VŨ THỊ HÒA Tên đề tài: “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT CÁC XÃ PHƯỜNG PHÍA ĐÔNG BẮC VÀ TÂY BẮC THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠ
Trang 1
VŨ THỊ HÒA Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT CÁC XÃ PHƯỜNG PHÍA ĐÔNG BẮC VÀ TÂY BẮC THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 – 2013”
KHÓA LUẬN TỐT NGIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2của các trường chuyên nghiệp ở nước ta nói chung và trường Đại học Nông Lâm nói riêng Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu của sinh viên cuối khóa Đây là quá trình nhằm giúp cho sinh viên có dịp cọ xát với thực tế nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng thực hành Từ đó giúp sinh viên rèn luyện khả năng tổng hợp lại những kiến thức đã học vào thực tế để giải quyết vấn đề cụ thể
Nhằm hoàn thiện mục tiêu đào tạo kỹ sư Môi trường có đủ năng lực, sáng tạo
và có khả năng công tác Được sự nhất trí của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường cùng với nguyện vọng của
bản thân, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường nước mặt các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013” Trong thời gian triển khai làm
đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong khoa Môi
trường và đặc biệt là sự chỉ đạo của thầy giáo, TS Dư Ngọc Thành
Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản đề tài của tôi không tránh khỏi có thiếu sót Vì vậy tôi rất mong có được sự đống góp ý kiến của thầy, cô giáo và các bạn để bản khóa luận của tôi được hoàng thiện tốt hơn./
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Trang 3BVM Bảo vệ môi trường
BOD Biochemical Oxygen Demand Nhu cầu oxy sinh hóa
COD Chemical Oxygen Demand Nhu cầu oxy hóa học
CA Correspondence Analysis Phân tích tương ứng
Trang 4Bảng 4.1 Tình hình biến động mục đích sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2013 30 Bảng 4.2 : Biến động cơ cấu sử dụng đất so với diện tích tự nhiên của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2013 31 Bảng 4.3 Hàm lượng pH trong môi trường nước mặt tại khu vực
nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 32 Bảng 4.4 Bảng phân chia cấp độ pH 33 Bảng 4.5 Hàm lượng COD trong môi trường nước mặt của khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 34 Bảng 4.6 Hàm lượng BOD5 trong môi trường nước mặt của khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 36 Bảng 4.7 Hàm lượng TSS trong môi trường nước mặt của khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 37 Bảng 4.8 Hàm lượng Pb trong môi trường nước mặt của khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 39 Bảng 4.9 Hàm lượng Fe trong môi trường nước mặt của một số các địa điểm giai đoạn 2008 – 2013 41 Bảng 4.10 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của PTĐT
đến môi trường 44
Trang 5giai đoạn 2008 – 2013 33 Hình 4.2 Hàm lượng COD trong môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu 35 Hình 4.3 Hàm lượng BOD5 trong môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu 37 giai đoạn 2008 – 2013 37 Hình 4.4 Hàm lượng TSS trong môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu 38 giai đoạn 2008 – 2013 38 Hình 4.5 Hàm lượng Pb trong môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 40 Hình 4.6 Hàm lượng Fe trong môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 42 Hình 4.7: Bản đồ mối tương quan giữa hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá tại khu vực nghiên cứu năm 2013 42
Trang 61.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường 3
2.1.1 Khái quát về môi trường 3
2.2.2 Khái quát về ô nhiễm môi trường 4
2.2 Những căn cứ pháp lý về môi trường và ô nhiễm môi trường 5
2.3 Những vấn đề cơ bản về đô thị và quá trình phát triển đô thị 5
2.3.1 .Đô thị và điểm dân cư đô thị 5
2.3.2 Những vấn đề về môi trường đô thị 8
2.4 Mối quan hệ giữa sự phát triển đô thị và ô nhiễm môi trường 11
2.5 Thực trạng phát triển đô thị trên thế giới 12
2.6 Thực trạng phát triển đô thị tại Việt Nam 14
2.6.1 Thực trạng phát triển đô thị của cả nước 14
2.6.2 Thực trạng phát triển đô thị, quá trình hình thành và phát triển đô thị tại thành phố Thái Nguyên 16
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên 18
3.3.2 Ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị đến biến động diện tích đất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 19
3.3.3 Sự ảnh hưởng của phát triển đô thị đến thành phần môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 19
Trang 7phố Thái Nguyên 19
3.3.6 Đề xuất một số giải pháp 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Phương pháp khảo sát ngoài thực địa 19
3.4.2 Phương pháp bản đồ 19
3.4.3 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 20
3.4.4 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu. 20
3.4.5 Phương pháp điều tra phỏng vấn 20
3.4.6 Phương pháp lấy mẫu 21
3.4.7 Phương pháp phân tích mẫu 21
3.4.8 Phương pháp xử lý và đánh giá tổng hợp số liệu 21
3.4.9 Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia 22
PHẦN 4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 23
4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên 23
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng đô thị hoá 26
4.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến biến động diện tích đất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 29
4.3 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến thành phần môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 32
4.3.1 Sự ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng pH trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 32
4.3.2 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng COD trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 34
4.3.3 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng BOD5 trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 35
4.3.4 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng TSS trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 37
Trang 84.3.6 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng Fe trong môi trường nước mặt các xã phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn
2008 – 2013 41
4.3.7 Phân tích mối tương quan giữa hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá tại khu vực nghiên cứu năm 2013 42
4.4 Đánh giá sự ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường qua ý kiến người dân 43
4.5 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước mặt 46
4.6 Đề xuất một số giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ
môi trường 47
4.6.1 Giải pháp trước mắt 47
4.6.2 Giải pháp lâu dài 48
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển đô thị là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn đối với các nước trên thế giới, nhất là các nước Châu Á Quá trình phát triển các khu công nghiệp, các nhà máy, khu dân cư… chính là quá trình phát triển đô thị để phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị
Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, phát triển đô thị luôn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Phát triển đô thị được xem là vấn
đề hết sức quan trọng hiện nay đối với Việt Nam Ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết đinh số 1519/QĐ - TTg lấy ngày 8/11 hằng năm là Ngày Đô thị Việt Nam, nhằm động viên và thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, chính quyền các đô thị các nhà quy hoạch, kiến trúc, các nhà đầu tư phát triển đô thị, các chuyên gia và các tố chức xã hội - nghề nghiệp tích cực tham gia xây dựng
