1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

châm cứu lục khí LƯƠNG Y ĐẶNG ĐỨC THẢO

228 5,9K 51
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 19,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hỗ trợ cho việc học tập châm cứu lục khí ngày càng trở nên đơn giản và thuận tiện, chúng tôi xin hướng dẫn cách tìm kiếm các nội dung học tập của bộ môn châm cứu lục khí của Thầy Đặng Đức Thảo. Hy vọng đây sẽ là tài liệu bổ ích cung cấp thêm kiến thức và hiểu biết thêm về châm cứu lục khí.

Trang 1

11/14/2015

  Trích từ trang web:

http://luckhiacupuncture.org/

Lương Y Đặng Đức Thảo

Trưởng Bộ Môn Châm Cứu Lục Khí

Trang 2

1

DANH MỤC CÁC BÀI GIẢNG BỘ MÔN

CHÂM CỨU LỤC KHÍ

Để hỗ trợ cho việc học tập châm cứu lục khí ngày càng trở nên đơn giản

và thuận tiện, chúng tôi xin hướng dẫn cách tìm kiếm các nội dung học tập của bộ môn châm cứu lục khí của Thầy Đặng Đức Thảo trên

youtube Theo đó, bạn có thể tìm thấy ngay vấn đề mình yêu thích, quan tâm hoặc đang thắc mắc một cách dễ dàng

Cách tìm video bài giảng về châm cứu lục khí của Thầy Đặng Đức

Thảo trên youtube như sau:

Vào website: youtube.com > trong ô search gõ:

“bài học châm cứu và mạch lý – bài …”

Danh mục bài giảng: Lý luận cơ bản

- Lý luận căn bản về âm dương, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái, ngũ hành: bài 1, bài 2

- Tượng chính xác của thái dương, thái âm, thiếu dương, thiếu âm: bài 3a,3b

- Sự tồn tại của khí thử và chứng minh, lý giải đồ hình lục khí: bài 3c,3d

- Sử dụng bảng tử vi chứng minh, giải thích sự hợp lý của hành thử và

Trang 3

2

- Bổ, tả, bình bổ bình tả theo châm cứu lục khí: bài 9

- Tổng quan về toàn bộ huyệt vị châm cứu: bài 10

- Sự hình thành bộ mạch của châm cứu lục khí: bài 11

- Ôn tập sự hình thành bộ mạch lục khí: bài 55 từ 16:00 đến hết

- Ngũ du huyệt, nguyên huyệt, lạc huyệt khích huyệt Giờ chủ đạo của

12 kinh khí theo châm cứu lục khí: bài 12

- Bát cương, tứ chẩn, bát pháp: bài 13a, 13b

- Sự vận hành lục khí, kinh mạch theo giờ: bài 16a, bài 16b, bài 16c

- Ôn tập so sánh lý luận ngũ hành và lục khí: bài 35a, bài 35b

- Giảng lại về ngũ hành: bài 47 ở 2/3 đầu video

- Lạc huyệt, khích huyệt trong ngũ hành: bài 62

- Lạc huyệt, khích huyệt trong lục khí: bài 63, bài 64 từ đầu à15:00

- Học thêm về lạc huyệt, khích huyệt: bài 67 từ 45:00-> 56:00

- Học thêm về tam tiêu: Bài 76 phần đầu

- Ôn tập thêm về ngũ hành, lục khí trong dùng huyệt: Bài 84 phần đầu

- Mộ huyệt, bối du huyệt: Bài 88 từ đầu đến 14:00

Danh mục bài giảng: Mạch lý

- Phương pháp xem mạch của châm cứu lục khí, ý nghĩa của từng quẻ dịch trong mạch lý: bài 13b,13c,13d

- Bát quái và chẩn mạch: bài 16d, 16e

- Chẩn mạch trong châm cứu lục khí: bài 17

- So sánh bộ mạch ngũ hành và bộ mạch lục khí: bài 14

- Kĩ thuật xem mạch và tự mình xem mạch: bài 18c

- Mạch lý theo châm cứu lục khí : bài 20a từ đầu đến phút 10:20

- Mạch phù: bài 20a, bài 20b, bài 20c, bài 20d, bài 20e, bài 21a, bài 21b, bài 21c, bài 21d, bài 21e

Trang 4

3

- Mạch trầm: bài 23a, bài 23b, bài 23c

- Mạch trì: bài 25a, bài 25b

- Mạch sác: bài 27a, bài 27b

- Mạch tế: bài 28b

- Mạch đại: bài 29b

- Thất quái mạch: bài 31b

- Học sâu thêm về mạch trầm: bài 45, 2/3 đầu bài giảng

- Học sâu thêm về mạch phù: bài 46, 2/3 đầu bài giảng

- Học sâu thêm về mạch lý: bài 48 từ đầu đến 01:10

- Các bộ mạch của người xưa: Bài 77

Danh mục bài giảng: Các bộ huyệt trị liệu

- Bộ Thổ: bài 32a, bài 32b, bài 33a, bài 33b

- Bộ Thổ thủ châm thực hành dán huyệt: bài 34a, bài 34b

- Bộ Thổ túc châm: bài 43

- Bộ Thổ tổng ôn trao đổi khí huyết 1 bộ: Bài 49

- Bộ Thổ Âm châm thực hành dán huyệt: Bài 55 từ đầu đến 16:00, bài

57 từ đầu đến 06:00

- Bộ Thổ trao đổi khí huyết với 2 bộ: bài 56

- Bộ Thổ thủ châm kết hợp lạc huyệt, khích huyệt: bài 64 từ 15:00à hết

- Bộ Thổ túc châm kết hợp lạc huyệt, khích huyệt: Bài 65

- Bộ Thổ âm châm, dương châm kết hợp lạc huyệt, khích huyệt: Bài 66

- Bộ Thổ tổng ôn kết hợp lạc huyệt, khích huyệt: bài 67 từ đầu ->45:00

- Bộ Thổ và nhị hợp, tam hợp, tứ hành xung, lạc huyệt, khích huyệt, mạch lý: Bài 68, Bài 69, Bài 70, Bài 71, Bài 72, bài 73 từ đầu đến 26:00

