1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đàm phán kinh doanh với Nhật Bản

41 829 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh quốc tế đã trở thành một phần không thể thiếu trong các cuộc làm ăn với các đối tác nước ngoài, góp phần to lớn vào quá trình đưa đất nước hội nhập với n

Trang 1

Lời mở đầu

Đàm phán là một phần của cuộc sống hằng ngày nhưng trong kinh doanh nó lại có vai trò cực kỳ quan trọng đối với thành công của bạn Đàm phán không khéo, công ty có thể mất đi khách hàng

Từ khi mở cửa thị trường, mua bán quốc tế đã trở thành một hoạt động rất phổ biến và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và các quốc gia nói chung

Ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh quốc tế đã trở thành một phần không thể thiếu trong các cuộc làm ăn với các đối tác nước ngoài, góp phần to lớn vào quá trình đưa đất nước hội nhập với nền kinh tế thế giới

Một trong những đối tác kinh doanh quen thuộcvới doanh nghiệp Việt Nam

là Nhật Bản Các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Nhật Bản ngày càng có nhiều sự hợp tác với nhau hơn Nhật Bản cũng là nước tài trợ vốn ODA lớn nhất cho Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, trong quá trình đám phán, sự bất đồng về ngôn ngữ, sự khác biệt về thái độ, giá trị sống, thói quen, phong tục tập quán đã ảnh hưởng không ít đến kết quả Hiểu đối tác cần gì, nghĩ gì, muốn gì và sẽ hành động như thế nào sẽ giúp chúng ta đạt được những điều khoản đàm phán như mong muốn Đồng thời sẽ giúp xây dựng mối quan hệ hợp tác song phương lâu dài

Vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài “văn hóa và nghệ thuật đàm phán với người Nhật Bản” nhằm hiểu rõ hơn về văn hóa đàm phán Đồng thời đưa ra những đề xuất nhằm tránh những sai sót xảy ra và để cuộc đàm phán thành công tốt đẹp hơn để đi đến hợp tác phát triển kinh tế, mối quan hệ, có lợi cho cả đô , đó cũng là mục tiêu của đề tài chúng tôi

Trang 3

1.1Khái niệm đàm phán trong kinh doanh quốc tế:

Đàm phán là một trong những hoạt động cơ bản cua con người Trong cuộc sống hàng ngày, đàm phán hiện diện ở mọi lúc mọi nơi Con người luôn tiến hành đàm phán ngay cả khi không biết chính mình đang làm điều đó Vậy đàm phán là gì?

Có rất niều định nghĩa nói về đàm phán theo nhóm chúng tôi, chúng tôi chọn theo định nghĩa cuả GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân : “Đàm phán là hành vi và quá trình, mà trong đó hai hay niều bên tiến hành trao đổi, thảo luận về các mối quan tâm chung

và những điểm còn bất đòng, để đi đến một thỏa thuận đồng nhất”

Trong môi trường kinh doanh quốc tế, thì đàm phán được GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân định nghĩa : “Đàm phán trong kinh doanh quốc tế là hành vi và quá trình, mà trong đó các bên, có nền tảng văn hóa khác nhau, tiến hành trao đổi, thảo luận về các mối quan tâm chung và những điểm còn bất đồng để đi đến một thỏa thuận thống nhất.”

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đàm phán trong kinh doanh

Có ba nhóm biến số cơ bản có ảnh hưởng đến đàm phán trong kinh doanh quốc tế,

1.2.1 Các yếu tố cơ sở

Các yếu tố cơ sở của quá trình đàm phán bao gồm: mục tiêu, môi trường, vị thế trên thương trường, bên thứ ba và người tham gia đàm phán Nhóm yếu tố cơ sở có ảnh hưởng lớn đến quá trình và bầu không khí đàm phán Ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau lên toàn bộ quá trình đàm phán và các giai đoạn khác nhau của quá trình

Trang 4

đàm phán là khác nhau Một yếu tố có thể có ảnh hưởng tích cực ở giai đoạn này, nhưng lại ảnh hưởng tiêu cực ở giai đoạn khác Ảnh hưởng tích cực có nghĩa là tiết kiệm thời gian và làm cho quá trình đàm phán tiến triển thuận lợi, còn ngược lại, ảnh hưởng tiêu cực gây cản trở và trì hoãn quá trình đàm phán.

Dưới đây, chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu từng yếu tố:

Các mục tiêu được xác định như là điều mà các bên mong muốn đạt được vào giai đoạn cuối của đàm phán Chúng thường được phân loại thành các mục tiêu chung, các mục tiêu mâu thuẫn và các mục tiêu hỗ trợ Ví dụ: như các bên có quyền lợi chung trong việc đạt được một giao dịch thành công như cả hai bên điều mong muốn Cúng lúc quyền lợi của họ có thể lại mâu thuẩn vì lợi nhuận của một bên lại

là chi phí cho bên kia Về các quyền lợi bổ trợ thì người mua trong các giao dịch quốc tế quan tâm tới việc có được công nghệ thích hợp để xây dựng cơ sở hạ tầng Mặt khác, người bán lại muốn thâm nhập một thị trường cụ thể và kì vọng vào công việc kinh doanh trong tương lai tại thị trường đó và ở các nước lân cận Các mục tiêu chung và mục tiêu bổ trợ tác động trực tiếp và tích cực tới quá trình đàm phán, trong khi các mục tiêu mâu thuẫn có tác động tiêu cực Các tác động đó tới lượt mình lại ảnh hưởng tới bầu không khí và kết quả đàm phán Cơ hội cho một thỏa thuận sẽ giảm đi các mục tiêu mâu thuẫn chiếm ưu thế trong quan hệ giữa các bên

và sẽ tăng lên khi các mục tiêu chung và bổ trợ chiếm ưu thế

Môi trường gồm các yếu tố chính trị, xã hội và cấu trúc hạ tầng xã hội có liên quan đến cả hai bên đối tác Trong đàm phán quốc tế, sự khác biệt về môi trường giữa các bên luôn cản trở quá trình đàm phán Các bên sẽ khó tiếp xúc nhau khi không quen biết và có nền tản văn hóa, chính trị khác nhau Một số đặc điểm của môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đàm phán, trong khi một số đặc điểm khác lại tác động trực tiếp đến không khí đàm phán Các yếu tố chính trị, xã hội tác động đến quá trình đàm phán, còn cấu trúc thị trường tác động đến bầu không khí đàm phán