và phát triển đô thị Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong việc phát triển đô thị gắn liền với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, tạo dựng được những không gian đô thị mới, từng bước đáp ứng nhu cầu về môi trường sống và làm việc có chất lượng Đô thị đã khẳng định vai trò là động lực cho phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước
Tuy nhiên, phát triển đô thị tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Bên cạnh đó, hệ thống đô thị Việt Nam cũng đang phải đối diện với những thách thức mới nảy sinh do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Đây là những thách thức lớn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đô thị, điều kiện, môi trường sống của dân cư
Theo xu hướng tất yếu của cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thành phố Thái Nguyên đã và đang trên con đường phát triển đô thị Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng đã để lại một số hậu quả về môi trường trên địa bàn Thành phố suy thoái chất lượng nước mặt …Trong thời gian tới, nếu các cơ quan nhà nước không có những can thiệp kịp thời thì quá trình phát triển đô thị sẽ gây ra những hậu
Trang 10quả nghiêm trọng tới môi trường thành phố Thái Nguyên Điều này đã được chứng minh từ thực tế hiện trạng môi trường thành phố Thái Nguyên
Sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường nước nói chung Trong phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường nước mặt Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự cho phép của ban chủ nhiệm khoa Môi Trường trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường nước mặt các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến chất lượng môi trường nước mặt các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên, để đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường nước mặt trước sự phát triển đô thị thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa học tập: Vận dụng các kiến thức đã học ở trường lớp vào thực tiễn
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất biện pháp khắc phục những tác động tiêu cực của phát triển đô thị tới môi trường nước mặt thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương có điều kiện tương tự
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường
2.1.1 Khái quát về môi trường
* Các khái niệm môi trường:
Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa sinh, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng cá nhân, từng cộng động và toàn bộ loài người trên hành tinh (Nguyễn Thị Lợi, 2006) [9]
Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh,
có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật
Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người”
Xét theo quan điểm nghiên cứu đô thị, môi trường đô thị là môi trường sống của con người tại khu vực đô thị Môi trường đô thị là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý, kỹ thuật, chính trị và xã hội ngay từ khi hình thành các đô thị Tuy nhiên mức độ quan tâm và cách thức tiếp cận mỗi thời mỗi khác
* Chức năng của môi trường
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
- Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người
- Môi trường là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất
- Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái Đất
Trang 12- Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
2.2.2 Khái quát về ô nhiễm môi trường
* Ô nhiễm môi trường:
Theo Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005: “Ô nhiễm môi trường
là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “ Ô nhiễm môi trường
là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường”
* Ô nhiễm môi trường nước:
Là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên Nước ô nhiễm thường
là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu
* Nước thải sinh hoạt:
Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công
sở, trường học và các cơ sở trường học khác
* Nước thải công nghiệp: Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc
trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu
* Nước thải đô thị: Nước thải đô thị là một thuật ngữ chỉ chất lỏng trong hệ
thống cống thoát của một thành phố, thị xã đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên
* Nước thải thấm qua: Là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều
cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố gas hay hố xí
* Nước thải tự nhiên: Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những
thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng
* Tiêu chuẩn môi trường: Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Là giới hạn cho phép của các thông số
về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong
Trang 13chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”
2.2 Những căn cứ pháp lý về môi trường và ô nhiễm môi trường
- Căn cứ Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 ngày 29/11/2005
- Căn cứ Luật số 17/2012/QH13 của Quốc hội : Luật tài nguyên nước
- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước
- Nghị định số 162/2003/ NĐ – CP ngày 19 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ ban hành quy chế thu thập, quản lí, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước
- Thông tư 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005: Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước
- Thông tư số 29/2011/TT-BTNMT quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa
- TCVN 5942-1995: Giá trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước mặt
- TCVN 5945:2005 Nước thải công nghiệp – tiêu chuẩn thải
- TCVN 5992 - 1995 Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
- QCVN 08 : 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường nước mặt
- QCVN 14:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
- QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp
2.3 Những vấn đề cơ bản về đô thị và quá trình phát triển đô thị
2.3.1 .Đô thị và điểm dân cư đô thị
* Khái niệm đô thị
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển bách khoa Việt Nam, 1995) [13]
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị (Vũ Thị Bình, 2008) [1]
Trang 14Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp,
cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thức đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện
Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay trung tâm tổng hợp; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền, của một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện
* Khái niệm điểm dân cư đô thị
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị
Mỗi nước có một quy định riêng về điểm dân cư đô thị.Việc xác định quy mô tối thiểu của đô thị phục thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội của mỗi nước và tỷ lệ phần trăm dân phi nông nghiệp của đô thị (Vũ Thị Bình, 2008) [1]
2 Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn)
3 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 65% trong tổng số lao động, là nơi có sản cuất phi nông nghiệp và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển
4 Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị
5 Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm của từng vùng
* Một số đặc điểm của điểm dân cư đô thị
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở điểm dân cư đô thị chỉ tính trong phạm
vi nội thị
Lao động phi nông nghiệp bao gồm những lao động làm việc trong các lĩnh vực: + Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
