TỔNG HỘI XÂY DỰNG VIỆT NAM VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG BÁO CÁO DỰ ÁN SỰ NGHIỆP KINH TẾ ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ CỦA KHU VỰC NGOẠI THÀNH ĐỐI VỚI MỐI QUA
Trang 1TỔNG HỘI XÂY DỰNG VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG
BÁO CÁO
DỰ ÁN SỰ NGHIỆP KINH TẾ
ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ CỦA KHU VỰC NGOẠI THÀNH ĐỐI VỚI MỐI QUAN HỆ KHU VỰC NỘI THÀNH TẠI MỘT SỐ ĐÔ THỊ LỚN
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG TỒN TẠI
Hà Nội, 05/2012
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Sự cần thiết 4
2 Một số khái niệm 5
3 Mục tiêu 6
4 Phạm vi, đối tượng điều tra, khảo sát 6
5 Phương pháp điều tra, khảo sát 7
6 Sản phẩm 7
7 Thời gian thực hiện 7
CHƯƠNG I: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT TẠI MỘT SỐ ĐÔ THỊ LỚN 8
I.1 Tại thành phố Hà Nội 8
I.1.1 Thực trạng hạ tầng kĩ thuật 8
I.1.1.1 Giao thông 8
I.1.1.2 Cấp nước 11
I.1.1.3 Thoát nước 12
I.1.1.4 Chất thải rắn 13
I.1.1.5 Nghĩa trang 14
I.1.1.6 Cấp điện và chiếu sáng 14
I.1.1.7 Công viên cây xanh 16
I.1.2 Thực trạng hạ tầng xã hội 17
I.1.2.1 Nhà ở 17
I.1.2.2 Công trình Giáo dục - Đào tạo 21
I.1.2.3 Công trình Văn hóa - Thể dục thể thao 22
I.1.2.4 Công trình Y tế 24
I.1.2.5 Công trình Thương mại 25
I.1.2.6 Công trình Dịch vụ du lịch 25
I.2 Tại thành phố Đà Nẵng 26
I.2.1 Thực trạng hạ tầng kĩ thuật 27
I.2.1.1 Giao thông 27
I.2.1.2 Cấp nước 30
I.2.1.3 Thoát nước 31
I.2.1.4 Chất thải rắn 31
I.2.1.5 Nghĩa trang 32
I.2.1.6 Cấp điện và chiếu sáng 33
I.2.1.7 Công viên cây xanh 34
I.2.2 Thực trạng hạ tầng xã hội 35
I.2.2.1 Nhà ở 35
I.2.2.2 Công trình Giáo dục - Đào tạo 35
I.2.2.3 Công trình Văn hóa - Thể dục thể thao 36
I.2.2.4 Công trình Y tế 37
I.2.2.5 Công trình Thương mại 37
I.2.2.6 Công trình Dịch vụ, du lịch 38
I.3 Tại thành phố Cần Thơ 38
I.3.1 Thực trạng hạ tầng kĩ thuật 38
I.3.1.1 Giao thông 38
I.3.1.2 Cấp nước 40
I.3.1.3 Thoát nước 41
I.3.1.4 Chất thải rắn 41
Trang 3I.3.1.5 Nghĩa trang 42
I.3.1.6 Cấp điện và chiếu sáng 42
I.3.1.7 Công viên cây xanh 43
I.3.2 Thực trạng hạ tầng xã hội 44
I.3.2.1 Nhà ở 44
I.3.2.2 Công trình Giáo dục - Đào tạo 44
I.3.2.3 Công trình Văn hóa - Thể dục thể thao 45
I.3.2.4 Công trình Y tế 46
I.3.2.5 Công trình Thương mại 46
I.3.2.6 Công trình Dịch vụ, du lịch 47
I.4 Kết luận chương I 47
Chương II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA KHU VỰC NGOẠI THÀNH VÀ KHU VỰC NỘI THÀNH TRONG QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, QUY CHUẨN VÀ TIÊU CHUẨN 52
II.1 Thực trạng công tác quy hoạch và quản lý đô thị theo quy hoạch 52
II.1.1 Tại thành phố Hà Nội 52
II.1.1.1 Khu vực ngoại thành 52
II.1.1.2 Khu vực nội thành 59
II.1.2 Tại thành phố Đà Nẵng 61
II.1.2.1 Khu vực ngoại thành 61
II.1.2.2 Khu vực nội thành 64
II.1.3 Tại thành phố Cần Thơ 66
II.1.3.1 Khu vực ngoại thành 66
II.1.3.2 Khu vực nội thành 70
II.1.4 Nhận xét đánh giá: 72
II.2 Thực trạng cơ chế chính sách và văn bản quy phạm pháp luật 75
II.2.1 Thực trạng cơ chế chính sách 75
II.2.2 Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật 76
II.2.2.1 Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 76
II.2.2.2 Nghị định 08/2005/NĐ-CP 77
II.2.2.3 Thông tư 07/2008/TT-BXD 78
II.2.2.4 Thông tư 09/2010/TT-BXD 78
II.2.2.5 Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC 79
II.2.2.6 Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT 80
II.2.2.7 Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 80
II.2.2.8 Nghị định 42/2009/NĐ-CP 81
II.2.2.9 Nghị định 38/2010/NĐ-CP 82
II.2.2.10 Nghị định 37/2010/NĐ-CP 82
II.2.2.11 Nghị định 62/2011/NĐ-CP 83
II.2.2.12 Thông tư 34/2009/TT-BXD 83
II.2.2.13 Thông tư 10/2010/TT-BXD 83
II.2.2.14 Thông tư 19/2010/TT-BXD 84
II.2.3 Nhận xét, đánh giá 84
II.3 Thực trạng mối quan hệ giữa khu vực ngoại thành và khu vực nội thành trong quy chuẩn và tiêu chuẩn 88
II.3.1 Đối với quy chuẩn 88
II.3.1.1 Quy chuẩn QCVN 01/2008/BXD 88
II.3.1.2 Quy chuẩn QCVN 14/2009/BXD 90
Trang 4II.3.2 Đối với tiêu chuẩn 93
II.3.3 Nhận xét, đánh giá 97
II.4 Kết luận chương II 99
Chương III ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG TỒN TẠI TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA KHU VỰC NGOẠI THÀNH VỚI KHU VỰC NỘI THÀNH 104 III.1 Đề xuất giải pháp về công tác quy hoạch 104
III.1.1 Nguyên tắc phát triển khu vực ngoại thành 104
III.1.2 Giải pháp cụ thể trong quy hoạch 104
III.2 Đề xuất các nhóm giải pháp về thực hiện quy hoạch và tổ chức quản lý hành chính khu vực ngoại thành trong mối quan hệ khu vực nội thành 107
III.2.1 Nhóm giải pháp thực hiện quy hoạch 107
III.2.2 Nhóm giải pháp tổ chức quản lý hành chính 110
III.3 Đề xuất các giải pháp về cơ chế chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan 111
III.3.1 Đối với Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 112
III.3.2 Đối với Nghị định 08/2005/NĐ-CP 112
III.3.3 Đối với Thông tư 07/2008/TT-BXD 113
III.3.4 Đối với Thông tư 09/2010/TT-BXD 113
III.3.5 Đối với Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC 113
III.3.6 Đối với Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT 114
III.3.7 Đối với Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 114
III.3.8 Đối với Nghị định 42/2009/NĐ-CP 114
III.3.9 Đối với Nghị định 38/2010/NĐ-CP 115
III.3.10 Đối với Nghị định 37/2010/NĐ-CP 115
III.3.11 Đối với Nghị định 62/2011/NĐ-CP 115
III.3.12 Đề xuất đối với Thông tư 34/2009/TT-BXD 116
III.3.13 Đối với Thông tư 10/2010/TT-BXD 116
III.3.14 Đối với Thông tư 19/2010/TT-BXD 116
III.4 Đề xuất các giải pháp về quy chuẩn, tiêu chuẩn có liên quan 116
III.4.1 Đối với quy chuẩn 117
III.4.1.1 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam (QCVN 01/2008/BXD) 117
III.4.1.2 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam (QCVN 14/2009/BXD) 117
III.4.2 Đề xuất đối với tiêu chuẩn 118
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119
1 Kết luận 119
1.1 ề thực trạng sự phát triển c các khu vực ngoại thị và mối liên hệ các khu vực nội thị: 119
1.2 ề các văn bản pháp quy đối với sự phát triển c các khu vực ngoại thị và mối liên hệ các khu vực nội thị 120
1.3 ề các quy chuẩn, tiêu chuẩn đối với sự phát triển c các khu vực ngoại thị và mối liên hệ các khu vực nội thị: 121
2 Kiến nghị 122
PHỤ LỤC 124
PHỤ LỤC I: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 124
PHỤ LỤC II: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KHẢO SÁT TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 188
PHỤ LỤC III: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KHẢO SÁT TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 210
TÀI LIỆU THAM KHẢO 246
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết
Đô thị được hình thành do hiệu quả tụ tập (agglomeration effect) và hiệu quả tiết kiệm do quy mô (economies of scale) sử dụng đất đô thị đem lại ngoại ứng (externalities) tích cực (như sự lan tỏa ảnh hưởng còn gọi là sự nhỏ giọt - trickling - down effect) và tiêu cực (ô nhiễm môi trường…)
Do đó ngoại thành có hai vùng: Vùng ven nội (suburban areas) chịu tác động mạnh, trực tiếp của sự lan tỏa và vùng ngoại vi xa hơn
Nếu đô thị có động lực tăng trưởng mạnh thì vùng ven nội dần dần bị đẩy lùi ra
xa do một phần trở thành nội thị hệ quả là khó kiểm soát được quá trình phát triển đô thị Chính điều này đặt ra những vấn đề về quản lý và quy hoạch mà đề tài này quan tâm
Mối quan hệ ngoại thành khá phức tạp và được nghiên cứu từ nhiều góc độ (sử dụng đất, kinh tế - xã hội, môi trường) còn đề tài này nghiên cứu từ góc độ quan hệ giữa quản lý hành chính và quản lý quy hoạch đô thị để đề xuất hoàn thiện khung pháp
lý về quản lý phát triển đô thị (bao gồm cả quản lý quy hoạch, phát triển hạ tầng…) đô thị Hiện nay, trong quá trình phát triển của các đô thị lớn đã xuất hiện các mối quan
hệ giữa khu vực nội thành và khu vực ngoại thành Trong đó có các mối quan hệ về các lĩnh vực hoạt động sản xuất, dịch vụ; quan hệ về văn hóa xã hội, lao động và dịch cư; quan hệ về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị; quan hệ về sử dụng đất đai; về quy hoạch xây dựng với các quy hoạch chuyên ngành đang diễn ra ngày càng phức tạp gây ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình đầu tư phát triển đô thị và quản lý phát triển đô thị
Vai trò của khu vực ngoại thành còn là để giảm tải cho khu vực nội thành, là đầu mối cung cấp thực phẩm, nông sản, là nơi dự trữ đất phát triển cho khu vực nội thành,
là nơi tập trung các khu xử lý rác thải, nước thải, nghĩa trang cho khu vực nội thành Khu vực nội thành là thị trường tiêu thụ sản phẩm, là nơi tạo công ăn việc làm, tập trung các dịch vụ đô thị, làm động lực phát triển cho khu vực ngoại thành
Vấn đề mấu chốt của phát triển các khu vực ngoại thành trong thời gian tới là thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao mức sống và tạo điều kiện cho người dân ngoại thành làm giàu ngay trên chính quê hương của họ Tuy nhiên, có một thực tế là đất đai vùng ngoại thành hiện nay đang ngày càng bị thu hẹp do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng
Để hiểu rõ bản chất các mối quan hệ giữa nội thành và ngoại thành từ đó có thể
đề xuất giải pháp khắc phục trong công tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị tại các đô thị lớn hiện nay cần thiết phải điều tra, đánh giá các mối quan hệ trên Trên cơ
sở đó đề xuất những giải pháp khắc phục và cơ chế quản lý phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền các đô thị và các chủ đầu tư tham gia vào công tác đầu
tư phát triển đô thị và nâng cao năng lực cho các nhà quản lý trong phát triển đô thị Vì vậy việc nghiên cứu dự án “Điều tra, khảo sát sự phát triển đô thị của khu vực ngoại thành đối với mối quan hệ khu vực nội thành tại một số đô thị lớn và đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại” là cần thiết
Trang 62 Một số khái niệm
Căn cứ Điều 118, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[1]
: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường
Căn cứ điều 3 Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12[4]:
1 Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
Căn cứ điều 4 Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 07/05/2009[9]:
Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại
IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận
1 Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc
2 Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành
3 Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị
4 Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị
5 Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn
Theo nguyên lý quy hoạch đô thị [36]thì:
1 Vùng ngoại thành, ngoại thị có các chức năng sau:
a) Bố trí các công trình kỹ thuật hạ tầng đầu mối, các khu dân cư, các công trình
vệ sinh, bảo vệ môi trường, các cơ sở sản xuất, dịch vụ, y tế, đào tạo, nghiên cứu khoa học và các công trình đặc biệt khác mà trong nội thành, nội thị không bố trí được; b) Bố trí các cơ sở nghỉ ngơi; các khu tham quan, du lịch; vành đai xanh, công viên rừng bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái;
c) Dự trữ đất để mở rộng và phát triển đô thị
2 Quy mô vùng ngoại thành, ngoại thị được xác định trên cơ sở :
a) Vị trí và tính chất của đô thị;
Trang 7b) Quy mô dân số khu vực nội thành, nội thị;
c) Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông liên hệ giữa khu vực nội thành, nội thị với khu vực lân cận;
d) Các mối quan hệ giữa khu vực nội thành, nội thị với khu vực lân cận;
đ) Đặc điểm lịch sử và điều kiện tự nhiên của từng địa phương;
e) Tổ chức hợp lý các đơn vị quản lý hành chính đô thị;
g) Yêu cầu phát triển các chức năng của vùng ngoại thành, ngoại thị nhằm hỗ trợ cho sự phát triển khu vực nội thành, nội thị theo quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Theo từ điển tiếng Việt [37]thì:
Nội thành là khu vực chính, ở giữa một thành phố, trái với ngoại thành
Ngoại thành là vùng còn là nông thôn, thuộc quyền hành chính của một thành phố
Vậy nội thành, ngoại thành có thể được hiểu như sau:
Nội thành là các quận (đô thị đặc biệt, loại I, loại II trực thuộc Trung ương) hoặc các phường (đô thị loại I, loại II thuộc tỉnh) là khu vực chính có mức độ đô thị hóa cao Ngoại thành là các huyện (đô thị đặc biệt, loại I, loại II trực thuộc Trung ương) hoặc các xã (đô thị loại I, loại II, III thuộc tỉnh), là vùng đô thị hóa thấp, thuộc quyền hành chính của một thành phố thiên về nông nghiệp, cân đối cơ cấu đất đai, lương thực, thực phẩm…, hỗ trợ cho sự phát triển khu vực nội thành
3 Mục tiêu
Mục tiêu của dự án này cần đạt được những yêu cầu sau đây:
- Nêu rõ được thực trạng sự phát triển đô thị của khu vực ngoại thành đối với mối quan hệ khu vực nội thành tại một số đô thị lớn trong các vấn đề về phát riển hệ thống
hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và môi trường
- Nêu rõ được thực trạng các cơ chế, chính sách của trung ương và địa phương, các văn bản QPPL có liên quan đến sự phát triển của khu vực ngoại thành đối với mối quan hệ khu vực nội thành
- Đề xuất được các giải pháp quản lý phát triển của khu vực ngoại thành trong quá trình đô thị hoá đảm bảo phát triển và quản lý đồng bộ với khu vực nội thành, tiết kiệm tài nguyên, sử dụng hợp lý quỹ đất đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị bền vững
4 Phạm vi, đối tƣợng điều tra, khảo sát
