bằng tự nhiên của đất, thay đổi địa hình, cản trở dòng chảy… gây hiện tượng sạt lở mái dốc, làm suy yếu lớp đất nền và ảnh hưởng đến cảnh quan khu vực
Trang 38Đất đai trong đô thị trực tiếp sử dụng để bố trí các khu chức năng của
đô thị
(sản xuất, sinh hoạt, nghỉ ngơi, hạ tầng kỹ thuật) do đó phải đảm bảo bảo điều kiện vệ sinh để giữ an toàn sức khỏe cho dân cư đô thị, đồng thời phải sử dụng có hiệu quả loại tài nguyên này, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp, để đảm bảo an toàn lương thực quốc gia Muốn sử dụng đất có hiệu quả phải đánh giá đất đai, đánh giá khả năng, chất lượng đất Bảo vệ đất chính
là bảo vệ cuộc sống của con người
2.3 Tình hình ô nhiễm môi trường ở nước ta và Thành phố Thái Nguyên
2.3.1 Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra
Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế
- xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí Trong
ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp
Trang 39và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 20/4/2008 cả nước có 185 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đến hết
năm 2008, cả nước có khoảng trên 200 khu công nghiệp Ngoài ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt
động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận
hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác Tại Hội nghị triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai ngày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn
- Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy
định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần Tác nhân chủ
yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là trên 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp
Trang 40nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải
từ các cơ sở sản xuất này Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa
đáp
ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thực trạng
đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm
trọng Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp Từ
đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành các
xung đột xã hội gay gắt
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và giải quyết việc làm ở các địa phương Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong quá trình sản xuất khá cao Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay
cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang