Vì vậy, đề tài “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống nhiễm khuẩn trong châm cứu của nhân viên y tế Viện Y học cổ truyền Quân đội năm 2017” được thực hiện với 2
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một trong những thách thức và mối quantâm hàng đầu tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, vì đây là những nhiễm khuẩnmắc phải trong thời gian người bệnh nằm viện Nhiều nghiên cứu cho thấy NKBVlàm tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, tăng việc sử dụng kháng sinh, tăng
đề kháng kháng sinh và chi phí điều trị [8]
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhiễm khuẩn do chăm sóc y tế(healthcare-associated infections_HAIs) còn gọi là nhiễm khuẩn bệnh viện(nosocomial infection) do bệnh nhân bị phơi nhiễm các nguy cơ nhiễm khuẩn khiđến khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế, đặc biệt khi họ trải qua điều trị và thủ thuậtxâm lấn Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) tác động tới bệnh nhân, người nhà bệnhnhân, nhân viên y tế và cơ sở y tế là nguyên nhân quan trọng gây bệnh tật và tửvong và làm tăng chi phí y tế
Một trường hợp nhiễm khuẩn thường được coi là nhiễm khuẩn bệnh viện nếuxảy ra ≥ 48 giờ sau khi nhập viện Phòng chống nhiễm khuẩn (Infection preventionand control_IPC/PCNK), mặc dù thường bị coi nhẹ và không được hỗ trợ đúng mức
là một phần thiết yếu của cơ sở hạ tầng y tế Thực hành PCNK tối thiểu đượckhuyến cáo trong cơ sở y tế là tất cả nhân viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân,
dù mới bị nghi hay khẳng định đã bị nhiễm khuẩn đều áp dụng biện pháp phòngngừa chuẩn (standard precautions_SP)
Châm cứu là một kỹ thuật mà các bác sĩ dùng các kim nhỏ châm lên da đểkích thích vào các huyệt chủ đạo trên cơ thể Đây là phương pháp điều trị phổ biếncủa y học cổ truyền được nhiều người tìm đến với mong muốn lấy lại sự cân bằngnăng lượng cho cơ thể [19] Kỹ thuật này giúp giảm các chứng đau liên quan tớinhững bệnh mạn tính như đau thắt lưng, đau cổ và đau do viêm khớp, đau đầu gối,thoái hóa khớp, đau dây thần kinh và đau vai Châm cứu cũng được sử dụng chonhiều bệnh đau khác như ung thư, đau nửa đầu và viêm khớp Ngày nay, châm cứuđược ứng dụng phổ biến trong y châm tê để hỗ trợ phẫu thuật ngoại khoa, châm cứucắt cơn nghiện trong điều trị cai nghiện ma túy, châm cứu để giảm béo, điều trị
Trang 2bệnh huyết áp, rối loạn thần kinh tim, các bệnh về dạ dày, ruột, sinh dục, rối loạnkinh nguyệt, đau bụng kinh, di mộng tinh [2, 12].
Tuy nhiên, theo các chuyên gia thì châm cứu có nguy cơ lây nhiễm vi sinh vậtgây mắc những bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh viêm gan B, HIV/AIDS TạiThượng Hải, trong thông báo của Hội Nghị Châm Cứu năm 1958, một số tác giả đãlưu ý là trong vùng rất nhiều người đã bị chứng Viêm Gan Siêu Vi mà nguyên nhânchủ yếu là trước đó có được châm cứu Hiện nay, SIDA (AIDS) là mối bận tâm lớncho những người đến xin điều trị bằng châm cứu Vì vậy, việc khử trùng đúng quytrình kỹ thuật là hết sức cần thiết để phòng tránh các lây nhiễm đáng tiếc có thể xảy ra.Viện Y học cổ truyền Quân đội (Viện YHCT Quân đội), hàng năm điều trịchâm cứu nhiều bệnh nhân với tính chất bệnh lý rất đa dạng, trong đó có thể ngườibệnh bị bệnh truyền nhiễm gây nhiễm khuẩn bệnh viện nói chung và trong điều trịchâm cứu nói riêng Tuy nhiên, việc phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châmcứu còn có phần chủ quan, chưa được nhận thức đầy đủ và chưa có công trình nghiêncứu nào về phòng chống nhiễm khuẩn trong châm cứu được thực hiện trong những
năm gần đây Vì vậy, đề tài “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống nhiễm khuẩn trong châm cứu của nhân viên y tế Viện Y học cổ truyền Quân đội năm 2017” được thực hiện với 2 mục tiêu nghiên cứu chính dưới đây:
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn trong châm cứu của nhân viên y tế Viện Y học cổ truyền quân đội năm 2017.
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn trong châm cứu của đối tượng nghiên cứu.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 31.1 Một số khái niệm, định nghĩa
1.1.1 Châm cứu
Châm cứu là một kỹ thuật mà các bác sĩ dùng các kim nhỏ châm lên da đểkích thích vào các huyệt chủ đạo trên cơ thể Đây là phương pháp điều trị phổ biếncủa y học cổ truyền được nhiều người tìm đến với mong muốn lấy lại sự cân bằngnăng lượng cho cơ thể Kỹ thuật này giúp giảm các chứng đau liên quan tới nhữngbệnh mạn tính như đau thắt lưng, đau cổ và đau do viêm khớp, đau đầu gối, thoáihóa khớp, đau dây thần kinh và đau vai Châm cứu cũng được sử dụng cho nhiềubệnh đau khác như ung thư, đau nửa đầu và viêm khớp Nhiều người sử dụng châmcứu để kiểm soát tình trạng nghiện như nghiện cocain và nghiện thuốc lá [20].Châm cứu giúp giảm các triệu chứng như khô miệng, trầm cảm, hội chứng mệtmỏi mạn tính, lo âu, khó ngủ (mất ngủ), tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, đau
xơ cơ, hội chứng ruột kích thích, buồn nôn do điều trị ung thư, đột quỵ, đái dầm,tiểu tiện không tự chủ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (bệnh phổi tiến triển) Nhiềungười có thể nhận được những kết quả khả quan từ phương pháp điều trị y học cổtruyền Trung Quốc này Tuy nhiên, tất cả các phương pháp điều trị đều tiềm ẩnnhững tác dụng phụ mà nhiều người chưa biết [20]
1.1.2 Khái niệm về kiến thức
Kiến thức là một cụm từ được sử dụng rất thường xuyên trong đời sốngthường ngày Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý: ‘Kiến thức làđiều hiểu biết, học tập mà nên’[11] Kiến thức hay tri thức của mỗi người được tíchlũy dần qua quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống Mỗi người
có thể thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như từ thầy cô giáo, cha mẹ,bạn bè, đồng nghiệp, những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thôngtin đại chúng cung cấp Trong thực tế, mỗi người chúng ta có thể tự kiểm tra liệuhiểu biết của mình là đúng hay sai dựa trên các kiến thức khoa học đã được xácđịnh Hàng ngày từ các sự việc cụ thể gặp trong đời sống, các kiến thức của mỗingười cũng được tích lũy
Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp con người có các suy nghĩ
và tình cảm, thái độ đúng đắn, từ đó dẫn đến những hành vi hay thực hành phù hợp
Trang 4trước mỗi sự việc hay tình huống cụ thể Kiến thức của mỗi người được tích lũytrong suốt cuộc đời Có các kiến thức hay hiểu biết về bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ,nâng cao sức khỏe là điều kiện cần thiết để mọi người có cơ sở thực hiện hành visức khỏe lành mạnh Các kiến thức về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe có thể thu được
từ các nguồn khác nhau, được tích lũy thông qua các hoạt động thực tiễn Vai tròcủa ngành y tế và các cán bộ trong việc cung cấp kiến thức cho người dân trongcộng đồng là rất quan trọng, thông qua việc thực hiện nhiệm vụ truyền thông, giáodục sức khoẻ
1.1.3 Khái niệm về thực hành (hành vi)
Theo đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý: ‘Thực hành là làm để
áp dụng lý thuyết đi đôi với thực hành’ [11] Thực hành là biến các kiến thức, hiểubiết thành các hành động cụ thể để đạt được những mục đích nhất định Thực hànhcác biện pháp chăm sóc sức khỏe, phòng chống bệnh tật là các thực hành thiết yếu
để giúp cho mỗi người có sức khỏe và phòng, chống được các bệnh tật
Cụm từ “thực hành” trong đời sống thực tế về chăm sóc sức khỏe rất đa dạng
và phong phú, vì thế các cá nhân và cộng đồng cần được giáo dục và hướng dẫnthực hành về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng Như vậy, nhucầu đào tạo thực hành đúng về phòng bệnh, chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sứckhoẻ cho mỗi người, mỗi gia đình và cho cả cộng đồng là rất cần thiết
1.1.4 Định nghĩa về nhiễm khuẩn bệnh viện
Từ thời sơ khai của bệnh viện như nhà tế bần, trung tâm từ thiện nuôi dưỡngngười ốm yếu đã xuất hiện các hội chứng bệnh hay bệnh dịch được xem là bệnh mắcphải từ các cơ sở tập trung đông người chữa bệnh Thuật ngữ hội chứng mắc phải trongbệnh viện bắt đầu từ đó và cũng được hiểu là hội chứng mắc NKBV [6, 34]
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa [6, 34]: Nhiễm khuẩn bệnh viện (nosocomial infection) là ‘những nhiễm khuẩn người bệnh mắc phải trong thời gian điều trị tại bệnh viện mà thời điểm nhập viện không thấy có yếu tố nhiễm khuẩn hay
ủ bệnh nào Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện’.