Phạm vi điều tra, khảo sát của dự án này được thực hiện ở khu vực ngoại thành của các đô thị lớn và mối quan hệ của nó với khu vực nội thành của 3 đô thị được lựa chọn là thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ
- Thành phố Hà Nội bao gồm 10 quận nội thành (Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Tây Hồ, Thanh Xuân, Hà Đông), thị xã Sơn Tây và 18 huyện ngoại thành (Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Chương Mỹ, Đan Phượng, Ba Vì, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa)
Trang 8- Thành phố Đà Nẵng bao gồm 6 quận nội thành (Hải Châu, Sơn Trà, Thanh Khê, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ, Liên Chiểu) và 1 huyện ngoại thành (Hòa Vang) (hình I.32)
- Thành phố Cần Thơ bao gồm 5 quận nội thành (Ninh Kiều, Bình Thủy, Ô Môn, Cái Răng, Thốt Nốt) và 4 huyện ngoại thành (Thới Lai, Vĩnh Thanh, Cờ Đỏ, Phong Điền)
Trong mối quan hệ của khu vực ngoại thành đối với sự phát triển của khu vực nội thành nêu trên, dự án tập trung nghiên cứu khu vực ngoại thành ven nội thành, nơi diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh mẽ và sẽ trở thành nội thành trong tương lai theo quy hoạch đô thị
5 Phương pháp điều tra, khảo sát
Việc điều tra, khảo sát được thực hiện trên cơ sở 3 phương pháp sau đây:
- Phương pháp tiếp cận, thu thập thông tin;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
7 Thời gian thực hiện
Dự án được thực hiện năm 2011
Trang 9CHƯƠNG I KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT TẠI MỘT SỐ ĐÔ THỊ LỚN
I.1 Tại thành phố Hà Nội
Hà Nội là thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị đặc biệt, có diện tích là 3.342,45 km2 trong đó diện tích nội thành là 348,527 km2, diện tích ngoại thành là 2.976,373 km2 (2010) Hà Nội có dân số toàn thành phố là 6.116.200 người, trong đó dân số nội thành là 2.717.097 người, ngoại thành là 3.779.762 người (2010) Các kết quả điều tra, khảo sát được nêu chi tiết ở Phụ lục 1 Sau đây là tóm tắt các kết quả điều
tra khảo sát và những nhận xét chính
Hình I.1 Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội
I.1.1 Thực trạng hạ tầng kĩ thuật
I.1.1.1 Giao thông
Thủ đô Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia nói chung và của vùng châu thổ sông Hồng nói riêng Các tuyến đường bộ quan trọng đều hướng tâm về
Trang 10Hà Nội tạo thành mạng lưới hình nan quạt Hầu như các đô thị và các khu công nghiệp lớn xung quanh Hà Nội, đều hình thành và phát triển dọc các tuyến quốc lộ dẫn đến tình trạng “phố hoá quốc lộ”, không xây dựng đường gom nên tốc độ lưu thông, khả năng thông xe và an toàn giao thông thấp Trên thực tế, hầu hết các tuyến quốc lộ đã đầy tải và quá tải trong khi việc xây dựng các tuyến thay thế hoặc mở rộng tuyến hiện
có rất chậm so với yêu cầu, dẫn đến sự thiếu mạng lưới đường ở khu vực ngoại thành
để kết nối với khu vực nội thành
Dòng giao thông liên tỉnh và giao thông nối khu vực ngoại thành với nội thành vẫn đang phải đi xuyên qua khu vực nội thành do hiện nay mới chỉ có 4 cầu qua sông Hồng (4 cầu ở khu vực nội thành, còn lại ở ngoại thành) trong đó cầu Thanh Trì chưa hoàn thành đường dẫn phía Nam
Các tuyến tỉnh lộ hầu hết là đường cấp V, chủ yếu đường 1-2 làn xe, mặt đường thấm nhập nhựa và cấp phối rộng 5-7 m, nền đường rộng 6-9m Các tuyến tỉnh lộ phân
bố khá hợp lý và đồng đều cho tất cả các vùng Các tuyến huyện lộ có quy mô nhỏ hẹp, t lệ mặt đường được cứng hóa thấp (chiếm khoảng 35-40%)
Cầu vượt sông lớn: qua sông Hồng có 5 cầu, sông Đuống có 3 cầu, sông Đà có 1 cầu, sông Đáy có 4 cầu Có 4 cầu ở khu vực nội thành, còn lại ở ngoại thành Phần lớn giao cắt giữa các tuyến giao thông đang là nút giao đồng mức đơn giản, số nút tổ chức giao thông khác mức ít (khoảng10 nút)… chủ yếu là ở nội thành
Trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 11 bến xe liên tỉnh hàng ngày tiếp nhận bình quân 3.500-4.000 lượt xe ra vào, bao gồm bến xe Giáp Bát, Mỹ, Gia Lâm, Nước Ngầm, Lương Yên, Hà Đông, Sơn Tây, Đan Phượng, Thường Tín, Chúc Sơn, Hoài Đức và trạm đón khách Thanh Xuân Như vậy là có 7 bến xe ở khu vực nội thành, 4 bến xe ở các thị trấn, thị xã khu vực ngoại thành
Đư ng sắt: Hà Nội là đầu mối đường sắt quan trọng nhất cả nước, tuy nhiên, vận
tải đường sắt có sức cạnh tranh kém hơn các loại hình giao thông khác và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Nguyên nhân chủ yếu là hạ tầng giao thông đường sắt của Việt Nam còn rất yếu kém và lạc hậu Đường sắt đô thị đã có quy hoạch
từ lâu, nhưng chưa thực hiện được Hiện nay đang lập dự án đầu tư hai tuyến: (1) Nhổn - Cầu Giấy - Ga Hà Nội và (2) Hà Đông - Trung tâm - Nội Bài Đây là 2 tuyến đường sắt đô thị đầu tiên sẽ liên kết giữa ngoại thành và nội thành Hiện chưa có tuyến vận tải công cộng đường sắt khối lượng lớn kết nối với sân bay để vận chuyển nhanh hành khách từ sân bay ở ngoại thành về khu vực nội thành
Đư ng th y: Với vị trí thuận lợi, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, là nơi
hợp lưu của sông Hồng và sông Đà, là nơi sông Hồng tách ra chi lưu lớn nhất là sông Đuống, Hà Nội có hệ thống giao thông đường thu nội địa và sông pha biển rất thuận lợi Tuy nhiên, t trọng vận tải đường thu đi đến Hà Nội còn thấp so với tiềm năng Đường thủy được sử dụng chủ yếu cho vận tải hàng hóa Việc sử dụng đường thủy để vận tải hành khách kết nối giữa ngoại thành và nội thành còn rất hạn chế
Đư ng hông: Hà Nội hiện có 5 sân bay, tuy nhiên chỉ có 2 sân bay đang khai
thác dân dụng: sân bay Nội Bài (nằm ở huyện Sóc Sơn, ngoại thành) và sân bay Gia Lâm (nằm ở quận Long Biên, nội thành) Hiện chưa có tuyến vận tải công cộng đường sắt khối lượng lớn kết nối với sân bay để vận chuyển nhanh hành khách từ sân bay ở ngoại thành về khu vực nội thành
Một số đặc điểm của hệ thống giao thông tại thành phố Hà Nội:
Trang 11- Mạng lưới đường Hà Nội đang bị quá tải nặng nề do việc phát triển hệ thống còn cách xa so với tốc độ tăng dân số và, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội Sự quá tải này thể hiện trên tất cả các mặt, từ diện tích đường so với diện tích xây dựng đô thị, dân số và số lượng phương tiện, mật độ mạng lưới, các nút giao thông, hệ thống vận tải hành khách công cộng, bến bãi đỗ xe và các công trình phục vụ giao thông khác
- Quá trình đô thị hóa tăng nhanh và sự gia tăng đột biến của phương tiện giao thông trong 10 năm trở lại đây làm suy giảm rất lớn chất lượng MTGT tại Thủ đô Hà Nội Tai nạn giao thông là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, ùn tắc giao thông làm tê liệt và ngưng trệ hoạt động của đô thị, ô nhiễm khí thải, bụi, tiếng
ồn, an toàn giao thông và cảnh quan đô thị có chuyển biến xấu tới mức báo động
- TP Hà Nội, các chỉ tiêu đánh giá về hệ thống giao thông đô thị ở mức rất thấp Quỹ đất giao thông hiện trạng chỉ chiếm dưới 8% đất xây dựng đô thị, đáp ứng được dưới 40% mức hợp lý T lệ đáp ứng về vận tải hành khách công cộng thấp hơn 15%, trong khi đó mức độ hợp lý 40-60% Chính sách về phát triển cơ cấu phương tiện, cơ cấu vận tải trong đô thị hầu như không được triển khai Hoàn thiện hạ tầng thường chậm hơn rất nhiều so với nhu cầu Sử dụng nguồn vốn đầu tư xây dựng và khai thác
hệ thống hạ tầng cũng còn nhiều điều bất cập Điều đó diễn ra cả ở khu vực nội thành
và khu vực ngoại thành
- Các công trình phục vụ giao thông đô thị thiếu các đầu mối giao thông khác
mức; cầu, hầm cho người đi bộ, đặc biệt là bến bãi đỗ xe, chủ yếu các điểm đỗ xe tận dụng lòng hè đường có 139 điểm đỗ với tổng diện tích 75.634,85 m2 Diện tích bãi đỗ
xe quá nhỏ so với nhu cầu và các điểm phân bố không đều, đặc biệt thiếu ở khu vực trung tâm diện tích trung bình 544 m2/1 điểm đỗ
- Vận tải hành khách công cộng chiếm t lệ thấp, các phương tiện vận tải cá nhân hai bánh giữ vai trò chủ đạo Trong vùng chỉ có thành phố Hà Nội, có tổ chức hệ thống giao thông xe buýt công cộng, vì thế chưa thể đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân Các phương tiện giao thông công cộng chưa thu hút được hành
- Các phương thức vận tải bằng đường bộ, đường sắt, đường sông, hàng không hoạt động thiếu sự kết nối thống nhất, thông qua các trung tâm tiếp vận đa phương thức nên không những ít hỗ trợ mà còn làm cản trở lẫn nhau;
- Tổ chức giao thông, phân luồng, phân làn còn chưa hợp lý làm giảm sút công suất của đường và phố;
- Vận tải bằng đường sắt hầu như không có vai trò gì trong vận tải nội đô;
- Không kiểm soát được phương tiện giao thông cá nhân, đặc biệt xe máy ngày càng tăng, làm tăng thêm ùn tắc giao thông và khó khăn trong công tác quản lý đô thị hiện nay
- Tình trạng ùn tắc giao thông ở Thủ đô Hà Nội ngày càng phổ biến và nghiêm trọng hơn, nhất là trong giờ cao điểm Trên các tuyến theo hướng Đông - Tây và các tuyến vành đai thiếu liên thông, đặc biệt các tuyến cửa ngõ vào thành phố, khu vực giáp ranh giữa nội thành và ngoại thành tình trạng ùn tắc thường xuyên và kéo dài
- Giao thông ở khu vực ngoại thành về cơ bản đáp ứng được yêu cầu trước mắt Tuy nhiên tại một số khu vực sự phát triển khá mạnh của các khu công nghiệp, các làng nghề đã cho thấy sự quá tải của hệ thống giao thông do thành phố và các huyện quản lý (các tuyến tỉnh lộ, đường huyện và liên xã) Đối với các tuyến quốc lộ qua các
Trang 12huyện ngoại thành Hà Nội phần lớn thiếu đường gom dân sinh, các đoạn qua các thị trấn, thị tứ có mặt cắt ngang hẹp, chưa phân rõ giao thông liên tỉnh và giao thông địa phương, làm giảm khả năng thông xe và mất an toàn giao thông trên các tuyến quốc lộ
- Vận tải bằng xe buýt đã có dấu hiệu bão hòa và kém hiệu quả do kết cấu hạ tầng giao thông yếu kém Trên địa bàn Thành phố có 104 doanh nghiệp hoạt động với khoảng 10.000 xe taxi Hoạt động vận chuyển hành khách bằng taxi năm 2008 ổn định
và có chiều hướng gia tăng, góp phần cùng các phương thức vận tải khác giải quyết tốt nhu cầu đi lại của nhân dân Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt và bằng taxi
đã góp phần quan trọng cho việc lưu thông hành khách giữa nội thành và ngoại thành, tuy nhiên còn thiếu loại GTCC có sức chở lớn (tàu điện ngầm, đường sắt trên cao)
I.1.1.2 Cấp nước
I.1.1.2.1 Nguồn nước
Trên địa bàn thủ đô Hà Nội có 3 con sông lớn có khả năng cấp nước cho thủ đô
Hà Nội là Sông Hồng, sông Đà và sông Đuống Tuy nhiên hiện nay chỉ có 1 dự án đang khai thác nước sông Đà phục vụ cho nhu cầu dùng nước của thủ đô Hà Nội Nước mặt sông Đà được khai thác cung cấp nước thô cho nhà máy nước sông Đà với công suất 300.000 m3/ngđ và tương lai 1.200.000 m3/ngđ cung cấp cho cả khu vực nội thành và ngoại thành Hà Nội
Hiện nay trên địa bàn Hà Nội cũ, nước ngầm được sử dụng là nguồn nước chính cấp cho các nhu cầu của đô thị và khu dân cư nông thôn Tại Hà Đông, Sơn Tây và các huyện thuộc địa bàn Hà Tây cũ nước ngầm cũng là nguồn nước chủ yếu cấp cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư Tổng lượng nước khai thác tại Sơn Tây và Hà Đông 56.000
m3/ngđ Tất cả các mẫu nước ngầm đều có chứa sắt, mangan với hàm lượng Sắt max
từ 10-24,5 mg/l, hàm lượng sắt trung bình từ 5,06-14,83 mg/l Một số khu vực trên địa bàn Hà Nội nước ngầm bị nhiễm Asen đặc biệt là khu vực phía Nam Hà Nội Chất lượng nước ngầm của các nhà máy nước phía Nam: Hạ Đình, Tương Mai, Pháp Vân, Nam Dư có hiện tượng ô nhiễm Hay có thể nói nguồn nước ngầm phía Nam Hà Nội đặc biệt là phía Nam vành đai 3 không phù hợp làm nguồn nước cấp cho sinh hoạt I.1.1.2.2 Hiện trạng cấp nước thành phố Hà Nội
a Nhà máy nước
Các nhà máy nước lớn tập trung phần lớn tại Hà Nội cũ, Hà Đông và Sơn Tây Thị trấn và một số cụm dân cư nông thôn xây dựng các trạm cấp nước quy mô nhỏ Các huyện ngoại thành hầu hết chưa có nhà máy nước mà mới có trạm cấp nước Hiện nay đa số các nhà máy nước và trạm cấp nước khai thác từ nước ngầm Tại
10 quận nội thành có 13 nhà máy nước với tổng công suất 585.000 m3/ngđ Tại khu vực phía Bắc sông Hồng có hai nhà máy nước có tổng công suất khai thác hiện nay là 29.000 m3/ngđ Chỉ có một nhà máy nước mặt khai thác nước mặt sông Đà công suất 300.000 m3/ngđ và tương lai 1.200.000 m3/ngđ, đặt ở ngoài khu vực ngoại thành, thuộc tỉnh Hòa Bình
b Công trình thu nước
Công trình thu nước ngầm: Tất cả các nguồn nước thô cung cấp cho nhà máy
nước và trạm cấp nước của Hà Nội được khai thác từ nguồn nước ngầm Các giếng khoan khai thác có độ sâu trung bình từ 60-70m thu nước từ tầng chứa nước cuội sỏi
Trang 13qp1 có chiều dày từ 20-60m Tổng số 207 giếng đang khai thác với tổng sông suất 542.020 m3/ngđ
Công trình thu nước mặt: Nhà máy nước mặt khai thác nước sông Đà công suất
300.000 m3/ngđ Vị trí khai thác nước mặt tại xã Yên Quang huyện Lương Sơn tỉnh
Hoà Bình
c Hiện trạng sử dụng nước
Dân cư sử dụng nước máy tập trung phần lớn tại các đô thị Nước được cấp bởi các nhà máy nước lớn và các trạm cấp nước tập trung quy mô nhỏ T lệ dân được cấp nước tính cho toàn thành phố: T lệ hộ sử dụng nước máy: 46%; T lệ hộ sử dụng nước giếng khoan, giếng đào, nước mưa, nước ao hồ 54% T lệ dân sử dụng nước hợp vệ sinh là 80% Tại khu vực nông thôn dân cư sử dụng các loại hình khác nhau: từ
hệ thống cấp nước đô thị, từ hệ thống cấp nước tập trung, giếng khoan, giếng đào, ao, ngòi, sông, hồ
I.1.1.3 Thoát nước
I.1.1.3.1 Thoát nước mưa:
Nội thành Hà Nội, thị xã Sơn Tây đều đã có hệ thống thoát nước chung, mặc dù vài năm gần đây có được nâng cấp song vẫn chưa hoàn chỉnh Tại trung tâm của các
đô thị mạng thoát nước đã quá cũ, khẩu độ nhỏ không đáp ứng được khả năng thoát nước theo sự phát triển của đô thị Hầu hết kết cấu của các hệ thống thoát nước tại các
