Đối tượng nghiên cứu Văn hóa, chính trị, tôn giáo của nước Pháp Phong cách đàm phán trong kinh doanh của người Pháp Phạm vi nghiên cứu Các cuộc đàm phán trong kinh doanh, yêu cầu cần đạt
Trang 1LỜI MỞ ĐẦUĐặt vấn đề
Đàm phán kinh doanh là cả một nghệ thuật tinh vi và phức tạp, ở đó hầu như không
có chỗ cho sự sai sót bởi mỗi sai sót dù nhỏ có thể dẫn đến thiệt hại to lớn về danh tiếng
và tài chính Khi tiếp cận thị trường nước ngoài, rủi ro trong đàm phán kinh doanh càng tăng Nguyên nhân nằm ở sự khác biệt về văn hóa Đặc biệt từ khi gia nhập WTO cánh cửa hội nhập cho các doanh nghiệp Việt Nam đã được mở rộng Trong đó nước Pháp là một thị trường lớn và đầy tiềm năng
Trong những năm gần đây, buôn bán hai chiều tiếp tục tăng trưởng ổn định Pháp luôn là một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam ở Tây Âu Quan hệ thương mại Việt - Pháp trong thời gian qua liên tục phát triển Hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Pháp tăng mạnh hơn hàng hoá của Pháp xuất khẩu sang Việt Nam Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn luôn xuất siêu vào thị trường Pháp
Mục đích nghiên cứu
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về văn hóa Pháp nói chung và phong cách đàm phán nói riêng, chúng tôi mong có thể đưa ra một số lưu ý trong giao tiếp kinh doanh với người Pháp Có thể giúp các doanh nghiệp cũng như các bạn sinh viên có thêm kiến thức và hiểu hơn về văn hóa trong giao tiếp và phong cách đàm phán của người Pháp
Đối tượng nghiên cứu
Văn hóa, chính trị, tôn giáo của nước Pháp
Phong cách đàm phán trong kinh doanh của người Pháp
Phạm vi nghiên cứu
Các cuộc đàm phán trong kinh doanh, yêu cầu cần đạt được rất cao, đòi hỏi phải
có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thông tin, lực lượng cho đội ngũ cán bộ đàm phán, phải lập kế
Trang 2hoạch, xác định mục tiêu và xây dựng chiến lược đàm phán… trong đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu phong cách đàm phán trong kinh doanh của người Pháp.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đàm phán trong kinh doanh với ngưới người Pháp là một đề tài khoa học xã hội và nhân văn Nghiên cứu đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương pháp sau
Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lenin
Phương pháp tư duy trừu tượng
Trang 3A.TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC PHÁPI.GIỚI THIỆU CHUNG:
Cộng hòa Pháp (tiếng Pháp: République française), gọi tắt là Pháp, là một quốc gia nằm tại Tây Âu, có một số đảo và lãnh thổ nằm rải rác trên nhiều lục địa khác (ngày
xưa nước Pháp còn được gọi là Phú Lãng Sa hoặc Tây).