Vị thế trên thị trường của các bên là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới quá trình đàm phán Số lượng người mua và người bán trên thị trường sẽ xác định số

Trang 5

phương án lựa chọn có được cho mỗi bên, và tới lượt nó, số phương án lựa chọn này lại tác động tới sức ép của đối tác trên thị trường Quá trình đàm phán và vị thế thương lượng của người mua hay người bán có thể bị tác động nếu một trong hai bên có thể độc quyền trên thương trường.

Phần lớn các cuộc đàm phán trong kinh doanh quốc tế đều có bên thứ ba, tức là các bên khác ngoài người mua và người bán như: chính phủ, các đại lý, các nhà tư vấn

và các nhà tiêu thụ Các bên này có thể ảnh hưởng tới quá trình đàm phán vì họ có mục tiêu khác nhau Thường thì chính phủ luôn tác động đến người mua và người bán thông qua các mục tiêu bổ trợ như: cơ sở hạ tầng, cơ hội việc làm, chính sách quản lý ngoại hối hay, những mối quan hệ giữa các quốc gia có liên quan

Các nhà đàm phán tác động đến quá trình đàm phán bằng kinh nghiệm và kỹ năng đàm phán của chính họ Nhà đàm phán có hai mục tiêu phải phấn đấu thực hiện: trước hết họ phải làm tăng lợi ích chung và tăng cường sự hợp tác giữa các bên; thứ hai, họ phải tối đa hóa lợi ích của mình và đảm bảo một thỏa thuận có giá trị đối với chính phía họ Nhân cách của người đàm phán củng có vai trò quan trọng, đặc biệt

là khi thiếu thông tin về đối tác hoặc xuất hiện thế găng (tình huống bế tắc) trong đàm phán Người có nhân cách tốt là người có khả năng làm cho người khác thấy được vị thế của mình, dễ tiếp cận với đối tác và tạo cho họ niềm tin, đồng thời đánh giá đúng được vị thế của đối tác Tuy nhiên, kỹ năng của các nhà đàm phán phụ thuộc vào các mục tiêu với con người và nghề nghiệp của họ Các nhà đàm phán có chuyên môn kỹ thuật thường chỉ chú trọng các vấn đề kỹ thuật, trong khi các nhà kinh doanh lại cho rằng còn nhiều vấn đề khác quan trọng hơn, như: lợi nhuận, chi phí

1.2.2 Bầu không khí đàm phán

Mối quan hệ được phát triển trong suốt quá trình đàm phán giữa các bên được thể hiện bởi bầu không khí đàm phán Bầu không khí có tầm quan trọng đặc biệt đối với toàn bộ quá trình đàm phán Bầu không khí và quá trình đàm phán có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau ở mỗi giai đoạn đàm phán Bầu không khí đàm phán chính là “môi trường” để các bên tiếp xúc với nhau, hiểu nhau, đánh giá hành vi của

Trang 6

nhau và đặc tính của quá trình đàm phán Bầu không khí đàm phán giúp các bên nhận thức được thực tế Trong đàm phán, nh?n thức được thực tế còn quan trọng hơn chính bản thân thực tế ở mỗi giai đoạn Ở giai đoạn tiền đàm phán, bầu không khí bao trùm là hợp tác vì trong giai đoạn này các bên đang cố gắng tìm kiếm các giải pháp chung Trong các giai đoạn tiếp theo, đặc tính của bầu không khí đàm phán có thể thay đổi Các đặc tính đó bao gồm: xung đột/hợp tác, ưu thế/lệ thuộc và những kì vọng.

Sự tồn tại của cả xung đột và hợp tác là đặc tính cơ bản của quá trình đàm phán Một mặt, các bên có một số lợi ích chung khi tìm kiếm giải pháp cho vấn đề

mà cả đôi bên đều quan tâm Mặt khác, mâu thuẫn về lợi ích có thể phát sinh khi chi phí của một bên lại là thu nhập của bên kia Mức độ xung đột hay hợp tác trong bầu không khí đàm phán phụ thuộc vào mục tiêu của các bên tham gia đàm phán Một

số mối quan hệ mang tính bổ trợ nhiều hơn - so với các mối quan hệ khác Mức độ xung đột hay hợp tác trong các giai đoạn khác nhau của quá trình đàm phán thường phụ thuộc vào các vấn đề cần giải quyết, còn mức độ xung đột hay hợp tác trong bầu không khí đàm phán lại phụ thuộc vào việc các bên giải quyết các vấn đề khác nhau như thế nào Xung đột đôi khi xảy ra chỉ là do sự hiểu lầm giữa đôi bên chứ không hề có xung đột thực sự Các bên càng ít hiểu biết về nhau thì nguy cơ xảy ra những xung đột chỉ do hiểu lầm càng cao Mỗi quá trình đàm phán, thậm chí ở các giai đoạn khác nhau của cùng một quá trình đàm phán đặc trưng bởi một mức độ hợp tác và xung đột khác nhau