đô thị là hỗn hợp: cống ngầm, mương nắp đan, mương hở kết hợp với hệ thống hồ điều hòa và các trạm bơm
Tại các khu công nghiệp và các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội đều xây dựng
hệ thống thoát nước riêng, tuy vậy vẫn chưa triệt để Tại các khu công nghiệp sau xử
lý cục bộ vẫn xả trực tiếp ra khu vực trũng gần kề, còn tại các khu đô thị mới thì tuy mạng cống ngầm riêng nhưng chưa có trạm xử lý vì vậy vẫn xả chung
Tại các thị trấn mới chỉ có một hai tuyến cống qua trung tâm, còn lại là các rãnh đất hoặc chảy tràn theo độ dốc địa hình Tại các xã, làng xóm nước mưa tự chảy theo
độ dốc địa hình
Hệ thống thoát nước của nội thành Hà Nội đang sử dụng là hệ thống cống chung, gồm 3 thể loại là cống ngầm trong khu vực nội thị cũ, mương hở kết hợp cống và mương hở Nằm trong hệ thống thoát nước là cả một hệ thống các hồ điều hòa và hệ thống kênh tiêu thủy lợi
Hiện nay tại nội thành Hà Nội mỗi khi xảy ra các trận mưa >100mm vẫn bị úng trên 100 điểm, riêng trong nội thành khoảng 60 điểm Nguyên nhân gây úng cục bộ và úng những khu vực trũng là do địa hình thấp cục bộ, cống bị tắc, kích thước cống quá nhỏ hoặc các đường bao xung quanh khu cao hơn địa hình bên trong Tại Hà Nội khi những trận mưa lớn >200mm xảy ra thường bị ngập úng toàn cục Các vùng ngập nặng
là Thanh Trì, Đống Đa, Từ Liêm Nguyên nhân do mực nước ở miệng xả cuối cùng của thành phố cũ tại đập Thịnh Liệt bị dâng cao trên 4,5 m, thậm chí trên 5-5,7 m Mực nước này phụ thuộc vào mực nước sông Nhuệ ở hạ lưu đập Hà Đông vì lưu vực của cả 4 sông Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu đều thoát qua họng xả ở Thịnh Liệt và đổ vào sông Nhuệ tại hạ lưu đập Hà Đông Những năm vừa qua Hà Nội đã thực hiện nạo vét, kè hóa và tiến tới kín hóa các trục tiêu chính và đã xây dựng trạm bơm Yên Sở
Trang 14Với công suất của giai đoạn I - 45 m3/s trạm bơm Yên Sở đã làm giảm úng ngập đáng
bị úng ngập cục bộ, đặc biệt vào tháng 11/2008 mưa lớn bất thường, mực nước sông Nhuệ tràn đê làm cho Hà Đông bị úng ngập nghiêm trọng
Tại các khu công nghiệp và các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội đều xây dựng
hệ thống thoát nước riêng, tuy vậy vẫn chưa triệt để Tại các khu công nghiệp sau xử
lý cục bộ vẫn xả trực tiếp ra khu vực trũng gần kề, còn tại các khu đô thị mới thì tuy mạng cống ngầm riêng nhưng chưa có trạm xử lý vì vậy vẫn xả chung Tại các thị trấn mới chỉ có một hai tuyến cống qua trung tâm, còn lại là các rãnh đất hoặc chảy tràn theo độ dốc địa hình.Tại các xã, làng xóm nước mưa tự chảy theo độ dốc địa hình I.1.1.3.2 Thoát nước thải
a Nước thải sinh hoạt đô thị
Các đô thị đang sử dụng hệ thống thoát nước chung, mật độ cống thoát nước không đều, chủ yếu ở trung tâm các đô thị Các khu đô thị mới có thiết kế cống thoát nước riêng nhưng chưa xây dựng các công trình trên tuyến (trạm bơm, trạm XLNT),
do đó nước thải chỉ xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại, chưa đạt yêu cầu về môi trường Mương cống thoát nước có kích thước nhỏ, chất lượng kém, thường bị lắng đọng đất cát do xây dựng, quản lý, nạo vét không thường xuyên, làm giảm khả năng tiêu thoát Khi mưa lớn ngập úng xảy ra ở nhiều nơi trong nội thị, gây ô nhiễm môi trường,
ùn tắc giao thông, thiệt hại kinh tế
Lượng nước thải qua xử lý đạt tiêu chuẩn còn nhỏ so với yêu cầu (chưa tới 10%) Các trạm XLNT đã xây dựng có công suất nhỏ, hoạt động không ổn định Ở Thị trấn các huyện, Lượng nước thải còn ít, chủ yếu xả phân tán, tự thấm và chảy ra các nơi đất trũng, kênh mương xung quanh
b Nước thải công nghiệp:
Hiện có 6 khu công nghiệp có trạm XLNT trong tổng số 16 KCN đã hoạt động
và đang xây dựng, đạt t lệ 37,5% số khu công nghiệp, t lệ còn thấp so với yêu cầu
Có 21/100 cơ sở công nghiệp có nguồn thải ra lưu vực sông Nhuệ - Đáy có công trình
xử lý nước thải, đạt t lệ 21% T lệ còn thấp so với yêu cầu
c Nước thải y tế:
Toàn thành phố có 22/55 bệnh viện chính có trạm XLNT, đạt t lệ 40% Một số trạm XLNT trong đó hoạt động không thường xuyên do yếu kém trong quản lý và thiếu kinh phí vận hành
I.1.1.4 Chất thải rắn
I.1.1.4.1 Thu gom chất thải rắn
Toàn thành phố đã thu gom được 1.079.000 tấn/năm đạt 83,2% tổng lượng CTR phát sinh trong đó: Khu vực nội thành Hà Nội cũ: 936.270 tấn/năm đạt t lệ 86,2%;
Trang 15Khu vực quận Hà Đông: 69.350 tấn/năm đạt t lệ 80%; Khu vực thị xã Sơn Tây: 27.380 tấn/năm đạt t lệ 70%; Khu vực Xuân Mai - Mỹ Đức: 36.500 tấn/năm đạt t lệ 60%; Các huyện khác: 9.400 tấn/năm t lệ đạt 40%
Hà Nội đang tiến hành thí điểm phân loại CTR tại nguồn ở 4 phường nội thành
cũ Một phần CTR cũng được phân loại tự phát do người dân thu gom bán cho các cơ
sở tái chế
I.1.1.4.2 Xử lý chất thải rắn
Thành phố chỉ có 1/6 khu xử lý CTR có bãi chôn lấp hợp vệ sinh (đạt t lệ 16,6%) Có 3 nhà máy tái chế CTR, tổng công suất 170 tấn/ngày, đạt t lệ 6% Các nhà máy chưa hoạt động hết công suất Có 1 khu xử lý CTR công nghiệp, quy mô nhỏ, thu gom khoảng 40 tấn/ngày đạt 14,3% tổng lượng phát sinh Một số lò đốt chất thải y
tế hoạt động chưa hết công suất, không đủ khoảng cách ly, do đặt trong các bệnh viện gây ô nhiễm môi trường xung quanh
I.1.1.5 Nghĩa trang
Tổng đất nghĩa trang toàn thành phố 2.856 ha chiếm khoảng 0,85% đất tự nhiên
Hà Nội mới Trong số các nghĩa trang chỉ có nghĩa trang Thanh Tước có hệ thống thu gom nước rỉ, xử lý môi trường nằm ở khu vực ngoại thành Hầu hết các nghĩa trang không đủ khoảng cách ly, do phát triển đô thị Hình thức mai táng chủ yếu là hung táng, cải táng Riêng nghĩa trang Văn Điển có khu hoả táng, t lệ hoả táng ngày càng tăng nhưng vẫn nhỏ so với quận nội thành hình thức táng truyền thống
Địa bàn Hà Nội chỉ có 2 nhà tang lễ chuyên dùng Ngoài ra ở các bệnh viện lớn đều có nhà tang lễ Các nhà tang lễ trong khuôn viên bệnh viện gây ảnh hưởng đến tâm
lý bệnh nhân và nhân dân xung quanh do không đủ khoảng cách ly
I.1.1.6 Cấp điện và chiếu sáng
Hà Nội là vùng phụ tải lớn của toàn miền Bắc và toàn quốc nói chung Trung bình chỉ tiêu điện năng thương phẩm trên đầu người tại Hà Nội tương đối cao Giai đoạn chưa mở rộng thành phố Hà Nội, từ năm 2001 đến năm 2006, tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện tăng từ 19 đến 16%/năm, tổn thất giảm dần từ 11,26% xuống 9% vào năm 2006 Năm 2008 ước còn 7,12%
Trang 16Các quận nội thành trung tâm phần lớn đường dây trung áp đã chuyển thành cáp ngầm với chất lượng vận hành tốt, khu vực ngoại thành hầu hết vẫn là các tuyến dây đi nổi
Về kết cấu lưới, khu vực nội thành hầu hết là dạng mạch vòng vận hành hở, độ tin cậy và mức độ dự phòng đảm bảo; mạng trung áp chuẩn 22KV vận hành với hiệu quả cao Kết cấu lưới trung áp các huyện ngoại thành chủ yếu là các đường dây nổi hình tia, các đường dây, nhất là các tuyến 6KV, 10KV xây dựng đã lâu nên tổn thất công suất và điện áp lớn; độ tin cậy của mạng lưới thấp
Về các trạm biến áp phân phối, hiện tại chủ yếu gồm các loại trạm xây, trạm treo, trạm kiosk, trạm cột Khu vực nội thành đã lắp đặt được một số lượng lớn trạm xây, trạm kiosk, trạm cột để phục vụ ngầm hoá lưới điện, tiết kiệm diện tích và đáp ứng yêu cầu mỹ quan đô thị Các trạm treo chủ yếu phân bố ở các quận mới và các huyện ngoại thành Ngoài ra còn có tới 51 trạm trung gian cấp điện áp 35/6KV, 35/10KV vẫn còn tồn tại và đều nằm ở các huyện ngoại thành cũ
Lưới hạ áp vùng ven nội và ngoại thành nói chung chất lượng còn thấp, cũ nát nên có tổn thất cao
Lưới điện 110KV của Hà Nội rất phát triển và cơ bản đã tạo thành các mạch khép kín Hệ thống lưới điện 110KV của Hà Nội mở rộng có liên quan trực tiếp đến lưới điện của các tỉnh thuộc vùng thủ đô như Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam và Hoà Bình
Tình hình vận hành các trạm 110KV trên địa bàn TP Hà Nội năm 2009 đã xuất hiện tình trạng quá tải hàng loạt Có khoảng 15/31 trạm 110KV xảy ra quá tải, đặc biệt
là các trạm Hà Đông, Chèm, Nghĩa Đô, Đông Anh với mức cao nhất đến 32%
Hiện nay, khu vực Hà Nội vẫn tồn tại nhiều cấp điện áp trung áp là 35KV, 22KV, 10KV và 6KIII Tuy nhiên, tốc độ chuyển đổi sang cấp điện áp chuẩn 22KV những năm gần đây diễn ra khá nhanh Khu vực Hà Tây cũ lưới trung áp 22KV chưa phát triển do thiếu nguồn cung và các tuyến đường dây có tiêu chuẩn kỹ thuật chưa phù hợp Các quận nội thành trung tâm phần lớn đường dây trung áp đã chuyển thành cáp ngầm
với chất lượng vận hành tốt, khu vực ngoại thành hầu hết vẫn là các tuyến dây đi nổi
I.1.1.6.2 Chiếu sáng đô thị
Lưới điện chiếu sáng đô thị Hà Nội phần lớn thuộc sự quản lý và vận hành của công ty chiếu sáng đô thị Hà Nội (Hapulico) Lưới điện chiếu sáng các khu vực đô thị mới sát nhập sau khi mở rộng thành phố hiện vẫn được phân cấp cho công ty công trình đô thị hoặc phòng công thương đô thị quản lý
Tính đến 01/01/2009, công suất tổng của hệ thống chiếu sáng công cộng các quận nội thành, đường quốc lộ Hà Nội đã đạt đến 10.102KW; tổng chiều dài tuyến chiếu sáng 1838km trong đó chiếu sáng xóm, ngõ đạt 889km; chiếu sáng đèn đường, cảnh quan đạt 949km Các tuyến chiếu sáng mới đầu tư được lắp đặt các loại đèn chất lượng cao, đẹp, như đèn Rainbow, đèn Masteur, đèn Maccot; Tổng số đèn chất lượng thấp đang sử dụng khoảng 13.000 bộ, chiếm đến 25% tổng số đèn trên lưới
Nguồn sáng: hiện tại thành phố còn rất nhiều tuyến đèn sử dụng bóng cao áp Thu ngân có hiệu suất phát quang chỉ thấp, gây lãng phí điện năng lớn
Mức độ chiếu sáng: Trên các tuyến sử dụng choá đèn chất lượng thấp, lắp bóng cao áp thu ngân, mức độ chiếu sáng rất thấp Do chưa có chế độ thay bóng định kỳ
Trang 17hàng loạt khi đèn hết tuổi thọ, quang thông sụt giảm mạnh nên chất lượng chiếu sáng còn bị giảm sút hơn nữa, dẫn đến các chỉ tiêu kỹ thuật ánh sáng không đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn qui định Kết quả đo kiểm độ chói trung bình trên nhiều tuyến phố chỉ còn Ltb=0,32-0,6 Cd/m2, nhỏ hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn TCXDVN 259: 2001 quy định là Ltb=1,0-1,2 Cd/ m2
Kết cấu lưới điện: cột đèn sắt độc lập cao 9,5÷10m, hình thức đẹp mới chỉ chiếm khoảng 12%, trong khi đó các loại cột đèn sắt tận dụng, cột đèn bê tông ly tâm có kích thước to, thô, cần đèn đơn điệu có đến trên 34.000 cột chiếm 78% tổng số cột đèn (khoảng 42.480 cột) Hệ thống dây cáp các loại mới chỉ có khoảng 387km cáp điện đi ngầm, chiếm 22%
Về công nghệ và thiết bị điều khiển: Mặc dù đã có trung tâm điều khiển và giám sát hệ thống CSCC ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông tin trên đường dây tải điện PLC, có khả năng: Điều khiển đóng cắt và giám sát tình trang làm việc của từng mạch vòng, của từng tủ chiếu sáng, quan sát trực tiếp tức thời các thông
số điện áp, dòng điện, tuy nhiên trung tâm này hiện nay mới chỉ quản lý được một phần nhỏ (15%) các trạm đèn (chủ yếu là khu vực 4 quận nội thành cũ)
I.1.1.7 Công viên cây xanh
Quy hoạch xây dựng các không gian xanh, mặt nước, các công viên, vườn hoa cho Thủ đô Hà Nội là hết sức quan trọng đặc biệt là khi địa giới hành chính Thủ Đô
Hà Nội đã được mở rộng gấp 4 lần Vì vậy nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất và bảo
vệ không gian xanh, mặt nước, môi trường sống, bảo tồn di tích thiên nhiên trong các công viên vườn hoa là nhiệm vụ rất quan trong với hiện trang không gian xanh đô thị Mặt nước và cây xanh chính là những yếu tố mang lại nét đặc trưng cho thành phố Hà Nội Với tổng diện tích cây xanh, mặt nước trên 14 quận, huyện nội thành cũ
và huyện Mê Linh khoảng hơn 10.000 ha, chiếm 9,5% tổng quỹ đất, có thể coi Hà Nội
là một thành phố của cây xanh và sông, hồ
a Khu vực ngoại thành
Chủ yếu là khu vực rừng tự nhiên, khu vực nông nghiệp chiếm 56,5% tổng diện tích Khu vực rừng tự nhiên hiện tại đang dần bị khai thác lấn chiếm, làm ảnh hưởng tới môi trường sống của các loài động vật đang sinh sống, đồng thời một số nơi khai thác du lịch với mật độ cao gây ảnh hưởng tới mỹ quan của không gian tự nhiên vốn
có Khu vực nông nghiệp được khai thác bởi trồng lúa, trồng hoa màu, trồng hoa, cây cảnh và cây ăn quả, chủ yếu là trồng lúa
Sân golf là một loại hình không gian xanh vừa mang tính chất rèn luyện thể thao, vui chơi giải trí đồng thời các dự án đầu tư xây dựng sân golf còn được coi là phát triển du lịch, giải quyết lao động và tăng trưởng mạng nền kinh tế của khu vực Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại đây tình hình đất nông nghiệp bị khai thác để chuyển
đổi thành sân golf ngày một gia tăng
b Khu vực nội thành
Hệ thống cây xanh đô thị bao gồm: cây xanh công cộng và cây xanh chuyên môn Khu vực nội thành, mật độ che phủ cây xanh đạt 12% diện tích tự nhiên Theo kết quả điều tra tỉ lệ xanh trung bình ở nội thành Hà Nội hiện nay là 2,4m2
xanh/người Với khu phố cổ thì mật độ cây xanh chỉ đạt 0,2m2 xanh/người trong khi mật độ dân số là rất cao (1.000 người/ha)
Trang 18Diện tích công viên bình quân đầu người trong các quận là 0,9m2, ở nhiều khu vực nội thành cũ như Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, diện tích công viên bình quân đầu người đạt 1,2m2 và 1,7m2 Tổng diện tích công viên hiện nay trong 4 quận nội thành cũ hiện nay là 135ha, bình quân đầu người là 1,3m2 Tuy nhiên, đối với các quận đang đô thị hoá nhanh như Đống Đa, Thanh Xuân và huyện Gia Lâm thì t lệ này còn thấp chỉ đạt 0,05m2
c Khu vực mở rộng của Hà Nội:
Năm 2000 tổng diện tích đất tự nhiên của Thành phố Hà Nội chưa mở rộng là 92.097,45 ha trong đó diện tích đất cây xanh là 10749,49 ha chiếm 11%
Sau khi địa giới hành chính Thủ đô mở rộng, toàn thành phố Hà Nội có khoảng