Pháp có biên giới với Bỉ, Luxembourg, Đức, Thuỵ Sĩ, Ý, Monaco, Andorra và Tây Ban Nha Tại một số lãnh thổ hải ngoại của họ, Pháp có chung biên giới trên bộ với Brasil, Suriname và Antilles Hà Lan Pháp còn được nối với Anh Quốc qua Đường hầm Eo biển, chạy dưới Eo biển Anh (La Manche trong tiếng Pháp)
Pháp là một nước dân chủ theo thể chế cộng hòabán tổng thốngtrung ương tập quyền (unitary semi-presidential republic) Quốc gia này là một nước công nghiệp, có nền kinh tế lớn thứ năm trên thế giới Những giá trị quan trọng của thể chế này được thể hiện trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 (Déclaration des Droits
de l'Homme et du Citoyen)
Pháp là một trong những nước sáng lập Liên minh châu Âu và đồng thời cũng là quốc gia lớn nhất trong khối này tính theo diện tích, nằm trong khu vực đồng euro và khối Schengen Pháp là một thành viên sáng lập các tổ chức NATO và Liên Hiệp Quốc, và là một trong năm thành viên có ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Pháp cũng là một trong bảy quốc gia trên thế giới được công nhận là có vũ khí hạt nhân
Pháp lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 12 tháng 4 năm 1973
Trang 4Đơn vị tiền tệ Euro, Franc CFP (EUR)
Địa hình
- Đồng bằng : chiếm 2/3 tổng diện tích
- Những dãy núi chính: dãy Alpes (nới có đỉnh núi Mont-Blanc là đỉnh núi cao nhất phía tây Âu - 4807 m),dãy Pyrénées, Jura, Ardennes, vùng Massif central et Vosges
- Bờ biển : Pháp sở hữu 5500km bờ biển nhờ có 4 mặt giáp biển ( biển bắc, biển Manche, Đại tây dương và Địa trung hải)
Khí hậu
- 3 dạng khí hậu :
đại dương (phía tây),
Trang 5đại trung hải (phía nam),
lục địa (trung tâm và phía đông)
1945 và đã tăng lên gấp đôi so với 200 năm về trước
- Theo con số thống kê, có 136 loài cây tại Pháp và điều đặc biệt ở một nước châu Âu là số lượng các loài thú lớn đang tăng lên: trong vòng 20 năm,
số hươu đà tăng lên gấp đôi còn số hoẵng thì tăng lên gấp ba
Nhằm gìn giữ và khôi phục giá trị di sản thiên nhiên, Chính phủ Pháp đã xây dựng:
- 7 công viên quốc gia,
- 132 khu bảo tồn thiên nhiên,
- 463 khu bảo vệ sinh cảnh
- Với 389 khu vực được bảo vệ bởi cơ quan bảo tồn sinh thái miền duyên hải
- Thêm vào đó còn có 35 công viên thiên nhiên ở các vùng, chiếm hơn 7% diện tích lãnh thổ
2005 Pháp cũng là nơi có điểm cao nhất Châu Âu (Mont-Blanc 4.810 m; 15.780 ft) và điểm thấp nhất Châu Âu, Đồng bằng Rhone, (-5 m; -15 ft) Pháp nhỏ hơn Brasil mười bốn lần và chỉ bằng một nửa Ontario, có nghĩa chỉ cần một giờ chạy xe hơi là có thể đi
Trang 6ngang qua từ đầu này tới đầu nọ của đất nước.Phong cảnh Pháp rất đa dạng thay đổi theo từng vùng, từ Paris và những vùng ngoại ô của nó cho tới những vùng đất cao thuộc dãy Alps cùng các thị trấn du lịch biển.
Mặt khác, Pháp có nhiều công trình kiến trúc cổ như thành phố Paris hay Trung tâm Troyes Luật Gia đình Pháp đã có 200 năm tuổi và được viết từ thời Napoléon Pháp cũng là nước phát triển cao với mạng lưới đường cao tốc rộng lớn và dày đặc (ví dụ: Pháp hơi nhỏ hơn California nhưng mạng lưới đường cao tốc của nó có chiều dài gấp đôi bang này), 32.000 kilômét (20.000 mi) đường sắt (SNCF), cùng với các khu trượt tuyết hiện đại và các khu thương mại lớn Pháp cũng là nước có mức tăng trưởng kết nối Internet nhanh chóng (ADSL và cáp quang tại Paris), và vào năm 2004, lần thứ ba liên tiếp, hệ thống chăm sóc y tế Pháp được Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng thứ nhất thế giới