Ưu thế lệ thuộc là một đặc tính cơ bản khác của quá trình đàm phán Nó có liên hệ mực thiết với mối quan hệ quyền lực thực tế, chịu ảnh hưởng bởi giá trị của quan hệ với các bên đôi tác và các phương án lựa chọn của họ Các yếu tố cơ sở, ví

dụ như vị thế trên thương trường, có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ ưu thế/ lệ thuộc Khả năng kiểm soát được mối quan hệ phụ thuộc vào ưu thế về nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, và khả năng tiếp cận thông tin của các bên Chú ý,

ưu thế là đặc tính của mối quan hệ, chứ không phải là thuộc tính của nhà đàm phán: Trong thực tế, ưu thế có mối liên hệ chặt chẽ với sự lệ thuộc

Trang 7

Do đó, ưu thế sẽ cân bằng nếu các bên cảm nhận có thế mạnh ngang nhau và sẽ mất cân bằng nếu các bên cảm thấy có ưu thế hơn hoặc nếu một bên bị lệ thuộc vào bên kia.

Ðặc tính cuối cùng của bầu không khí đàm phán là kỳ vọng của các bên tham gia đàm phán Có hai loại kỳ vọng: thứ nhất là các kỳ vọng dài hạn về khả năng và giá trị của việc kinh doanh trong tương lai Những kỳ vọng này càng lớn thì các nhà đàm phán càng dễ có xu hướng thỏa hiệp trong cuộc đàm phán hiện tại Các kỳ vọng này liên quan đến mục tiêu trước mắt của cuộc đàm phán

Quyết định của các bên tham gia đàm phán và tiếp tục mỗi giai đoạn nói lên kỳ vọng sẽ đạt được kết quả tốt hơn khi tiến hành đàm phán hơn là không đàm phán Ðiều này thúc đẩy các bên tiếp tục chuyển sang giai đoạn tiếp theo Các kỳ vọng tăng lên và thay đổi trong giai đoạn của quá trình đàm phán

1.2.3 Quá trình đàm phán

Quá trình đàm phán trong kinh doanh quốc tế giới thiệu ở đây được chia làm

ba giai đoạn khác nhau Mỗi giai đoạn của quá trình đàm phán liên quan đến một phần cụ thể của quá trình và bao gồm toàn bộ cách làm việc và tiếp xúc của bất kỳ bên nào có tham gia đàm phán thực hiện trong giai đoạn đó Các bên tiếp xúc với nhau để trao đổi thông tin trong mỗi giai đoạn Mỗi giai đoạn cụ thể sẽ kết thúc khi các bên quyết định chuyển sang giai đoạn kế tiếp hoặc quyết định từ bỏ đàm phán nếu họ thấy việc tiếp tục đàm phán không có ý nghĩa gì nữa Trong giai đoạn tiền đàm phán, các bên cố gắng hiểu nhu cầu của nhau Việc đó được thực hiên thông qua việc thu nhập thông tin và các cuộc họp không chính thức Giai đoạn đàm phán liên quan tới những cuộc đàm phán trực diện và giai đoạn hậu đàm phán là giai đoạn khi mà các bên đã thỏa thuận xong các vấn đề có liên quan và tiến hành soạn thảo, ký kết hợp đồng Trong đàm phán kinh doanh quốc tế, khi nghiên cứu về quá trình đàm phán cần chú ý 3 yếu tố Ngoài việc nghiên cứu theo 3 giai đoạn như đã trình bày ở trên, thì còn phải xem xét các yếu tố văn hóa và chiến lược

Trang 8

2.1 Đất nước Nhật Bản

Nhật Bản ( trong các văn bản cũ cũng được đọc là Nhật Bổn), cũng được gọi tắt là Nhật, là tên của một quốc gia hải

đảo hình vòng cung, có diện tích tổng

cộng là 377.834 km² nằm xoải theo bên

sườn phía đông lục địa châu Á Đất

Trang 9

nước này nằm ở phía đông của Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung Quốc ở phía nam.

Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt Nước Nhật có 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaido (北海道 Bắc Hải Đạo), Honshu (本州 Bản Châu), Shikoku (四国 Tứ Quốc) và Kyushu (九州 Cửu Châu) cùng hàng ngàn đảo nhỏ chung quanh Phần lớn đảo ở Nhật Bản có rất nhiều núi và núi lửa, tiêu biểu như núi Phú Sĩ, cao nhất ở Nhật Bản Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người Vùng thủ đô Tōkyō, bao gồm thủ đô Tokyo và một vài tỉnh xung quanh là vùng đô thị lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống

Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ Nhật Bản cũng là nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu tính theo tổng sản phẩm nội địa chỉ sau Hoa Kỳ và thứ ba theo sức mua tương đương; và là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng; xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 thế giới

về nhập khẩu Quốc gia này là thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc, G8, G4 và APEC

2.2 Phong tục tập quán của người Nhật Bản

2.2.1 Chào hỏi

Trong giao tiếp truyền thống của người Nhật có những quy tắc, lễ nghi mà mọi người đều phải tuân theo tùy thuộc vào địa vị xã hội, mối quan hệ xã hội của từng người tham gia giao tiếp

Những biểu hiện đầu tiên trong quá trình giao tiếp của người Nhật là thực hiện những nghi thức chào hỏi Tất cả các lời chào của người Nhật bao giờ cũng phải cúi mình và kiểu cúi chào như thế nào phụ thuộc vào địa vị xã hội, từng mối quan hệ xã hội của mỗi người khi tham gia giao tiếp