+ Lao động xây dựng cơ bản
+ Lao động phục vụ: giao thông vận tải, bưu điện, tín dụng, ngân hàng, thương mại, dịch vụ công, du lịch
Trang 15+ Lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, xã hội, giao dục, y tế, nghiên cứu khoa học …
+ Những lao động khác ngoài nông nghiệp
- Cơ sở hạ tầng đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị là yếu tố phản ánh mức độ phát triển và tiện nghi sinh hoạt của người dân theo lối sống đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị gồm:
+ Hạ tầng kỹ thuật: Giao thông, điện nước, cống rãnh thoát nước, năng lượng
và thông tin, vệ sinh môi trường …
+ Hạ tầng xã hội: nhà ở tiện nghi, các công trình dịch vụ công cộng văn hóa,
xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, cây xanh, vui chơi giải trí…
- Mật độ dân cư đô thị
Mật độ dân cư là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị, nó được xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị tính trên diện tích đất đai nội thị (người/km2 hoặc người/ha)
* Phân loại đô thị
Tại Điều 4 Nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị quy định:
Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận
1 Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc
2 Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành
3 Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị
4 Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị
5 Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân
số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương
Trang 16* Sự phát triển của đô thị
Quá trình phát triển đô thị thực chất cũng là một quá trình phát triển kinh tế xã hội, hơn nữa nó còn là quá trình phát triển không gian kiến trúc Nó gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển các công trình xây dựng
Quá trình phát triển đô thị phụ thuộc nhiều vào đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của từng vùng, miền, lãnh thổ
2.3.2 Những vấn đề về môi trường đô thị
2.3.2.1 Khái niệm về môi trường đô thị
Môi trường đô thị là một bộ phận trong toàn bộ môi trường nói chung Tất cả các yếu tố môi trường xét trong không gian đô thị đều thuộc phạm vi môi trường đô thị
Môi trường đô thị có ảnh hưởng quan trọng tới sự hoạt động, tồn tại và phát triển của đô thị trong đó con người là hạt nhân trung tâm, vừa là đối tượng nghiên cứu vừa là người nghiên cứu nhằm giải quyết hợp lý các mối quan hệ phức tạp đó Chính vì vậy mà ông phó chủ tịch phụ trách phát triển môi trường đô thị bề vững của ngân hàng thế giới tại hội nghị ngân hàng thế giới lần thứ hai bàn về môi trường
đô thị đã khẳng định: “Chương trình nghị sự về môi trường đô thị là vấn đề con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, cách sống của con người mà đặc biệt là những người nghèo và con em họ, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến hiệu quả các hoạt động kinh tế văn hóa của xã hội loài người” Đó là những vấn đề cơ bản của đô thị.Các thành phần trong môi trường đô thị gồm thành phần môi trường tự nhiên và thành phần môi trường nhân tạo (Vũ Thị Bình, 2008) [1]
2.3.2.2 Môi trường của đô thị
• Môi trường tự nhiên của đô thị
Môi trường tự nhiên của đô thị gồm tất cả các thành phần của thiên nhiên tồn tại bao quanh đô thị và xen cài trong đô thị như: địa hình, động - thực vật, khí hậu, không khí, đất nước … Môi trường thiên nhiên của đô thị nằm trong hệ sinh thái đô thị, trong đó các thành phần thiên nhiên luôn luôn liên hệ với nhau thông qua chu trình vật chất và năng lượng Dưới tác động của con người và các hoạt động xây dựng, môi trường tự nhiên trong đó đô thị bị ô nhiễm, có sự thay đổi về tính chất, số lượng, thành phần … so với môi trường tự nhiên nguyên sơ Vì vậy con người phải
có trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ thiên nhiên và có thái độ đúng mực với thiên nhiên Đối với công tác quy hoạch xây dựng đô thị thì đây là nguyên tắc quan trọng để bảo
Trang 17vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường đô thị Theo các nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED), hội nghị của Ngân hàng thế giới đều cho rằng môi trường tự nhiên của đô thị ngày càng bị ô nhiễm và suy thoái bởi những tác động của con người, của sự phát triển đô thị, công nghiệp hóa và sự phát triển văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật Nạn ô nhiễm không khí, đất, nước và suy thoái cảnh quan đô thị, tài nguyên thiên nhiên rất nghiêm trọng là mối đe dọa đến sức khỏe, cuộc sống của con người và các loài sinh vật khác (Vũ Thị Bình, 2008) [1]
* Không khí trong đô thị
Các hoạt động của con người rất đa dạng và thường xuyên đã thải ra môi trường nhiều khí độc hai nguy hiểm, điển hình là khí Cacbon oxyt (CO), Sunphur oxyt (SOx) mà chủ yếu là SO2, nito oxyt (NOx) chủ yếu là NO và NO2, hidrocacbon (HC) và các loại bụi Ngoài 5 chất độc hại chính còn nhiều chất khác như hidro-clorua (HCl), Chì (Pb), Thủy ngân (Hg), Hidro Sunphur (H2S), Ozon (O3), Amôniăc (NH3), Thuốc trừ sâu bọ, khói bụi và các loại vi khuẩn gây bệnh … ảnh hưởng đến sức khỏe của dân cư đô thị (Vũ Thị Bình, 2008) [1]
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng do hoạt động của con người trong các đô thị đã tăng thêm ô nhiễm không khí, tăng khí thải Cacbonic và nhiều chất khí độc hại khác vào khí quyển làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khí hậu toàn cầu, phá hoại tầng ozon
* Nước trong đô thị
Nước là tài nguyên thiên nhiên, là nhân tố không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày do vậy nước được coi là tài nguyên đặc biệt Trong đô thị nơi tập trung dân cư đông đúc nước càng có ý nghĩa quan trọng không chỉ bởi khả năng cấp nước mà cả về chất lượng nước (nước cấp, nước thải) để phục vụ cho con người
Trong đô thị dân cư tập trung đông đúc với tất cả mọi hoạt động (công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, vui chơi giải trí …) đã thải ra một lượng nước đáng
kể bao gồm nước thải sản xuất, sinh hoạt, nước tưới rửa đường cây cối … nếu không tập trung và xử lý tốt thì chính những loại nước này sẽ gây ra ô nhiễm môi trường nước (vì trong nước thải đô thị có nhiều cặn lắng lơ lửng, chất hữu cơ và chất độc hại, dầu mỡ và các vi trùng gây bệnh)
Trang 18* Đất trong đô thị
Con người và nhiều loại sinh vật tồn tại, phát triển trên và trong đất ĐẤt cung cấp cho con người những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống (lương thực, thực phẩm …); Đất là nơi xây dựng các công trình, các đô thị … Do đó đất là tài nguyên quý giá của loài người Trong quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế, con người
đã chiếm dụng đất canh tác để xây dựng nhà cửa, đường sá … cho đô thị Đất được dùng vào mục đích xây dựng tăng lên nhiều
Lượng phân hóa học, thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp đã ảnh hưởng đến đất Từ đất mới ảnh hưởng đến rau xanh con người ăn rau xanh sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe
Rác thải, phế thải công nghiệp, chất thải rắn từ sinh hoạt, bệnh viện, thương nghiệp – dịch vụ … không qua phân loại đã chuyển thẳng đến bãi chon lấp rác không đảm bảo điều kiện vệ sinh của thành phố là nguồn độc hại gây ô nhiễm nước, đất - Khả năng di chuyển các chất độc hại trong đất xa hơn nhiều so với phạm vi trực tiếp bị ô nhiễm
Ngoài ra, trên phạm vi đô thị do san lấp đất xây dựng công trình đường sá đã phá hủy thảm thực vật (lớp hữu cơ trên cùng), phá hoại điều kiện cân bằng tự nhiên của đất, thay đổi địa hình, cản trở dòng chảy… gây hiện tượng sạt lở mái dốc, làm suy yếu lớp đất nền và ảnh hưởng đến cảnh quan khu vực