III CHÍNH PHỦ VÀ CHÍNH TRỊ:
Hiến pháp của nền Đệ Ngũ Cộng hòa được thông qua sau cuộc trưng cầu dân
ý ngày 28 tháng 9, 1958 Hiến pháp mở rộng to lớn quyền lực hành pháp so với Nghị viện
Theo hiến pháp, Tổng thống Cộng hòa Pháp được bầu cử theo quy tắc phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm (trước kia là 7 năm) Sự phân xử của Tổng thống đảm bảo hoạt động thường xuyên của các cơ cấu quyền lực công cộng và tính liên tục của quốc gia Tổng thống đề cử thủ tướng, là người cầm đầu nội các, các chỉ huy các lực lượng vũ trang, và ký kết các hiệp ước
Nghị viện Pháp theo chế độ lưỡng viện gồm Quốc hội (Assemblée Nationale)
và Thượng viện Các đại biểu Quốc hội đại diện cho các khu vực bầu cử địa phương và được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm Quốc hội có quyền bãi miễn chính phủ, và vì thế phe chiếm đa số trong Quốc hội sẽ quyết định sự lựa chọn chính phủ Các thượng nghị sĩ được lựa chọn bởi theo bầu cử với nhiệm kỳ 6 năm (trước kia là 9 năm), và một nửa số ghế được bầu lại sau mỗi 3 năm bắt đầu từ tháng 9, 2008.[2]
Trang 7Quyền lực lập pháp của Thượng viện bị giới hạn: trong trường hợp có sự bất đồng giữa hai viện, Quốc hội sẽ là bên có tiếng nói cuối cùng, ngoại trừ đối với các luật hiến pháp (những sửa đổi hiến pháp & "lois organiques") Chính phủ có ảnh hưởng lớn trong việc đưa ra chương trình nghị sự của nghị viện.
Trong ba mươi năm qua, chính trị Pháp có đặc trưng bởi sự đối đầu chính trị giữa hai phe: cánh tả, tập trung quanh Đảng Xã hội chủ nghĩa Pháp(Parti socialiste), một đảng trung tả, và cánh hữu, quanh Đảng Tập hợp vì nền Cộng hoà (RPR) và hậu duệ của
nó là Union pour un Mouvement Populaire (UMP), một đảng trung hữu theo chủ nghĩa bảo thủ Đảng Pháp cánh hữu đã có bước phát triển lớn đầu thập kỷ 1980 khi lợi dụng sự
lo ngại của cử tri về sự thụt lùi của đất nước, sự 'tan rã quốc gia' kết quả của quá trình nhập cư và toàn cầu hóa hô hào ủng hộ những bộ luật nhập cư khắt khe hơn Sau này số lượng cử tri ủng hộ họ dừng ở mức ổn định khoảng 16%
Chính sách đối ngoại của Pháp được hình thành phần lớn với tư cách thành viên Liên minh Châu Âu Ngày 29 tháng 5, 2005 cử tri Pháp đã bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý với khoảng 55% số phiếu phản đối phê chuẩn Hiệp ước thành lập Hiến pháp chung Châu Âu Kết quả cuộc bầu cử được dư luận rộng rãi coi là mang tính quan trọng lớn với tương lai phát triển của Liên minh Châu Âu, cũng như khả năng giữ vai trò lãnh đạo của Pháp ở Châu Âu
Pháp cũng là một thành viên của Văn phòng Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC), Hiệp hội Ấn Độ Dương (COI), và là một thành viên liên kết củaHiệp hội Quốc gia Caribbea (ACS) và là thành viên đứng đầu Tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp (OIF) với năm mốt nước sử dụng tiếng Pháp hoàn toàn hay một phần
Trang 8vùng theo cách nói thông thường région), và 4 vùng hải ngoại Các vùng được chia tiếp thành 100 khu vực Các khu vực được đánh số (chủ yếu theo bảng chữ cái) và số này được dùng làm mã bưu chính cũng như mã trên bảng số xe.