1.1.5 Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của Điều dưỡng
- Khái niệm Điều dưỡng (ĐD)
Trang 5Theo Hiệp hội Điều dưỡng Quốc tế: ‘Điều dưỡng là việc sử dụng óc suy đoánlâm sàng để cung cấp dịch vụ chăm sóc nhằm cải thiện, duy trì hoặc phục hồi sứckhỏe để đạt chất lượng tốt nhất của cuộc sống, bất kể họ bị bệnh hoặc khuyết tật chođến khi chết’ [41]
- Vai trò và nhiệm vụ của Điều dưỡng
Trong bệnh viện, Điều dưỡng có vai trò rất quan trọng trong công tác chămsóc, theo dõi người bệnh Họ luôn luôn ở bên người bệnh, để theo dõi chăm sóc,báo cáo và thực hiện các y lệnh kịp thời, khẩn trương chính xác
Nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan đến chăm sóc y tế, chất lượng chuyên môn
và an toàn của người bệnh có ảnh hưởng lớn đối với điều dưỡng Trong điều trịchâm cứu nguy cơ nhiễm khuẩn đối với những đường lây truyền qua máu, da từ kimchâm, các vật dụng rất cao đòi hỏi người Điều dưỡng bệnh nhân châm cứu phải cókiến thức, thực hành đúng theo các thông tư, nghị định của ngành y tế [4, 5] để bảo
vệ sức khỏe nhân viên y tế bệnh viện và người bệnh
- Trách nhiệm của Điều dưỡng viên
Điều dưỡng viên trong bệnh viện có các nhiệm vụ chính dưới đây:
- Duy trì vệ sinh, phù hợp với chính sách của bệnh viện và thực hành điềudưỡng tốt về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK)
- Giám sát kỹ thuật vô trùng, bao gồm cả việc rửa tay và đi găng
- Báo cáo kịp thời đến bác sỹ các trường hợp nghi NKBV
- Tiến hành cách ly bệnh nhân khi thấy bất cứ một dấu hiệu nào của bệnhtruyền nhiễm
- Hạn chế tiếp xúc bệnh nhân nhiễm khuẩn, nhân viên, bệnh nhân khác hoặccác thiết bị dược sử dụng để chẩn đoán và điều trị
- Duy trì nguồn cung cấp an toàn, cung cấp đầy đủ các trang thiết bị, thuốc vàvật tư chăm sóc bệnh nhân
- Điều dưỡng/Y tá phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn là một thành viên của độingũ kiểm soát lây nhiễm và chịu trách nhiệm [6, 44]
1.2 Tác nhân gây bệnh và hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện
1.2.1 Tác nhân gây bệnh
Trang 6Căn cứ vào các tiêu chuẩn lâm sàng và sinh học, các nhà khoa học đã xác định
có khoảng 50 loại NKBV Vi sinh vật gây NKBV có khoảng 90% là vi khuẩn, có
thể là các vi khuẩn gram dương như tụ cầu vàng (S aureus), liên cầu hay các trực khuẩn Gram âm (trực khuẩn mủ xanh), E coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, Proteus, Enterobacter, thường gây bệnh nặng, khó điều trị do đã kháng các kháng
sinh thông dụng Vi rút gây NKBV chiếm một tỉ lệ nhỏ khoảng 7% vi rút, thườnggặp ở trẻ em nhiều hơn là người trưởng thành và có nguy cơ bùng phát dịch Nấm
và ký sinh trùng gây NKBV rất thấp khoảng 3% và những người suy giảm miễndịch dễ mắc hơn [6,9,13]
Nhiễm khuẩn bệnh viện được phân loại theo vị trí nhiễm khuẩn như nhiễmkhuẩn phổi, nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn tiêu hoá, nhiễm khuẩn huyết, nhiễmkhuẩn da-mô mềm Tác nhân gây NKBV thường gặp cụ thể là:
Vi khuẩn Gram dương, cầu khuẩn: Tụ cầu vàng (Staphylococcuc aureus) đóng
vai trò quan trọng đối với NKBV từ cả hai nguồn nội và ngoại sinh Tụ cầu vàng cóthể gây lên nhiễm trùng đa dạng ở phổi, xương, tim, nhiễm khuẩn huyết và NKBV
có liên quan đến truyền dịch, ống thở, nhiễm khuẩn vết bỏng, nhiễm khuẩn vết mổ
Các chủng vi khuẩn Staphylococcuc aureus,liên cầu beta tán huyết
(beta-hemolytic) thường là căn nguyên nhiễm trùng tiết liệu tiên phát, nhiễm khuẩn vếtbỏng, biến chứng viêm màng cơ tim và khớp
Vi khuẩn Gram âm, trong đó các trực khuẩn Gram (-) thường có liên quan
nhiều đến NKBV và phổ biến trên người bệnh nhiễm trùng phổi tại khoa điều trị
Trang 7tích cực Nhóm vi khuẩn này có họ thuộc vi khuẩn đường ruột
(Enterobacteriaceae), chủng Acinetobacter, vi khuẩn thuộc giống Klebsiella spp, Eschrichia coli, trực khuẩn mủ xanh, [6].
Vi rút
Một số vi rút có thể lây truyền NKBV như vi rút viêm gan B và C (lây truyềnqua đường máu, lọc máu, đường tiêm truyền, nội soi), các vi rút hợp bào đường hôhấp, SARS và vi rút đường ruột (Enteroviruses) truyền qua tiếp xúc từ tay-miệng vàtheo đường phân-miệng Các vi rút khác cũng luôn lây truyền trong bệnh viện nhưCytomegalovirus, HIV, Ebola, Influenza, Herper, Varicella- Zoster [6, 8]
Ký sinh trùng và nấm
Một số ký sinh trùng (Giardia lamblia) có thể lây truyền dễ dàng giữa ngườitrưởng thành và trẻ em Nhiều loại nấm và ký sinh trùng là các sinh vật cơ hội và lànguyên nhân nhiễm trùng trong khi điều trị quá nhiều kháng sinh và trong trường
hợp suy giảm miễn dịch (Candida albicans, Aspergillus spp, Cryptococcus neoformans, ) Các loài Aspergillus spp thường gây nhiễm bẩn môi trường không
khí và các loài này được bắt nguồn từ bụi và đất, đặc biệt là trong quá trình xâydựng bệnh viện Căn nguyên nhiễm trùng là nấm thường kháng thuốc cao và gặp rấtnhiều khó khăn trong quá trình điều trị [6]
1.2.2 Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện
NKBV gây ra những hậu quả nặng nề với người bệnh cũng như các NVYT.Các hậu quả của NKBV bao gồm:
Tăng chi phí và tăng ngày điều trị: Theo thông tin tại Đại hội Hội Kiểm soát
nhiễm khuẩn Hà Nội năm 2008 cho biết, mỗi NKBV làm kéo dài thời gian nằmviện trung bình từ 9,4 đến 24,3 ngày và tăng chi phí điều trị trung bình từ 2 đến 32,3triệu đồng [6]
Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật: NKBV không những gây hậu quả nặng
nề về mặt lâm sàng, kinh tế mà còn là nguyên nhân làm tăng sự kháng thuốc của
VSV, làm xuất hiện những chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh là nguyên nhân dẫn
đến tử vong trong các bệnh viện Tại Mỹ, tháng 10/2010, trung tâm kiểm soát bệnh
đã công bố số người chết do tụ cầu kháng kháng sinh Methicillin (MRSA) đã vượt
Trang 8quá số người chết do AIDS Trong số các bệnh viện được khảo sát, MRSA được tìmthấy ở 176 người bệnh, chiếm 45%, trong đó 7,7% bị lây khi đang nằm viện ỞAnh, mỗi năm có khoảng 5000 người bệnh chết vì MRSA Tại Đức, Italia và BồĐào Nha, tỷ lệ tử vong do NKBV lên tới hơn 50% các trường hợp tử vong TạiChâu Á, các chủng loại vi khuẩn đa kháng kháng sinh được xác định là nguyênnhân gây ra từ 70 đến 80% trường hợp lây nhiễm trong bệnh viện Theo giáo sưXiao Yonghong của viện Dược lý lâm sàng của Trường Đại học Bắc Kinh, tỷ lệ lâynhiễm MRSA trong các bệnh viện Trung Quốc đã tăng từ 30% lên 70% [17].