Muốn sử dụng đất có hiệu quả phải đánh giá đất đai, đánh giá khả năng, chất lượng đất Bảo vệ đất chính là bảo vệ cuộc sống của con người
• Môi trường nhân tạo trong đô thị
Môi trường nhân tạo trong đô thị là tất cả những gì con người tạo ra trong đồ thị Nó gồm các thành phần vật chất và phi vật chất
- Các thành phân vật chất gồm các công trình xây dựng theo các chức năng
đô thị (như không gian sinh hoạt, sản xuất, nghỉ ngơi – giải trí, cơ sở hạ tầng kỹ thuật) và không gian đặc biệt như di tích, danh lam thắng cảnh
- Các thành phần vi vật chất bao gồm cách ứng xử, công ăn việc làm và ý thức Ngoài ra, nó bao gồm kết quả tư duy do hoạt động của con người đưa lại những tư duy đó lại bị ảnh hưởng do tiếng ồn, rung động, từ trường …
Trang 192.4 Mối quan hệ giữa sự phát triển đô thị và ô nhiễm môi trường
• Đô thị hoá và ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm không khí đang là mối quan tâm lớn của các đô thị trên thế giới Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt
là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ozon),
Ô nhiễm không khí ở đô thị chủ yếu do khí thải, khí đốt các nhiên liệu hóa thạch, gồm ba hoạt động chính: giao thông cơ giới, công nghiệp và từ sinh hoạt Đặc biệt, các nước đang phát triển như Việt Nam có tốc độ tăng lượng xe cơ giới nhanh
Theo đánh giá của chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70% Gia tăng phương tiện giao thông
cơ giới tại các đô thị trong những năm qua đã làm gia tăng ô nhiễm bụi, khí thải và tiếng ồn do các hoạt động giao thông gây ra Ùn tắc giao thông, phố hóa quốc lộ, tỉnh lộ, hoạt động xây dựng hạ tầng và khu dân cư góp phần làm gia tăng mức độ ô nhiễm Hàm lượng các khí độc hại rất cao do khí thải, đun nấu và công nghiệp làm gia tăng bệnh đường hô hấp, bệnh về mắt và ngoài da
Ô nhiễm không khí còn bao gồm ô nhiễm về tiếng ồn Ô nhiễm tiếng ồn giao thông và các ảnh hưởng tới sức khỏe người dân đô thị Theo kết quả nghiên cứu giá trị mức ồn tăng từ 2 - 5dBA do cấu trúc nhà ống, liền kề, bám dọc theo các tuyến đường Hầu hết các trục đường lớn ở các đô thị đều có mức tiến ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép Tiếng ồn là nguyên nhân làm giảm tuổi thọ và gia tăng các chứng bệnh về thần kinh
• Đô thị hoá và ô nhiễm môi trường nước
Nguồn nước và môi trường nước có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đô thị Bất kỳ một đô thị nào cũng phải có nguồn nước đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ Không những thế, nguồn nước còn đóng vai trò làm sạch, cân bằng môi sinh vỡ nó cải tạo khí hậu đô thị và đưa các chất thải ra khỏi đô thị qua hệ thống thoát nước
Trang 20Nguồn nước ở đô thị bao gồm nước mặt và nước ngầm Hiện nay, cả nguồn nước mặt và nước ngầm ở nhiều đô thị đều đang trong tình trạng báo động về cả ô nhiễm chất bẩn và suy thoái nguồn nước Nguyên nhân gây ô nhiễm nước ở đô thị
do công nghiệp, sinh hoạt và giao thông gây ra Vấn đề ô nhiễm còn đi kèm với việc khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn tài nguyên này
- Ô nhiễm do công nghiệp
- Ô nhiễm do giao thông
- Ô nhiễm do sinh hoạt
• Đô thị hoá và ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm đất có quan hệ chặt chẽ với ô nhiễm môi trường nước Dưới góc độ môi trường đô thị vấn đề ô nhiễm đất bao gồm: thoái hóa đất tự nhiên và đất canh tác( sa mạc hóa, xói mòn, axit hóa ), nhiễm bẩn do công nghiệp và sinh hoạt ( do bãi rác, khu công nghiệp ô nhiễm và nghĩa địa) và việc cạn kiệt nguồn tài nguyên khi đất canh tác bị lạm dụng biến thành đất ở
• Chất thải rắn ở đô thị
Phế thải rắn là nguyên nhân chủ yếu gây nhiễm bẩn đất và nước Hầu hết thôn xóm Việt Nam không có bãi rác mà rác thải được tái sinh, tái sử dụng ngay trong từng đơn vị hộ gia đình Tuy nhiên đối với đô thị phải có một hệ thống từ thu gom, vận chuyển và xử lý phế thải rắn
Phế thải rắn ở đô thị gồm nhiều loại, từ rác thải sinh hoạt, công nghiệp, xây dựng cho đến bệnh viện, đều có thể gây ô nhiễm cho thành phố Chính vì vậy chúng đều phải được đưa ra khỏi thành phố và chôn lấp, xử lý hợp vệ sinh
Nếu rác không được thu gom hợp lý sẽ làm ô nhiễm đất, nước và không khí cũng như làm mất đất đai và thay đổi sinh thái Dưới tác dụng của vi sinh vật có sẵn trong rác, các chất hữu cơ sẽ bị phân hủy và sinh ra những khí độc, bụi, mùi hôi thối bốc lên làm nhiễm bẩn không khí gây bệnh viêm đường hô hấp và đường ruột
2.5 Thực trạng phát triển đô thị trên thế giới
Trong thế kỷ XX, sự gia tăng dân số quá nhanh và không kiểm soát được xảy
ra ở nhiều nơi trên thế giới Theo các chuyên gia Liên Hợp Quốc, đến năm 2030 dân
số thế giới sẽ vượt qua ngưỡng 8 tỷ
Phần lớn nguyên nhân của phát triển đô thị nảy sinh do khát vọng phát triển cấu trúc không gian của đô thị Cùng với sự xuất hiện các khu đô thị mới, khu công
Trang 21nghiệp và những thành phố chính là sự thay đổi của các đô thị có sẵn về lượng một cách rõ ràng nhất Đó là một hiện tượng tất yếu trên con đường phát triển của loài người nhưng nếu chúng ta không đi đúng hướng sẽ rất có hại cho môi trường và cho sức khỏe của con người
Khi thành phố ngày càng được mở rộng thì những vấn đề liên quan đến đi lại, nghỉ ngơi, tiếp xúc với thiên nhiên của cư dân trong các đô thị ngày càng cao
Đô thị càng phát triển và càng lớn thì cường độ di chuyển của người dân càng nhiều Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra những khó khăn trong các đô thị hiện đại (ô nhiễm môi trường do các chất thải từ các phương tiện giao thông cơ giới, tai nạn giao thông…) Ngoài ra còn có những “kẻ thù” hết sức nguy hiểm cho xã hội và cho sức khoẻ của con người (cho cả cư dân bản địa và những người di cư hay vãng lai) do sự tập trung một khối lượng lớn người trên một diện tích có hạn của thành phố Đó chính là các loại tệ nạn xã hội (nghiện hút, mại dâm, trộm cắp, lừa đảo…) và những loại bệnh tật vô phương cứu chữa của nền văn minh hiện đại (ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp )
Sự phát triển không được kiểm soát của các đô thị sẽ dẫn đến những vấn đề không thể sửa chữa được lợi ích chỉ rơi vào một nhóm rất ít người trong xã hội còn thực tế dành cho đại đa số quần chúng lao động là đô thị hóa phát triển không bền vững: chất lượng nhà ở kém (không có chỗ ở và nơi cư trú không còn đủ không gian
để có thể tự tổ chức các hoạt động văn hoá và đời sống), cuộc sống bấp bênh do giá
cả sinh hoạt ngày một cao, người dân không tiếp cận được đầy đủ nền giáo dục chung của xã hội…
Trong đô thị còn những nguồn ô nhiễm khác mà con người ít để ý đến Đó là
sự ô nhiễm do các yếu tố vật lý, cụ thể là do các yếu tố từ trường với tần suất và cường độ khác nhau (các trạm thu - phát sóng, các đường dây truyền tải điện năng…)
Hơn nữa, cho đến bây giờ chúng ta cũng chưa lường hết được về những tác động của các loại vật liệu xây dựng đến sức khoẻ của con người, đặc biệt là những loại vật liệu có nguồn gốc từ các hợp chất vô cơ Đô thị càng phát triển thì các nguy
cơ ô nhiễm từ các yếu tố đó càng lớn
Thành phố không những bị ô nhiễm mà khí hậu của nó cũng bị thay đổi Những thành phần cơ bản của khí hậu như bức xạ, chế độ nhiệt - ẩm, áp suất không
Trang 22khí, chế độ gió…luôn bị tác động bởi quá trình phát triển đô thị Nhà càng cao thì mặt đất càng bị nhiễm khuẩn vì ánh sáng mặt trời bị che khuất không đủ khả năng
để tiêu diệt các loại vi trùng có hại Do quá trình phát triển đô thị và phát triển dân