*****

- Bộ Thử thủ châm: bài 36a, bài 36b, bài 37a, bài 37b

Trang 5

4

- Bộ Thử túc châm: bài 44

- Bộ Thử trao đổi khí huyết với 1 bộ: Bài 50

- Bộ Thử trao đổi khí huyết với 2 bộ: bài 57

- Bộ Thử kết hợp huyệt lạc, huyệt khích: Bài 73 từ 26:00 đến hết

- Bộ Thử học sâu thêm: Bài 74, Bài 75

*****

- Bộ Hỏa thủ châm: bài 38, bài 39

- Bộ Hỏa túc châm: bài 46 ở 1/3 cuối video

- Bộ Hỏa tổng ôn trao đổi khí huyết 1 bộ: Bài 52

- Bộ Hỏa trao đổi khí huyết với 2 bộ: bài 59

- Bộ Hỏa ôn tập + huyệt lạc, huyệt khích: Bài 82

- Bộ Hỏa ôn tập: Bài 83, Bài 85

****

- Bộ Thủy thủ châm: bài 40

- Bộ Thủy túc châm: bài 45

- Bộ Thủy tổng ôn trao đổi khí huyết 1 bộ: Bài 51

- Bộ Thủy trao đổi khí huyết với 2 bộ : bài 58

- Bộ Thủy ôn tập + huyệt lạc, huyệt khích: Bài 87

- Bộ Thủy ôn tập: bài 88 từ 14:00 -> hết

- Bộ Thủy ôn tập trao đổi khí huyết 2 bộ: Bài 89 từ đầu đến 18:00

*****

- Bộ Kim thủ châm: bài 41

- Bộ Kim túc châm: bài 48 từ 01:10 đến hết

- Bộ Kim tổng ôn trao đổi khí huyết 1 bộ: Bài 54

- Bộ Kim trao đổi khí huyết với 2 bộ : bài 60

- Bộ Kim ôn tập + huyệt lạc, huyệt khích: Bài 80

Trang 6

- Bộ Mộc túc châm: bài 47 ở 1/3 cuối video

- Bộ Mộc tổng ôn trao đổi khí huyết 1 bộ: Bài 53

- Bộ Mộc trao đổi khí huyết với 2 bộ : bài 61

- Bộ Mộc ôn tập, kết hợp với huyệt lạc, huyệt khích: Bài 76

- Bộ Mộc ôn tập trao đổi khí huyết với 1 bộ: Bài 78

- Bộ Mộc ôn tập trao đổi khí huyết với 2 bộ: Bài 79

- Trao đổi khí huyết 3 bộ: Thổ, Kim, Thủy + lạc khích: Bài 91

- Trao đổi khí huyết 3 bộ Thử, Mộc, Hỏa + lạc khích: Bài 92 phần đầu nói về xem mạch

- Trao đổi khí huyết 3 bộ Kim, Thủy, Thử + lạc khích: Bài 93 từ 15:00 đến hết

- Trao đổi khí huyết 3 bộ Thủy, Thử, Mộc + lạc khích: Bài 95 từ 35:00 đến hết

- Trao đổi khí huyết 3 bộ Hỏa, Thổ, Kim + lạc khích: Bài 96 từ 35:00 đến hết

- Trao đổi khí huyết 3 bộ Mộc, Thủy, Hỏa + lạc khích: Bài 99 từ 14:00 đến hết

- Trao đổi khí huyết 3 bộ Hỏa, Kim, Mộc + lạc khích: Bài 100 từ 30:00 đến hết

Trang 7

Danh mục bài giảng Huyệt vị lục khí

- Huyệt lục khí trên kinh túc thái âm tỳ và thủ thái âm phế: bài 15a, 15b

- Huyệt lục khí trên kinh thủ thái dương tiểu trường và túc thái dương bàng quang: bài 22a, bài 22b, bài 22c, bài 22d, bài 22e

- Huyệt lục khí trên kinh túc dương minh vị và thủ dương minh đại trường: bài 18a, bài 18b

- Huyệt lục khí trên kinh túc thiếu âm thận và thủ thiếu âm tâm: bài 19a

- Thực hành xác định vị trí các huyệt của kinh: tỳ, phế, vị, đại trường, thận, tâm trên người: bài 19b, bài 19c, bài 19d

- Huyệt lục khí trên kinh túc quyết âm can và thủ quyết âm tâm bào: Bài

24

- Huyệt lục khí trên kinh thủ thiếu dương tam tiêu kinh và túc thiếu dương đởm:

bài 26a, bài 26b

- Huyệt lục khí trên 3 kinh âm: bài 28a

- Huyệt lục khí trên 3 kinh dương: bài 29a

- Chu kì vận hành của các huyệt lục khí theo bảng tử vi: bài 30a, 30b

- Ôn tập chu kì vận hành của các huyệt lục khí theo bảng tử vi: bài 31a

Trang 8

7

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA CHÂM CỨU LỤC KHÍ

cứu là Kinh lạc Có thể mô tả ngắn gọn như sau: Con người sống được là nhờ có khí huyết, khí huyết di chuyển trong cơ thể nhờ hệ kinh lạc - đó là một hệ thống gồm các đường kinh chính chạy dọc theo cơ thể và các đường lạc chạy ngang, nối với nhau thành một

hệ thống đi khắp toàn thân Trên đường kinh có các lỗ hổng gọi

là huyệt, là nơi khí huyết ra vào Khi dùng kim châm vào huyệt, tức là tác động vào khí huyết, sẽ có tác dụng điều chỉnh cơ thể chống lại bệnh tật Và khác hẳn các lý thuyết Ðông y khác thường

mơ hồ, những tài liệu châm cứu đã mô tả rất tỉ mỉ đường đi của kinh lạc, vị trí các huyệt

1.Thuyết phản chiếu

- Vũ trụ, con người, xã hội là một thể thống nhất (vạn vật đồng nhất thể) Do đó, con người là sự phản chiếu của vũ trụ (nhân thiên tiểu thiên địa) Trong con người mỗi bộ phận đặc thù đều phản chiếu cái tổng thể của nó (tứ là cơ thể) Bộ mạch thốn khẩu

là tiêu biểu cho toàn cơ thể, mọi trạng thái thuộc về tâm lý, sinh

lý, bệnh lý của con người, đều được thể hiện trên mạch lý Hay nói cách khác hơn, bộ mạch chính là tấm gương phản chiếu,ghi nhận một cách có hệ thống, chọn lọc những gì thuộc về phạm vi con người, ở trạng thái tĩnh và động của nó Thuyết này được áp dụng vào châm cứu lục khí bằng phương pháp chẩn mạch