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm khuẩn bệnh viện
Căn cứ vào nguồn tác nhân gây bệnh và đường lây truyền, các nhà khoa học
đã chứng minh có nhiều yếu tố ảnh hưởng, liên quan đến NKBV, có thể chia thànhnhóm các yếu tố nội sinh và nhóm các yếu tố ngoại sinh
1.3.1 Các yếu tố nội sinh
Các yếu tố nội sinh ảnh hưởng, liên quan đến NKBV là các yếu tố thuộc vềbản thân người bệnh Trẻ em non tháng, những người già yếu hoặc tình trạng bệnhnặng dễ bị NKBV Người bệnh nằm lâu, vệ sinh cá nhân kém, các vi sinh vật cư trútrên da, các hốc tự nhiên của cơ thể có thể gây nhiễm trùng cơ hội, đặc biệt khi cơ thể
bị giảm sức đề kháng như trường họp mắc bệnh mạn tính hay mắc nhiễm trùng Ngườibệnh dùng thuốc kháng sinh hoặc trị liệu kéo dài cũng có nguy cơ mắc NKBV cao bởi
sự kháng thuốc của vi khuẩn Theo thống kê của các nhà lâm sàng hiện nay có khoảng70% NKBV là do các chủng vi khuẩn kháng thuốc gây nên [2,24,33]
1.3.2 Các yếu tố ngoại sinh
Các yếu tố ngoại sinh ảnh hưởng, liên quan đến NKBV là các yếu tố thuộc vềbệnh viện Bệnh viện là nơi tập trung đông người, môi trường không khí, nước, chấtthải, dụng cụ, đồ vải, các bề mặt nhà cửa, đồ vật, đều tiềm ẩn tác nhân vi sinh vậtgây bệnh Các phương pháp chữa bệnh như phẫu thuật, thủ thuật xâm nhập cũng làcác yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc NKBV Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy 97%nhiễm trùng tiết niệu trên người bệnh có đặt ống thông tiểu, 85% nhiễm trùng huyếttrên người bệnh có đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và 83% nhiễm trùng hô hấptrên người bệnh có thông khí nhân tạo Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam gần đây cũng
Trang 9khẳng định điều đó [28,32].
Nhân viên y tế là người tiếp xúc liên tục môi trường bệnh viện, là người tiếnhành các phương pháp khám chữa bệnh nên họ cũng có thể là đường lan truyềnbệnh nếu không tuân thủ các quy trình kỹ thuật chuyên môn về kiểm soát nhiễmkhuẩn Tình trạng quá tải, nằm ghép hay sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng (như điềukiện để thực hiện vệ sinh bàn tay, xử lý bẩn dụng cụ, đồ vải, tiêm an toàn, hay vệsinh bệnh viện, quản lý chất thải, ) là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc giatăng NKBV
Điều quan trọng là NKBV có thể phòng ngừa được Nghiên cứu SENIC(Study on the Efficacy of Nosocomial Infection Control) thực hiện từ 1970 đến
1976 đã chứng minh chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn gồm giám sát và ứngdụng kỹ thuật có thể làm giảm được 33% NKBV Kiểm soát NKBV không chỉ cóhiệu quả về mặt lâm sàng mà còn có hiệu quả về kinh tế, góp phần quan trọng trongcải thiện chất lượng khám chữa bệnh
1.4 Một số biện pháp phòng chống nhiễm khuẩn tại các cơ sở y tế
1.4.1 Vệ sinh tay
WHO khuyến cáo rửa tay là biện pháp rẻ tiền và hiệu quả nhất trong phòngchống nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế vì cho rằng tác nhân gây bệnh (vi khuẩn,virut, ký sinh trùng, nấm, ) từ bệnh nhân, môi trường y tế (dụng cụ, không khí,nước, ) có thể lan truyền qua bàn tay từ nhân viên y tế đến bệnh nhân và ngược lại
Từ đó, vệ sinh bàn tay trước và sau mỗi lần tiếp xúc với bệnh nhân, trước khi làmcác thủ thuật vô khuẩn, sau khi tiếp xúc với dụng cụ y tế nhiễm khuẩn là biện phápquan trọng nhất để phòng chống NKBV Tỷ lệ NKBV và tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay ởnhân viên y tế có mối liên quan nghịch, nếu tuân thủ vệ sinh tay càng tăng thìNKBV càng giảm và ngược lại, nhiều nghiên cứu cũng xác định sát khuẩn tay làbiện pháp quan trọng nhất để dự phòng lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở
y tế [3, 10, 35]
1.4.2 Vô khuẩn
Trang 10Kỹ thuật vô khuẩn với các dụng cụ phẫu thuật, nội soi, cần được tuân thủnghiêm ngặt khi thực hiện các thủ thuật xâm nhập, phẫu thuật, chăm sóc vết thươngnhư tại vùng da bệnh nhân dự kiến phẫu thuật: sát khuẩn bằng hóa chất; dùng kéocắt bỏ lông, tóc (nếu có), không nên dùng dao cạo vì gây tổn thương vi thể có thểdẫn tới NKBV Các dụng cụ, đồ dùng trong bệnh viện (quần áo, giường tủ, ) vàchất thải của bệnh nhân cần được vệ sinh, khử khuẩn bằng các biện pháp thích hợp,đối với các dụng cụ y tế dùng lại phải bảo đảm xử lý vệ sinh theo đúng các quy địnhcủa Bộ Y tế [2].
1.4.3 Cách ly bệnh nhân
Tổ chức thực hiện các biện pháp cách ly phòng ngừa như: phòng ngừa chuẩn,phòng ngừa bổ sung (dựa theo đường lây truyền bệnh); tổ chức thực hiện các hướngdẫn và kiểm tra các biện pháp thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn theo tác nhân, cơquan và bộ phận bị NKBV Một số trường hợp cần thiết có thể tiến hành cách lynhằm ngăn ngừa sự lây lan từ bệnh nhân sang bệnh nhân, nhân viên y tế, người nhà,khách thăm, Tuy nhiên, việc tổ chức cách ly phải linh hoạt và tùy thuộc từng bệnh
cụ thể và hoàn cảnh của bệnh viện [5] Bệnh lây qua đường tiêu hóa như tả, viêmgan A, viêm dạ dày - ruột,… đòi hỏi cần mang găng và vệ sinh bàn tay tốt, bệnhnhân nên dùng riêng dụng cụ ăn uống, Bệnh lây qua đường hô hấp như lao, cúm,quai bị yêu cầu luôn mang khẩu trang, rửa tay, thông thoáng không khí, hạn chếkhách thăm, Một số bệnh nguy hiểm như SARS cần cách ly nghiêm ngặt (phòngđiều trị riêng, máy điều hòa, lọc khí riêng, cấm khách thăm, mang khẩu trang hoặcmặt nạ hô hấp, vô khuẩn tốt dụng cụ, đồ dùng của bệnh nhân, ) [6]
Đào tạo phổ cập về kiểm soát nhiễm khuẩn cho các thầy thuốc, nhân viên của
cơ sở khám chữa bệnh bao gồm các thực hành về phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa
Trang 11dựa vào đường lây, các hướng dẫn thực hành phòng ngừa NKBV theo cơ quan, vịtrí; đưa chương trình đào tạo kiểm soát nhiễm khuẩn thành chương trình chính quytrong các trường y tế và triển khai chương trình đào tạo vệ sinh bệnh viện cho hộ lý
và nhân viên vệ sinh các cơ sở y tế [4, 7]
1.4.5 Giám sát
Giám sát NKBV là một trong những yếu tố quan trọng để cải thiện tình hìnhNKBV Thực hành giám sát để có cơ sở dữ liệu về HAIs, tác nhân gây bệnh, vikhuẩn kháng thuốc, Nhân viên kiểm soát NKBVthường phải dành nhiều thời gian
để tiến hành giám sát và nhận biết những người bệnh NKBV, xác định vị trí vànhững yếu tố góp phần nhiễm khuẩn giúp các cơ sở y tế có kế hoạch đánh giá hiệuquả của những can thiệp này, đồng thời tạo tiền đề thực hiện các nghiên cứu vềkiểm soát nhiễm khuẩn, kiểm soát kháng sinh, đưa ra những quy định chính sách sửdụng kháng sinh và hạn chế những hoạt động tiếp thị của các hãng thuốc trong cơ
sở y tế [5]
1.4.6 Sát trùng kim và da trong châm cứu
Sát trùng (thanh trùng) kim: Các kim châm cần đun sôi và giữ sôi khoảng 20
-30 phút Có thể ngâm cồn 700 từ 10 - 20 phút (tuy nhiên, nếu có điều kiện vẫn nênđun sôi) Nếu có điều kiện, nên hấp khô trước khi dùng Sát trùng vùng da địnhchâm bằng bông đã tẩm cồn 70 - 900 [20]
1.5 Tình hình nghiên cứu nhiễm khuẩn bệnh viện trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Tình hình nghiên cứu nhiễm khuẩn bệnh viện và các vấn đề liên quan trên thế giới