Một quy tắc bất thành văn là “người dưới” bao giờ cũng phải chào “người trên” trước và theo quy định đó thì người lớn tuổi là người trên của người ít tuổi, nam là

Trang 10

người trên đối với nữ, thầy là người trên (không phụ thuộc vào tuổi tác, hoàn cảnh), khách là người trên

Người Nhật sử dụng ba kiểu cúi chào sau:

+ Kiểu Saikeirei: cúi xuống từ từ và rất thấp là hình thức cao nhất, biểu hiện sự

kính trọng sâu sắc và thường sử dụng trước bàn thờ trong các đền của Thần đạo, chùa của Phật giáo, trước Quốc kỳ, trước Thiên Hoàng

+ Kiểu cúi chào bình thường: thân mình cúi xuống 20-30 độ và giữ nguyên 2-3

giây Nếu đang ngồi trên sàn nhà mà muốn chào thì đặt hai tay xuống sàn, lòng bàn tay úp sấp cách nhau 10-20cm, đầu cúi thấp cách sàn nhà 10-15cm

+ Kiểu khẽ cúi chào: thân mình và đầu chỉ hơi cúi khoảng một giây, hai tay để bên

hông

Người Nhật chào nhau vài lần trong ngày, nhưng chỉ lần đầu thì phải chào thi lễ, Những lần sau chỉ khẽ cúi chào Ngay cả người Nhật cũng thấy những nghi thức cúi chào này hết sức rườm rà nhưng nó vẫn tồn tại trong quá trình giao tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác và cho đến tận ngày nay

+ Giao tiếp mắt: người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào người đối thoại, mà họ thường nhìn vào một vật trung gian như caravat, một cuốn sách, đồ nữ trang, lọ hoa , hoặc cúi đầu xuống và nhìn sang bên Nếu khi nói chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một người thiếu lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực

+ Sự im lặng: người Nhật có khuynh hướng nghi ngờ lời nói và quan tâm nhiều đến hành động, họ sử dụng sự im lặng như một cách để giao tiếp và họ tin rằng nói ít thì tốt hơn nói quá nhiều Trong buổi thương thảo, người có vị trí cao nhất thường ít lời nhất và những gì anh ta nói ra là quyết định sau cùng, im lặng cũng là cách không muốn làm mất lòng người khác

+ Gián tiếp và nhập nhằng: thường thì họ giải thích ít những gì họ ám chỉ và những câu trả lời thì cũng rất mơ hồ Họ không bao giờ nói “không” và chẳng nói cho biết rằng họ không hiểu Nếu cảm thấy bất đồng hoặc không thể làm những yêu cầu của người khác họ thường nói “điều này khó”

Trang 11

2.2.2 Trang phục :

Nhật Bản coi nhân cách con người thể hiện qua bề ngoài của trang phục Phải chỉnh tề trong trang phục, trong suy nghĩ, lời nói và hành động Người để tóc tai rối bù, râu ria bờm xờm bị xem là thiếu tư cách

Kimono – trang phục truyền thống của người Nhật Bản

Kimono có nghĩa là: "đồ để mặc", hoặc Hòa phục, nghĩa là "y phục Nhật" là loại y phục truyền thống của Nhật Bản

Kimono dành cho phụ nữ chỉ có một cỡ duy nhất, người mặc cần phải bó y phục lại cho phù hợp với bản thân mình Kimono có 2 loại, tay rộng và tay ngắn Phụ nữ đã lấy chồng thường không mặc loại tay rộng, vì rất vướng víu khi làm việc Khi mặc kimono phải mặc juban trước, là một áo kimono lót để bảo vệ kimono khỏi dơ, sau

đó cuốn bên phải vào trước, bên trái vào sau, và thắt lại bằng thắt lưng Obi làm bằng lụa, rất đắt tiền Nếu quấn bên trái trước nghĩa là bạn sắp đi dự tang lễ Việc mặc kimono rất mất thời gian, và hầu như không thể tự mặc Người mặc kimono phải đi guốc gỗ, và mang bít tất Tabi màu trắng

Người Nhật đã sử dụng kimono trong vài trăm năm Ngày nay, kimono thường chỉ được sử dụng vào các dịp lễ tết Phụ nữ Nhật mặc kimono phổ biến hơn nam giới, thường có màu và hoa văn nổi bật Phái nam dùng kimono chủ yếu trong lễ cưới và buổi lễ trà đạo, và kimono dành cho nam giới thường không có hoa văn, và màu tối hơn

Sumo, một môn võ truyền thống Nhật Bản

Trang 12

2.2.3 Đúng giờ:

Khi hội họp, đi làm, đi học, dự tiệc người Nhật lúc nào cũng để tâm tới thời gian, khi muốn thăm ai đều phải điện thoại xin phép trước và giữ đúng giờ hẹn Đến muộn là điều rất khiếm nhã và làm mất lòng tin của người khác Trường hợp đến muộn, phải gọi điện thoại để liên lạc trước

để giầy dép Khi vào nhà phải đổi ngay dép đi trong nhà hay đi chân không

2.2.4 Ăn uống:

Người Nhật ăn bằng đũa, không cầm thức ăn bằng tay, không vứt đồ thừa hay xương thịt cá ra bàn ăn hay xuống sàn nhà mà phải bỏ vào đĩa riêng