60 công viên, vườn hoa lớn nhỏ với tổng diện tích 300ha, bình quân đạt 1.09 m2
/ng I.1.1.7.2 Hiện trạng mặt nước
Nằm ở vị trí Đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có hệ thống mặt nước phong phú bởi các dòng sông như: sông Đà, Hồng, Đuống, Nhuệ, Tô Lịch, Kim Ngưu,
Lừ, Sét…
Ngoài hệ thống các sông Hà Nội hiện nay là thành phố có số lượng ao hồ nhiều, diện tích ao hồ lớn so với các đô thị trong cả nước Tuy nhiên, diện tích ao hồ giảm mạnh trong các năm qua gây tình trạng úng lụt và tiêu thoát không tốt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan thiên nhiên của đô thị và làm mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường Sông hồ Hà Nội là nguồn tiếp nhận, dẫn, vận chuyển và chứa xử lý nước thải sinh hoạt công nghiệp và điều hòa nước mưa
Đồ án Điều chỉnh quy hoạch thành phố Hà Nội năm 1998, Hà Nội được mở rộng thêm về phía Bắc sông Hồng, dự kiến số lượng các ao hồ với tổng diện tích 2180 ha kể
cả các đầm, hồ nuôi cá III.III chiếm 8% đất xây dựng Sau khi sát nhập năm 2008, diện tích sông hồ mặt nước tại Hà Nội càng nhiều hơn và trở thành một đặc thù cảnh quan đô thị, một tài nguyên quý giá cho sự phát triển đô thị bền vững (bảng I.21) Chức năng của các hồ hiện nay của Hà Nội gồm các chức năng như điều hòa nước mưa, tạo cảnh quan vui chơi giải trí, xử lý nước thải, nuôi cá
Khu vực nội thành tập trung khá nhiều hồ, có tới 27 hồ đầm, trong đó các hồ lớn gồm Hồ Tây, Bảy Mẫu, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Thủ Lệ, Văn Chương, Giảng Võ Ngoài ra còn nhiều hồ, đầm lớn nhỏ khác phân bố khắp các quận huyện của thành phố
I.1.2 Thực trạng hạ tầng xã hội
Cơ chế quản lý, định hướng phát triển nhà ở còn thiếu và không ổn định đã không kiểm soát được các hoạt động phát triển nhà ở theo nhu cầu thực tế của xã hội và yêu cầu phát triển của thủ đô Đô thị hóa nóng, thiếu kiểm soát ở các khu vực ngoại thành trong điều kiện chưa được chuẩn bi về hạ tầng đã phá hỏng các không gian truyền thống tạo nên các không gian ở không tiện nghi, không phù hợp với điều kiện văn hóa
xã hội
I.1.2.1 Nhà ở
Vào cuối những năm 1950, thành phố chỉ phát triển ở phía hữu ngạn sông Hồng, trong đó các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm và khu vực phía nam Hồ Tây là trung tâm Thành phố được chia thành 4 quận nội thành và 4 huyện ngoại thành với tổng diện tích
Trang 19khoảng 200 km2 Đô thị hóa tập trung ở khu vực khu phố cổ và khu phố cũ trong thời
kỳ kinh tế kế hoạch hóa cho tới khi thực hiện chính sách Đổi mới chỉ giới hạn phía trong đường Vành đai 2 song song với sông Tô Lịch, giúp kiểm soát hiệu quả quá trình
đô thị hóa không theo quy hoạch ở phía ngoài Do đó, dân số đô thị chưa bao giờ vượt quá 1 triệu người Trong giai đoạn này, các khu nhà tập thể nhiều tầng như các khu Kim Liên, Giảng Võ, Thanh Xuân và các khu tập thể khác được xây dựng trong phạm
vi ranh giới vành đai 2 với sự giúp đỡ của Liên Xô cũ và các nước XHCN trước đây Phát triển đô thị tốc độ nhanh chỉ bắt đầu ở Hà Nội từ những năm 1990 sau khi thực hiện chính sách Đổi mới Kết quả so sánh khu vực đô thị trong các năm 1983,
1996 và 2003 cho thấy thành phố đã được mở rộng như thế nào trong 20 năm Sự phát triển diễn ra trong các khu vực ngoại vi của các khu vực đã phát triển và dọc các tuyến đường chính Khu vực đã phát triển trong trung tâm thành phố đã mở rộng từ 57 km2
lên 102 km2 trong khoảng thời gian này Mặc dù chính sách Đổi mới cho phép Hà Nội tiếp tục tăng trưởng dựa trên những tiềm năng sẵn có, đô thị hóa đã vượt ra ngoài ranh giới VĐ2 Dưới đây là các đặc điểm của quá trình đô thị hóa không theo quy hoạch:
- Bùng nổ xây dựng nhà ở của người dân những năm 1990: Các hộ gia đình có thu nhập tăng do kết quả của công cuộc Đổi mới đã đi đầu trong việc mở rộng ra phía ngoài khu vực đã phát triển dọc các tuyến huyết mạch đô thị chính (QL1, Ql5, QL6 và QL32), tạo nên hiện tượng “phố hóa” dọc các quốc lộ Những hộ gia đình này đã xây dựng các căn hộ biệt lập trên diện tích đất họ có ở những khu vực có cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn
- Phát triển các khu nhà ở: Nhằm giải quyết tình trạng phát triển nhà ở cá nhân ngày càng tăng và giành lại vai trò dẫn đầu trong phát triển nhà ở, Nhà nước đã bắt đầu triển khai xây dựng các khu nhà ở mới thông qua các doanh nghiệp nhà nước Các đơn
vị phát triển nhà ở tư nhân cũng có cơ hội tham gia do kết quả của chính sách Đổi mới, dẫn đến tình trạng phát triển các khu nhà ở không theo quy hoạch Trong những năm qua nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp về nhà ở, khuyến khích mọi thành phần đầu tư cải tạo, xây dựng nhà ở, mặt khác thành phố có chủ trương chuyển đổi quyền sở hữu quĩ nhà ở do nhà nước quản lý cho thuê sang sở hữu tư nhân bằng cách bán cho người thuê nhà Chính do những chủ trương tích cực đó, quĩ nhà ở tăng hàng năm tương đối nhiều, mặt khác đã hạn chế sự xuống cấp nghiêm trọng của quĩ nhà ở do nhà nước quản lý cho thuê (do giá cho thuê nhà thấp không có tiền tái đầu tư sửa chữa, nâng cấp nhà ở) Nhà ở Thủ đô Hà Nội rất đa dạng, phong phú về loại hình và chất lượng nhà ở Trong đó nhà ở phố cổ và nhà ở biệt thự kiểu Pháp ở phố cũ có rất nhiều giá trị di sản kiến trúc đô thị
Chất lượng nhà ở thủ đô cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước, hầu hết hộ gia đình đều có nhà ở Tuy nhiên, Hà Nội vẫn tồn tại một khối lượng lớn nhà ở chất lượng thấp như khu vực nhà ở cho lao động dịch cư, nhà ở phố cổ, nhà ở khu tập thể
cũ, nhà tạm và nhà ở người nghèo ở các khu vực nông thôn
Trên địa bàn thành phố, có khoảng 30% cán bộ, công nhân, viên chức được phân phối nhà ở từ những năm 1990 của nền kinh tế bao cấp, nay không còn chế độ bao cấp
về nhà ở nữa Năm 2003, 30% dân số Hà Nội sống dưới mức 3 mét vuông một người
Đa số các hộ gia đình trẻ chưa có nhà ở, phải ở ghép chung hoặc thuê nhà ở tạm do truyền thống văn hóa và những khó khăn về chỗ ở, mô hình 3, 4 thế hệ cùng sống chung trong một ngôi nhà còn phổ biến ở Hà Nội
Trang 20Chất lượng nhà ở: Nhà ở đang bị xuống cấp nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau
- Một phần quĩ nhà ở xây dựng đã lâu (hết niên hạn sử dụng, mặt khác một số bộ phận nhà ở do nhà nước quản lý - không được đầu tư sủa chữa thường xuyên)
- Xét về góc độ môi trường ở cũng rất nhiều vấn đề cần xem xét ví dụ: độ thông thoáng của nhà ở, điều kiện chiếu sáng tự nhiên một bộ phận đáng kể nhà ở (đặc biệt tại các khu phố cổ và một số khu vực rải rác trong các quận) cũng rất kém, nguyên nhân chính do mật độ xây dựng quá cao (có những khu vực 70-80%)
- Qua cuộc điều tra chọn mẫu do dự án nghiên cứu dân số và phát triển cho thấy 41,33% số hộ được điều tra cảm thấy điều kiện chiếu sáng tự nhiên chưa tốt; 2,7% không có chiếu sáng tự nhiên
Đặc điểm nhà ở các khu nhà ở điển hình:
+ Nhà ở khu phố cổ: Đặc trưng chính dạng nhà ống, xây dựng từ đầu thế k 19,
đã xuống cấp, mật độ xây dựng quá cao, có nhiều khu vực mật độ xây dựng từ 75-86%, điều kiện vệ sinh, môi trường ở rất kém, chất lượng nhà ở xuống cấp nghiêm trọng, rất
ít diện tích cây xanh (trừ cây xanh ven vỉa hè) và không gian vui chơi Theo báo cáo của sở nhà đất cũ thì 80% số nhà cần đầu tư sửa chữa, trong đó 50% nhà hư hỏng nặng cần đầu tư sửa chữa lớn Khu vực này cần nghiên cứu bảo tồn tôn tạo kết hợp cải tạo song vẫn phải giữ nét đặc trưng của khu phố cổ
+ Khu phố cũ: Các nhà ở biệt thự theo kiến trúc Pháp, đẹp, có giá trị thẩm mỹ và
sử dụng cao tuy nhiên hiện nay đã xuống cấp do sử dụng sai mục đích, nhiều hộ ở một nhà, chung đụng cơi nới, che vẩy lộn xộn khu vực này cần cải tạo, sắp xếp điều chỉnh mục đích và chủ sử dụng để phát huy đúng giá trí của nhà ở biệt thự
+ Nhà khu nhà ở chung cư thấp tầng (dưới 4 tầng): Nằm rải rác ở các quận Hai
Bà Trưng, Đống Đa, Ba Đình, Thanh Xuân hầu hết đã quá niên hạn sử dụng, hư hỏng nặng, không đồng bộ, thiếu hạ tầng kỹ thuật, các công trình phục vụ công cộng thiếu, môi trường ở kém, dân tự cơi nới bừa bãi (khu Mai Hương, khu Quỳnh Lôi, khu Lò Mổ )
+ Nhà khu nhà ở chung cư nhiều tầng (4-5-6 tầng): Các khu này phần lớn xây dựng từ những năm 70 - 80 như các khu Kim Liên, Trung Tự, Giảng Võ, Thành Công, Khương Thượng, Kim Giang, Thanh Xuân, Nghĩa Đô là những khu nhà ở thiết kế theo kiểu căn hộ với cơ cấu buồng phòng chất lượng có nhiều mức độ khác nhau về tiện nghi sinh hoạt, hệ thống các công trình dịch vụ trong khu ở thiếu, chất lượng xây dựng không cao Hiện nay có một số nhà, khu nhà đã biểu hiện xuống cấp như: dột, thấm, lún, nứt, nhiều nhà cơi vẩy làm giảm mỹ quan đô thị Các khu đất trống quanh nhà đã bị lấn chiếm cơi nới, một số khu đã được xây dựng "xen cấy" làm tăng mật độ xây dựng, giảm sự cân bằng hài hòa giữa không gian trống và các khối nhà cao tầng đã được tính toán khoa học
+ Các khu nhà ở phát triển mới: Các khu này phần lớn xây dựng từ những năm
1986 tới nay Từ thời bắt đầu xóa bỏ bao cấp về nhà ở, phần lớn được xây dựng theo phương thức: nhà nước và nhân dân cùng làm hoặc nhà nước phân đất dân tự đầu tư xây dựng hoặc dân tự xây dựng nhà ở, nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật Ở đây có chủ sở hữu rõ ràng (phần lớn là tư nhân) Do vậy nhà ở xây dựng tương đối hoàn chỉnh, khang trang hơn, tiện nghi hơn đa dạng về phong cách kiến trúc, tầng cao thông thường từ 2-4 tầng, cá biệt có nhà 5 tầng Tuy nhiên các khu nhà ở
Trang 21dạng này bộc lộ nhiều tồn tại đặc biệt về mặt quản lý qui hoạch và tạo cảnh quan không gian kiến trúc đô thị như xây dựng lộn xộn, vụn vặt, chắp vá, không góp phần tạo sự khang trang, bề thế cho mặt phố, chất lượng mỹ thuật của công trình, khối công trình không cao
- Trong thời gian qua Thành phố đã bước đầu giải quyết được nhà ở cho một bộ phận các gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với với cách mạng và người nghèo…, bên cạnh đó hàng năm Thành phố huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hàng triệu mét vuông nhà ở tạo nên bộ mặt mới cho đô thị Những khu đô thị mới hình thành đồng bộ hạ tầng đô thị hiện đại, cảnh quan môi trường và các dịch vụ đô thị đã góp phần tạo những bước đầu của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Đặc biệt góp phần hình thành nếp sống văn hóa văn minh đô thị
Giải quyết nhà ở phục vụ cho các cán bộ lão thành Cách mạng, thương binh liệt sỹ; Xây dựng nhà ở cho người nghèo; hỗ trợ 5 triệu/1 hộ nghèo có đất tại các huyện ngoài thành để cải tạo nơi ở Đến nay, Thành phố đã cơ bản xóa bỏ nhà dột nát của các
hộ nghèo
Xây dựng nhà ở cho sinh viên thuê: Đã thí điểm xây dựng trên diện tích 1.99ha tại khu chung cư cho sinh viên thuê với diện tích sàn 42.789m2 với giá 100.000 đồng /sinh viên/tháng
Xây dựng nhà ở cho cán bộ công nhân viên, người có thu nhập thấp: Thành phố quy định các dự án phát triển nhà ở phải dành 50% quỹ nhà ở chung cư bán cho cán bộ công nhân viên trên địa bàn Thành phố trên 3000 trường hợp
Kết quả đầu tư xây dựng nhà ở cho các đối tượng chính sách, người nghèo mới dùng ở mức độ các mô hình thí điểm, Hà Nội vẫn còn thiếu nhà ở nghiêm trọng, nhất
là đối với người nghèo, người thu nhập thấp, công chức, viên chức Theo số liệu điều tra sơ bộ của nhà ở cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội là rất thiếu quỹ nhà ở, vẫn còn hàng ngàn hộ phải sống trong điều kiện chỗ ở không đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu
Trang 22Về điều kiện sống: Do hệ thống hạ tầng đô thị bị quá tải và phát triển nhà ở không đồng bộ với phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội Hệ thống các
cơ sở hạ tầng khu ở khu vực trung tâm hầu hết là xuống cấp, chất lượng thấp hơn tiêu chuẩn và bị quá tải theo hệ thống hạ tầng chung của đô thị và bán kính phục vụ cao Các khu vực phát triển nhà ở mới, các dự án hạ tầng xã hội chậm thực hiện, người dân phải di chuyển sang các khu vực khác để sử dụng
Thị trường nhà ở của Hà Nội rất phát triển trong những năm gần đây, phần nào
đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội, tuy nhiên cần phải kiểm soát và định hướng phát triển theo định hướng phát triển bền vững của thủ đô Chất lượng nhà ở, chất lượng hạ tầng xã hội, chất lượng hạ tầng kỹ thuật và kết nối hạ tầng khung đô thị không đáp ứng được nhu cầu chung của xã hội
Trong quá trình hội nhập mạnh mẽ của đất nước, nhu cầu phát triển nhà ở của thủ
đô rất đa dạng: nhà ở cao cấp, nhà ở cho thuê, nhà ở hỗn hợp, nhà ở sinh thái, nhà ở nghỉ dưỡng tạo nên bức tranh phát triển nhà ở đa dạng, phong phú
Chính phủ đang thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt ở các đô thị lớn của cả nước nhằm cung cấp nhà ở cho các đối tượng chính sách, góp phần cải thiện điều kiện
ở và tạo sự cân bằng trong phát triển xã hội
I.1.2.2 Công trình Giáo dục - Đào tạo
Hệ thống trường học Hà Nội đã được hình thành từ lâu, tại những địa điểm quy
tụ được nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội và đặc biệt là các điểm dân cư tập trung góp phần tạo nên tính chất trung tâm về giáo dục của thủ đô Hà Nội
Hệ thống giáo dục của Hà Nội bao gồm hệ thống trường đại học, cao đ ng và trung học chuyên nghiệp do các bộ ngành quản lý và mạng lưới các trường phổ thông
từ bậc mầm non đến bậc PTTH Hệ thống trường đại học chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm nội thành, hệ thống các trường phổ thông tổ chức tầng bậc theo phân cấp hành chính quận huyện, xã phường và đặc điểm phân bố dân cư