Theo WHO, NKBV xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là hệ thống y tếcủa tất cả các nước đang phát triển và nước nghèo đều chịu tác động nghiêm trọngcủa NKBV Nghiên cứu điều tra cắt ngang NKBV tại 55 cơ sở y tế của 14 nước trênthế giới đại diện cho các khu vực công bố tỉ lệ NKBV là 8,7% và ước tính ở bất cứthời điểm nào cũng có hơn 1,4 triệu người bệnh trên thế giới mắc NKBV Nghiêncứu đưa ra 5 hậu quả của NKBV đối với bệnh nhân như làm tăng tỷ lệ tử vong, kéodài thời gian nằm viện, tăng việc sử dụng kháng sinh, tăng đề kháng kháng sinh vàchi phí điều trị [6, 25, 31] Cùng với sự xuất hiện một số bệnh gây ra bởi những vi
Trang 12sinh vật kháng thuốc hoặc do những tác nhân gây bệnh mới, NKBV vẫn còn là vấn
đề nan giải ngay cả ở các nước đã phát triển
Thống kê cho thấy tỉ lệ NKBV vào khoảng 5-10% ở các nước phát triển và lên
đến 15-20% ở các nước đang phát triển Căn nguyên gây NKBV có mức độ đa
kháng kháng sinh cao hơn căn nguyên gây nhiễm khuẩn trong cộng đồng NKBVkéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 7-15 ngày, làm gia tăng sử dụng khángsinh và kháng kháng sinh Do vậy, chi phí của một NKBVthường gấp từ 2-4 lần sovới những trường hợp không mắc NKBV Theo một số nghiên cứu, chi phí phátsinh do nhiễm khuẩn huyết bệnh viện là 34.508 đến 56.000 USD và do viêm phổibệnh viện là 5.800 đến 40.000 USD
Hằng năm, thế giới có khoảng 2 triệu bệnh nhân mắc NKBV, làm 90.000người tử vong và tốn thêm 4,5 tỉ USD viện phí Trong đó, tại Hoa Kỳ, cứ 20 bệnhnhân nhập viện thì có 1 bệnh nhân nhiễm NKBV; tại Vương quốc Anh, mỗi năm cókhảng 100.000 người mắc NKBV với trên 5000 ca tử vong, chi phí tăng thêm 1 tỉbảng Anh [22, 26, 27]
Ở các nước đang phát triển, tình hình NKBV còn nặng nề hơn do không đủnguồn lực cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn Theo thống kê năm 2001, tỷ lệNKBV tại Malaysia là 13,9% trong đó chủ yếu là nhiễm khuẩn huyết lâm sàng(22,4%), tiếp theo là nhiễm khuẩn hô hấp (21,4%), nhiễm khuẩn tiết niệu (12,2%),nhiễm khuẩn vết mổ (11,2% và là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh; ởBrazil và Indonesia tỷ lệ NKBV trên 50% bệnh nhi và tử vong từ 12-52% Tỷ lệ tửvong có liên quan đến NKBV ở Bồ Đào Nha, Hy Lạp cao hơn các nước vùngScandinavia và Thụy Sỹ NKBV không chỉ gây bệnh cho bệnh nhân mà còn cho cảnhân viên y tế, điển hình là đại dịch SARS năm 2003 đã làm cho nhân viên y tếnhiễm bệnh 20-60% so với tổng số ca mắc trên toàn thế giới [22, 26, 27]
NKBV còn làm tăng việc sử dụng kháng sinh dẫn đến tăng sự kháng thuốc của
vi sinh vật như Tụ cầu vàng kháng methicylin, cầu khuẩn đường ruột khángvancomycin, trực khuẩn Gram âm sinh men B - lactamase phổ rộng; điều này làmcho điều trị trở nên khó khăn phức tạp hơn, kéo dài thêm thời gian nằm viện và đedoạ đến an toàn người bệnh
Trang 13Nghiên cứu nổi tiếng của Pitte và cộng sự tại Thụy Sỹ thực hiện năm 1995
-1997 cho thấy 48% điều dưỡng tuân thủ rửa tay thường quy (RTTQ) và sau 3 năm
có chương trình can thiệp thấy tỷ lệ tuân thủ RTTQ tăng lên tới 66%; nghiên cứuđưa ra các chỉ số đánh giá: tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện và mức độ tiêu thụ dungdịch rửa tay chứa cồn [29]
Theo nghiên cứu của Deborah J.Ward năm 2011, khi nghiên cứu tổng quan hệthống điều dưỡng về những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành về kiểm soátnhiễm khuẩn (KSNK) cho thấy: kinh nghiệm, số năm công tác là những yếu tố nângcao kiến thức về thực hành tốt nhất; thiếu kiến thức và trình độ học vấn là hai lý dodẫn đến thực hành phòng chống nhiễm khuẩn chưa tốt ở điều dưỡng [42]
Nghiên cứu cắt ngang của Kanwalpreet Sodi về các yếu tố ảnh hưởng đến kiếnthức và thực hành về KSNK của 100 điều dưỡng khoa hồi sức tích cực ở Ấn Độ chothấy, những điều dưỡng đã công tác nhiều năm có kiến thức tốt về thực hành kiểm soátnhiễm khuẩn, còn những điều dưỡng mới công tác có kiến thức ở mức trung bình; có69,5 % điều dưỡng với 5-8 năm kinh nghiệm có kiến thức tốt về phòng chống nhiễmkhuẩn; chỉ có 30,5 điều dưỡng công tác dưới 5 năm có mức kiến thức tốt về thực hành
kiễm soát nhiễm trùng bệnh viện [43] Theo nghiên cứu của Robinson A và cộng sự đã
ghi nhận có trường hợp bị nhiễm trùng sau khi châm cứu [30]
Đối với nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu: Theo thông tin trên báo Y học
Anh cho biết: “các nhà vi trùng học đại học Tổng hợp Hongkong khẳng định, số các
vụ nhiễm trùng liên quan đến châm cứu trên toàn thế giới liên tục tăng lên và họ kêugọi phải có biện pháp chặt chẽ hơn nữa để quản lý việc chữa bệnh bằng châm cứu”.Theo Patrick Woo, giáo sư vi trùng học nổi tiếng, người đứng đầu nhóm nghiên cứutrên nhận định: “Để ngăn ngừa hiện tượng nhiễm trùng lây lan do châm cứu cầnthực hiện nhiều biện pháp thông thường như kim châm cứu phải là loại chỉ dùngmột lần, phải sát trùng da theo đúng kỹ thuật” và "rất cần thiết phải đưa ra nhữngquy định nghiêm ngặt đối với những người hành nghề”
Theo Woo và các đồng nghiệp cho biết, châm cứu cũng có thể nguy hiểm khidùng kim để đâm xuyên vào các huyệt ở độ sâu vài centimet dưới da Họ cảnh báochâm cứu có thể gây ra một hội chứng mới – bệnh mycobacteriosis do châm cứu
Trang 14"Đây là một bệnh nhiễm trùng gây ra do vi khuẩn dạng sợi (mycobacteria), pháttriển nhanh chóng xung quanh vết châm kim do bông băng, khăn lau hoặc miếngvải chườm bị nhiễm bẩn Khi bị nhiễm trùng, thời gian ủ bệnh khá lâu và thườngdẫn tới apxe và lở loét” Đại đa số bệnh nhân hồi phục sau khi bị nhiễm trùng,nhưng từ 5 đến 10% đã chịu hậu quả nghiêm trọng như bị thoái hóa khớp, tổnthương nhiều cơ quan (multi-organ failure), loét thịt và bại liệt Đã có đến ít nhất 5đợt bùng phát bệnh viêm gan B liên quan đến châm cứu Trong nhiều trường hợp,nguồn phát tán để gây nhiễm trùng hàng loạt là các bệnh nhân đã bị nhiễm virusviêm gan B hoặc HIV và virus lây lan sang nhiều người khác qua kim châm cứu sáttrùng không kỹ [1].
1.5.2 Tình hình nghiên cứu nhiễm khuẩn và kiến thức, thái độ thực hành ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác điều tra phát hiện nhiễm khuẩn bệnh viện đã đượcngành y tế quan tâm tổ chức có hệ thống trong những năm gần đây Năm 2001, vụđiều tộ Bộ Y tế tiến hành giám sát NKBV trên 5.395 người bệnh tại 11 bệnh viện(BV) toàn quốc (6 BV trung ương, 5 BV tỉnh), phát hiện 369 người bệnh NKBV, tỷ
lệ NKBV là 6,8%
Hiện nay, vấn đề phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện rất được quan tâm.Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh (2012) về kiến thức và tỷ lệ tuân thủ RTTQcủa điều dưỡng Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội cho thấy 70,1% điều dưỡng có kiếnthức tốt về thực hành rửa tay Điều dưỡng khoa Ngoại có kiến thức tốt hơn khoaNội (63,6% so với 36,4%), tỷ lệ tuân thủ các cơ hội rửa tay là 58%, tỷ lệ tuân thủbuổi sáng cao hơn buổi chiều (60,7% so với 50,3%) [13] Nghiên cứu Trần NgọcBình (2005) cho rằng, việc khó thực hiện tuân thủ các quy định vệ sinh môi trườngtrong các cơ sở y tế là 21,95% [21]
Nghiên cứu của Trần Ngọc Tâm (2012) cho thấy các loài VSV trong không khíphòng mổ rất đa dạng Tuy nhiên việc phân lập cũng khác nhau tùy thời điểm[18]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng và Trần Đỗ Hùng năm 2012 cho thấy kiếnthức sử dụng mã màu túi vàng đựng chất thải nguy hại phòng cách ly phòng chốngdịch đạt là 40% [15]
Trang 15Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Nga năm 2014, tỷ lệ tuân thủ khi thaybăng điều dưỡng thực hiện kỹ thuật vô khuẩn chưa đạt yêu cầu chiếm 12,8% [14].