2.2.4.1 Phong cách ăn uống điển hình của người Nhật

Phong cách, thói quen ăn uống của người Nhật đã bị Âu hóa đi nhiều và trở nên khá đa dạng Thay đổi rõ nét nhất là sự xuất hiện của bánh mỳ trong các bữa ăn Hiện nay có rất nhiều người dùng bánh mỳ, trứng, sữa, và uống cà phê hay chè cho bữa sáng Thập kỷ trước đây, các nhân viên công sở thường mang theo hộp cơm trưa tới nơi làm việc nhưng hiện nay thì tại các quán ăn gần nơi công sở bạn có thể tìm thấy đủ các món ăn thay đổi theo khẩu vị từ phương Tây cho tới khẩu vị truyền thống của Nhật Tại đa số các trường tiểu học, trung học của Nhật đều có phục vụ bữa trưa, được thiết kế với thành phần dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng và tất nhiên

là có cả khẩu vị của các món ăn phương Tây lẫn khẩu vị truyền thống của Nhật Các bữa ăn tối của người Nhật cũng thay đổi với nhiều loại món ăn bao gồm cả các món

ăn Nhật, các món ăn Tàu và cả các món ăn của phương Tây Một bữa ăn truyền thống bao gồm có cơm, một món canh, các món ăn chính bao gồm thịt, cá và rau Nói chung thì trẻ em Nhật thích các món ăn phương Tây như là xúc xích (Hamburger) hơn là các món ăn Nhật cho nên các món ăn tối tại nhà thường có xu hướng thay đổi cho phù hợp với khẩu vị của chúng

Trang 13

2.2.4.2 Người Nhật ăn cơm hàng ngày

Trên thực tế thì có rất nhiều người Nhật cảm thấy rất khó chịu nếu không ăn cơm ít nhất mỗi ngày một lần, tuy nhiên hiện nay có khá nhiều người dùng bánh mỳ cho bữa sáng và dùng các món mỳ cho bữa trưa

Người Nhật thích ăn món gì nhất?

Thói quen ẩm thực của người Nhật rất đa dạng cho nên rất khó nói là họ thích món

ăn nào nhất Tuy nhiên theo sự điều tra của các nhà hàng bình dân thì món ăn được gọi nhiều nhất là xúc xích, món ca ri (curry) với cơm, và mỳ ống (spaghetti) Những món ăn trên cũng được yêu chuộng nhất tại nhà Trong con mắt của người nước ngoài thì Sushi (cơm nắm cá sống), Tempura (Tôm, rau tẩm bột rồi đem rán), và Sukiyaki là các món ăn truyền thống của người Nhật tuy nhiên họ không ăn các món đó hàng ngày

2.2.4.3 Thế nào là cách cầm đũa đúng ?

Có rất nhiều thanh niên hiện nay không biết cách cầm đũa sao cho đúng Lý

do của việc này có lẽ là do thói quen dùng các món ăn phương Tây với dao và nĩa

Để cầm đũa đúng cách thì đầu tiên bạn hãy tách 2 cây đũa ra, sau đó để chúng song song với nhau trên ngón trỏ và dưới ngón cái Đặt phần giữa của cây đũa trên giữa đầu ngón trỏ và phía trên phần móng ngón giữa, đặt ngón cái đè lên trên cây đũa trên đó Dùng đầu ngón giữa và phần móng ngón đeo nhẫn giữ phần giữa của cây đũa phía dưới Tận dụng nguyên tắc của đòn bẩy, bạn chỉ cần dịch chuyển cây đũa trên là có thể gắp thức ăn dễ dàng Dùng đũa như nĩa hay để xọc thức ăn, mút đầu đũa, hoặc dùng đũa thay tăm bị coi là những thói quen xấu

2.2.5 Trà đạo - nét đặc trưng của văn

hóa Nhật

Trà đạo là hoạt động uống trà đặc

thù mang tính nghệ thuật, mang phong

đặc điểm chính là pha trà và thưởng thức

trà Nghệ thuật này đã có hơn 500 năm

Trang 14

lịch sử ở Nhật.

Người sáng lập trà đạo là một hòa thượng tên gọi Muratashu Mitsu Ông đã tìm thấy hương vị tuyệt vời trong khi uống trà Sau này, các đệ tử của ông đã phát huy ảnh hưởng và hình thành nên một môn nghệ thuật lưu truyền đến ngày nay.Những người Nhật thích uống trà thường thành lập những nhóm nhỏ, chọn ngày mời nhau cùng thưởng thức Số người tham gia mỗi lần không vượt quá 4 người và hoàn cảnh tổ chức một buổi trà đạo cũng có những quy định đặc biệt Những gia đình khá giả thường cho xây ba căn phòng nhỏ trong vườn riêng nhà mình, hai phòng nối liền nhau, trong đó một phòng là phòng trà - nơi tổ chức trà đạo, phòng kia đặt than, bộ đồ trà và vòi nước Phòng còn lại là nơi nghỉ ngơi của khách, phải cách hai phòng kia một khoảng nhất định Trong vườn có những con đường nhỏ lát

đá, quanh co với hai bên trồng hoa và cây cảnh làm cho không gian trong vườn yên tĩnh và thanh nhã Bố trí trong phòng trà cũng rất được chú ý Thông thường là treo tranh của các danh họa nổi tiếng, có hoa cắm nghệ thuật để khách mời được thưởng thức nghệ thuật mang hương sắc cổ kính

Chỉ một ly trà xanh nho nhỏ nhưng với người Nhật nó lại như một ốc đảo trong tâm hồn Họ cho rằng thông qua trà đạo có thể phát hiện được giá trị tinh thần cần có của bản thân Có người dùng 4 chữ "hòa, kính, thanh, tịnh" để khái quát tinh thần cơ bản của trà đạo "Hòa" là hòa bình; "kính" là tôn trọng người trên, yêu thương bè bạn, con cháu; "thanh" tức là thanh tịnh, thanh khiết; còn "tịch" là giới hạn mỹ học cao nhất của trà đạo: an nhàn