số diễn ra quá nhanh và quá hỗn độn nên những quy tắc quy hoạch không được tôn trọng - ví dụ như vi phạm về mật độ xây dựng, về hướng của các con đường và của các công trình…sẽ làm tăng mất mát những tia nắng tự nhiên có lợi cho sức khoẻ con người và hơn thế nữa cần phải tiêu tốn thêm một phần năng lượng đáng kể để duy trì chế độ vi khí hậu trong các không gian sống của con người,…
Rõ ràng quá trình phát triển đô thị đang tồn tại rất nhiều vấn đề có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người và sự phát triển của xã hội Để giải quyết tận gốc những vấn đề này thì chỉ có một cách duy nhất là cần phải làm trong sạch môi trường Nguyên tắc xây dựng đô thị dựa trên các quy luật của sinh học có ý nghĩa
vô cùng lớn trong việc tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người Ngày nay, việc ứng dụng các quan niệm sinh thái hướng đến các đô thị phát triển bền vững cũng được xem trọng Điều quan trọng nhất là phải tạo ra môi trường thuận lợi để thế giới tự nhiên được hoạt động theo quy luật riêng của mình Quá trình phát triển đô thị của thế giới đã có kinh nghiệm thành công và không thành công Từ những kinh nghiệm đó, chúng ta phải tự rút ra các bài học để có thể góp phần cho sự nghiệp phát triển đô thị ở nước ta trong thời gian tới
2.6 Thực trạng phát triển đô thị tại Việt Nam
2.6.1 Thực trạng phát triển đô thị của cả nước
• Đô thị hoá, qua các con số
Ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết đinh số 1519/QĐ- TTg lấy ngày 8/11 hằng năm là Ngày Đô thị Việt Nam, nhằm động viên và thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, chính quyền các đô thị các nhà quy hoạch, kiến trúc, các nhà đầu tư phát triển đô thị, các chuyên gia và các tố chức xã hội-nghề nghiệp tích cực tham gia xây dựng và phát triển đô thị Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đô thị luôn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Phát triển đô thị được xem là vấn đề hết sức hiện nay đối với Việt Nam
Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình phát triển đô thị diễn ra hết sức nhanh chóng nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 23Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ phát triển đô thị vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con
số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia: Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố như: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình… Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính-chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-dịch vụ, đầu mối giao thông; và các đô thị trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới
Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 con số này sẽ 56-60%, đến năm 2020 là 80%
Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ phát triển đô thị của Việt Nam vào năm
2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên
45 triệu dân Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người Nếu đạt tỷ lệ 100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhưng hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với yêu cầu Với tốc độ phát triển và dân số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp phát sinh từ quá trình phát triển đô thị hóa
Đó là: Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị, làm cho mật độ dân số ở thành thị tăng cao; vấn đề giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và
tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ven đô ngày càng thêm phức tạp; vấn đề nhà ở
và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước
• Phát triển đô thị hướng tới mục tiêu bền vững
Phát triển đô thị là một quá trình tất yếu của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, phát triển đô thị tự phát, thiếu quy hoạch khoa học sẽ làm nảy sinh và để lại nhiều hậu quả tiêu cực và lâu dài, cản trở sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, chiến lược phát triển đô thị của Việt Nam phải hướng tới mục tiêu bền vững giữ tự nhiên, con người và xã hội
Trang 24Muốn vậy cần: Tăng cường công tác giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân Song song với việc nâng cao dân trí là tiến hành quy hoạch phân bố đồng đều các khu công nghiệp, khu đô thị tại các thành phố trên cả nước Tăng cường giáo dục nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới đối với cư dân đô thị Hạn chế và quản lý tốt hơn đối với dân nhập cư, góp phần lập lại trật tự xã hội đảm bảo cho việc xây dựng xã hội đô thị ổn định, bền vững Có chiến lược, lộ trình quy hoạch đô thị đồng bộ Hoàn thiện và và phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông đường bộ thuận tiện, không ách tắc và hạn chế gây ô nhiễm môi trường
Tăng cường nâng cao nhận thức cho cộng đồng về tầm quan trọng của môi trường đối với sức khoẻ và chất lượng cuộc sống Tích cực thực hiện các biện pháp tuyên truyền, khuyến khích cộng đồng sử dụng các nhiên liệu sạch trong sinh hoạt thay cho các loại nhiên liệu gây ô nhiễm không khí và nguồn nước sinh hoạt Ưu tiên phát triển giao thông công cộng, đặc biệt là các phương tiện giao thông công cộng hiện đại không gây ô nhiễm Cần xem việc phát triển phương tiện vận chuyển công cộng là giải pháp trọng tâm để giảm nguy cơ tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường đô thị Có thể nói, đô thị hoá tự phát, thiếu quy hoạch khoa học sẽ làm nảy sinh và để lại nhiều hậu quả tiêu cực và lâu dài, cản trở sự phát triển của đất nước
2.6.2 Thực trạng phát triển đô thị, quá trình hình thành và phát triển đô thị tại thành phố Thái Nguyên
Thành phố tiếp tục triển khai thực hiện theo đồ án quy hoạch chung thành phố đến năm 2020 tại Quyết định số 278/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,
đã mở rộng thành phố về phía Bắc thêm 2 xã Cao Ngạn và Đồng Bẩm
Đến nay, thành phố Thái Nguyên đã và đang tập trung xây dựng và phát triển
đô thị theo quy hoạch được duyệt Kết quả đạt được như sau:
- Về cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ
Về cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ chủ yếu tập trung ở 19 phường nội thành, quy mô khoảng 6.080,71 ha
Các khu vực đô thị cũ (các khu ở cũ, các trung tâm hành chính, các cơ quan công sở) đã được tập trung xây dựng theo đúng quy hoạch Nâng cấp hệ thống chiếu sáng, xây dựng đồng bộ vỉa hè, lòng đường; bảo đảm cấp nước sạch cho nhân dân
Cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường và hình thành tuyến du lịch sinh thái
Di chuyển các xí nghiệp sản xuất ô nhiễm môi trường vào các khu công nghiệp, di
Trang 25dời một số công trình nghĩa trang, bãi chôn lấp chất thải rắn ra khỏi khu vực trung tâm Thành phố
- Về quy hoạch, phát triển các khu dân cư và đô thị mới
Trong những năm qua, thành phố tập trung các nguồn lực để hoàn thiện cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển mạng lưới đô thị và điểm dân cư tập trung theo hướng hiện đại Đặc biệt là các khu đô thị mới 2 bên bờ sông Cầu, sẽ là điểm nhấn để phát triển thành phố bên bờ sông đang dần trở thành hiện thực Hiện nay, thành phố đang có chủ trương xây dựng các khu đô thị mới phường Túc Duyên; Dự án Kè chống lũ sông Cầu đang tiếp tục triển khai giai đoạn
2 kéo dài từ Túc Duyên đến đập thác Huống Tới đây, dự án Đường Bắc Sơn, đường Minh Cầu nối đường Bắc Sơn và Khu dân cư số 1 Hoàng Văn Thụ sau khi
hoàn thành sẽ tạo thêm một con đường nội thị rộng đẹp cùng một khu dân cư mới,
góp phần xóa bỏ tình trạng làng trong phố; Dự án Khu đô thị Xương Rồng với tổng diện tích trên 45 ha được quy hoạch và xây dựng theo kiến trúc hiện đại, độc đáo, với 9,5 ha diện tích lòng hồ được thiết kế nằm giữa khu đô thị vừa có chức năng điều hòa sinh thái, vừa tạo cảnh quan cho khu đô thị và khu vực phía Bắc thành phố Bao quanh hồ là khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí, cây xanh các biệt thự đơn, biệt thự đôi, khu dân cư, được bố trí hài hòa cùng với một kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ sẽ là điểm nhấn quan trọng, làm thay đổi diện mạo thành phố