Theo Trần Thúy Hạnh và Lê Bá Thức, năm 2013, khi nghiên cứu thực trạngkiến thức, thái độ KSNK của 100 học viên thuộc 3 đối tượng: bác sỹ, điều dưỡng,sinh viên tại Bệnh viện Bạch Mai, kết quả cho thấy kiến thức đúng về KSNK là84,7% và thái độ đúng là 73,9% [23]
Theo nghiên cứu của Phùng thị Tuyết Thu và cộng sự, năm 2013 tại Bệnh viện
Ba Trì tỉnh Bến Tre, cho thấy: kiến thức chung đúng về KSNK của điều dưỡng đạt82,9%, trong đó kiên thức về rửa tay thường quy đạt cao nhất 98,9%, tỷ lệ thựchành chung đúng khá cao (79,11%), trong đó tỷ lệ thực hành rửa tay thường quy đạtthấp (21,11%)
Nghiên cứu của Trần Đình Bình và cộng sự, năm 2008 trên 300 sinh viên ykhoa năm cuối tại Đại học y Huế về kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn bệnh việncho thấy, hiểu biết khái niệm nhiễm khuẩn bệnh viện là 68,9%; hiểu biết nguyênnhân và tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện là 87,7%; hiểu biết về nguồn lâynhiễm và nguy cơ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện là 88,2%; hiểu biết về một số biệnpháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện là 72,6% [39]
Nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và thái độ của Điều dưỡng hồi sức tích cực
về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại bệnh viện Việt Đức” của Trần Thị Thu Hà,năm 2016 chỉ ra rằng: có 83,82% Điều dưỡng viên tiếp cận thông tin và có nghe nóiđến công tác phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn; có kiến thức đúng về khửkhuẩn, tiệt khuẩn 58,8%; có kiến thức đúng về phòng ngừa chuẩn 52,21%; có kiếnthức đúng theo 6 nội dung về KSNK đạt rất thấp 4,41% [22]
Tuy nhiên, các nghiên cứu về nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu chưanhiều, thực tế thì nếu không tuân thủ việc dùng kim châm cứu sạch thì hiểm họa sẽxảy ra Theo Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc bệnh viện Châm cứu Trung Ương, chobiết: “Việc dùng chung kim châm không chỉ làm lây nhiễm HIV mà còn cả nhiềubệnh lây truyền khác nữa” và giải thích: Về nguyên tắc, cũng giống như kim tiêm,kim châm cứu hoàn toàn có thể lây bệnh nếu dùng chung mà không được hấp, tiệttrùng đúng cách bởi nguyên lý chung của kim là xuyên qua da, tiếp xúc với các mô,
Trang 16tế bào và cả các mạch máu Do đó, cũng giống như kim tiêm, kim châm cứu ngàynay cũng được thiết kế theo dạng dùng 1 lần Để đảm bảo an toàn và đạt được hiệuquả chữa bệnh khi châm cứu, thì nhất thiết phải sử dụng kim sạch khi thực hiệnchâm cứu, đồng thời khi tiến hành châm cứu phải đảm bảo các khâu và các dụng cụkhác như: Bông, băng, gạch … sạch sẽ [1].
Mặc dù kiểm soát nhiễm khuẩn ở các cơ sở y tế còn nhiều khó khăn nhưngWHO cho rằng chương trình kiểm soát NKBV hoàn toàn có thể ngăn ngừa thông quanhững chuẩn mực về chất lượng chăm sóc và thực hành lâm sàng Nghiên cứu về hiệuquả của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện SENIC (Study on the Efficacy
of Nosocomial Infection Control) năm 1970 -1976 đã chứng minh rằng một chươngtrình kiểm soát NKBV bao gồm giám sát và áp dụng kỹ thuật có thể làm giảm33% NKBV có ý nghĩa thiết thực nâng cao chất lượng điều trị và hiệu quả kinh tế.Việc kiểm soát và dự phòng NKBV hiệu quả được xem như là một tiêu chuẩn quantrọng nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế trên thế giới cũngnhư Việt Nam[16, 25]
1.6 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu
Viện Y học cổ truyền Quân đội, thành lập ngày 4/7/1978, là đơn vị đầu ngành
về y học cổ truyền (YHCT) trong toàn quân và là một trong năm cơ sở YHCT lớnnhất Việt Nam Viện phát triển theo mô hình viện - trường tại hai cơ sở, ở miền Bắc
và miền Nam
Viện có 6 nhiệm vụ là:
- Điều trị và chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ Trung ương;
- Điều trị cho cán bộ trung, cao cấp trong quân đội;
- Nghiên cứu khoa học;
- Đào tạo, huấn luyện;
- Thừa kế, chỉ đạo các tuyến quân y trong toàn quân về YHCT;
- Hợp tác quốc tế
Về đội ngũ cán bộ khoa học, Viện có trên 600 cán bộ và nhân viên; 130 cán bộ
có trình độ đại học và sau đại học, trong đó: giáo sư, tiến sĩ là 30
Trang 17Trong suốt 30 năm qua, được sự chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, sựgiúp đỡ của các cơ quan chức năng và nhân dân địa phương, Viện YHCT Quân đội
đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao Viện đã được Đảng, Nhà nước vàquân đội tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương và Bằng khen; được nhândân hết lòng tin yêu và giúp đỡ
Dưới đây là tóm tắt một số kết quả hoạt động của đơn vị:
- Công tác điều trị: Viện điều trị có hiệu quả trên 50 mặt bệnh bằng phương
pháp kết hợp Đông - Tây y; trong đó có một số bệnh đang là thế mạnh của Việnnhư: gút, đột quỵ não, viêm tắc động mạch chi, viêm gan mạn, bệnh về xương khớp,các bệnh về hậu môn trực tràng, nam khoa, Đây là những bệnh thuộc các đề tàinghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ và hợp tác với Trung Quốc Hàng năm,
số người đến khám hơn 120.000 lượt; điều trị hơn 7.000 lượt
Trong 6 tháng đầu năm 2017 Số bệnh nhân điều trị châm cứu là hơn 3.000, sốlượt làm kỹ thuật châm cứu hơn 30.000
- Công tác chăm sóc sức khoẻ cán bộ cao cấp: Viện đã thu dụng điều trị cho
nhiều lượt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội Bằng phương pháp kếthợp Đông – Tây y, công tác điều trị đã đạt kết quả tốt, được các đồng chí cán bộ caocấp tin tưởng và khen ngợi
- Công tác huấn luyện và đào tạo: Năm 1991, Viện là cơ sở đầu tiên trong
toàn quốc được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cho phép đào tạo thạc sĩ chuyênngành YHCT Tới nay, Viện đã đào tạo được 10 khoá thạc sĩ gồm 130 học viên, 22khoá Bác sĩ YHCT với hơn 400 học viên, 27 khoá Y sĩ YHCT với gần 1000 học viên Viện cũng đã cử đi đào tạo tại các cơ sở trong và ngoài nước được 36 nghiêncứu sinh, tiến sĩ; trong đó, đào tạo tại Trung Quốc là 26 nghiên cứu sinh, tiến
sĩ Bên cạnh đó, Viện cũng là cơ sở thực hành lâm sàng cho Học Viện Quân y, Họcviện Y Dược học cổ truyền Việt Nam
- Công tác nghiên cứu khoa học: Tới nay, Viện đã thực hiện được 240 đề tài
NCKH các cấp, trong đó có 7 đề tài, chương trình cấp Nhà nước, 40 đề tài cấp
Bộ Các đề tài nghiên cứu đều hướng về bộ đội ở đơn vị và cộng đồng như nghiêncứu chữa bỏng, chữa vết thương phần mềm, bó gãy xương, phòng chống sứa lửa,
Trang 18chữa sốt rét, nâng cao thể lực phi công và bộ đội hóa học, điều trị đột quỵ não, điềutrị hỗ trợ bệnh nhân ung thư, bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.
- Công tác chỉ đạo tuyến: Viện đã kết hợp chặt chẽ cùng Phòng Y học dân tộc/
Cục Quân y tiến hành khảo sát, giúp đỡ một số trang thiết bị cho các tuyến quân y
cơ sở để phát triển YHCT, thực hiện các đề tài NCKH; mời cán bộ YHCT cơ sởtham dự các khoá học ngắn hạn tại Trung Quốc
- Công tác hợp tác trong nước và quốc tế: Viện có quan hệ chặt chẽ với các cơ
sở khoa học lớn trong nước và thường xuyên tiếp xúc, trao đổi với các đoàn quân,dân y của một số nước như: Cuba, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản, Pháp, Tổchức Y tế Thế giới Đặc biệt, hàng năm đơn vị đều tổ chức hội nghị trao đổi họcthuật với Trung Quốc
- Công tác dược sản xuất thuốc: Từ kết quả thừa kế và NCKH, tới nay, Viện
đã tạo ra được trên 60 chủng loại thuốc Hàng năm sản xuất trên 100 tấn dược phẩmcác loại phục vụ điều trị nội và ngoại trú dưới dạng: viên hoàn, viên nang, viên nén,cao lỏng, chè tan, thuốc bột Sản phẩm thuốc do Viện sản xuất rất tiện sử dụng, dễbảo quản, dễ vận chuyển tới các đơn vị và cộng đồng Công nghệ bào chế và sảnxuất thuốc từng bước được hiện đại hoá, quy trình kỹ thuật đạt tiêu chuẩn chấtlượng cao
- Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn: Khoa kiểm soát nhiểm khuẩn của Viện mới
được thành lập, đang từng bước đi vào hoạt động Vì vậy công tác thống kê tỷ lệ
BN nhiễm khuẩn hàng năm chưa thực hiện được
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 192.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhân viên y tế điều dưỡng tại các khoa/phòng tại
Viện Y học cổ truyền Quân Đội
- Địa điểm nghiên cứu: Viện Y học cổ truyền Quân Đội
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu: Mẫu toàn bộ
Cỡ mẫu: 191 nhân viên y tế điều dưỡng tại các khoa/phòng tại Viện Y học cổtruyền Quân Đội tình nguyện tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các nhân viên y tế điều dưỡng đang làm việc tại các khoa/phòng tại Viện Yhọc cổ truyền Quân Đội, không phân biệt nam nữ, năm sinh, thâm niên công tác,điều kiện kinh tế xã hội; tình nguyện tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại mẫu
o Các nhân viên y tế điều dưỡng không tình nguyện tham gia nghiên cứu.