Trà đạo ngày nay càng phổ biến hơn ở Nhật Bản, rất nhiều cô gái trẻ dồn tâm sức học tập trà đạo, tu nhân dưỡng tính để cuộc sống gia đình cũng như cuộc sống tinh thần phong phú và đẹp đẽ hơn

2.2.6 Văn hóa quà tặng

Tặng quà là một phần trung tâm trong văn hoá kinh doanh của người Nhật Nói chung, người Nhật rất thích tặng quà Hay đúng hơn, việc tặng quà đã trở thành một thói quen, một lễ nghi không thể thiếu được trong đời sống thường ngày của

họ Trong khi việc tặng quà vào các dịp sinh nhật, đám cưới và một vài dịp lễ đặc

Trang 15

biệt khác là bình thường ở các nước khác, thì ở Nhật Bản tặng quà trong những dịp viếng thăm nhau cũng được coi là rất bình thường Tặng quà được xem như một cách thể hiện sự yêu mến và kính trọng lẫn nhau và để xác định các mối quan hệ xã hội

Người Nhật tặng quà vào nhiều dịp trong năm ở Nhật có khoảng 70 dịp tặng quà khác nhau mà phổ biến là các dịp lễ tết như Tết Dương lịch, Lễ Tạ ơn, Ngày của Cha, Mẹ (mới du nhập từ các nước phương Tây), Valentine, Giáng sinh, ngoài

ra còn các dịp như đám cưới, có tin vui về việc sinh con, lễ nhập học, tốt nghiệp, thành niên, mừng nhà mới, thăm hỏi người ốm, tặng quà lưu niệm khi đi du lịch về

Việc tặng quà ở Nhật mang tính chất hình thức hơn là nội dung Ví dụ, mừng đám cưới thì phải dùng loại phong bì có chữ "kotobuki", phúng viếng đám tang phải dùng phong bì có vạch đen in hình hoa sen, hay thăm người bệnh thì phong bì không trang trí hoa đỏ

Nếu có dịp đi công tác sang Nhật Bản bạn nên mang theo nhiều món quà khác nhau

để chủ động tặng cho đối tác

Khi tặng quà người Nhật cần lưu ý:

Các món quà không cần phải đắt tiền, đôi khi chỉ là hộp bánh (tuy nhiên, món quà đắt tiền không bị coi là hối lộ), nhưng cần phải được gói đẹp, cẩn thận bằng giấy gói tặng phẩm Người châu Âu đa phần không đóng gói quà tặng, còn người Nhật lại coi việc đóng gói và nghi thức trao quà là nghệ thuật văn hoá giao tiếp tinh tế và nhiều ý nghĩa Cách gói quà của họ cũng rất cầu kỳ, bên trong ba lớp, bên ngoài ba lớp và cuối cùng thắt một sợi dây lụa, dây giấy xinh đẹp Người Nhật cho rằng nút thắt vặn theo hình dây thừng có gửi gắm linh hồn con người, bày tỏ tấm lòng của người tặng quà Những dịp chúc mừng họ sẽ thắt dây giấy màu đỏ trắng theo hình chiếc kéo để tương trưng cho may mắn đang đến, nhưng dịp buồn thì thường thắt dây giấy màu trắng đen để tượng trưng cho sự buồn đau và sự đen đủi sẽ không đến nữa

Trang 16

Nên đựng quà trong túi kín, không để cho đối tác nhìn thấy ngay từ lúc đầu gặp gỡ.

Tặng quà vào cuối buổi gặp gỡ, không tặng trước khi làm việc vì làm như vậy có thể đối tác sẽ hiểu bạn dùng quà để tác động tới công việc Tuy nhiên, để tranh thủ thiện cảm của đối tác, sau khi kết thúc công việc, bạn nên nhanh tay tặng quà trước cho họ thì hay hơn là để họ tặng quà mình trước rồi mình mới tặng lại

Nếu bạn muốn tặng quà riêng cho ai đó thì không nên tặng trong lúc có mặt người khác Nếu bạn muốn tặng quà cho một nhóm người thì bạn phải đảm bảo có đủ quà cho tất cả những nguời có mặt Nếu không đủ thì, một là không tặng nữa, hai là chỉ tặng cho một người có chức vụ cao nhất Nguời Nhật rất phân biệt thứ bậc Món quà có giá trị cao hơn phải được tặng cho người có chức vụ cao hơn

Khi tặng quà bạn nên nói "có chút quà mọn tặng ông/bà làm kỷ niệm", để ngụ ý quan hệ mới là quan trọng, còn quà chỉ là vật kỷ niệm Khi tặng hay nhận quà bạn nên đưa và nhận bằng cả hai tay và hơi cúi người xuống để tỏ lòng kính trọng và cám ơn

Cũng giống phong tục Việt Nam, khi được tặng quà người Nhật thường lịch sự nói đôi ba câu từ chối trước khi chấp nhận Người Nhật cũng không mở quà ngay trước mặt người tặng

Không nên tặng người Nhật những món quà gì:

Đừng bao giờ tặng người Nhật món quà có bộ 4 hoặc 9 (ví dụ 4 bông hoa, bộ khăn bàn gồm 4 khăn ăn hoặc 9 cái ly chẳng hạn) Người Nhật rất kị số 4 và số 9 vì âm của số 4 đồng âm với chữ "tử", nghĩa là "chết" và số 9 được coi là số không may mắn vì nó có nghĩa là sự chịu đựng, sự đau khổ

Không nên tặng người Nhật chiếc lược chải tóc vì từ chiếc lược trong tiếng Nhật là

"kushi", "ku" là sự chịu đựng, sự đau khổ, "shi" đồng âm với từ "chết", "kushi" là cộng cả hai điều bất hạnh này

Những món quà có in hình con cáo, vì họ cho rằng con cáo tượng trưng cho tình tham lam, giảo hoạt

Không nên tặng trà vì trà có ý nghĩa là người nhận không trong sạch

Trang 17

Không nên tặng đồ vật làm bằng thủy tinh, sành sứ và vật có hình dáng như bình hay hủ, vì điều đó thể hiện sự mau vỡ, không bền.