Hệ thống giáo dục phổ thông được giữ vững và phát triển ở các cấp học, ngành học Mạng lưới trường học được bố trí tương đối hợp lý Cho đến nay phường xã nào cũng có các trường mẫu giáo, nhà trẻ, trường tiểu học, THCS; quận, huyện nào cũng
có từ 3 đến 6 trường PTTH, trung tâm giáo dục thường xuyên Thành phố đã xây dựng một số trung tâm chất lượng cao ở các ngành học và có hệ thống trường chuyên nghiệp dạy nghề phát triển đa dạng các loại hình đào tạo nghề Mạng lưới trường học này đã tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân không ngừng học tập, nâng cao trình độ T
lệ bỏ học giảm, hiệu xuất đào tạo được nâng cao Cấu trúc hệ thống giáo dục được thay đổi theo hướng đa dạng hoá loại hình đào tạo, đáp ứng sự thay đổi của kinh tế -
xã hội và nhu cầu người học
Bên cạnh hệ thống trường quốc lập, Thành phố đã quan tâm phát triển hệ thống trường bán công, dân lập, tư thục ở các ngành học theo quy chế mở trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tuy nhiên quá trình phát triển hệ thống trường đại học, cao đ ng trong những năm gần đây tại Thủ đô Hà Nội đã bộc lộ nhiều nhược điểm cơ bản như: cơ sở vật chất không đáp ứng nhu cầu cầu đào tạo, lượng lớn sinh viên tập trung vào khu vực trung tâm gây áp lực quá tải tới hệ thống hạ tầng đô thị, mô hình đào tạo không đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Hầu hết các cơ sở trường thiếu hệ thống hạ tầng hỗ trợ như khu ở nội trú, khu thực nghiệm, khu thể dục thể thao và khu dịch vụ hỗ trợ.Các cơ sở
Trang 23trường hiện có và xây mới do lịch sử phát triển đô thị có bán kính phục vụ không thuận lợi, khó tiếp cận
Các tồn tại trên đã khiến cho Thủ đô Hà Nội ngày càng chịu thêm sức ép về dân
số, dịch vụ đô thị và hạ tầng kỹ thuật đặc biệt là giao thông đô thị; đồng thời hạn chế
sự mở rộng phát triển các cơ sở đào tạo theo mô hình chuẩn của Quốc gia và Quốc tế Chính vì vậy đến nay công tác đào tạo đại học, cao đ ng chưa đáp ứng đủ nhu cầu cung cấp lực lượng lao động có trình độ và tay nghề cao, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước
I.1.2.3 Công trình Văn hóa - Thể dục thể thao
I.1.2.3.1 Hiện trạng hệ thống cơ sở văn hóa
Các công trình văn hóa chủ yếu trên địa bàn nội thành Hà Nội:
- Hệ thống trung tâm chiếu phim: hệ thống cơ sở các rạp phần lớn được xây
dựng vào thời kỳ đổi mới Vài năm gần đây, Nhà nước cho phép các công ty phim ảnh
tư nhân được phép tham gia vào việc sản xuất các phim Việt Nam Hiện tại có khoảng
21 rạp chiếu phim, trong đó có cả những cụm rạp chiếu phim đạt tiêu chuẩn quốc tế như Megastar, trung tâm chiếu phim Quốc Gia được xây dựng mới và có quy mô lớn
Sự phân bố của các rạp chiếu phim chủ yếu ở trung tâm của thủ đô và đô thị lớn như Sóc Sơn, Đông Anh, nên việc đáp ứng nhu cầu của người dân tại các đô thị và thị trấn, thị tứ thiếu nghiêm trọng Đồng thời chỉ có những rạp đủ tiêu chuẩn thu hút được khán giả, nhiều rạp chiếu phim chưa đủ tiêu chuẩn kỹ thuật như: chất lượng âm thanh và
hình ảnh kém, chỗ ngồi chưa hợp lý, tầm nhìn bị vướng, chỗ để xe chưa hợp lý
- Hệ thống rạp hát: Rạp hát là nơi giao lưu và truyền bá văn hoá, đời sống của
con người thông qua bộ môn nghệ thuật diễn trên sân khấu Văn hoá nghệ thuật được thịnh hành và phát triển mạnh từ xa xưa, tuy nhiên phải đến thời kỳ Pháp thuộc các nhà hát mới được xây dựng nhiều Hệ thống nhà hát trên địa bàn Hà Nội có khoảng 19 rạp, đặc biệt 12 rạp hát thuộc hai quận trung tâm là Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng, phân
bố không đồng đều, chủ yếu tập trung tại trung tâm của thủ đô, còn tại các huyện ngoại thành hầu như không có Chỉ có một số ít nhà hát đạt tiêu chuẩn như nhà hát Lớn xây vào thời Pháp thuộc được xây dựng năm 1902-1911, bảo trì thường xuyên, còn đa số không đạt chỉ tiêu về mặt kỹ thuật bên trong cũng như bên ngoài và thẩm mỹ kiến trúc
So với sự phát triển của xã hội hiện nay thì quy mô của các nhà hát không lớn Hạn chế nữa là nhiều rạp hát bị che chắn tầm nhìn bởi dân cư phát triển trong đô thị Trong
Trang 2419 rạp hát có 4 rạp hát chưa có rạp, một số dự án xây dựng rạp hát bị treo, nhiều rạp hát cũ bị phá bỏ hoặc chuyển đổi chức năng biến thành vũ trường, quán bia… Với đời sống của người dân ngày càng phát triển, nhu cầu về thưởng thức văn hoá cũng tăng theo và sự xuống cấp của hệ thống nhà hát không đủ để đáp ứng Các khu vực ngoài
trung tâm Hà Nội thiếu cơ sở rạp hát tạo nên sự hình thành của những hát lưu động
- Hệ thống trung tâm văn hóa: Là nơi giao lưu và hoạt động văn hóa cho mọi
người dân, cho mọi lứa tuổi Hệ thống trung tâm văn hoá được phân bố đồng đều trên toàn thành phố Tuy nhiên các trung tâm văn hóa chỉ được chú trọng tại đô thị trung tâm, tại các huyện ngoại thành chỉ được xây dựng với quy mô nhà văn hoá nhỏ Tình trạng các công trình thiếu thốn cơ sở vật chất, bộc lộ những hạn chế về mặt kiến trúc
và mau xuống cấp Đặc biệt ở các quận huyện xa trung tâm chưa hoạt động có hiệu quả Nhiều trung tâm văn hóa tuy được xây mới nhưng quy mô nhỏ, kém cả về chất
lượng và thẩm mỹ Thiếu những trung tâm văn hóa cấp quốc gia với quy mô lớn
I.1.2.3.2 Khu Thể dục thể thao
Các công trình thể thao cấp Thành phố phần lớn tập trung tại quận Ba Đình, trong đó tiêu biểu là các tổ hợp thể thao, được xây dựng từ nhiều năm trước đây Ngoài ra, trên địa bàn huyện Từ Liêm có một số trung tâm, khu liên hợp thể thao quốc gia đang được nâng cấp, đầu tư xây dựng Nhưng trong khu vực nội thành lại rất ít các công trình quy mô nhỏ phục vụ dân cư luyện tập, vui chơi Ngược lại, khu vực ngoại thành chủ yếu là các công trình quy mô nhỏ cấp xã, thôn, không được đầu tư, chất lượng kém Công trình TDTT cấp phường và tại các khu ở hầu như rất ít và nhiều nơi chưa có
Nhìn chung các công trình thể dục - thể thao trên địa bàn Hà Nội nói chung, của nội thành nói riêng rất thiếu về số lượng, kém về chất lượng và không đều về mặt phân
bố Hệ thống các công trình thể dục thể thao từ quy mô lớn đến quy mô nhỏ cần được đầu tư nhiều hơn nữa để phục vụ nhu cầu nhân dân
Phân cấp các công trình thể thao:
Khu TDTT cấp quốc gia: Hiện nay có Khu liên hợp TDTT Mỹ Đình nằm tại
phía Nam thành phố được xây dựng từ năm 2003 Sân vận động Mỹ Đình sức chứa 40.192 chỗ ngồi Là nơi diễn ra các giải thi đấu TDTT quốc gia và quốc tế diện tích
250 ha Trong đó khu vực thi đấu Quốc gia có diện tích: 190 ha, trung tâm đào tạo vận động viên cấp cao của Hà Nội có diện tích: 60 ha Tiêu chuẩn xây dựng đạt cấp quốc gia Đây cũng là công trình kiến trúc tiêu biểu cho thời kỳ “Đổi mới“ ở Hà Nội tuy nhiên quy mô chưa đủ để đáp ứng cho ASIAD và các hoạt động giao lưu mang tầm cỡ
quốc tế trong thời gian tới
Khu TDTT cấp Thành phố: Tập trung tại quận Ba Đình, gồm các tổ hợp thể
thao, được xây dựng từ nhiều năm trước đây như Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia I, Sân vận động Cột Cờ và cùng hơn 20 điểm sân bãi, nhà tập khác trừ nhà thi đấu Quần Ngựa Các công trình xây dựng theo tiêu chuẩn Việt Nam Do được xây dựng trong thời kỳ bao cấp, quỹ đất hạn chế nên hầu hếu các công trình này không có quảng trường thoát người khi xây ra sự cố Đến này khi thành phố mở rộng, dân số tăng nhanh chóng, các tuyến đường xung quanh khu TDTT ngày một trở nên chật chội Khi
có các buổi thi đấu diễn ra, các khu vực này trở nên tắc nghẽn giao thông lớn
Cấp quận huyện: Khu vực nội thành là các công trình phục vụ dân cư luyện tập,
vui chơi tuy nhiên quy mô nhỏ, cơ sở vật chất lạc hậu Khu vực ngoại thành chủ yếu là
Trang 25các công trình quy mô nhỏ, nhiều công trình không được đầu tư mà chỉ là mô hình như sân bãi TDTT ngoài trời Khả năng phục vụ cho khu dân cư rất hạn chế Theo thống
kê, trong tổng số 29 quận huyện của Hà Nội, chỉ có 14 quận huyện có 54 các công trình thiết chế TDTT cấp huyện, chiếm 50% Tập trung tại các quận nội thành cũ của
Hà Nội, Hà Đông và Sơn Tây
Các công trình thể thao phân theo địa bàn:
Trung tâm thể thao quốc gia với đầy đủ tiêu chuẩn quốc gia tập trung tại Mỹ Đình thành phố Hà Nội đáp ứng được hạ tầng vật chất TDTT của thành phố Hà Nội và của cả nước Sau khi Hà Nội mở rộng, hiện trạng một số huyện, thành phố cũng có sân
vận động, sân thể thao và nhà thi đấu tuy nhiên quy mô nhỏ, mức độ đầu tư còn thấp
Một số huyện chưa có sân vận động trung tâm, chưa có nhà luyện tập thể thao đa năng, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều cơ sở đang xuống cấp nghiêm trọng
I.1.2.4 Công trình Y tế
Hiện nay Hà Nội là một trong hai trung tâm y tế lớn nhất nước (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), một trong bốn trung tâm y tế chuyên sâu của cả nước (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng) đồng thời cũng là trung tâm đào tạo cán bộ ngành y, dược lớn nhất nước Hà Nội là nơi tập trung đội ngũ thầy thuốc có trình độ cao, có nhiều bệnh viện đầu ngành của TW, của các ngành cũng như của Hà Nội với trang thiết bị hiện đại Giữa các bệnh viện có mối quan hệ có thể hỗ trợ nhau về nghiên cứu, đào tạo nhân lực
và khoa học kỹ thuật vì sự nghiệp chung trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Sự tập trung một số lượng lớn các bệnh viện tuyến Trung ương và các Bộ, Ngành trên địa bàn Hà Nội là một lợi thế lớn cho nhân dân Thủ đô Tuy nhiên, việc tập trung mật độ cao các bệnh viện tuyến Trung ương trong nội thành (trong khi khu vực ngoại thành hầu như không có bệnh viện tuyến Trung ương) với số lượng rất lớn bệnh nhân
từ các tỉnh phía Bắc đến chữa bệnh đã làm hệ thống bệnh viện trở nên quá tải trầm trọng, gây áp lực đến cơ sở hạ tầng và môi trường khu vực nội thành Hà Nội Mạng lưới trạm y tế xã, phường, thị trấn hầu như phủ khắp địa bàn Hà Nội và được quan tâm đầu tư Tuy nhiên cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực y tế hiện nay vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu
a Các cơ sở khám chữa bệnh do Trung ƣơng quản lý
Hiện tại trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 32 cơ sở y tế do Bộ Y tế quản lý, trong đó: 16 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa có tổng diện tích 51,93 ha với 6.680 giường bệnh Các bệnh viện thuộc tuyến Trung ương tập trung hầu hết tại các quận nội thành, trong đó quận Đống Đa tập trung tới 7/15 bệnh viện chiếm gần 50% tổng số giường bệnh, quận Hoàn Kiếm có 4 bệnh viện, Hai Bà Trưng có 3 bệnh viện, quận Ba Đình và Cầu Giấy mỗi quận có 1 bệnh viện; 16 viện nghiên cứu và thực nghiệm y dược, trong đó có 8 cơ sở nghiên cứu có thực nghiệm điều trị với 1.030 giường bệnh
b Các cơ sở khám chữa bệnh do các Bộ, Ngành khác quản lý
Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có 09 bệnh viện và trung tâm khám chữa bệnh thuộc các Bộ, Ngành với tổng số 940 giường bệnh, bên cạnh đó còn có 05 bệnh viện thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng với hàng nghìn giường bệnh Các cơ sở này chủ yếu phục vụ cho các cán bộ công nhân viên chức thuộc các cơ quan Trung ương và các
Trang 26Bộ, Ngành quản lý theo quy định của Nhà nước, đồng thời cũng tham gia khám chữa bệnh cho nhân dân Hà Nội
c Các cơ sở y tế trực thuộc Thành phố Hà Nội
Tuyến Thành phố: Thành phố Hà Nội hiện có 40 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa
và y học cổ truyền, có tổng diện tích 68,91 ha với 7.980 giường bệnh Hà Nội còn có
19 trung tâm chuyên khoa, bao gồm các lĩnh vực y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kiểm dịch y tế quốc tế, giám định y khoa và 02 trường cao đ ng y tế công
lập và 1 trường trung học y dược dân lập đang được xây dựng
Tuyến quận, huyện, thị xã: Hà Nội có 29 trung tâm y tế quận, huyện, thị xã trong
đó có 7 trung tâm y tế có giường bệnh Tổng diện tích của 7 TT này là 2,15 ha với
tổng số 115 giường bệnh
Tuyến xã, phư ng, thị trấn: Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có 575 trạm y tế xã,
phường, thị trấn Mạng lưới hầu như phủ khắp địa bàn Hà Nội và được quan tâm đầu
tư Tuy nhiên cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực y tế hiện nay vẫn chưa đáp ứng
đủ nhu cầu
I.1.2.5 Công trình Thương mại
Nhìn chung mạng lưới thương mại trên địa bàn Hà Nội đã phát triển khá rõ, đạt được các thành tựu quan trọng, bước đầu đảm bảo tốt cho khâu lưu thông hàng hóa và thị trường thành phố Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng, tiêu thụ hầu hết sản phẩm hàng hóa sản xuất trên địa bàn, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và đời sống Phương thức hoạt động, công nghệ quả lý và điều hành kinh doanh của mạng lưới trên đà phát triển theo hướng văn minh, hiện đại và chuyên nghiệp Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng thương mại đã bước đầu được chăm lo đầu tư, củng cố và nâng cấp
Chợ: Số lượng chợ khá lớn Tuy nhiên số chợ được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố còn ít Nhiều chợ còn họp tự phát, chưa đúng quy hoạch Vốn đầu tư để nâng cấp chợ và xây dựng chợ mới, di dời chợ còn gặp rất nhiều khó khăn Công tác quản lý
và phát triển chợ những năm qua có nhiều cố gắng nhưng tiến độ triển khai quy hoạch còn chậm, chưa đồng bộ, hiệu quả còn hạn chế; Mạng lưới bố trí chưa hợp lý về bán kính phục vụ; Còn thiếu sự gắn kết hệ thống; Một số chợ đã quá tải ; Một số nằm kề sát đường giao thông chính gây ảnh hưởng đến giao thông, mất trật tự và mỹ quan Siêu thị và trung tâm thương mại: Phân bố không đều, phát triển còn mang tính
tự phát Số lượng siêu thị và trung tâm thương mại có quy mô lớn và trang bị hiện đại không nhiều; Thiếu bãi đỗ xe; hầu hết tập trung ở khu vực nội thành, khu vực ngoại thành rất ít và chỉ tập trung tại các thị trấn