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng được tập trung chỉ đạo
và thực hiện có hiệu quả Đến nay, gần như toàn bộ diện tích đất nội thị đã được lập quy hoạch chi tiết xây dựng Đối với các xã ngoại thị, trung tâm các xã đã và đang được lập quy hoạch chi tiết Việc quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch được duyệt được thực hiện tương đối tốt
- Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn
Khu dân cư nông thôn của thành phố được phân bố ở 9 xã Với phong tục, tập quán có từ lâu đời, các điểm dân cư nông thôn thường được hình thành và phát triển dọc theo các tuyến giao thông chính, gần nguồn nước, nơi có địa hình bằng phẳng, thuận tiện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Hệ thống cơ hạ tầng như trụ sở UBND xã, trường học, sân thể thao, bưu điện văn hoá… tập trung chủ yếu ở trung tâm các xã
Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn đang ngày càng được cải thiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống vật chất tinh thần của người dân
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sự phát triển đô thị trên địa bàn nghiên cứu;
- Chất lượng các thành phần môi trường nước mặt;
- Các nhà máy, khu công nghiệp, khu đô thị và khu dân sinh trên địa bàn nghiên cứu
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
Sự phát triển đô thị và ảnh hưởng của nó đến môi trường tại Xã Cao Ngạn,
xã Đồng Bẩm, xã Quyết Thắng, Phường Tân Thịnh, Phường Quang Trung, xã Phúc Xuân…(các xã phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên)
- Về thời gian:
Giai đoạn từ năm 2008 - 2013
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 20/01/2014 đến ngày 30/4/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Cao Ngạn, xã Đồng Bẩm, xã Quyết Thắng, Phường Tân Thịnh, Phường Quang Trung, xã Phúc Xuân …
- Địa điểm thực tập: Khoa TN&MT trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên
3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên
- Vị trí địa lý, địa hình, địa chất, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn
- Đặc điểm về thổ nhưỡng
3.3.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của thành phố Thái Nguyên
- Khái quát chung về phát triển kinh tế: Cơ cấu kinh tế, tỷ trọng các ngành chính, tốc độ phát triển
- Phát triển dân số và cơ cấu lao động
- Cơ sở hạ tầng
Trang 27- Đánh giá thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến
sự phát triển và đô thị hóa của thành phố Thái Nguyên
3.3.2 Ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị đến biến động diện tích đất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
3.3.3 Sự ảnh hưởng của phát triển đô thị đến thành phần môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
3.3.3.1 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng pH trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 3.3.3.2 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng COD trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 3.3.3.3 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng BOD 5 trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 3.3.3.4 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng TSS trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
3.3.3.5 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng Pb trong môi trường nước mặt các xã phường Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
3.3.3.6 Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng Fe trong môi trường nước mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
3.3.3.7 Phân tích mối tương quan giữa hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá tại khu vực nghiên cứu năm 2013
3.3.4 Đánh giá sự ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường qua ý kiến người dân
3.3.5 Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước khu vực nghiên cứu thành phố Thái Nguyên
3.3.6 Đề xuất một số giải pháp
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp khảo sát ngoài thực địa
- Khảo sát các xã phường thuộc khu vực phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
3.4.2 Phương pháp bản đồ
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình chọn mẫu điều tra và xác định vị trí các khu công nghiệp, các khu vực lấy mẫu và khi điều tra nông hộ để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Trang 283.4.3 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
- Thu thập các thông tin về Tình hình biến động mục đích sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013, tình hình biến động cơ cấu sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 tại Phòng TNMT thành phố Thái Nguyên
- Thu thập số liệu quan trắc môi trường nước mặt của thành phố thái nguyên
từ năm 2008 – 2012 tại Trung tâm quan trắc thành phố Thái Nguyên
- Thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu, bao gồm: Thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường, lao động, việc làm… tại Trung tâm thông tin thành phố Thái Nguyên
3.4.4 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Đề tài tiến hành thực hiện trên địa bàn các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên: xã Cao Ngạn, xã Đồng Bẩm, Phường Quang Vinh, Phường Hoàng Văn Thụ, Phường Phan Đình Phùng, Phường Quang Trung, Phường Tân Long, Phường Quan Triều, xã Phúc Hà, Xã Quyết Thắng, Xã Phúc Xuân, Phường Túc Duyên, Phường Trung Vương, Phường Tân Thịnh
3.4.5 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn để thu thập về thực trạng sử dụng đất, môi trường và chất lượng cuộc sống người dân Nội dung điều tra, phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sau:
- Quy mô đất nông nghiệp của hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất
- Thu nhập, đời sống, việc làm của hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất
- Ý kiến của người dân về vấn đề sử dụng đất, đời sống, việc làm, môi trường trước sự phát triển đô thị
Số lượng phiếu điều tra nông hộ để điều tra tổng thể đời sống, thu nhập người dân là 100 phiếu
Số hộ điều tra được chia thành 4nhóm sau:
- Nhóm hộ I (Không bị thu hồi đất)
- Nhóm hộ II (Bị thu hồi < 30% diện tích đất đang sử dụng)
- Nhóm hộ III (Bị thu hồi 30- 70% diện tích đất đang sử dụng)
- Nhóm hộ IV (Bị thu hồi 70-100% diện tích đất đang sử dụng)
Trang 29Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn để thu thập thông tin về môi trường, cơ sở hạ tầng xã hội, cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại các điểm dân cư gần các khu, cụm công nghiệp tập trung
3.4.6 Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp lấy mẫu phân tích: Phương pháp lẫy mẫu nước mặt thực hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5992:1995 (ISO 5667 -2: 1991) Các mẫu nước thải được lấy tại các hố ga, hoặc nơi cống xả vào nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt Các mẫu nước mặt được lấy tại các kênh, mương, ao, hồ dẫn nước nằm sát phía sau KCN, hoặc các vị trí khu dân
cư ven KCN, nguồn nước này dùng để cung cấp nước tưới cho nông nghiệp
Đề tài lựa chọn các địa điểm lấy mẫu phân tích cụ thể như sau:
Bảng 3.1 Bảng vị trí của các điểm lấy mẫu STT Tên mẫu Vị trí lấy mẫu Địa điểm Kí hiệu
mẫu Tọa độ địa lí
3.4.7 Phương pháp phân tích mẫu
Các phân tích mẫu nước, được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Viện khoa học sự sống, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