- Tình trạng của khí huyết, âm dương, hư thực, công năng từng tạng phủ… được phản chiếu lên bộ mach ở cổ tay Được gọi là mạch thốn khẩu, được chi làm 3 bộ thốn, quan, xích kết hợp với

3 mức nông sâu là thượng án, trung án và trọng án.Nhờ bắt mạch

mà người làm châm cứu có thể biết được tình trạng khí huyết trong cơ thể, biết được sự lưu thông tốt hay là không, khí huyết dưa thừa hay bị thiết, thừa chỗ nào, và thiếu chỗ nào…

Trang 9

8

2.Thuyết biểu hiện:

được biểu hiện dưới 3 góc độ:

- Không gian: những gì bên trong sẽ hiện ra bên ngoài, những gì bên dưới sẽ hiện ra ở trên

- Thời gian

+ Những gì sắp sảy ra sẽ được dự báo trước

+ Những gì đã xảy ra đều lưu lại dấu vết

+ Những gì đang xảy ra đều lưu lại biểu hiện

- Biểu hiện bệnh lý: Tình trạng của khí huyết trong kinh lạc, tình trạng của lục khí trong cơ thể đều được thể hiện trên 6 bộ mạch bằng 8 quẻ của bát quái Dựa vào quẻ tượng và các bộ thủy-hỏa, thổ-thử, kim-mộc mà thầy thuốc tìm ra được bộ huyệt nhằm cân bằng và ổn định lại lục khí toàn của toàn bộ cơ thể

3.Thuyết cục bộ

-Một cơ quan hay một bộ phận nào trong cơ thể, có sự bất ổn tiềm tàng, hay đang thời kì diễn tiến, thì bộ mạch tương ứng với đường kinh hoặc tạng phủ bị bệnh sẽ biến đổi thành (dịch) bộ mạch bị bệnh Lúc đó bình mạch sẽ chuyển thành mạch bệnh -Mỗi huyệt có tác dụng ở xa (tới các cơ quan), nó còn có tác dụng cục bộ (tại chỗ) và lân cận nữa Vì thế trong châm cứu lục khí mới nói: dùng thủ chữa cho túc, dùng túc chữa cho thủ, dùng

âm chữa cho dương, dùng dương chữa cho âm, dùng kim chữa cho mộc, dùng hỏa chữa cho thủy…

4.Thuyết đồng bộ

-Có sự tương ứng về vị trí, tượng mạch, hình thái mạch và thời

kỳ xuất hiện, giữa các loại dấu hiệu báo bệnh giữa toàn thân và

bộ vị tương ứng Tuy nhiên cũng có ngoại lệ, bộ vị bị bệnh thì

Trang 10

9

có tượng mạch bình thường nhưng lại thấy có sự bất thường ở

bộ vị khác Đơn giản là vì 12 kinh mạch và 8 kì kinh bát mạch

có liên quan với nhau để vận chuyển lục khí điều hòa khắp toàn thân Việc trở ngại của 1 trong 6 khí sẽ ảnh hưởng qua lại với nhau, phụ thuộc vào sự thông hay tắc của đường kinh Chình vì thế cần phải thực hành nhiều để có kinh nghiệm tìm gốc bệnh

5.Thuyết biến dạng

-Các dấu hiệu báo bệnh ở trên bộ mạch không phải là bất biến,

mà bộ mạch sẽ có sự biến đổi tùy vào thời gian,mức độ (nặng, nhẹ), tình trạng và diễn tiến bệnh tật của từng cá nhân.

6.Thuyết giao thoa

-Bệnh thuộc phần khí có thể ảnh hưởng qua phần huyết

-Bệnh thuộc phần huyết có thể ảnh hưởng qua phần khí

-Nên khi bệnh nhân bị bệnh, bắt mạch tay trái (thuộc huyết) mà không có bệnh (bình mạch) thì biết chắc rằng bệnh nằm ở phần khí, hay là bộ mạch bên tay phải sẽ đi theo dạng mạch bệnh và ngược lại

Trang 11

10

HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG, THIÊN ĐỊA

NHÂN

ÂM – DƯƠNG THIÊN – ĐỊA – NHÂN

Quan niệm chỉnh thế thống nhất là nhận thức của Đông y về mối quan hệ qua lại của sự vật Người xưa nhận rằng: trong quá trình tồn tại và phát triển, trời ( thiên ), đất ( địa ) , và người ( nhân ) không tách rời khỏi nhau Quan hệ ấy sách kinh điểm gọi là “ tam tài” Lý luận đông y xây dựng trên quan niệm chỉnh thể ấy

Các tạng phủ trong cơ thể con người có quan hệ chặt chẽ với nhau cũng

là dựa trên nguyên tắc đó Hệ kinh lạc phân bố trong khắp cơ thể, tuần hoàn không ngừng, hình thành một hệ thống; đường liên lạc giúp cho chức năng sinh lý của toàn bộ cơ thể được thăng bằng, hoàn chỉnh từ bên trong

ra ngoài và từ ngoài vào trong Căn cứ vào chức năng, mỗi tạng và phủ có quan hệ biểu lý Ví dụ: tạng tâm có quan hệ biểu lý với phủ tiểu trường, tạng can có quan hệ biểu lý với phủ đởm…Quan hệ biểu lý giúp cho người thầy thuốc hiểu rõ rằng: hoạt động sinh lý và biến hóa bệnh lý của tạng và phủ, trong quan hệ ấy có ảnh hưởng qua lại Biến hóa bệnh lý của từng tạng phủ còn biểu hiện ra ở nhiều mặt: bệnh thuộc về nhiệt hay hàn? Bệnh lâu hay mới phát ( hư hay thực ) Nói chung dựa vào quan niệm chỉnh thể toàn diện,đông y mỗi khi biện chứng đều phải dựa vào vấn đề: biểu – lý ; hàn – nhiệt; hư – thực để điều trị cho đứng đắn Tính chất về bệnh tật của tạng phủ vừa nói trên đều nằm trong lý luận của học thuyết âm dương vì Đông y tổng hộp hiện tượng biểu lý nói trên như sau:

Biểu , nhiệt , thực thuộc dương chứng

Lý, hàn, hư thuộc âm chứng

Trang 12

11

Học thuyết âm dương sẽ giúp cho người thầy thuốc dựa vào tạng phủ có bệnh, phân biệt âm chứng hay dương chứng để điều trị, vì nguyên tắc chữa bệnh của đông y là: “điều hòa âm dương”.Nói chung: các hiện tượng thiên

về hàn; về suy nhược, về ức chế thuộc âm chứng; các hiện tượng thiên về nhiệt,về hưng phấn, kích thích thuộc dương chứng