Trung tâm hội chợ triển lãm: Nhu cầu kinh doanh và hoạt động hội chợ triển lãm ngày càng tăng Số lượng Hội chợ được cấp phép đều tăng qua từng năm Tuy nhiên chất lượng dịch vụ của các hội chợ triển lãm là vấn đề cần quan tâm
I.1.2.6 Công trình Dịch vụ du lịch
Nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu quốc tế, Hà Nội có điều kiện để phát triển giao thông cả về đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không nối với các quốc gia trên thế giới Đồng thời kết nối mạnh mẽ các hoạt động du lịch của Thủ đô với các trung tâm du lịch lớn như khu vực phía Bắc, Tây Bắc, phía Đông, Đông Bắc, phía Nam, phía Đông Hà Nội có rất nhiều danh lam thắng cảnh trù phú, nhiều cảnh quan tự nhiên độc đáo tạo ra nhiều không gian xanh trữ tình và thơ mộng Bên cạnh sự ưu đãi
Trang 27về thiên nhiên, Hà Nội còn là mảnh đất nghìn năm văn hiến, Thăng Long, Đông Đô, Đông Kinh với nhiều di tích lịch sử ghi lại dấu ấn hình thành và phát triển của thủ đô
Hà Nội đứng hàng đầu với 1853 di tích trong đó có 1050 di tích cấp quốc gia và
803 di tích cấp tỉnh, thành phố được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận xếp hạng Thăng Long - Hà Nội còn là một trong ba vùng tập trung nhiều lễ hội của miền Bắc Việt Nam với hơn 285 lễ hội dân gian truyền thống Làng nghề là một nét văn hoá của
Hà Nội với nguồn khai thác du lịch dồi dào, có khoảng 1264 làng nghề truyền thống phân bố trải rộng trong phạm vi toàn bộ thủ đô Hà Nội và là nơi tập trung làng nghề đông đúc bậc nhất Việt Nam Một số làng nghề truyền thống đã được đưa vào phát triển du lịch như phố Hàng Bạc với nghề kim hoàn, gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, nón Chuông Văn hóa Hà Nội còn được thể hiện qua nền âm nhạc có từ lâu đời như hát chèo, tuồng, ca trù, ả đào, hát văn, múa rối nước, hát chèo tàu, hát dô
Trong số hơn hàng nghìn di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn, được đưa vào chương trình du lịch phục vụ du khách hiện nay gồm gần 100 điểm nằm trên địa bàn của 18 Quận huyện, trong đó mật độ cao nhất là ở quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Tây Hồ,
Ba Vì, TP Sơn Tây, Gia Lâm
Mặc dù có vị trí địa lý thuận lợi, có nguồn tài nguyên du lịch đa dạng phong phú, nhưng theo thống kê cho thấy du lịch Hà Nội không phải là một thành phố du lịch hấp dẫn Với nhiều du khách quốc tế, thành phố chỉ là điểm chuyển tiếp trên hành trình khám phá Việt Nam của họ Tình trạng thiếu phòng cao cấp, thiếu các tiện ích phục vụ
du lịch, các sản phẩm du lịch của Hà Nội chưa phát triển so với các thành phố khác trên thế giới là nguyên nhân chính khiến lượng khách nước ngoài tới Hà Nội không cao
Việc phân bổ cơ sở lưu trú du lịch không đồng đều giữa các quận, huỵện Cơ sở lưu trú tập trung nhiều nhất tại các quận nội thành thuộc khu vực Hà Nội cũ 16 quận, huyện đặc biệt là khu vực Hà Tây cũ chỉ có cơ sở lưu trú từ 2 sao trở xuống Có 8 huyện không có cơ sở lưu trú du lịch Trên địa bàn nội thành hệ thống hạ tầng cơ sở du lịch khá đầy đủ, khu vực ngoại thành chưa phát triển được nên chưa thu hút khách du lịch ở lại tham quan dài ngày Nhiều điểm du lịch có quang cảnh đẹp nhưng cơ sở hạ tầng và lưu trú kém, chưa kể đến do quá trình phát triển từ các vùng nông thôn ngoại thị nên hạ tầng kỹ thuật và giao thông tiếp cận đến các điểm du lịch, đặc biệt là các điểm du lịch làng nghề rất khó khăn.Số lượng các điểm vui chơi giải trí chỉ đáp ứng một lượng rất nhỏ nhu cầu vui chơi giải trí của khách du lịch Hiện nay, Hà Nội vẫn rất thiếu điểm vui chơi giải trí
I.2 Tại thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị loại I, có diện tích là 1.255,530 km2 trong đó diện tích nội thành là 246,35 km2, diện tích ngoại thành 1.009,180 km2 (2010) Đà Nẵng có dân số toàn thành phố là 842.201.000 người trong
đó dân số nội thành là 739.210.000 người, ngoại thành là 103.000.000 người (2010) Các kết quả điều tra, khảo sát được nêu chi tiết ở Phụ lục 2 Sau đây là tóm tắt các kết quả điều tra, khảo sát và những nhận xét chính
Trang 28Hình I.32 Bản đồ hành chính thành phố Đà Nẵng
I.2.1 Thực trạng hạ tầng kĩ thuật
I.2.1.1 Giao thông
Thành Phố Đà Nẵng là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia nói chung và vùng Trung Nam bộ, Tây Nguyên nói riêng Trên địa bàn thành phố có tổng cộng 525,889 km đường bộ (không kể đường hẻm, đường kiệt, đường đất) trong đó: Quốc lộ: 69,126 km, Tỉnh lộ: 99,916 km, Đường nội thị: 356,847 km Chiều rộng trung bình của mặt đường là 8 m Mật độ đường bộ phân bố không đều, ở trung tâm là 3 km/km², ngoại thành là 0,33 km/km²
Hiện tại mạng lưới tuyến đường cao tốc kết nối giữa các quốc lộ còn thiếu, liên
hệ giữa giao thông khu vực nội thành và ngoại thành thành phố phụ thuộc chủ yếu vào quốc lộ 1A Thực trạng vi phạm hành lang bảo vệ đường bộ còn phổ biến đặc biệt trên quốc lộ 1A, chưa chú trọng đầu tư hệ thống đường gom nên ảnh hưởng đến tốc độ, lưu lượng và an toàn người dân khi tham gia giao thông, có sự khác nhau rõ rệt giữa khu vực nội thành và ngoại thành Bề mặt lòng đường, hệ thống đèn tín hiệu xuống cấp ảnh hưởng khả năng thông xe của các tuyến và gây nên tai nạn giao thông Hệ thống bến bãi đỗ xe điểm dừng, điểm nghỉ trên các cửa ngõ vào thành phố hầu như chưa có nên hầu hết phải tập trung khu vực nội thành gây quá tải cho giao thông đô thị
Trên địa bàn Đà Nẵng có 4 tuyến đường tỉnh lộ Các tuyến tỉnh lộ hầu hết đã và đang xuống cấp, mặt đường rộng từ 6 - 9 m, đi lại khó khăn đặc biệt vào mùa mưa, có phần chạy qua khu vực đồi núi, địa hình phức tạp, dân cư thưa thớt thuộc huyện Hòa Vang đang là đường đất
Đà Nẵng có khoảng 10 cây lớn cầu bắc qua sông Hàn đã và đang thi công, tất cả các cầu đều tập trung ở khu vực nội thành Hiện tại nút giao thông giao cắt khác mức ở
Đà nẵng rất ít, hiện đang xây dựng nút giao thông giao cắt khác mức đầu tiên ngã ba Huế, còn lại trong khu vực nội thành hầu hết là điểm giao cắt đồng mức
Trang 29Đường sắt:
- Tuyến đường sắt huyết mạch Bắc - Nam chạy dọc thành phố với tổng chiều dài
30 km Ga Đà Nẵng là một trong những ga quan trọng nhất trên tuyến đường sắt Bắc - Nam Nhà ga mới được nâng cấp khang trang, có phòng đợi lên tàu đủ tiện nghi, sức chứa khoảng 200 người Tuy nhiên, ga nằm ở trung tâm thành phố nên thường gây ra tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường
- Hầu hết các điểm giao cắt giữa tuyến đường sắt và đường bộ là đồng mức gây
ra tắc nghẽn giao thông và thiếu an toàn, khổ đường ray hẹp 1m, hệ thống thông tin tín hiệu lạc hậu Vì vậy, tốc độ thiết kế, tải trọng rất thấp so với các nước có hệ thống đường sắt hiện đại
- Các ga đường sắt ngắn, không thể lập đoàn tàu có tải trọng lớn Các nhà ga hiện nay đều nhỏ hẹp và có hạ tầng cơ sở lạc hậu
Đường thủy:
- Cảng Đà Nẵng gồm 2 cảng Tiên Sa và cảng Sông Hàn Cảng Tiên Sa nằm ở vịnh bán đảo Sơn Trà và cảng Sông Hàn ở trong trung tâm thành phố dọc theo sông Hàn Cảng Tiên Sa là cảng nước sâu tự nhiên với độ sâu cầu bến 10-17m, chiều dài cầu bến là 965m trong đó có 2 cầu nhô và 1 cầu liền bờ Cảng Tiên Sa có thể đón tàu hàng trọng tải 45.000DWT, tàu con- tainer 2000TEU và tàu khách 75.000GRT Năng lực khai thác 4,5 triệu tấn/năm, có bãi chứa hàng và kho chứa hàng ở gần hỗ trợ hàng hóa thông qua cảnh Cảng Sông Hàn có chiều dài cầu bến 528m và độ sâu cầu bến 6-7m có thể đón tàu trọng tải 5.000DWT, năng lực khai thác đạt 1 triệu tấn hàng/năm
- Cảng Liên Chiểu với công suất 20 triệu tấn/năm được xây dựng xong thì hệ thống cảng Đà Nẵng được nối liền với cảng Kỳ Hà, Dung Quất ở phía Nam sẽ trở thành một cụm cảng liên hoàn lớn nhất nước, giữ vị trí quan trọng trên tuyến hàng hải Đông Nam Á và Đông Bắc Á
- Đà Nẵng có 13 tuyến đường thủy với tổng chiều dài là 162.7km, trong đó khai thác 101,9km Chỉ 5,4km tuyến đường thủy sông Hàn do cảng Đà Nẵng quản lý, phần còn lại do địa phương quản lý Có 18 trạm hành khách, nhưng hiện nay không có dịch
vụ vận tải khách thường xuyên
- Hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần bến cảng thiếu đồng bộ chưa đáp ứng được nhu cầu cầu và tập trung chủ yếu khu vực ven sông nội thành, khu vực ngoại thành không được chú trọng đầu tư khai thác
- Việc kết nối giữa hệ thống bến cảng với giao thông đường bộ, bến cảng với giao thông đường sắt và bến cảng với các kho tàng đầu mối, các khu công nghiệp chưa tốt, thiếu đồng bộ
- Khai thác tuyến giao thông đường thủy còn nhiều yếu kém đặc biệt dịch vụ vận tải hành khách, phương tiện vận tải lạc hậu thiếu an toàn
Trang 3030 hãng hàng không của hơn 20 nước có máy bay bay qua vùng trời Đà Nẵng, trong
đó có nhiều hãng hàng không quốc tế có máy bay hạ, cất cánh từ Đà Nẵng
- Tuy nhiên sân bay thiếu chỗ đậu máy bay, ga hàng không luôn trong tình trạng
ùn tắc, kho bãi quá tải, chưa đáp ứng được mức tăng trưởng hàng không thành phố Hiện nay Thành phố đang triển khai dự án nhà ga sân bay quốc tế Đà Nẵng trong thời gian tới vào sử dụng sẽ khắc phục những vấn đề trên và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ hàng không Đà Nẵng
- Mật độ đường đô thị trong trung tâm thành phố như quận Hải Châu, Thanh Khê
là 3,9-4,6 km/km2
Tại các quận khác, trừ huyện Hòa Vang, mật độ đường là 0,6-1,1 km/km2 Khoảng 65% đường được trải nhựa và bêtông, các đường còn lại, hầu hết là ở khu vực nông thôn, được xử lý nhựa hai lớp đơn giản, rải sỏi hoặc đường đất Đà Nẵng
có 77 cầu, trong đó 34 cầu kiên cố và 43 cầu tạm
- T lệ đất dành cho giao thông thấp và phân bố chưa hợp lý giữa nội thành và ngoại thành, các khu vực đô thi mới và các khu đô thị cũ
- Thiếu hệ thống giao thông tĩnh, hầu hết các nút giao cắt đồng mức gây ra tình trạng tắc nghẽn giao thông cần sớm được xây dựng và điều chỉnh
- Vị trí các giao lộ hay bị ùn tắc được Sở Giao thông xác định là 25 vị trí Việc xác định các giao lộ bị ùn tắc không rõ ràng, vào giờ cao điểm của buổi sáng và buổi chiều Ùn tắc giao thông ở giữa đường rất ít So với các thành phố lớn khác thì ùn tắc giao thông ở Đà Nẵng chỉ ở mức tối thiểu và không gây ùn tắc xếp hàng dài, mà chỉ ở mức độ xe đi chậm Các vị trí ùn tắc do tín hiệu đèn và hàng rào chắn dành đường cho tàu hỏa đi qua như tuyến: Lê Độ, Hà Huy Tập, Ngã ba Huế
- Các tuyến đường ở khu vực ngoại thành: chất lượng đường kém, mạng lưới đường còn thấp, nhiều đường bề rộng còn hẹp và chưa trải nhựa Điều này gây ra sự mất cân đối phát triển giao thông giữa trung tâm thành phố và vùng ven đô
- Thiếu nguồn vốn, không được chú trọng đầu tư nâng cấp cải tạo so với khu vực nội thành trong khi dự án xã hội hóa chưa cao
Thành phố có 5 tuyến xe buýt đi các tuyến với số lượng 50 chiếc, hệ thống xe buýt tại Đà Nẵng hoạt động khắp nội thành, đến vùng ngoại ô và đi một số địa phương
ở tỉnh Quảng Nam Trong 5 tuyến xe buýt đang hoạt động, có 3 tuyến nối trực tiếp từ trung tâm thành phố với 3 thị trấn, thị xã của tỉnh Quảng Nam
Hiện nay có 6 doanh nghiệp và HTX kinh doanh vận tải khách bằng taxi, với 930 đầu xe Vận chuyển khách du lịch: thành phố Đà Nẵng có trên 500 đầu xe đời mới, đầy
đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn về thẩm mỹ cũng như về kỹ thuật, được cơ quan quản lý
du lịch và giao thông công chính kiểm tra chất lượng
- Xe buýt hiện nay còn hạn chế, chỉ có 5 tuyến hoạt động Hiện tại, điều kiện giao thông tại Đà Nẵng còn thuận lợi, người dân không nhận thấy nhiều bất tiện Trong tương lai khi thành phố phát triển với tốc độ đô thị hóa cao, mở rộng ra các vùng ngoại thành thì đây là một trong những vấn đề lớn nhất
- Khi nhu cầu giao thông công cộng còn thấp, xe buýt mini có thể thay cho xe buýt đô thị, điều này giúp đảm bảo tần xuất xe, ngay cả đối với các tuyến có ít khách
- Tàu hỏa đi các tỉnh lân cận sử dụng ít Xe khách liên tỉnh được sử dụng rất phổ biến để đi những nơi có khoảng cách trung bình và xa thay vì đi tàu lửa
Trang 31Trước năm 1954 địa bàn thành phố đều sử dụng nước ngầm với 36 giếng khoan ở
độ sâu 30 đến 50 mét Do nhu cầu khai thác nước ngày càng tăng, thành phố ngày càng phát triển, các giếng khoan này càng bị nhiễm mặn, nhiễm bẩn, phải ngừng hoạt động dần Với trữ lượng hạn chế, nguồn nước ngầm không thể đáp ứng được nhu cầu nước thô cần thiết của hệ thống cấp nước thành phố Nước ngầm khu vực nội thành bị
ô nhiễm do người dân sử dụng bể tự hoại Do đó, khó có thể lấy nguồn nước ngầm làm nguồn cấp nước cho tương lai
b Hiện trạng cấp nước
Công ty Cấp nước Đà Nẵng quản lý 3 cơ sở sản xuất, với tổng công suất thiết kế
là 155.000 m3/ngày đêm, hiện đang được khai thác ở mức 130.000 đến 140.000
m3/ngày đêm
Mạng lưới đường ống cấp nước toàn thành phố có 287 km đường ống cấp I; 253
km đường ống cấp II và trên 3.000 km đường ống cấp III; với tổng số đấu nối là 120.000 đồng hồ T lệ dân số được cấp nước sạch trong 6 quận nội thành trên 65%,
có 130.000 hộ gia đình với khoảng 500.000 nhân khẩu được dùng nước sạch, tính bình quân mức độ tiêu thụ nước của người dân thành phố đạt 128 lít/người/ngày
Với khả năng cấp nước hiện nay trên địa bàn thành phố đã đáp ứng khá tốt nhu cầu dùng nước sạch của người dân, với áp lực nước trong mạng lưới hệ thống cấp nước đang ở mức từ 0,5-2,7 bar và chất lượng nước cấp đạt Tiêu chuẩn vệ sinh nước
ăn uống theo Quyết định số 1329/2002/BYT-QĐ ngày 18/4/2002
T lệ cấp nước còn rất thấp đặc biệt là khu vực ngoại thành và không đồng đều giữa các khu vực
Công suất thiết kế của chưa phù hợp với nhu cầu thực tế: Nhiều khu vực thiếu nước, nhưng cũng có khu vực thừa nước, không khai thác hết công suất
T lệ thất thoát thất thu nước còn cao: hiện tại công ty cấp nước Thành phố đã và đang cố gắng giảm t lệ thất thoát thất thu nước theo quy hoạch chiến lược cấp nước