Không nên tặng dao, kéo hay các vật sắc nhọn khác vì điều đó thể hiện sự chia cắt, không trọn vẹn, không hạnh phúc

Nếu người nhận quà không phải là người thân hay người yêu của mình thì không nên tặng cà vạt và dây đeo cổ vì người nhận sẽ nghĩ rằng mình muốn trói buộc họ.Quà tặng đảm bảo duy trì mối quan hệ lâu dài, gợi nhớ về một chuyến đi, những con người đã được tiếp xúc Chúc bạn ghi được điểm với đối tác Nhật Bản không phải bởi bản thân món quà mà là vì nghệ thuật tặng quà khéo léo, tinh tế và đầy tri thức văn hoá của bạn

2.2.7 Loài hoa và động vật yêu thích của người Nhật Bản

Những loại hoa thường xuất hiện trong đời sống của người Nhật

Trong số các loài hoa được ưa chuộng tại Nhật thì hoa cúc xếp vị trí đầu tiên, tiếp đến là hoa cẩm chướng, rồi đến hoa hồng, đứng ở vị trí thứ 4 là hoa loa kèn Một trong những lý do mà người Nhật sử dụng hoa

cúc nhiều như vậy là do hoa cúc là loài hoa được

sử dụng trong các nghi lễ đạo Phật Còn hoa cẩm

chướng được dùng nhiều là bởi vì trong ngày lễ

của các bà mẹ (Mother's Day) thì người Nhật

thường tặng hoa cẩm chướng Hoa hồng và hoa loa

kèn được yêu thích bởi hầu hết mọi tầng lớp khác

nhau trong xã hội Nhật Khi nói đến loại hoa mà người Nhật thích ngắm thì ta không thể không nhắc tới hoa Anh đào Vào mùa xuân, người Nhật thường leo núi hoặc đi đến các công viên để ngắm hoa anh đào nở và làm các bữa tiệc nhẹ dưới gốc hoa anh đào Khi người Nhật nói là đi ngắm hoa (Hanami) thì dù cho có không

đề cập đến loại hoa nào thì người ta cũng đều ngầm hiểu là đi ngắm hoa anh đào

Vật nuôi yêu thích của người Nhật.

Trang 18

Nếu nói đến vật nuôi trong nhà thì chắc chắn chó và mèo được nuôi ở Nhật nhiều nhất Ngoài ra người Nhật cũng rất thích cáo và gấu trúc, đối với người Nhật thì cáo và gấu trúc là những động vật thân thuộc

Biểu tượng của hạnh phúc và may mắn trong suy nghĩ của người Nhật: Tùng, Trúc, Cúc, Mai, Hạc, Quy

Tư tưởng cho rằng Tùng, Trúc, Mai mang đến may mắn và hạnh phúc được bắt nguồn từ Trung Quốc Bởi vì lá cây tùng, cây trúc không hề thay đổi màu xanh trước cái rét khắc nghiệt của mùa đông, khi mùa xuân đến thì cây mận (mai) luôn ra hoa trước các loài cây khác cho nên người Trung Quốc cho rằng chúng là biểu tượng của sự thanh khiết, liêm chính Người Nhật tiếp thu tư tưởng này của người Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ 8, vào thời Nara Bởi vì Hạc có dáng vẻ thanh nhã và Quy (rùa) có tuổi thọ lâu cho nên người Nhật dùng chúng là vật để chúc mừng cho hạnh phúc và may mắn Người Nhật có câu: "Hạc sống nghìn năm, rùa sống vạn năm"

2.2.8 Các lễ hội ở Nhật Bản

Nhật Bản có nhiều ngày lễ và lễ hội được tổ chức quanh năm Hầu hết các lễ bây giờ được tính theo Dương lịch, nhưng cũng có những lễ hội được tính theo âm lịch Hầu hết xuất xứ của các lễ hội ở Nhật Bản đều gắn với sự chuyển mùa, với các hoạt động nông nghiệp, hoặc những mong muốn về sự bình an, khoẻ mạnh cho mọi người

Các lễ hội trong năm

2.2.8.1 Năm mới (shogatsu):

Cũng như nhiều nước trên thế giới, Năm mới là lễ hội quan trọng nhất trong năm Trước kia, Nhật Bản đón năm mới theo âm lịch giống Việt nam và Trung quốc, nhưng từ hàng trăm năm nay, người Nhật đón năm mới theo Dương lịch Trong đêm giao thừa, người Nhật ăn món mì trường thọ(toshicoshi soba), vào ngày

Trang 19

mùng 1 tháng Giêng, các gia đình sum họp, uống sake, thứ rượu được coi là trường thọ, món ăn osechi cổ truyền và không thể thiếu món bánh dầy ăn cùng với món súp đặc biệt của ngày tết là ozoni(súp).Những ngày trước và sau tết ngưởi ta thường gửi thiếp chúc tết đến bạn bè, người thân, đồng nghiệp Người ta cũng hay đi hái lộc ở các đền chùa để cầu an Ngừơi Nhật cũng có phong tục chọn phương hướng tốt để xuất hành đầu năm(hatsu moode), phong tục khai bút(kakizome) và phong tục mừng tuổi tiền (o toshi dama) cho trẻ con Trong những ngay tết, họ trang trí cổng hoặc cửa ra vào bằng tre và cành thông và cái cổng chào này được gọi là kadomatsu.