Trị liệu bằng châm cứu là vận dụng các tính chất của âm dương Khi có bệnh tức là âm dương đã mất cân bằng, mất điều hòa, có sự thiên lệch vậy người châm phải bắt mạch và sử dụng huyệt lục khí ra làm sao để âm dương trong cơ thể trở lại thăng bằng điều hòa Ngoài ra, còn vận dụng cả tính chất đối lập, nhưng thống nhất của âm dương trong khi chữa bệnh bằng châm cứu Ví dụ, dùng huyệt tại tay chữa cho bệnh ở chân, dùng huyệt của bộ huyết chữa cho bệnh của bộ khí, dùng âm chữa cho dương, dùng dương chữa cho âm, dùng hữu lực chữa cho vô lực, dùng vô lực chữa cho hữu lực …

Học thuyết âm dương giúp người thầy thuốc phân tách quy luật mâu thuẫn, nhưng thống nhất của hoạt động sinh lý và biến đổi bệnh lý của tạng phủ, cũng giúp người ta biết quan hệ của tạng với phủ trong cơ thể con người Nhưng trong nhiều trường hợp, chỉ dùng học thuyết âm dương thì chưa giải thích được tường tận và đầy đủ các quan hệ mật thiết giữa hoạt động sinh lý và biến đổi bệnh lý của nội tạng đối với hoàn cảnh thiên nhiên bên ngoài Do đó cần phải vận dụng thêm những kiến thức của Kinh Dịch và Y dịch lục khí để giải thích đầy đủ hơn quan hệ chỉnh thể thống nhất giữa cơ thể với môi trường bên ngoài

Trang 13

12

TỨ TƯỢNG & Y HỌC THỂ CHẤT TỨ

TƯỢNG

Y học thể chất tứ tượng chi con người theo 4 loại thể tạng là Thái dương

||, thái âm ::, thiếu dương:| , thiếu âm |: dựa trên sự khác nhau về chức năng tạng phủ dẫn đến sự khác nhau về hệ thống sinh lí và bệnh lý.Lý luận này cũng cho rằng tùy vào thể tạng mà có sự khác nhau về ngoại hình, tâm tính, triệu chứng, đồng thời việc chữa trị và chăm sóc dự phòng đối với các căn bệnh cũng có những phương pháp khác nhau

Y học thể chất tứ tượng không chỉ căn cứ trên sự phân biệt nguyên nhân gây bệnh khác nhau để điều trị bệnh tât, mà còn đưa ra phương pháp tu dưỡng về thân thể, về mặt tinh thần theo từng loại thể chất

Y học thể chất tứ tượng là hệ thống chăm sóc sức khỏe phù hợp theo thể chất Y học thể chất Tứ tượng đã và đang được pháp triển và áp dụng để chăm sóc sức khỏe về thể chất và tinh thần cho xã hội con người

Xét đây là phương pháp hay, đơn giản trong chẩn đoán và hiệu quả trong việc áp dụng vào việ c chăm sóc sức khỏe cho từng người bệnh Nên chúng tôi giới thiệu ra đây để góp thêm vào kho tàng kiến thức cho những

ai đang châm cứu lục khí nhằm hoàn thiện hệ thống kiến thức về chẩn đoán, điều trị và tư vấn sức khỏe, phòng bệnh và chữa bệnh Mong các thầy thuốc có thêm được đầy đủ kiến thức về nhiều mặt để mỗi lần tiếp xúc với người bệnh chúng ta lại mang được nhiều lợi lạc nhất đến với họ Sau đây là tiêu chuẩn để phân biệt 4 thể người

Người Thái dương (tượng ||)

Ta thấy khí thái dương và tượng của

thái dương thể hiện một tình

trang dương khí trong người lúc nào

Người Thiếu dương :|

Khí Thiếu dương là khí dương mới sinh, còn bé, còn ít và xu hướng là sẽ

đi lên, bốc ra ngoài,thể hiện một trình trạng là dương khí có xu hướng bốc

Trang 14

13

cũng vượng, tràn trề, đầy đủ nên họ

có đặc điểm

Ngoại hình: Đầu và gáy lớn, vai và

lưng rộng,ngược lại eo và mông

nhỏ.Những người có ngoại hình như

vậy khi đi bộ hoặc đứng rất khó khăn

Trán rộng, ánh mắt dữ tợn

Tính cách: Cương trực, rộng lượng và

sáng tạo Thông minh, tham vọng và

cương trực nên khó hòa hoặt với

những người xung quanh

lên bất cứ khi nào có điều kiện Đông

y xếp vào dạng vị nhiệt Người thuộc thể tạng này có đặc điểm sau:

Ngoại hình:

Có thể hình phần trên ngực rộng, ngược lại phía dưới mông hình tam giác ngược, ánh mắt sắc sảo tinh nhanh, đầu lồi ra phía sau

Tính cách:

Hành động nhanh gọn, có tinh thần

hy sinh, tinh thần xã hội cao, tính tình trong sáng, vui tính và hay mắc lỗi do tính hấp tấp, thích xen vào chuyện người khác

Người Thái âm ::

Khí thái âm thể hiện âm khí đã đầy

đủ, trầm lắng, hài hòa Đông y xếp

vào thể đàm trệ Người này có đặc

điểm sau:

Ngoại hình:

Eo và bụng ta, đầu và gáy yếu Thông

thường hay bị béo phì Tai mắt mũi

miệng to dầy tạo ấn tượng phúc hâu

Da sẫm màu và thô

Tính cách:

Người Thiếu âm |:

Khí thiếu âm thể hiện ấm đang còn nhỏ, đang phát triển lên Đông y xếp vào thể tỳ vị hư hàn Người này có đặc điểm sau:

Ngoại hình:

Vai hẹp, ngực nhỏ, xương chậu rộng

và mông lớn Đa phần có thân thể gầy yếu Đuôi mắt trễ, tai mũi miệng mắt nhỏ và thanh tú, da mềm mại mịn màng

Trang 15

14

Hành động đàng hoàng và rộng rãi,

đáng tin cậy nên thường được cho là

bền bỉ trong mọi việc, bản tính chậm

chạp và có phần lười biếng Đôi khi

tỏ ra trầm lắng, ít nói nên có thể khiến

hiểu lần là nham hiểm

Tính cách:

Hiền lành, nội tâm, là người khéo léo

và cẩn thận, nhiều tài lẻ song khi đưa

ra quyết định có khuynh hướng do dự không quyết đoán nên thường bị phụ thuộc

Trang 16

15

LỤC KHÍ TỒN TẠI Ở ĐÂU

Trong hệ thống lý luận của bộ môn châm cứu lục khí, có một vấn đề làm nhiều người khó hiệu đó là chính là lục khí Mời các bạn cùng theo dõi bài viết ở dưới để hiểu rõ về lục khí trong hệ thống lý luận y dịch lục khí

và châm cứu lục khí:

Trang 17

16

Trang 18

17

Trang 19

là âm, trong khí đất có cả hơi nước ở đất Khí trời, khí đất là khí vô hình tạo thành lục khí; ánh lửa, hơi nước là hữu hình tạo nên ngũ hành

Vì thế khi nói là khí âm dương là đã có sự trung hoà lẫn nhau giữa khí vô hình( lục khí) và chất – ngũ hành Khí là dương, chất là âm Trong chất

là âm có ánh lửa thuộc dương, hơi nước thuộc âm, trong khí dương có khí trời thuộc dương, khí đất thuộc âm Đó là trong dương và âm đều có âm dương Xét như vậy mới thấy trong lục khí có ngũ hành, trong ngũ hành

có lục khí vì đơn giản là đều do sự vận hành của càn khôn mà tạo ra cả

mà thôi

Trời đất hoá dục muôn vật đều phải do sự xâm nhập của lục khí và ngũ hành trong bốn mùa, rồi mới có thể phát triển được công năng: sinh, trưởng, thu, tàng; để làm chung thuỷ cho muôn vật Vì vậy trời đất lấy lục khí và ngũ hành mà hoá sinh muôn vật như là con đường từ vô cực đến bát quái rồi đến lục thập tứ quái và muôn vật vậy Tối – Sáng = Thuỷ - Hoả = Nước – Lửa = Khí - Huyết = Phù – Trầm = Biểu – Lý = Tạng – Phủ = Kinh Âm – Kinh Dương = Tế - Đại = Trì - Sác = Kim – Mộc = Thổ - Thử = Hư – Thực….như vậy thông qua cặp phạm trù tượng trưng Thuỷ - Hoả người thầy thuốc sẽ hiểu được lý lẽ của âm dương và cũng thông qua lý lẽ đó thì sẽ hiểu được sự tương quan và tác động lẫn nhau

Trang 20

19

giữa các đường kinh âm, dương trong cơ thể, vai trò của các huyệt lục khí toàn thân cũng như vai trò của huyệt lạc, huyệt khích và huyệt kì kinh bát mạch trong việc đảm bảo chu kì vận hành của khí huyết trong cơ thể

Ẩn ý của phạm trù Thuỷ – Hoả trong thiên nhiên dưới góc nhìn của y dịch lục khí

Thuỷ hay thủy khí hay là âm khí là nước, chỗ nhiều nước nhất là biển; gốc của nước là mặn Nước còn có nhiều dạng khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau: nước thể lỏng, hơi, mây, mù, sương, mưa, tuyết, nước trong đất, nước ở trong động vật và thực vật Nước ở trong ko gian: sông, ngòi, suối… vì thế khi nói đến thủy(khảm) là ta không thể không nói tới mộc khí(tốn) và thổ khí(đoài) tức là 3 hành mộc, thủy, thổ tạo nên tam giác với đỉnh hướng xuống dưới trong đồ hình của lục khí

Hoả hay hỏa khí là lửa hay là dương khí, chỗ có nhiều lửa nhất là mặt trời Lửa có nhiều dạng khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau: lửa mặt trời, lửa trong lò, trong lòng đất, trong sấm, chớp… vì thế khi nói đến hỏa(ly) là ta không thể không nói tới kim khí(cấn) và thử khí(chấn) tức là 3 hành hỏa, kim, thử tạo nên tam giác với đỉnh hướng lên trên trong đồ hình của lục khí

2) Sự giao hợp của thuỷ hoả

Mọi sự sống trên trái đất đều do sự giao nhau của thuỷ và hoả Mặt trời chiếu xuống, hơi nước bốc lên, thì mới có mây mưa- mới có mọi sinh vật trên trái đất

Ta thấy mọi sự sống đều phải nhờ có mặt trời, có nước Nếu chỉ có mặt trời mà ko có nước thì tất cả sẽ bị đốt khô hoặc nếu chỉ có nước mà ko có mặt trời thì tất cả tối tăm lạnh lẽo thì làm gì có sự sống được Cho nên mọi sự sống xuất hiện đều do ở sự giao tiếp lẫn nhau giữa thuỷ và hoả Thuỷ hoả giao nhau gọi là thuỷ hoả ký tế, ký tế thì sinh ra vật Ngược lại thuỷ hoả ko giao tiếp với nhau gọi là thuỷ hoả vị tế, vị tế thì vạn vật tiêu tan Trong cơ thể con người cũng vậy, nếu kinh âm không đi lên đều đặn, kinh dương không đi xuống uyển chuyển và sự đi lên, đi xuống của những

Trang 21

20

kinh âm và dương không hài hòa, cần bằng với nhau thì sẽ làm đảo lộn sự cân bằng âm dương ở trong cơ thể, hay nói cách khác sẽ làm đảo lộn sự hài hòa của lục khí trong nội bộ các đường kinh âm hoặc đường kinh dương đó nói riêng cũng như lục khí trong toàn bộ cơ thể của con người nói chung Thì chắc chắn cơ thể người đó sẽ từ thủy hỏa kí tế chuyện sang hỏa thủy vị tế, hay là từ một cơ thể khỏe mạnh chuyển sang một cơ thể mang trong mình những rối loạn và mầm mống của bệnh tật hiện tại và tương lai

Khí nuôi sống mọi vật gọi là ôn dưỡng, huyết nuôi sống muôn vật gọi là nhu dưỡng Ôn là ấm ko phải là nóng, nhu là mát chứ ko phải là ướt… làm có sự ôn, sự nhu là nhờ có khí huyết giao nhau Sự sống được bình thường là do ôn dưỡng và nhu dưỡng luôn luôn ở trong sự cân bằng tương đối

3) Thuỷ hoả trong con người:

Trong cơ thể con người, làm nền của ôn dương gọi là khí, làm nề của nhu dưỡng gọi là huyết Khí huyết luôn luôn tồn tại và hỗ căn lẫn nhau, hai

mà một, một mà hai Đó là sự hiện hình của âm dương, cũng là thực thể của khí huyết giao hợp với nhau trong nhân thể

Khí huyết tiên thiên là nguồn gốc sinh ra con người Từ nam giới (dương)

và nữ giới (âm), có giao hợp thì mới sinh được con cái Âm dương có giao nhau thì khí huyết mới tụ lại những thứ ấy hợp lại là một thì gọi là giao khí, giao khí: là thứ khí có từ ban đầu gọi là khí tiên thiên Từ khí tiên thiên có bẩm khí hậu thiên mới phát triển thành hình thể và thần khí của con người Hình thể là âm từ ngũ hành mà sinh ra, thần khí là dương từ lục khí sinh ra Nhưng ngũ hành và lục khí đều có chúng nhau một gốc nên ngũ hành = lục khí, lục khí = ngũ hành Tùy thời điểm, tùy duyên, tùy phương pháp trị liệu mà ta sẽ coi cơ thể con người là ngũ hành hay lục khí Ví dụ như khi áp dụng môn châm cứu thì chắc chắn phải coi cơ thể là lục khí vì như thế mới ứng hợp được với 6 đường kinh trong cơ thể Không thể nào coi cơ thể thể là ngũ hành rồi dựa trên đó mà thực hành châm cứu được

Trang 22

21

Người ta vì có chân thuỷ, chân hoả hay khí huyết trong bẩm khí tiên thiên nên trong cơ thể mới luôn luôn có sự ôn dưỡng và nhu dưỡng Chân thuỷ, chân hoả là cái gốc bẩm sinh từ tiên thiên và được hoàn thiện đầy đủ nhờ hậu thiên chúng vận hành trong kinh âm và kinh dương, nên người xưa có câu nói đầy tính triết lý: “Toàn bộ nhan thể ko ra ngoài hai chữ âm dương tức là ngũ hành và lục khí từ đó mới có thuỷ với hoả, mà hai chữ thuỷ hoả tức là khí huyết”

Trang 23

22

PHÂN BIỆT HỌC THUYẾT NGŨ VẬN VÀ

Y DỊCH LỤC KHÍ Ngũ vận - lục khí trong sách Tố Vấn

 Gọi tắt là học thuyết vận khí

 Giải thích sự biến hóa của khí hậu thời tiết đối với vũ trụ và đối với con người

 Lấy học thuyết Âm dương ngũ hành làm hạt nhân

 Cơ sở quan điểm chỉnh thể: thiên – địa – nhân

 Ngũ vận = kim mộc thủy hỏa thổ kết hợp với thiên can để biết được năm nào thuộc về vận nào

 Lục khí tức là sáu khí bao gồm: phong, hàn, thử , thấp, táo, hỏa kết hợp địa chi để biết được năm nào thuộc khí nào

 Học thuyết ngũ vận lục khí được trình bày trong sách hoàng đế nội kinh tố vấn là công cụ lý luận đơn giản hóa, thuyết minh mọi phương diện trong hoàn cảnh tự nhiên và mọi thứ quan hệ trong y học

 Mục đích: nắm vững quy luật biến hóa của thời tiết, khí hậu để biết nhân tố gây bệnh của ngoại cảnh lục dâm à biết tình hình phát triển bệnh theo ngày, tháng, năm sau đó Lấy cơ sở để phòng bệnh và chữa bệnh

Y dịch lục khí của Việt Nam

 Giải thích sự biến đổi của lục khí trong vũ trụ và con người

 Lấy y dịch lục khí làm cốt lõi

 Y dịch: đạo dịch nằm trong y đạo

Trang 24

23

 Lục khí gồm có thổ khí , kim khí, thủy khí, thử khí, mộc khí, hỏa khí Sáu khí này mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với lục khí của học thuyết vận khí trong sách Tố Vấn Theo y dịch lục khí thì sáu khí này không còn chỉ là sáu khí tự nhiên trong trời đất nữa Cần phân biệt cho rõ đây là hai từ đồng âm mà khác nghĩa Học và thực hành châm cứu lục khí thì sẽ nắm rõ và hiểu được ý nghĩa thực sự của sự khác nhau này

 Cần phân biệt cơ sở quan điểm chỉnh thể:

 Học thuyết vận khí nói về Thiên – Địa – Nhân khi nói điều này thì

đã ngầm mặc định thứ tự trên dưới của con người và trời đất, điều này có được do sự quan sát và tổng hợp dựa trên tư duy của con người sau nhiều thế hệ

 Y dịch lục khí nói là Thiên – Địa – Nhân, khi nói điều này thì ta hiểu rằng đất vạn vật và con người không 1 cũng không 2 tất cả đều được tạo thành khi đã hội tụ đủ nhân và duyên Lý luận này có được do

sự “tu tập” trong một thời gian không hề ngắn và được nhận thức không phải bằng con mắt bằng da bằng thịt mà bằng con mắt của trí tuệ

 Y dịch lục khí: công cụ lý luận để tìm căn nguyên bệnh tật, xem lý

ở đâu, vì sao lại có sự bất hòa …tức là tìm đến cái gốc của bệnh tật

để mà chuyển hóa nó

 Mục đích : lập lại sự hòa thuận, hòa hợp của lục khí trong cơ thể từ

đó bệnh tật tự dưng hết duyên mà hình thành, cơ thể con người tạo

có cơ hội để khỏe mạnh và biết cách duy trì sức khỏe

Trang 25

có gì độc đáo cho lắm, và cũng dùng để chữa những bệnh thông thường

mà thôi Khi gặp bệnh phức tạp, khó chữa, nhiều bệnh phối hợp với nhau thì các cách châm thông thường tỏ ra khá “vất vả” khi chọn huyệt, chọn