Bộ Xây dựng đề ra Bước đầu đã đạt được kết quả tốt, nhưng song tỉ lệ thất thoát vẫn còn ở mức cao cần phải thực hiện quyết liệt hơn trong thời gian tới
Chất lượng nước một số khu vực chưa đạt tiêu chuẩn quy định, tình trạng nguồn nước ngầm, nước mặt bị ô nhiễm vẫn còn tồn tại ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân
Công tác khảo sát nguồn nước chưa sát với tình hình thực tế, chưa dự báo được những biến động về mặt trữ lượng cũng như về mặt thu địa hoá
Công nghệ xử lý nước tại một số nhà máy nước chưa đồng bộ và hoàn chỉnh Vấn đề ô nhiễm nguồn nước do tác động của con người đang diễn ra ngày càng trầm trọng Tình hình xả nước thải không qua xử lý ra sông hồ nơi cũng là nguồn cung cấp nước chưa được kiểm soát chặt chẽ
Trang 32Công tác quản lý khai thác nguồn nước mặt và nước ngầm chưa được các cấp, các ngành quan tâm thích đáng Tư duy “Nước trời cho” đã dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, tác động xấu đến chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm
I.2.1.3 Thoát nước
I.2.1.3.1 Thoát nước mưa
Thành phố Đà Nẵng là Thành phố đồng bằng ven biển có cao độ trung bình từ
36 m, nhìn chung có thuận lợi về thoát nước Hướng thoát nước của thành phố hiện
đổ ra sông Hàn và ra biển ở một số khu vực nước thoát được tập trung vào hồ trước khi đổ ra sông, biển
Toàn bộ nước mưa hiện đang được thoát dưới hai dạng: Thoát tự do và thoát theo
hệ thống thoát nước thành phố Hệ thống thoát nước thành phố Đà Nẵng là hệ thống thoát nước chung Tổng chiều dài hệ thống cống thoát nước thành phố khoảng 417 km
Hệ thống công trình thu gom nước mưa của Đà Nẵng đầy đủ và các giếng thu xây dựng cải tạo đúng tiêu chuẩn, đảm bảo kỹ thuật Hệ thống thoát nước chung của Đà Nẵng đều xả trực tiếp vào 3 nguồn chính: vịnh Đà Nẵng, sông Hàn, biển Đông, các hồ trong thành phố Khu vực ngoại thành hệ thống thoát nước mưa chưa hoàn thiện và đang đầu tư xây dựng mới
I.2.1.3.2 Thoát nước thải
Khu trung tâm thành phố Đà Nẵng sử dụng hệ thống thoát nước thải chung Nước thải và nước mưa được thu gom vào các cống chính và cuối đường ống có các ngăn để tách nước thải và quản lý dòng chảy ngược từ biển Nước thải đã tách sẽ được bơm và chuyển tới các nhà máy xử lý nước thải Các ngăn và việc bơm nước được vận hành thủ công
Nước thải sinh hoạt: hiện nay có 53% hộ trang bị bể phốt dạng thấm Nước thải chảy tràn là được thu vào hệ thống cống thoát chung Lượng nước thải từ các bể tự hoại được thu gom bằng xe tải chuyên dụng do các công ty tư nhân khai thác Công tác
xử lý được tiến hành tại các cơ sở tại khu bãi rác Khánh Sơn
Nước thải bệnh viện: 11 bệnh viện trên tổng số 21 bệnh viện có thiết bị xử lý nước thải sơ bộ trước khi thải vào môi trường Theo báo cáo chỉ có một vài bệnh viện
có đủ phương tiện để xử lý nước thải nguy hại và ô nhiễm
Nước thải công nghiệp: Trong số 5 khu công nghiệp, chỉ có một khu có nhà máy
xử lý nước thải Theo báo cáo nước thải từ các nhà máy gây ô nhiễm và các vấn đề môi trường liên quan
Thực trạng hệ thống cống thoát nước đang lạc hậu, hư hỏng và quá tải trong khi quá trình cải tạo, làm mới hệ thống thoát nước diễn ra còn chậm
Quá trình điều tra khảo sát số liệu không chính xác, lạc hậu nên khi thiết kế cải tạo hoặc xây mới hệ thống thoát nước đưa vào sử dụng không đáp ứng được nhu cầu hiện tại
Các giải phát thực hiện còn mang tính tình thế, tạm thời thiếu đồng bộ, chưa có giải pháp căn cơ lâu dài tạo bước đột phá trong thoát nước Thành phố
I.2.1.4 Chất thải rắn
I.2.1.4.1 Thu gom CTR
Trang 33Theo Công ty Môi trường Đô thị (URENCO), Đà Nẵng thải khoảng trên 630 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày, khoảng 85% được công ty thu gom Rác thải do Công
ty Môi trường Đô thị thu gom hàng ngày tại các quận nội thành Trong số đó 94% là rác thải sinh hoạt, 5% là rác công nghiệp và 1% là rác thải y tế
Trong thành phần chất thải rắn có rác thải phân hủy sinh học chiếm 77-80%, và rác thải tái sinh như nhựa, giấy, thủy tinh, kim loại chiếm 10% Tổng hai loại rác thải này chiếm khoảng 90% trong tổng lượng rác thải rắn
Công ty môi trường Đô thị tiến hành thu gom và đổ rác tại khu bãi rác tập trung ở Khánh Sơn
I.2.1.4.2 Xử lý CTR
Việc tách nguồn chất thải chưa được áp dụng; mặc dù một số tổ chức, cộng đồng
và các doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ đã thu gom các loại rác thải có thể tái chế Rác thải sinh hoạt: được công ty môi trường đô thị Đà Nẵng thu gom và đưa đi
xử lý tập trung tại bãi rác Khánh Sơn có quy mô 50ha
Rác thải công nghiệp: Đà Nẵng, chưa có thiết bị chuyên dụng để xử lý chất thải công nghiệp
Rác thải y tế: Đà Nẵng có một lò đốt rác y tế vừa được đưa vào khai thác tại bãi rác Khánh Sơn
Những vấn đề cần giải quyết:
- Khối lượng chất thải phát sinh ngày càng lớn
- T lệ thu gom chưa đạt yêu cầu và có sự khác biệt lớn giữa khu vực nội thành
Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có nghĩa trang Quân khu V và 2 nghĩa trang liệt sỹ tại huyện Hòa Vang, phường Hòa Quý quận Ngũ Hành Sơn
b Nhà tang lễ
Đà Nẵng có 1 nhà tang lễ ở trung tâm thành phố, luôn trong tình trạng quá tải trước những nhu cầu của người dân Nhà tang lễ nằm sát với bệnh viện Đà Nẵng nên còn nhiều bất hợp lý về môi trường và tâm lý của bệnh nhân ở bệnh viện
Trang 34I.2.1.6 Cấp điện và chiếu sáng
I.2.1.6.1 Cấp điện
Đà Nẵng nhận điện từ nhà máy thu điện Hòa Bình qua đường dây siêu cao áp
500 KV Bắc Nam, lượng điện này đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Tất cả các xã ở huyện Hòa Vang đều đã có điện sản xuất và sinh hoạt Hiện tại, thành phố đang đầu tư thêm cho việc mở rộng và đổi mới hệ thống lưới dẫn điện này Trung tâm cấp điện chính là trạm biến áp Đà Nẵng 500/220KV - 450MVA Hiện tại thành phố Đà Nẵng được cấp điện qua trạm biến áp 220/110KV gồm 2 máy biến áp 220/110KV - 125 MVA
Hiện nay lưới điện thành phố vận hành nhiều năm, được cải tạo rất nhiều tuyến ở các khu vực, do đó đã hạn chế dần việc hư hỏng xảy ra, tiết diện dây dẫn được nâng lên dần, dây trần nhiều chủng loại, chất lượng điện nhiều khu vực đã được nâng lên Tuy nhiên, bán kính cáp điện của đường dây cao và hạ thế quá lớn, gây tổn hao lưới điện lớn Mặt khác việc phân bố trạm biến áp trên tuyến chưa hợp lý, nhiều tuyến nặng tải và ngược lại nhiều tuyến rất non tải
I.2.1.6.2 Chiếu sáng
Hiện nay có thể nhận thấy Đà Nẵng là một trong những đô thị có hệ thống chiếu sáng tốt Tổng công suất chiếu sáng toàn đô thị khoảng 7MW Đặc biệt khu vực trung tâm, tỉ lệ các đường phố được chiếu sáng đạt 100%, khu vực ngoại thành đạt tỉ lệ 65% đường làng, ngõ hẻm được chiếu sáng
Nhưng hiện tại Thành phố đang mất cân đối ánh sáng và khả năng ô nhiễm ánh sáng cục bộ Theo diện tích bình quân và mật độ xây dựng hiện có, Đà Nẵng đang đối diện hiện trạng mất cân đối phân bổ nguồn sáng ban đêm, nơi quá thiếu ánh sáng và nơi quá dư thừa Cộng hưởng cả 2 điểm này, là nạn ô nhiễm ánh sáng gia tăng
Cũng như nhiều đô thị lớn khác, mấy năm qua, Đà Nẵng đã sử dụng các loại đèn chiếu sáng cường độ mạnh, thiếu tập trung, nhất là đèn chiếu sáng công cộng có mức
độ quang học phát tán lớn Dễ thấy hơn cả là các loại đèn trang trí, quảng cáo hiện vừa manh mún cục bộ, vừa dùng nhiều loại đèn chiếu hắt lên trời, kể cả đèn pha dùng trong chiếu sáng thể thao
Các tòa nhà cao tầng, nhà ở liền kề mặt phố cũng sử dụng rất nhiều nguồn sáng thiếu chủ đề, phát sáng ngoài phạm vi cần thiết, sử dụng quá nhiều bóng điện ở một phạm vi nhỏ Các loại đèn hình ống với độ phát quang thiếu tập trung vẫn được sử dụng nhiều
Trong các dự án thiết kế chiếu sáng công cộng, tiêu chí chiếu sáng hợp lý, tiết kiệm và không gây ô nhiễm ánh sáng đã được đơn vị tập trung thể hiện Song thực tế thi công một số dự án công cộng đã không diễn ra đúng với tinh thần đó Hơn nữa, sự
nỗ lực của một vài đơn vị cũng không thể khắc phục hết những nhược điểm chiếu sáng thiếu kiểm soát của một đô thị trẻ đang cố gắng thể hiện diện mạo rực rỡ
Những vấn đề cần giải quyết:
- Chất lượng chiếu sáng Thành phố còn chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thành phố trực thuộc Trung ương, các hình thức chiếu sáng các công trình kiến trúc, chiếu sáng quảng cáo, không gian cây xanh mặt nước… vẫn còn tự phát, manh mún, tùy tiện do chưa có sự kết hợp hay chưa có hướng dẫn, quy định bắt buộc về loại hình này
Trang 35- Hiệu suất chiếu sáng còn rất thấp, dẫn đến tình trạng mất an toàn giao thông; t
lệ ngõ xóm được chiếu sáng còn rất thấp, thậm chí hầu như không có đặc biệt là khu vực ngoại thành
- Trong quy hoạch chung cũng như quy hoạch chi tiết đô thị thường chỉ đề cập tới chiếu sáng các tuyến đường giao thông mà chưa hề quan tâm tới một vấn đề cũng quan trọng là chiếu sáng mỹ thuật: chiếu sáng các trung tâm đô thị, các khu vui chơi công cộng
- Việc đầu tư xây dựng hạ tầng chiếu sáng cơ sở còn chắp vá, thiếu đồng bộ dẫn đến việc lãng phí vốn đầu tư, công trình đơn điệu, thiếu tính thẩm mỹ và thiếu tính bền
vững Cho đến nay các chính sách về chiếu sáng đô thị vẫn chưa được các cấp chính quyền thành phố quan tâm đầy đủ
I.2.1.7 Công viên cây xanh
a Thực trạng
Hiện nay, Đà Nẵng, có công viên 29-3, vườn hoa An Đồn, cây xanh ven sông Hàn, công viên Tượng Đài, với diện tích trên 26,5 ha Việc trồng cây xanh đô thị còn chưa đạt tiêu chuẩn về độ che phủ cũng như cân bằng hệ sinh thái Nhìn chung, chỉ tiêu đất để trồng cây xanh đô thị còn quá thấp (khoảng 3 m2 /đầu người) So với các tiêu chuẩn và quy chuẩn của một đô thị hiện đại Việt Nam thì t lệ diện tích đất cây xanh của thành phố là rất thấp so với yêu cầu Trong khi đó, công tác quản lý cây xanh lại chưa chặt chẽ Tình trạng chặt phá cây, tỉa cành, bẻ nhánh, vẫn còn diễn ra, làm giảm độ che phủ và khả năng sinh tồn của cây Theo thống kê, chỉ sau 10 năm đô thị hoá, toàn thành phố đã chặt hạ 5.000 cây xanh các loại, trong đó có 2.000 cây thuộc loại cổ thụ
Bên cạnh đó, việc trồng cây xanh ở những nơi công cộng, nhất là tại những khu dân cư mới, vẫn còn mang tính tự phát, manh mún, thiếu quy hoạch về lựa chọn, bố trí loại cây trồng phù hợp Có nhiều loại cây xanh được đưa vào trồng trên đường phố không đem lại thiện cảm, thậm chí còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người được người dân trồng tự phát khá nhiều, không những không tạo được vẻ đẹp cảnh quan cho đô thị
mà còn không đảm bảo an toàn giao thông Theo thống kê của Công ty Cây xanh, trong số cây hiện có của Đà Nẵng thì đến hơn 10.000 cây thuộc 64 loài cây chưa phù hợp Trong đó nhiều cây có mủ độc, dễ gãy đổ và thu hút côn trùng
Các dự án khu dân cư không tuân thủ phát triển mảng xanh đúng như quy hoạch, nhiều diện tích đất dành cho phát triển mảng xanh lại bị sử dụng cho mục đích khác Diện tích cây xanh ngày càng thu hẹp trong nội thành do chưa được quan tâm đúng mức và thiếu kiểm soát trong quản lý đô thị Khu vực đất nông nghiệp bị khai thác và chuyển đổi chức năng chưa hợp lý, hiệu quả kinh tế chưa cao
Thiếu hệ thống cây xanh đường phố đặc biệt là các tuyến đường chính đô thị, đường gom Tình trạng lần chiếm đất khu vực quanh hồ đang kiến diện tích các hồ dần
bị thu hẹp Trong khi các quận trung tâm thành phố không đủ điều kiện bố trí thêm nhiều công viên mới thì khu vực ngoại thành đủ điều kiện nhưng chưa được chú trọng đầu tư
Trang 36I.2.2 Thực trạng hạ tầng xã hội
I.2.2.1 Nhà ở
Đà Nẵng có điều kiện nhà ở tương đối tốt so với các thành phố khác Năm 2004, diện tích nhà ở bình quân đầu người là 20,9 m²/người, diện tích sàn bình quân 95 m²/hộ Nhà ở đóng vai trò rất quan trọng trong không gian và kiến trúc Thành phố Đà Nẵng và chiếm t trọng lớn trong các công trình kiến trúc đô thị, quỹ nhà ở phát triển nhanh góp phần cải thiện điều kiện ở của người dân Trong 10 năm gần đây, tốc độ triển khai các dự án phát triển nhanh với quy mô lớn đáp ứng nhu cầu ở rất cao của người dân Song song với hoạt động xây mới, hoạt động cải tạo nhà khu ở cũ tại các quận trung tâm, cũng được thúc đẩy góp phần cải thiện không gian kiến trúc của thành phố Các loại hình nhà ở đa dạng phong phú bao gồm những loại hình nhà ở trước đây
và những loại hình nhà ở mới du nhập tạo nên loại hình nhà ở phong phú, đa dạng đáp ứng các nhu cầu nhà ở rất khác nhau của Thành phố Bên cạnh kết quả đạt được thì vấn đề nhà ở Đà Nẵng còn một số bất cập sau:
- Chỉ tiêu về diện tích nhà ở, chỉ tiêu về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật trong các khu ở còn thấp và không đồng đều giữa khu ngoại thành và nội thành
- Các vấn đề nhà ở cho người thu nhập thấp, nhà ở công nhân tại các khu công nghiệp, ký túc xá cho sinh viên, nhà ở tái định cư đã được thành phố quan tâm đầu tư song kết quả còn nhiều hạn chế, ít về số lượng và kém về chất lượng, các dự án cải tạo, chỉnh trang các khu đô thị cũ khu vực trung tâm còn nhiều vấn đề phát sinh,
- Tình hình quản lý kiểm soát cấp phép xây dựng nhà ở còn nhiều bất cập đặc biệt là khu vực ngoại thành
- Đô thị hóa nóng, thiếu kiểm soát ở các khu vực vành đai đô thị trung tâm và các khu vực nông thôn trong điều kiện chưa được chuẩn bi về hạ tầng đã phá hỏng các không gian truyền thống tạo nên các không gian ở không tiện nghi, không phù hợp với điều kiện văn hóa xã hội ở bản địa
I.2.2.2 Công trình Giáo dục - Đào tạo