2.2.8.2 Tiết phân(setsubun):

Trước đây, từ Setsubun được dùng để chỉ bất cứ sự thay đổi mùa nào theo lịch cũ, nhưng ngày nay nó được dùng riêng cho ngày lập xuân, tức là ngày mùng 3 hoặc ngày mùng 4 tháng 2 Vào ngày này trong những gia đình, người ta tung những hạt đậu(đã được rang khô) ra trước sân hoặc quanh nhà để đuổi ma quỉ và rước phúc lộc vào nhà,

vừa tung vừa hát" mà quỉ đi ra, phúc lộc vào nhà"

2.2.8.3 Hội Hina

( Lễ hội của bé gái hay còn gọi là ngày hội búp bê): Hội này được tổ chức vào mùng

3 tháng 3 Trong ngày này, các gia đình có con gái bày một bộ búp bê(Hinaningyo) tượng trưng cho cung đình xưa và uống một thứ sake trắng ngọt đăc biệt để mừng ngày hội và cầu chúc Tại các trường học, các bé gái đượctập làm những con búp bê Hina bằng giấy Do ngày hội đúng vào mùa hoa đào nở, nên người ta còn gọi là Momo no tseku(lễ hội hoa đào)

2.2.8.4 Lễ tảo mộ(Higan)

Cũng như người Việt nam, người Nhật rất coi trọng mồ mả tổ tiên Lễ tảo mộ ở Nhật kéo dài suốt một tuần lễ quanh ngày Xuân phân(khoảng 21/3) và Thu phân(khoảng 23/9) Vào dịp này người ta đi tảo mộ và coi đây lànhững ngày thờ phụng tổ tiên

Trang 20

2.2.8.5 Lễ hội Tanabata

Xuất xứ của ngày hội này là dựa vào truyền thuyết về tình yêu giữa hai ngôi sao trong giải ngân hà và có nguồn gốc từ trung quốc theo truyền thuyết này vào ngày 7/7 hai ngôi sao này sẽ gặp nhau nên người ta tổ chức lễ hội vào ngày này Trong lễ hội này, người ta nhặt nhũng cành tre, trang trí lên đó những mẩu giấy màu sặc sỡ và viết lên những ước mong của mình lên nhũng băng giấy mầu đó và treo lên cành tre

2.2.8.6 Lễ hội Vu lan(Obon)

Trước đây ngày lễ này được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 âm lịch, nhưng hiện nay nó được tổ chức vào ngày 17/7 hoặc tháng 8 dương lịch, tuỳ theo từng địa phương Ngày lễ này gần giống với ngày xá tội vong nhân ở Việt nam, là ngày mà theo người Nhật là rước linh hồn tổ tiên về cúng giỗ Nhiều nơi tổ chức vũ hội, múa các điệu múa cổ truyền(Bonodori)

Vào thời gian lễ hội người ta treo cao những chiếc đèn lồng với mục đích là để hướng dẫn linh hồn người đã khuất trở về Tại nhiều vùng, các đèn lồng được thả trôi trên sông Vào dịp này, nhiều người Nhật làm việc ở xa quê hương về thăm quê hương, đi thăm mộ người thân

2.2.8.7 Lễ hội nông nghiệp :

Từ ngày xưa, các lễ hội nông nghiệp ở Nhật thường được tổ chức ở các vùng, với mục đích là cầu khấn cho một vụ mùa bội thu, hoặc để cảm ơn thần linh đã cho một mùa màng thắng lợi và đồng thời cầu khấn một vụ bội thu trong năm tới Vào mùa thu, lễ hội mùa gặt được tổ chức và người ta dâng lên cúng thần thành quả đầu tiên của đồng ruộng Khi có

lễ hội, cả làng tham gia và ở nhiều nơi người ta tổ chức các xe diễu hành mang hình tượng của các vị thần đi qua các phố xá Tại cung điện của Thiên Hoàng, đích thân nhà vua đóng vai người dâng những nông sản mới thu hoạch cho thần linh

Ngày đăng: 15/09/2016, 16:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. TS. Nguyễn Xuân Thơm, TS. Nguyễn Văn Hồng(2001), Kỹ thuật đàm phán thương mại quốc tế, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật đàm phán thương mại quốc tế
Tác giả: TS. Nguyễn Xuân Thơm, TS. Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
4. TS Phan Quốc Anh, (5/8/2008), Lại nói về khái niệm văn hóa, website văn hóa, khoa học, công nghệ của Phan Quốc Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại nói về khái niệm văn hóa
Tác giả: TS Phan Quốc Anh
Nhà XB: website văn hóa, khoa học, công nghệ của Phan Quốc Anh
Năm: 2008
1. PGS. Vũ Hữu Tửu, (2007), Giáo trình Kỹ thuật nghiệp vụ Ngoại Thương, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
2. GS. Tô Xuân Dân, (1998), Đàm phán và ký kết hợp đồng kinh doanh quốc tế, NXB Thống Kê, Hà Nội Khác
5. Phong cách đàm phán của các doanh nghiệp Nhật Bản, bài đăng tại website Công ty Cổ phần Đầu tư Tài chính Quốc tế và Phát triển Doanh nghiệp IDJ (IDJ Financial) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w