o Các nhân viên y tế điều dưỡng nghỉ đẻ, đi học dài ngày.
o Các nhân viên y tế điều dưỡng đi công tác đột xuất trùng vào thời gian
nghiên cứu
2.2.3 Công cụ thu thập thông tin
- Phiếu điều tra: Nội dung của phiếu điều tra tập trung vào các nội dung chính
như sau (Phụ lục 1):
- Câu hỏi về thông tin chung;
- Câu hỏi về Kiến thức về nguyên nhân, tác hại và biện pháp phòng chốngnhiễm khuẩn chung bệnh viện và nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu
- Câu hỏi về Thực hành về các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn chung vànhiễm khuẩn trong châm cứu
Trang 20- Bảng kiểm: Bảng kiểm về hoạt động phòng chống nhiễm khuẩn trong khám
chữa bệnh của các khoa/phòng điều trị châm cứu được thiết kế, xây dựng dựa trênthôn tư số 18/2009/TT-BYT [4] Bảng kiểm bao gồm các nội dung chính về chuẩn
bị bệnh nhân, đồ dùng dụng cụ châm cứu và thực hành thao tác kỹ thuật châm cứu(Phụ lục 2)
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu thông qua phiếu điều tra được thiết
kế sẵn Việc tổ chức thu thập thông tin được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu
- Xây dựng Bộ công cụ nghiên cứu: Các câu hỏi do nhóm nghiên cứu xây
dựng dựa trên giả thuyết sự hiểu biết của sinh viên mới nhập học và mục tiêu, nộidung nghiên cứu của đề tài
- Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu: sau khi Bộ câu hỏi được
xây dựng, nghiên cứu viên sẽ tiến hành phỏng vấn thử 7 nhân viên y tế điều dưỡngvới Bộ câu hỏi này, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn chỉnh nội dung của Bộ câu hỏi mộtcách phù hợp sau đó in ấn phục vụ cho tập huấn và điều tra
Bước 2: Tập huấn công cụ nghiên cứu
- Đối tượng tập huấn: 5 điều dưỡng của các khoa lâm sàng trong Viện
- Nội dung tập huấn: Mục đích của cuộc điều tra, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng tiếp xúc với đối tượng phỏng vấn
- Thời gian, địa điểm: 1/2 ngày, tại viện y học cổ truyền Quân đội
- Giảng viên tập huấn: Trưởng nhóm nghiên cứu
Bước 3: Tiến hành điều tra
- Nhân lực: tổng số 5 - 6 người
- Các điều tra viên sẽ trực tiếp phỏng vấn các đối tượng Mỗi buổi điều tra có giám sát quan sát và kịp thời uốn nắn các sai sót trong quá trình điều tra
Bước 4: Thu thập phiếu điều tra
- Sau mỗi buổi điều tra, điều tra viên nộp phiếu cho giám sát, giám sát có tráchnhiệm thu thập, kiểm tra một cách kỹ lưỡng phiếu điều tra về số lượng, chất lượng nội dung câu hỏi
2.2.5 Tiêu chí đánh giá, phân loại kiến thức, thực hành
Trang 21Cách tính điểm: các câu chỉ có 1 lựa chọn là 1 điểm; các câu nhiều lựa chọn
thì mỗi ý lựa chọn là 1 điểm và tùy theo số lượng ý được lựa chọn sẽ có số điểmkhác nhau trong từng câu Thang điểm đánh giá kiến thức, thực hành được trình bàychi tiết trong Phụ lục 3
Tổng điểm kiến thức chung về NKBV là 22 điểm, được phân loại theo 2 cấp độ:
- Đạt: ≥ 11 điểm
- Không đạt: < 11 điểm
Kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu (27 điểm)
- Đạt ≥ 1/2 điểm: ≥ 14 điểm
- Không đạt <1/2 điểm: < 14 điểm
Kiến thức chung phòng chống NKBV và trong điều trị châm cứu (49 điểm)
- Đạt ≥ 1/2 điểm: ≥ 25 điểm
- Không đạt <1/2 điểm: < 25 điểm
Thực hành phòng chống nhiễm khuẩn (15 điểm)
Trang 22Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu
biến số
Phương pháp thu thập
C1 Tuổi Là tuổi tính theo dương lịch của ĐTNC
(lấy năm 2017 trừ đi năm sinh) Độc lập Phỏng vấnC2 Khoa Khoa ĐTNC đang công tác Độc lập Phỏng vấn C3 Giới tính Giới tính của ĐTNC (nam/nữ) Độc lập Quan sát C4 Trình độ học vấn Cấp học cao nhất mà ĐTNC đã hoàn
C5 Chức danh Chức danh hiện tại của ĐTNC Độc lập Phỏng vấn C6 Nghề nghiệp trực
tiếp đến châm cứu
Nghề nghiệp hiện tại của ĐTNC có trực tiếp làm châm cứu hay không Độc lập Phỏng vấnC7 Thâm niên công
nhiễm gây nkbv Phụ thuộc Phỏng vấnC16 Nguồn lây nhiễm
gây nhiễm khuẩn
Nguồn lây nhiễm nào gây nhiễm khuẩn vào cơ thể người bệnh và nhân viên y tế Phụ thuộc Phỏng vấnC17 Sự xâm nhập vsv Sự xâm nhập vsv vào cơ thể qua những
con đường nào Phụ thuộc Phỏng vấnC18 Nguyên tắc phòng
chống nkbv
Hiểu biết về nguyên tắc phòng chống
nkbv của ĐTNC Phụ thuộc Phỏng vấnC19 Thời điểm rửa tay
của who
Thời điểm nào không phải là thời điểm rửa tay mà who đưa ra khi tiếp xúc với bn Phụ thuộc Phỏng vấnC20 Mang gang có Hiểu biết của ĐTNC về mang găng có Phụ thuộc Phỏng vấn
Trang 23thay thế được rửa
tay thay thế được rửa tay khôngC21 Mã mà đựng chất
Nguy cơ nhiễm
khuẩn trong châm
cứu
Hiểu biết của ĐTNC về nguy cơ nhiễm
khuẩn trong châm cứu Phụ thuộc Phỏng vấn
gây lây nhiễm
trong châm cứu
Hiểu biết của ĐTNC về loại vsv có thể gây lây nhiễm trong quá trình châm cứu Phụ thuộc Phỏng vấn
Hiểu biết của ĐTNC về loại bệnh nào
có nguy cơ cao mắc nhiễm khuẩn trong
khuẩn của nvyt
Những biện pháp phòng nhiễm khuẩn khi điều trị chăm sóc bệnh nhân châm
cứu của nvyt
Trang 24C35 Loại vk mà ĐTNC
nhiễm
Loại vk mà ĐTNC bị nhiễm khi thực hành châm cứu cho bn Phụ thuộc Phỏng vấnC36 Phòng chống nk
của ĐTNC
Thực hành phòng chống nk của ĐTNC khi điều trị chăm sóc bn châm cứu Phụ thuộc Phỏng vấnC37 ĐTNC tiêm
vacxin vgb ĐTNC có tiêm vacxin phòng bệnh vgb Phụ thuộc Phỏng vấn
buồng châm cứu
ĐTNC dùng biện pháp vệ sinh nào tại
buồng châm cứu Phụ thuộc Phỏng vấn
2.2.7 Hạn chế, sai số trong nghiên cứu và biện pháp khắc phục
Hạn chế nghiên cứu: Nghiên cứu có hạn chế của một thiết kế nghiên cứu mô
tả cắt ngang, tất cả các yếu tố nghiên cứu đều được xác định cùng tại một thời điểm,khó xác định được độ chính xác về yếu tố liên quan Vì nghiên cứu có vấn đề nhạycảm liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện của nhânviên y tế điều dưỡng nên có thể có những thông tin chưa được cung cấp đầy đủ, trungthực Việc nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trịchâm cứu và các yếu tố liên quan là vấn đề mới chưa được nghiên cứu đề cập, nên cónhiều hạn chế về tài liệu tham khảo về kết quả nghiên cứu để phân tích, so sánh bàn luận
Bảng 2 2 Sai số và biện pháp khắc phục
Trang 25Sai số nghiên cứu Biện pháp khắc phục
Sai số trong thiết kế phiếu điều tra
- Xin ý kiến chuyên gia;
- Thử nghiệm phiếu điều tra trước khi tiến hành;nghiên cứu để chuẩn hóa các nội dung
Sai số nhớ lại - Hạn chế các câu hỏi nhớ lại, thông tin cần hỏi
không quá xa so với thời điểm phỏng vấn.
Sai số trong cách đặt câu hỏi,
phỏng vấn
- Chọn điều tra viên có kinh nghiệm;
- Tập huấn kỹ cho điều tra viên;
- Điều tra thử kết hợp thử nghiệm bộ công cụ.
Sai số trong nhập liệu và phân tích
- Kiểm tra kỹ và làm sạch thô phiếu khi thu về;
- Nhập lại 10% số phiếu để kiểm tra tính chính xáccủa người nhập liệu;
- Rà soát tính logic, phù hợp thực tế của kết quả xử
lý số liệu
2.2.8 Xử lý và phân tích số liệu
Việc xử lý số liệu điều tra được thực hiện theo các bước sau:
- Kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được.