3.4.8 Phương pháp xử lý và đánh giá tổng hợp số liệu
- Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp này cho phép ta hát hiện những điểm giống nhau và khác nhau giữa các thời điểm nghiên cứu đồng thời giúp ta phân tích được các động thái phát triển của chúng
Trang 30- Phương pháp tổng hợp: Là liên kết thống nhất toàn bộ các yếu tố, các nhận xét mà khi sử dụng các phương pháp có được một kết luận hoàn thiện, đầy đủ, vạch
ra mối liên hệ giữa chúng
- Số liệu được xử lý bằng phần mềm WINWORD, EXCEL…
- Sử dụng phầm mềm XLSTAT để xử lý số liệu:
Để phân tích và đánh giá mối tương quan giữa các hàm lượng các chỉ tiêu tại khu vực nghiên cứu ta sử dụng chức năng phân tích tương ứng (Correspondence Analysis- CA) của phần mềm XLSTAT
Phân tích tương ứng (CA) là phương pháp trực quan để phân tích dữ liệu được biểu diễn bằng các bảng dữ liệu 2 chiều Kết quả của CA là bản đồ các điểm (Map
of Points) Trong đó các điểm biểu diễn cho các dòng (rows) và các cột (columns) của bảng Vị trí của các điểm trong bản đồ cho biết sự tương tự giữa các dòng, sự tương tự giữa các cột và sự kết hợp giữa dòng và cột trong bảng Mục đích của CA giúp phát hiện các mối quan hệ tiềm ẩn trong các bảng dữ liệu lớn
- Sử dụng một số phương pháp khác
3.4.9 Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Trao đổi, tiếp thu các kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn về sự phát triển các khu công nghiệp với các chuyên gia trong lĩnh vực này để nâng cao nhận thức và
chất lượng nghiên cứu
Trang 31KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí đia lý
Thành phố Thái Nguyên nằm ở trung tâm tỉnh Thái Nguyên Có toạ độ địa lý
từ 210 đến 22027’ vĩ độ Bắc và 105025’ đến 106014’ kinh độ Đông, nằm cách trung
đó, phía Đông Bắc và Tây Bắc bao gồm 05 xã và 09 phường có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Nam giáp các xã phường phía Tây Nam và Đông Nam là Phúc Trìu, Thịnh Đức, Tân Lập, Gia Sàng;
- Phía Tây giáp huyện Đại Từ;
- Phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ
Thành phố có vị trí chiến lược, quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Là trung tâm giao lưu văn hoá của vùng Việt Bắc, là đầu mối giao thông trực tiếp liên hệ giữa các tỉnh miền xuôi nhất là thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam: Cao Bằng, Bắc Kạn,
Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang Với vị trí địa lý như trên, thành phố Thái Nguyên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế xã hội không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và trở thành một đô thị trung tâm của khu vực trung du miền núi phía Bắc
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình của thành phố Thái Nguyên được coi như miền đồng bằng riêng của
tỉnh Thái Nguyên Ruộng đất tập trung ở hai bên bờ sông Cầu và sông Công được hình thành bởi sự bồi tụ phù sa của hai con sông này Tuy nhiên, vùng này vẫn mang tính chất, dáng dấp của địa mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và bậc thang nhân tạo, thềm phù sa mới và bậc thềm pha tích (đất dốc tụ) Khu vực trung tâm thành phố tương đối bằng phẳng, địa hình còn lại chủ yếu là đồi bát úp, càng về phía Tây bắc thành phố càng có nhiều đồi núi cao
Nhìn chung, địa hình thành phố khá đa dạng phong phú, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đô thị, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mặt khác tạo điều
Trang 32cây ăn quả và các loại cây công nghiệp khác như chè, các loại cây lấy gỗ
bố không đều theo không gian và thời gian, có chênh lệnh lớn giữa mùa mưa và mùa khô Về mùa mưa cường độ lớn, lượng mưa chiếm 87% tổng lượng mưa trong năm (từ tháng 5 đến tháng 10) Thành phố có độ ẩm không khí cao, độ ẩm trung bình năm
là 82%
Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển ngành nông-lâm nghiệp và là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
4.1.1.4 Thủy văn
Trên địa bàn thành phố có sông Cầu chạy qua địa bàn, con sông này bắt nguồn
từ Bắc Kạn chảy qua thành phố ở đoạn hạ lưu dài khoảng 25 km, lòng sông mở rộng
từ 70 - 100m Về mùa lũ lưu lượng đạt 3500 m³/giây, mùa kiệt 7,5 m³/giây
Sông Công chảy qua địa bàn thành phố 15 km, được bắt nguồn từ vùng núi Ba
Lá thuộc huyện Định Hoá Lưu vực sông này nằm trong vùng mưa lớn nhất của thành phố, vào mùa lũ, lưu lượng đạt 1.880 m³/giây, mùa kiệt 0,32m³/giây Đặc biệt, trên địa bàn thành phố có Hồ Núi Cốc (nhân tạo) trên trung lưu sông Công, có khả năng trữ nước vào mùa mưa lũ và điều tiết cho mùa khô hạn
4.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất
Theo kết quả tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng năm 2005 tỉnh Thái Nguyên tỷ lệ
1:50.000 cho thấy thành phố có các loại đất chính sau:
- Đất phù sa: diện tích là 3.623,38 ha chiếm 20,46% tổng diện tích tự nhiên
Loại đất này rất thích hợp trồng lúa và hoa mầu
Trang 33trong đó gồm có đất: Bạc màu phát triển trên phù sa cổ có sản phẩm feralitic trên nền
cơ giới nặng, nhẹ, trung bình và đất dốc tụ bạc màu có sản phẩm feralit thích hợp với trồng lúa - màu, cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất xám feralit: diện tích 7.614,96 ha chiếm 43% tổng tổng diện tích tự
nhiên, trong đó gồm các loại đất: đất xám feralit trên đá cát; đất xám feralit trên đá sét; đất xám feralit màu nâu vàng phát triển trên phù sa cổ Đất này thích hợp trồng rừng, trồng chè, cây ăn quả, cây trồng hàng năm
* Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt trên địa bàn thành phố phân bố không đều theo các vùng lãnh thổ và theo thời gian Lượng mưa chiếm khoảng 80% lượng nước trong năm Hiện nay nguồn nước mặt mới chỉ cung cấp cho 85 - 90% diện tích đất canh tác
Nguồn nước ngầm: Nhìn chung thành phố có nguồn nước ngầm phong phú, hiện tại nhân dân đang khai thác sử dụng trong sinh hoạt dưới các hình thức là giếng khơi và giếng khoan
* Tài nguyên rừng
Rừng của thành phố Thái Nguyên chủ yếu là rừng non, rừng trồng theo chương trình PAM, 327; nhìn chung trữ lượng thấp, nguồn thu từ kinh tế vườn rừng hầu như không đáng kể
* Tài nguyên khoáng sản
Thành phố Thái Nguyên có hai tuyến sông lớn chảy qua là sông Cầu và sông Công Hàng năm, cung cấp cho thành phố một lượng cát sỏi xây dựng khá lớn, đủ đáp
ứng nhu cầu xây dựng cho toàn thành phố Ngoài ra, thành phố còn nằm trong vùng
sinh khoáng Đông bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương có
mỏ than Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than khá lớn
* Tài nguyên nhân văn
Thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị hành chính trong đó có 19 phường và 9
xã với số dân trên 30 vạn người Trên địa bàn thành phố có đông đảo đội ngũ sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
4.1.1.6 Thực trạng môi trường
- Thành phố chịu ảnh hưởng do ô nhiễm bụi và khí thải của khu công nghiệp Gang Thép, vùng ô nhiễm đã gây ảnh hưởng xấu tới các khu dân cư và sinh thái nói chung của thành phố
Trang 34bẩn đã gây hiện tượng ô nhiễm suối Mỏ Bạch và nguồn nước sông Cầu Vấn đề này cần phải giải quyết tốt cả hiện tại và tương lai
- Ngoài ra còn phải kể đến lượng rác thải sinh hoạt, bệnh viện, trường học đã
đang tạo một sức ép rất lớn đến môi trường chung của thành phố
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng đô thị hoá
Thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị hành chính (19 phường, 09 xã) với tổng diện tích 18.630,56 ha; Dân số 350.112 nghìn người (năm 2012); trong đó dân số thường trú 208.710 người