Đà Nẵng là một trong những trung tâm giáo dục và đào tạo lớn nhất của khu vực đào tạo nguồn nhân lực cho miền Trung - Tây Nguyên và cả nước Cơ sở vật chất và trang thiết bị của các công trình trường học đang được đầu tư nâng cấp và ngày càng hoàn thiện dần cải thiện giáo dục thành phố Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 13 trường đại học, học viện; 18 trường cao đ ng; 50 trường trung học chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề và hơn 200 trường học từ bậc học phổ thông tới ngành học mầm non Tuy nhiên còn tồn một số bất cập sau:
- Hầu hết các trường đại học và cao đ ng đều không đạt chuẩn về diện tích đất so với tiêu chuẩn hiện hành TCVN 3981:1985 Tình trạng lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng, lượng sinh viên tăng lên quá cao so với công suất thiết kế ban đầu, cộng với không có diện tích đất dữ trữ mở rộng đang gây ra áp lực cho cơ sở hạ tầng và môi trường thành phố
- Các trường đều bố trí tại khu vực nội thành và phân bố không đồng đều, các trung tâm dạy nghề chưa được chú trọng đầu tư, tỉ lệ đất xây dựng ký túc xá, sân thể thao rất thấp, không đáp ứng đươc nhu cầu ở sinh hoạt, vui chơi giải trí của sinh viên
- Mạng lưới trường học phân bố không đồng đều giữa khu vực nội thành và ngoại thành Trong khi khu vực nội thành đối mặt với một số vấn đề như: thiếu trường
Trang 37học, đặc biệt ngành mầm non, tiểu học, tỉ lệ học sinh trung học/lớp quá cao, thì nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đang là bài toán khó đối với khu vực ngoại thành
I.2.2.3 Công trình Văn hóa - Thể dục thể thao
I.2.2.3.1 Công trình văn hóa
Thành phố Đà Nẵng có 1 trung tâm Văn hoá thông tin, Nhà văn hoá Thanh Niên, Nhà văn hoá Quân khu 5, Nhà văn hoá Thiếu Nhi, Nhà văn hóa Lao Động cùng với 8 câu lạc bộ đã thu hút nhiều tầng lớp thanh thiếu niên nhi đồng tham gia
Bảo tàng tổng hợp thành phố là nơi lưu giữ trên 10.000 hiện vật có giá trị, có nhiệm vụ nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu các giá trị văn hoá hữu hình, hệ thống di tích trong Thành phố Đặc biệt Bảo tàng Chàm là bảo tàng duy nhất trong cả nước lưu giữ khối lượng lớn các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc Chàm, rất hấp dẫn khách du lịch Bên cạnh đó còn có chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Đà Nẵng, Bảo tàng Quân khu
5 Bảo tàng lịch sử Đà Nẵng được khành thành vào năm 2010
Thành phố có nhà hát Trưng Vương được xây dựng mới năm 2008 Tuy trong Thành phố Đà Nẵng có đến 4 rạp chiếu phim với trên 2.500 chỗ ngồi, nhưng hoạt động chiếu phim hiện nay đang giảm về số lượng người xem do các phương tiện nghe nhìn phát triển
Hệ thống thư viện: Ngoài 3 thư viện: Thư viện khoa học kỹ thuật (200.000 sách), thư viện tổng hợp (150.000 sách), thư viện thành phố (100.000 sách) còn có hệ thống thư viện của các ngành và trường học Tuy vậy số lượng sách, tạp chí còn chưa đáp ứng được nhu cầu bạn đọc, cơ sở vật chất đang xuống cấp chưa được cải tạo
Thành phố có 1 đài truyền hình khu vực, 1 đài phát thanh truyền hình thành phố,
1 đài phát thanh huyện, và đài phát thanh của các quận
Các công trình văn hoá lớn như bảo tàng, nhà hát chủ yếu tập trung khu vực trung tâm thành phố, Còn địa bàn khu vực ngoại thành tuyến cơ sở như trung tâm văn hóa xã, phòng đọc, điểm truy cập internet chưa được bổ sung đầy đủ hạng mục cần thiết, những công trình hiện có quy mô nhỏ, đang xuống cấp chưa được chú trọng đầu
tư
Tại khu vực nội thành vị trí của những công trình văn hóa cũ nằm khuất trong các ngõ hẻm và thường bị lấn chiếm nên không tạo được điểm nhấn của đô thị Còn phần lớn những công trình văn hóa mới xây dựng đang đề cao vấn đề công năng hơn là thẩm mỹ Khu vực ngoại thành các công trình văn hóa hiện đang xuống cấp, trang thiết
bị nghèo nàn, nhỏ bé, thiếu đồng bộ do ngân sách đầu tư còn chưa đáp ứng được yêu cầu, các làng nghề đang dần mất đi về số lượng, chất lượng lẫn tính truyền thống lâu đời vốn có
I.2.2.3.2 Khu TDTT
Những năm gần đây Thành phố Đà Nẵng chú trọng hơn đến việc nâng cấp, đầu
tư xây dựng các công trình thể thao như Trung tâm Huấn luyện thể thao Quốc gia III, Trung tâm Thể thao Quốc phòng III, Đại học Thể dục Thể thao II, Làng vận động viên
và Khu tập luyện bóng đá… đáp ứng phần lớn nhu cầu luyện tập thể thao của người dân Tuy nhiên còn một số tồn tại bất cập sau:
Trang 38- Các công trình TDTT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng hiện nay thiếu về số lượng, kém về chất lượng và không đều về mặt phân bố giữa các khu vực trong nội thành cũng như nội thành và ngoại thành
- Trong khi khu vực nội thành có ít các công trình quy mô nhỏ phục vụ dân cư luyện tập, vui chơi Các trường học, trung tâm văn hoá các phường không đủ diện tích sân bãi thì ngược lại, khu vực ngoại thành chủ yếu là các công trình quy mô nhỏ cấp
xã, thôn, không được đầu tư, cơ sở vật chất không đảm bảo điều kiện tập luyện
I.2.2.4 Công trình Y tế
Đà Nẵng hiện có 19 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 11 bệnh viện và trung tâm y tế quận huyện, 47 trạm y tế xã phường và trên 1.000 phòng khám chữa bệnh tư nhân Với sự hình thành của trường Đại học Y Dược và trường Đại học Kỹ thuật Y tế trên địa bàn thành phố, Đà Nẵng đang hướng đến mục tiêu trở thành một trung tâm y
tế lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước Cung cấp nguồn nhân lực và dịch vụ y tế chất lượng cao, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước
Qua những thống kê các bệnh viện và trung tâm y tế tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành đã gây sức ép quá tải lên cơ sở hạ tầng và môi trường Khu vực ngoại thành bệnh viện không bố trí vùng lân cận, giáp ranh mà tập trung tại thị trấn Túy Loan Phần lớn các bệnh viện chuyên khoa, phòng khám tư tại Đà Nẵng có qui mô diện tích nhỏ và rất nhỏ, khu vực nội thành xây dựng yếu kém do đã xây dựng từ lâu, mặt bằng chật hẹp không còn điều kiện mở rộng, các bệnh viện nằm xen kẽ trong các khu dận cư đông đúc Các trạm xá tuyến cơ sở trang thiết bị lạc hậu, năng lực đội ngũ nhân nhiên chưa cao, chưa đồng đều dẫn đến tình trạng khám và điều trị vượt tuyến như hiện nay Các bệnh viện tư thiếu, chưa được thành phố khuyến kích đầu tư nhằm giảm tải cho các bệnh viện công khu vực nội thành
I.2.2.5 Công trình Thương mại
Hạ tầng thương mại của thành phố Đà Nẵng được đầu tư đồng bộ, hiện đại với 24 Trung tâm thương mại và siêu thị, 88 chợ các loại theo hướng văn minh, lịch sự, an toàn Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 21,1%/năm Hàng loạt chi nhánh, đại lý phân phối cấp 1 của các tập đoàn, công ty lớn trong và ngoài nước mở ra ở đây, đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm thương mại hàng đầu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên
Nhìn chung mạng lưới thương mại trên địa bàn Đà Nẵng đã bước đầu đảm bảo tốt cho khâu lưu thông hàng hóa và thị trường thành phố Mạng lưới thương mại đã phát triển khá rõ đặc biệt là khu vực nội thành đã đạt được các thành tựu quan trọng Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại là:
- Hệ thống thương mại và hệ thống phân phối có sự chênh lệch quá lớn giữa khu vực nội thành và ngoại thành, trong khi khu vực nội thành tập trung phát triền các khu trung tâm thương mai, siêu thị theo hướng hiện đại thì hình thức phân phối như chợ, các siêu thị nhỏ, cửa hàng bán lẻ chưa được quan tâm đầu tư cải tạo chỉnh trang
- Khả năng tiếp cận trao đổi mua bán hàng khu vực nội thành và ngoại thành còn hạn chế, nguyên nhân chủ yếu là các chợ đầu mối thành phố còn thiếu, số còn lại chưa phát huy hiệu quả và các doanh nghiệp chưa chú trọng khai thác thị trường đầy tiềm năng khu vực nông thôn ngoại thành
Trang 39I.2.2.6 Công trình Dịch vụ, du lịch
Tài chính - Ngân hàng: Đà Nẵng có 60 chi nhánh cấp 1 của các tổ chức tín dụng, tài chính, bao gồm 1 ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 41 ngân hàng thương mại cổ phần, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1 ngân hàng phát triển, 1 công ty tài chính, 3 công ty cho thuê tài chính, 1 Quỹ Đầu tư Phát triển địa phương và hơn 200 phòng giao dịch ngân hàng
Bưu chính - Viễn thông: là một trong ba trung tâm bưu điện lớn với tất cả các loại hình phục vụ hiện đại và tiện lợi Mạng lưới viễn thông của thành phố gồm 2 tổng đài chính và 12 tổng đài vệ tinh với dung lượng hơn 40.000 số Chất lượng và số lượng các dịch vụ viễn thông ngày càng được nâng cao nhờ vào khai thác, sử dụng những công nghệ hàng đầu thế giới, các tuyến cáp quang biển quốc tế, khu vực và quốc gia, đặc biệt là tuyến cáp quang biển SMW3 đã và sẽ đưa vào khai thác sử dụng cho phép Bưu điện Đà Nẵng nâng cao hiệu quả kinh doanh, phục vụ lên ngang tầm với các nước tiên tiến có nền kỹ thuật viễn thông phát triển
Du lịch: là một thế mạnh của Đà Nẵng, với các khu du lịch đã và đang được xây dựng, hài hòa với thiên nhiên nhưng cũng không kém phần hiện đại Từ những khu nghỉ dưỡng sang trọng mang tiêu chuẩn 4 - 5 sao như Furama, Sandy Beach, Sơn Trà Resort & Spa hay những khu du lịch sinh thái trong lành như Suối Lương, Bà Nà, Sơn Trà, Non Nước Tính đến năm 2008, trên địa bàn Đà Nẵng có 45 dự án du lịch được UBND TP có chủ trương cho phép đầu tư với tổng vốn đầu tư gần 2 t USD Trong đó có 33 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư trên 15.000 t đồng và 12 dự án nước ngoài với tổng vốn 763 triệu USD, thu hút nhiều tập đoàn lớn như VinaCapital, Indochina Capital… đầu tư vào các sân golf, khách sạn, resort cao cấp
Thành phố Đà Nẵng đã và đang khai thác tốt dịch vụ du lịch khu vực nội thành lẫn ngoại thành Trong khi khu vực ngoại thành tập trung đầu tư các khu du lịch du lịch sinh thái, danh lam thắng cảnh, làng nghề truyền thống thì khu vực nội thành tập trung khai thác dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng ven biển, văn hóa ẩm thực, di tich lịch sử Bên cạnh còn một số tồn tại như: sự gắn kết giữa các khu du lịch còn hạn chế, chất lượng dịch vự chưa cao, chưa khai thác hết tiềm năng du lịch khu vực ngoại thành
I.3 Tại thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị loại I, có diện tích 1.401,040
km2 trong đó diện tích nội thành là 446,410 km2, diện tích ngoại thành 936.630 km2(2010) Cần Thơ có dân số toàn thành phố là 1.033.770 người trong đó dân số nội thành là 605.290 người, ngoại thành là 429.480 người (2010).Các kết quả điều tra, khảo sát được nêu chi tiết ở Phụ lục 3 Sau đây là tóm tắt các kết quả điều tra khảo sát
và những nhận xét chính
I.3.1 Thực trạng hạ tầng kĩ thuật
I.3.1.1 Giao thông
I.3.1.1.1 Đường bộ
Trên địa bàn thành phố có 116km quốc lộ chạy qua bao gồm 5 tuyến (QL 1A, 08,
91 và 91B) QL 1A(12km) và QL 91 (51,14 km) đoạn chạy qua trung tâm thành phố
đã được nâng cấp, mở rộng với chiều rộng mặt đường và cầu cống từ 12-14 m
Đường liên xã thuộc các các huyện khu vực ngoại thành có 426 km chủ yếu là cấp phối và đường đất
Trang 40So với toàn bộ vùng Đồng bằng sông Mê Kông gồm 13 tỉnh thì t trọng chiều dài đường quốc lộ trên địa bàn Cần Thơ là 6%, và t trọng đường tỉnh lộ chỉ chiếm khoảng 3,5% Như vậy tổng chiều dài đường quốc lộ và tỉnh lộ của thành phố Cần Thơ
là khá thấp đối với một đô thị có vai trò trung tâm vùng Mật độ mạng lưới đường thành phố hiện nay chỉ khoảng 0.5 km/km2 đường (không tính đường xã ấp) Trong số gần 100 đơn vị hành chính cấp phường xã, còn 5 phường nội thành và 10 xã ngoại thành chưa có đường ô-tô đến trung tâm
Mạng lưới giao thông nội thành của thành phố Cần Thơ chủ yếu tập trung ở khu vực nội thành của các đô thị cũ Các khu trục đường chính ở trung tâm thành phố Cần Thơ đều được cải tạo mở rộng Thành phố đã tổ chức một số tuyến xe buýt phục vụ nội thị và xuống đến các thị trấn huyện lỵ ở ngoại thành Ngoài ra, trong nội thị Cần Thơ có một số lượng nhỏ xe taxi và xe ôm phục vụ người dân
Tại các khu vực mới xây dựng các tuyến phố được xây dựng theo quy hoạch có mặt cắt ngang đường đảm bảo đủ phục vực giao thông và bố trí các công trình kỹ thuật
Bến xe khách: hiện thành phố đang quản lý 4 bến xe, trong đó có 1 bến xe đạt tiêu chuẩn loại I và 3 bến xe đạt tiêu chuẩn loại IIII
Cầu qua sông: Thành phố Cần Thơ là đô thị miền sông nước do đó trên các tuyến đường có rất nhiều cầu Trên các tuyến quốc lộ và các trục chính hệ thống cầu có chiều rộng mặt cầu bằng chiều rộng mặt đường, kết cấu BTCT chịu tải trọng 25-30 tấn Các tuyến tỉnh lộ và đường nội bộ hệ thống cầu còn yếu, gồm cầu BTCT và cầu sắt chịu tải
từ 8-30 tấn
Đường thủy: Thành phố Cần Thơ là một mạng lưới sông - kênh - rạch rất phong phú với tổng chiều dài dòng chảy 3.405 km, trong đó mạng lưới giao thông đường thủy từ cấp 1 đến cấp 6 có tổng chiều dài khoảng 345,5 km, trải đều trên khắp địa bàn thành phố, rất thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thủy Ngoài các trục đường thủy chính còn có một số kênh rạch có tác dụng giao thông đường thủy như Rạch Bùng Binh, Bến Bạ, Trà Nóc, Bình Thủy, Thốt Nốt nối sông Hậu vào sâu trong nội đồng và mạng lưới kênh rạch nhỏ chằng chịt nối Thành phố Cần Thơ với các vùng lân cận trong điều kiện giao thông đường thủy thuận lợi đáp ứng nhu cầu giao thông vận tải của nhân dân
Hiện tại Thành phố Cần Thơ do bị sông rạch chia cắt nên toàn thành phố có khoảng hơn 1600 cầu, đường thủy được sử dụng rất phổ biến, đặc biệt trong kết nối giữa các khu vực nông thôn với nhau, giữa các khu vực nông thôn với nội thành Cần Thơ, trong đó cầu tạm ngoại thành chiếm gần 60% Một số cầu trong nội thành Cần Thơ có tiết diện hẹp, gây ách tắc giao thông
Mạng lưới giao thông thủy là thế mạnh của Thành phố Cần Thơ Các tuyến sông
- kênh - rạch phân bố đều khắp, nối liền các trung tâm kinh tế - xã hội và đi đến khắp các địa phương, tạo điều kiện cho vận tải thủy phát triển