- Nhập liệu: toàn bộ số liệu thu thập được nhập liệu bằng phần mềm epi data
- Làm sạch số liệu: sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch bằng
cách xem xét lại toàn bộ và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu
- Xử lý và phân tích số liệu: các số liệu sau khi thu thập, được tổng hợp và xử
lý bằng phần mềm SPSS 22
- Số liệu thống kê mô tả được biểu diễn dưới dạng: tần số, tỷ lệ phần trăm (với
biến phân loại), trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn (với biến định lượng);
- Các test thống kê suy luận tìm hiểu mối liên quan giữa các biến độc lập với
các biến phụ thuộc là biến phân loại dự kiến sử dụng trong nghiên cứu gồm: OR với95% CI (với 2 biến nhị phân)
- Mức ý nghĩa α = 0,05 được sử dụng trong các kiểm định thống kê Với
p<0,05 thì mối liên quan có ý nghĩa thống kê
2.2.9 Đạo đức nghiên cứu
- Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu đã được giải thích rõ ràng về mục
Trang 26đích của nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu.
- Bộ câu hỏi không bao gồm các câu hỏi mang tính riêng tư, các vấn đề nhạy
cảm nên không ảnh hưởng gì đến tâm lý hay sức khoẻ của đối tượng nghiên cứu
- Các số liệu này chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu nhằm góp
phần nâng cao sự hiểu biết của nhân viên y tế về phòng chống nhiễm khuẩn trongđiều trị châm cứu
- Nghiên cứu thực hiện đúng quy định về đạo đức nghiên cứu của bộ y tế.
- Bảo mật thông tin cho người cung cấp thông tin.
Trang 27CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu (n=191)
Chức danh chuyên môn
Nghề nghiệp chuyên môn có trực tiếp châm cứu 165 86,4
Thâm niên công tác
Bảng 3.1 cho thấy một số thông tin cơ bản đặc điểm đối tượng nghiên cứu.
Theo đó, tỷ lệ nữ điều dưỡng (59,2%) cao hơn nam (40,8%); tuổi đời 30-50 chiếmnhiều nhất (80,1%); trình độ học vấn chuyên môn trung cấp chiếm tỷ lệ cao nhất(82,7%) Có tới 90,6% đối tượng nghiên cứu là điều dưỡng viên và 86,4% trực tiếptham gia châm cứu Hầu hết đối tượng nghiên cứu có thâm niên công tác từ trên 5năm đến 25 năm, chiếm 82,7%, trong đó, thâm niên công tác 10-15 năm chiếm tỷ lệnhiều nhất (33,5%)
Bảng 3.2 Nguồn thông tin tiếp cận về phòng chống nhiễm khuẩn (n=191)
Trang 28Các nguồn thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)
Các nguồn thông tin về phòng chống nhiễm khuẩn mà đối tượng nghiên cứu
tiếp cận trong nghiên cứu này được trình bày chi tiết trong Bảng 3.2 Theo đó, thôngtin được tiếp cận qua trao đổi giữa các đồng nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (44%); tiếpđến là tập huấn chuyên đề (39,3%); đọc sách, báo, tạp chí (29,8%); hội thảo, sinhhoạt chuyên đề chiếm tỷ lệ thấp nhất, 18,3% Đáng chú ý là, có tới 7,3% số ngườikhông biết/không trả lời
Kết quả khảo sát về tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết đến các Thông tư, Nghịđịnh, Công văn, Tài liệu của Bộ Y tế, Cục quân y về phòng chống nhiễm khuẩn BVđược trình bày qua Biểu đồ 3.1
58%
32%
10%
Có Không Không hiểu/ Không trả lời
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết Thông tư, Nghị định, Công văn, Tài liệu
của Bộ Y tế, Cục quân y về phòng chống nhiễm khuẩn BV (n=191)
Biểu đồ 3.1 cho thấy, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết Thông tư, Nghị định,Công văn, Tài liệu của Bộ Y tế, Cục quân y về phòng chống nhiễm khuẩn trong BVchiếm tỷ lệ tương đối cao, 57,6% Có tới 10% đối tượng nghiên cứu không biết,không trả lời câu hỏi này
Trang 293.2 Kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện của nhân viên y tế điều dưỡng
3.2.1 Kiến thức chung phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về nhiễm khuẩn bệnh viện (n=191)
Kết quả Biểu đồ 3.2 cho thấy, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về nhiễm
khuẩn bệnh viện chỉ đạt ở mức trung bình (58,6%), tỷ lệ đối tượng không hiểu vềnhiễm khuẩn bệnh là 34,6% Điều này, sẽ gây hạn chế phòng ngừa nhiễm khuẩntrong thực hành châm cứu
Bảng 3.3 Kiến thức về khái niệm và thời gian NKBV theo giới tính (n = 191)
Hiểu biết về khái niệm và thời gian
Kết quả khảo sát sự hiểu biết của nhân viên y tế điều dưỡng về các nguồnnhiễm khuẩn bệnh viện được thể hiện qua Biểu đồ 3.3
Trang 30Từ tr
ang thiết b
ị đồ d
ùng y tế
Biểu đồ 3.3 Hiểu biết về các nguồn nhiễm khuẩn bệnh viện (n = 191)
Biểu đồ 3.3 cho thấy, có tới 66,5% đối tượng nghiên cứu cho rằng nguồn
NKBV là từ phía phía người bệnh, tiếp đến là từ phía nhân viên y tế (59,7%), từtrang thiết bị y tế (54,4%) Nguồn NKBV từ người nhà chăm sóc bệnh nhân và môitrường ngoại cảnh chiếm tỷ lệ ít hơn, lần lượt là 40,8% và 39,3%
Sự hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về những con đường lây truyền có thểgây nhiễm khuẩn bệnh viện cũng được trình bày qua Bảng 3.3 dưới đây
Bảng 3.4 Hiểu biết về những con đường lây truyền có thể gây NKBV (n = 191)
Bảng 3.5 Hiểu biết về những con đường xâm nhập VSV vào cơ thể (n=191)
Trang 31Đường máu 125 65,4
Bảng 3.5 cho thấy sự hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về về những con
đường xâm nhập VSV vào cơ thể Theo đó, đường máu chiếm cao nhất (65,4%),tiếp đến là da, niêm mạc (53,9%), đường hô hấp (51,3 %) Đường sinh dục, đườngtiết niệu và đường tiêu hoá chiếm tỷ lệ ít hơn, dao động từ 13,6% đến 46,6%
Bảng 3.6 Hiểu biết về nguyên tắc và biện pháp cơ bản phòng chống NKBV theo
Hiểu biết đúng đúng thời điểm rửa tay
khi tiếp xúc với người bệnh không nằm
trong hướng dẫn của WHO
Hiểu biết đúng về quy định, hệ thống mã
màu đựng chất thải y tế nguy hại 46 59,7 70 66,0 61,4
Bảng 3.5 cho thấy, hiểu biết đúng về nguyên tắc và biện pháp cơ bản phòng
chống nhiễm khuẩn chung trong bệnh viện của nhân viên y tế điều dưỡng dao động
từ 39,8 %- 63,4% Tỷ lệ hiểu biết đúng chung về nguyên tắc phòng chống NKBVđạt tỷ lệ 63,4%, trong đó nam cao hơn nữ (65,5% so với 63,4%) Tỷ lệ hiểu biết đúngchung về thời điểm rửa tay khi tiếp xúc với người bệnh không nằm trong hướng dẫncủa WHO tương đối thấp, 39,8%; trong đó nam thấp hơn nữ (37,2% so với 41,6%) Tỷ
lệ hiểu biết đúng chung về quy định, hệ thống mã màu đựng chất thải y tế nguy hạitương đối cao, 61,4%, trong đó nữ cao hơn nam (66,0% so với 59,7%)
Trang 323.2.2 Kiến thức về phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu
Kết quả khảo sát sự hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về nguy cơ, loại vikhuẩn, đường lây và nguồn lây nhiễm trong điều trị châm cứu được trình bày chitiết qua Bảng 3.6 dưới đây:
Bảng 3.7 Hiểu biết về nguy cơ, loại vi khuẩn, đường lây và nguồn lây nhiễm trong
điều trị châm cứu
Hiểu biết đúng nguy cơ nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu (n=191) 164 85,9Hiểu biết đúng về kim châm cứu có dẫn truyền vi khuẩn thành dịch
Hiểu biết đúng về VSV có thể gây lây nhiễm (n = 146)
Trang 33điều dưỡng hiểu biết đúng kim châm cứu có dẫn truyền vi khuẩn thành dịch bệnhchiếm cao nhất
Kết quả khảo sát về nhóm VSV có thể gây lây nhiễm chỉ ra rằng, 69,9% đốitượng cho rằng Viêm gan Siêu vi và 48,6% cho rằng HIV Nguồn lây truyền vikhuẩn trong điều trị châm cứu cũng được đối tượng nghiên cứu chỉ rõ, cụ thể làngười bệnh (65,1%), nhân viên y tế châm cứu (56,8%), điều dưỡng viên chăm sócbệnh nhân (46,6%) và người nhà chăm sóc bệnh nhân (21,2%) Có tới 86,% đốitượng nghiên cứu cho rằng, người dễ bị nhiễm khuẩn khi điều trị châm cứu là bệnhnhân, trong khi chỉ có 4,8% cho rằng nhân viên y tế châm cứu