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thành phố Thái Nguyên được là một trong những trung tâm kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng trung du miền núi phía Bắc Trong những năm qua, thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, thành phố đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước
- Về cơ cấu kinh tế
Sự phát triển của 3 nhóm ngành kinh tế lớn và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố theo hướng hiện đại cho thấy thành phố đã từng bước đi vào khai thác lợi thế so sánh của một đô thị, trung tâm kinh tế lớn của vùng
Cơ cấu kinh tế của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng các nghành công nghiệp, dịch vụ, thương mại, giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp Điều này cho thấy Thành phố đã từng bước đi vào khai thác lợi thế so sánh của một đô thị, một trung tâm kinh tế lớn của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ Cụ thể, tỷ trọng của khu vực phi nông nghiệp tăng từ 95,38 % năm 2010 lên 95,94% năm 2012 Trong khi đó tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm tương ứng từ 4,62% xuống 4,06%
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân nhiệm kỳ (2010 - 2012) đạt 14,90% Trong
đó, tốc độ tăng trưởng công nghiệp và xây dựng bình quân cả nhiệm kỳ 2010 - 2012 đạt 15,87%; tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân đạt 18,26% và tốc độ tăng trưởng
nông nghiệp bình quân đạt 4,55%
Trang 35- Dân số: Tính đến 01/01/2012, dân số (bao gồm cả thường trú và quy đổi)
toàn Thành phố là 350.112 nghìn người (năm 2012); trong đó số dân thành thị chiếm 78% số dân toàn thành phố, số dân nông thôn chiếm 22% số dân toàn thành phố
- Lao động, việc làm: Tổng số lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước
(bao gồm trung ương, địa phương và hành chính sự nghiệp) là 37.610 người, chiếm tỷ
lệ 26,73% và lao động làm việc ngoài khu vực nhà nước là 103.090 người, chiếm tỷ lệ 73,27% Lao động qua đào tạo gồm công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên nghiệp, đại học, cao đẳng chiếm 50%; lao động chưa qua đào tạo chiếm 45,54% Lao động có tay nghề khá phổ biến ở các ngành xây dựng, khai khoáng, sửa chữa, khí đốt… Tỷ lệ lao
động thất nghiệp chiếm 4,46%
- Thu nhập: GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 30 triệu đồng Năm 2011
GDP bình quân đầu người đạt 37 triệu đồng/năm, bằng 100% kế hoạch (tăng 7 triệu
đồng so với cùng kỳ năm 2010) Năm 2012 GDP bình quân đầu người đạt 42 triệu đồng/năm, bằng 100% kế hoạch (tăng 5 triệu đồng so với năm 2011) Năm 2013 GDP
bình quân đầu người đạt 48 triệu đồng/năm tăng 6 triệu đồng/năm Với đà phát triển
đó, trong tương lai, thành phố sẽ có những tiến bộ vượt bậc về chính trị - kinh tế - văn
hóa - xã hội theo hướng ổn định và bền vững, xứng đáng là trung tâm của vùng Việt Bắc Đồng thời, thành phố giữ vai trò chủ đạo là trung tâm dịch vụ và liên kết phát triển với các vùng xung quanh
4.1.2.3 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
* Thực trạng phát triển đô thị
Thành phố tiếp tục triển khai thực hiện theo đồ án quy hoạch chung thành phố
đến năm 2020 tại Quyết định số 278/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã mở
rộng thành phố về phía Bắc thêm 2 xã Cao Ngạn và Đồng Bẩm Đến nay, thành phố Thái Nguyên đã và đang tập trung xây dựng và phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt Kết quả đạt được như sau:
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng được tập trung chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả Đến nay, gần như toàn bộ diện tích đất nội thị đã được lập quy hoạch chi tiết xây dựng Đối với các xã ngoại thị, trung tâm các xã đã và đang được
Trang 36thực hiện tương đối tốt
* Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn
Khu dân cư nông thôn của thành phố được phân bố ở 9 xã Với phong tục, tập quán có từ lâu đời, các điểm dân cư nông thôn thường được hình thành và phát triển dọc theo các tuyến giao thông chính, gần nguồn nước, nơi có địa hình bằng phẳng, thuận tiện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Hệ thống cơ hạ tầng như trụ sở UBND xã, trường học, sân thể thao, bưu điện văn hoá… tập trung chủ yếu ở trung tâm các xã Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn đang ngày càng được cải thiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống vật chất tinh thần của người dân
đi qua và hiện nay đang thi công đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên Thành phố có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, giao lưu với Hà Nội và các địa phương khác
- Nguồn nhân lực với tỷ lệ lao động đã qua đào tạo rất cao là một lợi thế phát triển hơn hẳn của thành phố so với nhiều địa phương khác trong vùng và cả nước
Trang 37trung nhiều cơ sở công nghiệp trung ương đóng trên địa bàn tỉnh
- Nhu cầu thị trường trong nước đối với nhiều sản phẩm của thành phố Thái Nguyên (hàng công nghiệp, nông sản chế biến, dịch vụ giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá ) đang tăng nhanh là cơ hội rất lớn cho phát triển thành phố
- Điều kiện đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng, nên có thể phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp kết hợp làm tiền đề để phát triển công nghiệp chế biến nhất là sản phẩm chè đặc sản, tạo cơ sở thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
- Địa bàn thành phố với nhiều di tích danh thắng nếu được đầu tư sẽ thu hút được lượng du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng gấp nhiều lần so với hiện nay
* Khó khăn, hạn chế
- Tốc độ đô thị hóa nhanh, cơ sở hạ tầng đô thị chưa đồng bộ; nguồn vốn đầu
tư còn hạn chế; khu đô thị cũ tập trung đông dân cư, ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường sinh thái
- Các khu công nghiệp tập trung đã và đang được đầu tư nhưng chưa đồng bộ; một số cụm công nghiệp hiện nay xen kẽ trong khu dân cư
- Kinh tế phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của thành phố; khả năng tích lũy cho ngân sách chưa cao; nguồn lực đầu tư cho đầu tư và phát triển còn hạn chế
- Tài nguyên khoáng sản tuy có nhưng trữ lượng nhỏ, rải rác không thuận lợi cho đầu tư khai thác và chế biến quy mô lớn
4.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến biến động diện tích đất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
Tổng hợp tình hình biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2008 - 2012 do tác động của phát triển đô thị được thể hiện chi tiết ở bảng 4.2 dưới đây:
Trang 38(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Nguyên)
Về tổng diện tích tự nhiên: : sự thay đổi tăng lên từ 2008 đến 2009 rồi giảm
ngay sau đó ở năm 2010 và ổn định đến 2012 và 2013 là do sự sát nhập thêm 2 xã
Đồng Bẩm và Cao Ngạn của huyện Đồng Hỷ và sau đó giảm là do sai số kỹ thuật
trong kiểm kê đất đai năm 2009 Sự thay đổi này không liên qua đến chuyển đổi mục
đích sử dụng đất trong giai đoạn của thành phố
Nhóm đất nông nghiệp: Trong giai đoạn có sự thay đổi, chủ yếu là giảm theo
năm Cụ thể, tổng diện tích đất nông nghiệp giảm theo năm:
- Năm 2010 giảm 114,89ha so năm 2009;
- Năm 2011 giảm 83,55ha so năm 2010;
- Năm 2012 giảm 80,22ha so với năm 2011
- Năm 2013 giảm 32,58ha so với năm 2012
Như vậy diện tích đất Nông nghiệp bị giảm đi theo từng năm ngài ra đất lâm nghiệp không có sự biến động lớn, điều này cho thấy sự phát triển đô thị của thành phố trong giai đoạn chủ yếu lấy vào đất sản xuất nông nghiệp là chính
Nhóm đất phi nông nghiệp: tăng liên tục trong giai đoạn Sự tăng lên của nhóm
đất phi nông nghiệp đang khẳng định sự phát triển đô thị đang tăng theo từng năm