Các khu vực lại được chia tiếp thành 342 quận, nhưng các quận không có hội đồng lập pháp theo bầu cử và chỉ là đơn vị hành chính của đất nước Các quận được chia thành 4.035 tổng, các tổng này cũng chỉ có ý nghĩa hành chính Cuối cùng, các tổng được chia thành 36.682 làng, đây là các chính quyền tự quản với hội đồng được bầu cử riêng biệt (hội đồng tự quản)
Vùng, Khu vực, và Làng được gọi là "các lãnh thổ tập thể" (collectivités territoriales), có nghĩa họ có một cơ quan hành pháp và lập pháp riêng biệt, trong khi các quận và tổng chỉ đơn giản là các đơn vị hành chính Tới tận năm 1940, các quận vẫn
là các lãnh thổ tập thể với một cơ quan lập pháp bầu cử riêng biệt (hội đồng quân), nhưng dưới thời Vichy Pháp cơ quan này đã bị ngừng hoạt động và chính thức bị hủy bỏ bởi nền Đệ Tứ Cộng hòa Pháp năm 1946 Theo lịch sử, các tổng cũng từng là các lãnh thổ chung với cơ quan lập pháp riêng biệt
Bốn khu vực là các khu vực hải ngoại (đồng nghĩa với bốn vùng hải ngoại) là một phần trong tổng thể nước Pháp (và Liên minh Châu Âu) và vì thế có quy chế tương tự như các khu vực thuộc Mẫu quốc
Ngoài 26 vùng và 100 khu vực, Cộng hòa Pháp còn gồm bốn Collectivité mer, một sui generis (New Caledonia), và một Lãnh thổ hải ngoại
d'outre-Các lãnh thổ và Overseas collectivities là một phần hình thành nên Cộng hòa Pháp nhưng không hình thành nên Liên minh Châu Âu hay vùng tài chính của nó Các lãnh thổ Thái Bình Dương tiếp tục sử dụng đồng franc Thái Bình Dương có giá trị ổn định với đồng euro Trái lại, bốn vùng/khu hải ngoại sử dụng đồng franc Pháp và hiện dùng đồng euro
Pháp cũng vẫn giữ quyền kiểm soát một số hòn đảo nhỏ không thường xuyên có người ở tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương: Bassas da India, Đảo Clipperton, Đảo
Trang 9Europa, Quần đảo Glorioso, Đảo Juan de Nova, Đảo Tromelin Xem Các hòn đảo thuộc quyền kiểm soát của Pháp tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
V KINH TẾ:
Kinh tế Pháp bao gồm số lượng lớn doanh nghiệp tư nhân (gần 2.5 triệu công ty đã đăng ký) với sự can thiệp đáng kể (dù đang giảm bớt) từ phía chính phủ (xem chính sách kinh tế chỉ huy) Chính phủ giữ ảnh hưởng khá lớn trên những lĩnh vực cơ sở hạ tầng quan trọng, sở hữu đa số vốn trong các ngành đường sắt, điện, hàng không và các công ty viễn thông Nước này đã dần nới lỏng kiểm soát từ đầu thập kỷ 1990 Chính phủ dần bán
ra các cổ phần đang nắm giữ trong France Télécom, Air France, cũng như trong các ngành bảo hiểm, ngân hàng và công nghiệp quốc phòng
Là một thành viên nhóm các nước công nghiệp phát triển nhất thế giới G8, kinh tế Pháp xếp hàng thứ sáu thế giới năm 2005, sau Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Anh Quốc Pháp là một trong 10 thành viên Liên minh Châu Âu đầu tiên sử dụng đồng Euro ngày 1 tháng 1, 1999, và các đồng tiền xu cũng như tiền giấy euro đã hoàn toàn thay thế đồng franc của Pháp đầu năm 2002
Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), trong năm 2004 Pháp là nhà xuất khẩu hàng hóa sản xuất đứng hàng thứ năm thế giới sau Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản,