0 10 20 30 40 50 60
70
17.8
38.4
Biểu đồ 3.4 Hiểu biết về yếu tố, điều kiện gây nhiễm khuẩn khi điều trị bằng châm
cứu của nhân viên y tế điều dưỡng (n=191)
Kết quả trình bày trong Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ hiểu biết đúng của nhân
viên y tế điều dưỡng về yếu tố, điều kiện gây nhiễm khuẩn khi điều trị bằng châmcứu Theo đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là yếu tố không tuân thủ nguyên tắc vô trùngtrong điều trị châm cứu, chiếm 61,6%, tiếp đến là kim tái sử dụng châm cứu
Trang 34(55,5%), yếu tố vệ sinh môi trường buồng bệnh không bảo đảm (38,4%) Thấp nhất
là yếu tố thao tác kỹ thuật châm cứu chưa thành thạo (17,8%)
KhácHIV/AIDS
Nhiễm khuẩn huyết
Viêm gan siêu vi
4.8
41.1 30.8
61
Biểu đồ 3.5 Hiểu biết về những loại bệnh có thể gây nguy cơ cao mắc nhiễm khuẩn
khi châm cứu (n=191)
Biểu đồ 3.5 cho thấy, có tới 61% đối tượng nghiên cứu cho rằng viêm gan siêu
vi trùng là bệnh có nguy cơ cao mắc nhiễm khuẩn khi châm cứu, tiếp đến làHIV/AIDS (41,1%), nhiễm trùng huyết (30,8%)
Kết quả khảo sát sự hiểu biết của nhân viên y tế điều dưỡng về các biện phápphòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu được thể hiện qua Bảng 3.7
Trang 35Bảng 3.8 Hiểu biết về những biện pháp để phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị
châm cứu của nhân viên y tế điều dưỡng (n=146)
Các biện pháp phòng chống nhiễm khuẩn Số lượng %
Qua bảng 3.7 nhận thấy, để phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châmcứu, biện pháp dung kim châm cứu bao gói vô trùng được lựa chọn cao nhất, chiếm95,2%, tiếp đến là rửa tay vô trùng bằng xà phòng được lựa chọn nhiều nhất, chiếm91,8%; sát trùng kim châm cứu (62,3%), dùng dụng cụ panh, kéo vô trùng (54,1%);dùng bông, gạc thấm dịch vô trùng (40,4%), đeo găng tay (36,3%) và mặc áo blouseđúng quy định chiếm 29,5%
3.3 Thực hành phòng chống nhiễm khuẩn trong châm cứu
3.3.1 Thực hành các biện pháp phòng chống nhiễm khuẩn khi điều trị châm cứu
Kết quả khảo sát tỷ lệ nhân viên y tế điều dưỡng có tham gia điều trị, chăm sóc bệnh nhân châm cứu được trình bày qua Bảng 3.8
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhân viên y tế điều dưỡng có điều trị, chăm sóc bệnh nhân (n=191)
Trang 36Bảng 3.8 cho thấy, nhân viên y tế diều dưỡng hầu hết có điều trị, chăm sócbệnh nhân châm cứu với tỷ lệ 93,7% Ngoài ra, chỉ có 6,8% đối tượng nghiên cứugặp bệnh nhân bị lây nhiễm khi châm cứu.
Bảng 3.10 Các biện pháp thực hành phòng phòng chống nhiễm khuẩn khi điều trị
châm cứu (n=191)
Các biện pháp thực hành phòng chống nhiễm
Có thực hiện các biện pháp phòng chống nhiễm khuẩn
Thực hiện những biện pháp phòng chống NK
Thực hiện biện pháp để sát trùng kim châm cứu
Vệ sinh đồ dùng, dụng cụ và tủ đựng trang thiết bị y tế
Bảng 3.9 cho thấy một số biện pháp thực hành phòng chống nhiễm khuẩn khi
điều trị châm cứu Theo đó, biện pháp phòng chống nhiễm khuẩn khi điều trị chămsóc bệnh nhân châm cứu được lựa chọn nhiều nhất, chiếm 95,3%; tiêm phòngvacxin viêm gan B chiếm tỷ lệ cao thứ hai (81,4%)
Trong thực hiện những biện pháp phòng chống nhiễm khuẩn, rửa tay vôtrùng bằng xà phòng chiếm tỷ lệ cao nhất (71,2%); tiếp đến là đeo găng tay(68,1%), đeo mạng (56,0%) và thấp nhất là mặc áo blouse đúng quy định (24,6%);
Trang 37Đối với thực hiện biện pháp để sát trùng kim châm cứu, ngâm cồn kim châm
700 từ 10-20 phút được lựa chọn nhiều nhất, chiếm 48,7%, vuốt kim bằng bông cócồn 70o (41,9%); hấp khô kim châm (33,0%)
Trong thực hiện những biện pháp vệ sinh tại buồng châm cứu, có tới 91,1%đối tượng nghiên cứu lựa chọn vệ sinh đồ dùng, dụng cụ và tủ đựng trang thiết bị y
tế trong buồng châm cứu sạch sẽ, tiếp đến là vệ sinh giường bệnh sạch sẽ (72,8%),thấp nhất là khử trùng buồng châm cứu (34,0%)
Bông, gạc
vô tr
ùng
Panh, kéo
Biểu đồ 3.6 Những biện pháp phòng nhiễm khuẩn khi thao tác kỹ thuật (n=191)
Biểu đồ 3.6 cho thấy các biện pháp phòng nhiễm khuẩn khi thao tác kỹ thuật.Theo đó, sử dụng bông gạc vô trùng chiếm tỷ lệ cao nhất (78%); tiếp đến là dùngkim bao gói vô trùng (68,1%), sát trùng da (66%), sát trùng kim (57%); thấp nhất làpanh, kéo vô trùng (5,4%)
3.4 Phân loại kiến thức, thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn trong châm cứu và các yếu tố liên quan
3.4.1 Phân loại kiến thức, thực hành
3.4.1.1 Phân loại kiến thức
Trang 38Kết quả phân loại kiến thức về phòng chống NKBV trong điều trị châm cứutheo thang điểm 27 được thể hiện qua Biểu đồ 3.7.
51.3
Kiến thức chưa đạt
Biểu đồ 3 7 Phân loại kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu
theo thang điểm 27 (n =191)
Biểu đồ 3.7 cho thấy, tỷ lệ nhân viên y tế điều dưỡng đạt kiến thức về phòng
chống nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu ở mức trung bình, chiếm 51,3%
Kết quả đánh giá tổng hợp kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện và trongđiều trị châm cứu theo thang điểm 49 cũng được trình bày chi tiết trong Bảng 3.10
Bảng 3 11 Đánh giá tổng hợp kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện và
trong điều trị châm cứu theo thang điểm 49 (n = 191)
Phân loại kiến thức Số lượng %
Trang 39Bảng 3.12 Phân loại thực hành phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu
Kết quả đánh giá thực hành châm cứu phòng ngừa nhiễm khuẩn qua bảng kiểm
quan sát thực tế được trình bày chi tiết qua Bảng 3.12 dưới đây:
Bảng 3.13 Thực hành về chuẩn bị người bệnh châm cứu (n = 176)
Nội dung đánh giá Có thực hiện Không thực
hiện (%) Đạt (%) K đạt(%)
BN được báo trước, động viên giải thích để
Để BN ở tư thế thoải mái, thuận tiện cho kỹ
Phòng châm cứu sạch sẽ, tiện nghi đầy đủ 84,7 15,3 0
Qua Bảng 3.12 ta thấy, tỷ lệ đạt trong thực hành về chuẩn bị người bệnh châm
cứu cụ thể là: 84,7% đạt trong thực hiện phòng châm cứu sạch sẽ, tiện nghi đầy đủ,73,9% đạt trong thực hiện để bệnh nhân ở tư thế thoải mái, thuận tiện cho kỹ thuật;63,7% đạt trong việc đảm bảo bệnh nhân được báo trước, động viên giải thích đểbệnh nhân yên tâm điều trị; Tỷ lệ đạt trong việc thực hiện làm vệ sinh thân thể bệnhnhân sạch sẽ là 58%
Bảng 3.14 Thực hành chuẩn bị dụng cụ châm cứu
Nội dung thực hiện Có thực hiện Không thực
hiện (%) Đạt (%) K đạt (%)
Khay vô khuẩn, hữu khuẩn, hộp kim đã đươc
tiệt khuẩn, cồn 700, cồn iod, que xác định
huyệt, kìm kocher hộp thuốc chống choáng
Trang 40Làm vệ sinh thân thể khử trùng kim châm cứu theo 1 trong 3 cách sạch sẽ
Kim châm được đun sôi và giữ sôi
Bảng 3.15 Thực hành chuẩn bị châm cứu của người điều trị châm cứu (n=176)
Nội dung thực hiện Có thực hiện Không thực
hiện (%) Đạt (%) K đạt(%)
Đội mũ, đeo khẩu trang, mặc quần áo công
Rửa tay, sát khuẩn tay bằng cồn iod, cồn 700. 75,0 20,5 4,5
Qua bảng 3.14, tỷ lệ đạt thực hành chuẩn bị châm cứu của người điều trị châmcứu, tương đối tốt Trong đó, thực hành đội mũ, đeo khẩu trang, mặc quần áo công tácđạt 62,5%; thực hành rửa tay, sát khuẩn tay bằng cồn iod, cồn 700.đạt 75%
Bảng 3.16 Thực hành thao tác kỹ thuật của người điều trị châm cứu (n=176)
Nội dung thực hiện Có thực hiện Không thực
hiện (%) Đạt (%) K đạt(%)
Sát trùng da bằng bông tẩm cồn 70-900 92,1 7,9 0