kĩ thuật bổ hay tả để chữa trị bệnh tật Bên cạnh những phương pháp châm theo kiểu “công thức” sẵn có, thì cũng vẫn có những người sử dụng các phương pháp châm cứu rất độc đáo, chữa được những bệnh khó, phức tạp Cách họ chữa bệnh bằng châm cứu thường là sau một thời gian đọc sách, học tập lâu dài, cộng với một quá trình tiếp thu kinh nghiệm từ những bậc tiền bối khác Tuy nhiên có thể nói là những phương pháp đó là nằm xung quanh việc áp dụng lý luận của ngũ hành vào châm cứu mà thôi Còn các bậc tiền bối, châm thật là giỏi, thật là tác dụng thì có thể là do trong các bậc thầy đó đã có sẵn hành Thử rồi, tức là chính họ không ngờ rằng mình đang sử dụng châm cứu lục khí rồi chứ không còn sử dụng châm cứu theo ngũ hành nữa Ranh giới giữa châm cứu ngũ hành và châm cứu lục khí quả là mong manh nhưng không dễ để vượt qua nếu như không có đầy đủ mong muốn vượt qua Châm cứu lục khí là trung đạo không phải theo hệ ngũ hành, cũng không phải theo hệ ngũ vận lục khí, đơn giản nó chỉ

là châm cứu lục khí mà thôi Học vừa khó vừa dễ, vừa đơn giản và uyên thâm, vừa nhanh lại vừa chậm…đây là cái đạo của châm cứu vậy

Trang 26

25

Trang 27

26

THẾ NÀO LÀ HUYỆT LỤC KHÍ

Khi học về châm cứu lục khí, tức là chúng ta học về cách sử dụng các huyệt lục khí theo phương pháp của bộ môn này Vậy huyệt lục khí là gì? Thế nào là huyệt lục khí? Nó có chức năng gì? Đây là huyệt mới, hay cũ?

Có phải là kiểu bình cũ rượu mới hay là không?

Chúng tôi xin lần lượt đưa ra các câu trả lời cho những câu hỏi này Hệ thống các huyệt lục khí được khám phá ra từ hệ thống ngũ du huyệt, bằng cách đưa lý luận Y dịch lục khí vào để nhìn lại về hệ thống ngũ du huyệt Cũng giống như trong trường hợp nhà bác học Newton, nếu như mọi người nhìn hiện tượng quả táo rơi là chuyện bình thường và hiển nhiên thì với Newton ông đã có những suy nghĩ khác về hiện tượng tưởng chừng như là hiển nhiên này, chính vì thế mà ngày nay chúng ta có định luật vạn vật hấp dẫn Các vị Thầy của bộ môn châm cứu lục khí đã đưa con mắt Lục khí để nhìn vào hệ thống ngũ du huyệt của người xưa để lại và sau những năm tháng dày công nghiên cứu, các Thầy đã dần khám phá ra được thêm những công năng, đặc tính vô cùng tuyệt vời của h ệ thống huyệt này mà những điều mới khám pháp ra này có lẽ từ trước đến nay chưa ai hoặc chưa quyển sách nào trên thế giới nói đến Điều này cũng thuận theo quy luật của tự nhiên, vì tùy theo con mắt của mỗi người mà chúng ta nhìn thấy những sự khác nhau ở mỗi sự vật hiện tượng trong tự nhiên và trong cơ thể con người, nếu giả sử ta có thêm kính lúp, kính hiển

vi quang học thậm chí là kinh hiển vi điện tử thì sẽ có hàng ngàng, hàng vạn những điều lý thú sẽ được tìm ra thêm, những điều mà trước đây tưởng chừng như là vô cùng vô lý, không thể nào có…

Với thầy chữa sử dụng con mắt ngũ hành nhìn vào các huyệt ngũ du thì

họ sẽ chỉ bảo chúng phải “nghe” theo sự dẫn đường của học thuyết ngũ hành, ngũ vận lục khí Nhưng các vị người thầy châm cứu lục khí đã tìm

ra một điều thsu vị nữa là các huyệt lục khí này còn “nghe” theo sự chỉ đạo của một hệ thống lý luận khác nữa đó là Y dịch lục khí Sự “vâng lời” của các huyệt ngũ du theo cả hệ ngũ hành và h ệ lục khí là chuyện rất tự nhiên và đúng đắn Ví dụ như banjcos một chiếc tivi, bạn có thể

Trang 28

27

dùng điều khiên chính hãng để chọn kênh tivi mà mình yêu thích, những nếu bạn dùng một cái điều khiển đa năng, hay thậm chí mà một chiếc smartphone với những phần mềm viết sẵn thì bạn cũng có thể làm được điều mình muốn mà không cần chiếc điều khiển chính hãng kia

Hệ thống ngũ du huyệt có đầy đủ công năng để điều chỉnh được sự mất cân bằng về khí huyết trong các đường kinh chính, kinh lạc và kì kinh bát mạch, từ đó giúp đầy lùi bệnh tật, lập lại cân bằng giữa cơ thể và môi người Vậy thì bây giờ coi như chúng ta đã có sẵn chương trình tivi ở trong dây cáp truyền hình và công việc chúng ta là chọn chiếc điều khiển nào để chọn được kênh mà mình mong muốn xem mà thôi Chắc chắn là bạn muốn chọn kênh truyền hình về sức khỏe rồi ^^

Nếu ta dùng hệ thống lý luận cũ, tức là ngũ hành và ngũ vận lục khí để điều khiển hệ thống huyệt ngũ du thì chúng ta sẽ sử dụng 5 hành với sự

cố định và giống nhau về hành trong 6 kinh âm và trong 6 kinh dương Huyệt nguyên, huyệt lạc và huyệt khích sẽ ít được nhắc đến trong các toa châm khi mà chúng ta sử dụng lý luận ngũ hành để mà điều khiển hệ thống ngũ du huyệt, tất nhiên là khó mà có thể tiên lượng được mạch sẽ chuyển thế nào sau khi sử dụng huyệt, khí huyết đã và đang được điều chỉnh ra sao vì đươn giản là có quá nhiều bộ mạch và các câu hỏi khó có lời giải làm cho ta phải bối rối

Còn dùng hệ thống y dịch lục khí , với việc xuất hiện thêm hành Thử, thật

sự là một bước “cải tiến vượt bậc” cho chiếc điều khiển tivi của chúng ta, đây được gọi là bước “đột phá” về công nghệ điều khiển Các huyệt sẽ nghe lời chúng ta răm rắp, có độ chính xác và ổ định cao.Ví dụ khi ta muốn làm giảm hỏa khí của toàn thân thì sau khí áp dụng một bộ huyệt (vd: bộ hỏa thủ châm) thì sau khi kích thích đủ các huyệt trong bộ huyệt này thì các bạn sẽ thấy bộ thốn bên tay phải của ta sẽ chuyển sang dạng đẹp hơn nhiều so với trước

Vậy tóm lại huyệt lục khí là gì?

-Nằm trên 12 kinh chính

Trang 29

28

-Chúng được tìm ra bằng việc sử dụng cái nhìn Lục Khí trên hệ thống ngũ hành cổ huyệt

- Sử dụng 6 hành: Kim, Thủy, Thử, Mộc, Hỏa, Thổ cho hệ thống huyệt

- Chức năng trao đổi khí giữa các kinh, mạch với nhau giúp thông huyệt, thông kinh, thông khí, thông huyết …

- Có công năng điều hòa, lập lại cân bằng của 6 khí trong cơ thể

- Trên kinh âm sử dụng 5 huyệt: tĩnh, vinh, du, kinh, hợp tương ứng với 5 hành

- Trên kinh dương sử dụng 6 huyệt: tĩnh, vinh, du, nguyên, kinh , hợp tương ứng với 6 hành

- Các hành của huyệt đã được chuyển biến, thay đổi trở nên vô cùng logic

và tuần hoàn

- Dùng theo bộ, dùng nhiều huyệt cùng lúc trong một liệu trình điều trị thì hiệu quả điều trị tăng lên cao

Trang 30

29

BỨC TRANH TỔNG HỢP VỀ HUYỆT VỊ CHÂM CỨU

Các huyệt sử dụng trong châm cứu được phân thành 5 nhóm:

 Huyệt Vinh: Là nơi kinh khí chuyển qua ‘Sở lưu vi Vinh’

 Huyệt Du, đồng thời là huyệt Nguyên của các kinh Âm: Là nơi kinh khí rót vào ‘Sở chú vi Du’

 Huyệt Kinh: Là nơi kinh khí đi qua để vào bên trong ‘Sở hành vi Kinh’

 Huyệt Hợp: Là nơi kinh khí từ ngoài nhập vào bên trong Tạng Phủ

‘Sở nhập vi Hợp’

Nhóm 2: Nguyên huyệt – Lạc huyệt – khích huyệt – mộ huyệt – bối du huyệt

Mộ huyệt: vị trí trên bụng ngực: có tác dụng báo nguy về bệnh ở

nội tạng bên trong đau ở mộ huyệt thì bệnh nặng hơn đau ở bối du huyệt

 Bối du huyệt: vị trí trên lưng : có tác dụng báo nguy về nội tạng bên trong

 Nguyên huyệt và lạc huyệt:

 Theo các lài liệu thì tác dụng của huyệt nguyên và huyệt lạc

là cầu nối để trao đổi khí huyết giữa 2 kinh có quan hệ biểu

lý Nguyên huyệt kinh này nối với lạc huyệt của kinh mà có quan hệ biểu lý với nó: nguyên huyệt kinh âm liên lạc với lạc huyệt kinh dương , nguyên huyệt kinh dương liên lạc với lạc huyệt kinh âm

Trang 31

30

 Người xưa nói: trong kinh âm và kinh dương có đầy đủ 5 hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ nếu có đầy đủ thì không bệnh, nếu dư thì sẽ đưa về nguyên huyệt và giữ ở đó Vì thế nguyên huyệt là kho chứa của những dưa thừa ngũ khí tại những kinh

đó

 Nếu nguyên huyệt nhiều quá dư quá tràn da ngoài thì làm sao

để giải quyếtà sẽ dùng lạc huyệt của kinh có quan hệ biểu lý với nó nên sẽ châm cùng lúc 2 huyệt nguyên và lạc

 Khích huyệt: các sách xưa chỉ nói đến là khích huyệt chỉ châm sâu

mà thôi Rất ít toa châm sử dụng đến khích huyệt

Tác dụng của 6 huyệt này là để gây tê để mổ Tác dụng các huyệt này trên mổ xẻ mà ra

III - Huyệt biệt trị:

 Túc châm: châm trên bàn chân, từ lằn chỉ cổ tay

 Thủ châm: châm trên bàn tay, từ lằn chỉ cổ tay

 Diện châm: châm trên mặt

 Nhĩ châm: trên tai

Căn cứ vào đâu mà có những pháp châm này:

 Do hình tượng tưởng tượng ra: nguyên tắc đồng ứng

 Do sự phản chiếu của vùng bị đau bên trong hiện ra bên ngoài mà tạo thành các thiên ứng huyệt, sinh huyệt, huyệt báo nguy, a thị huyệt

Trang 32

 4 mạch âm: đi qua nhiều huyệt tại các kinh âm hơn

 4 mạch dương: đi qua nhiều huyệt tại các kinh dương hơn

 2 mạch nhâm, đốc là đi thẳng giữa 2 mặt trước, sau của cơ thể, chúng có những huyệt chuyên thuộc của nó

 Sáu kinh còn lại đều phụ theo ở 12 kinh mạch kia, không có chuyên huyệt của từng kinh

Các huyệt giao của bát mạch với 12 đương kinh chính gọi là giao hội huyệt

Các giao hội huyệt chính gồm có 8 huyệt :

Trang 33

32

TẠI SAO CẦN ĐƯA QUẺ DỊCH VÀO

MẠCH LÝ

Trang 34

33

Trang 35

34

Trang 36

35

Trang 37

36

Trang 38

37

Trang 39

38

Trang 40

39

ĐỐI XỨNG TRONG CHÂM CỨU LỤC

KHÍ

Đối xứng mang hai nghĩa cơ bản Trước hết, đó là cảm giác thẩm mĩ

chung về sự hài hòa và cân đối, qua đó toát lên vẻ đẹp hay sự hoàn hảo Nghĩa thứ hai đề cập đến khái niệm về khuôn mẫu tương tự được định nghĩa và có thể chính minh qua các quy luật của hệ thống hình thức: bằng hình học, qua vật lý hoặc các cách khác Đây là định nghĩa về đặc điểm của đối xứng

Vì sao châm cứu lục khí lại đẹp và có nhiều tính chất đặc biệt trong chẩn đoán và điều trị như vậy? vì toàn bộ lý luận, phương pháp tư duy, đồ hình, phương pháp châm, cách phối hợp huyệt trong bộ môn châm cứu lục khí đều toát lên vẻ đẹp của tính logic và tính đối xứng, tất nhiên là còn nhiều điều nữa làm cho bộ môn này đẹp và hấp dẫn, chúng ta cùng tìm hiểu với các bài viết sau

Ngày đăng: 18/09/2016, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w