và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và đứng trước Anh Quốc Nước này cũng đứng thứ tư thế giới về nhập khẩu hàng hóa sản xuất (sau Hoa Kỳ, Đức, và Trung Quốc, nhưng trước Anh Quốc và Nhật Bản) Năm 2003 Pháp là nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng hàng thứ hai trong số các nước OECD ở mức 47 tỷ dollar, xếp sau Luxembourg (nơi nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là sự chuyển tiền tới các ngân hàng đóng trụ sở tại đó) nhưng trước Hoa Kỳ (39.9 tỷ dollar), Anh Quốc (14.6 tỷ dollar), Đức (12.9 tỷ dollar), hay Nhật Bản (6.3 tỷ dollar) Cùng trong năm này, các công
ty Pháp đã đầu tư 57.3 tỷ dollar ra ngoài đất nước khiêé Pháp trở thành nhà đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn thứ hai khối OECD, sau Hoa Kỳ (173.8 tỷ dollar), và trước Anh Quốc (55.3 tỷ dollar), Nhật Bản (28.8 tỷ dollar) và Đức (2.6 tỷ dollar)
Trang 10Trong báo cáo OECD in Figures xuất bản năm 2005, OECD cũng ghi chú rằng Pháp hiện dẫn đầu các nước G7 về hiệu năng sản xuất (tính theo GDP trên giờ làm việc) Năm
2004, GDP trên giờ lao động tại Pháp là $47.7, xếp hạng trên Hoa Kỳ ($46.3), Đức ($42.1), Anh Quốc ($39.6), hay Nhật Bản ($32.5)
Dù có năng suất trên giờ làm việc cao hơn Hoa Kỳ, GDP trên đầu người của Pháp lại thấp hơn khá nhiều so với GDP trên đầu người Hoa Kỳ, trên thực tế chỉ tương đương mức GDP trên đầu người của các nước Châu Âu khác, trung bình thấp hơn 30% so với mức của Hoa Kỳ Lý do giải thích vấn đề này là phần trăm dân số tham gia lao động của Pháp thấp hơn so với Mỹ, khiến GDP trên đầu người của Pháp ở mức thấp dù có năng suất lao động cao hơn Trên thực tế, Pháp là một trong những nước có tỷ lệ người lao động trong độ tuổi 15-64 thấp nhất khối OECD Năm 2004, 68.8% dân số Pháp trong độ tuổi 15-64 có việc làm, so với 80.0% tại Nhật Bản, 78.9% tại Anh Quốc, 77.2% tại Hoa
Kỳ, và 71.0% tại Đức Hiện tượng này là kết quả của tình trạng thất nghiệp hầu như trong
ba mươi năm liền tại Pháp, dẫn tới ba hậu quả làm giảm sút số lượng dân số lao động: khoảng 9% dân số ở độ tuổi lao động không có việc làm; sinh viên phải trì hoãn càng lâu càng tốt thời gian tham gia thị trường lao động của mình; và cuối cùng, chính phủ Pháp
đã đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích người lao động nghỉ hưu sớm ngay từ độ tuổi 50,
dù những biện pháp này đang được giảm bớt
Như các nhà kinh tế đã từng nhắc đi nhắc lại trong những năm qua, vấn đề chính của nền kinh tế Pháp không phải là năng suất lao động Theo họ, vấn đề chính là cải cách
cơ cấu, nhằm tăng số lượng người lao động trên tổng dân số Các nhà kinh tế theo lý thuyết Tự do và Keynesian đưa ra những biện pháp khác nhau cho vấn đề này Cánh hữu coi số giờ lao động thấp và việc miễn cưỡng cải cách thị trường lao động là những điểm yếu trong nền kinh tế Pháp, trong khi cánh tả coi việc thiếu những chính sách hỗ trợ công bằng xã hội của chính phủ là điều cần giải quyết Những nỗ lực gần đây của chính phủ nhằm điều chỉnh thị trường lao động trẻ, chống thất nghiệp đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ
Với hơn 75 triệu du khách nước ngoài năm 2003, Pháp được xếp hạng là điểm đến hàng đầu thế giới, trước Tây Ban Nha (52.5 triệu) và Hoa Kỳ (40.4 triệu) Khả năng thu
Trang 11hút du khách này nhờ có các thành phố với nhiều di sản văn hoá (đứng đầu là Paris), các bãi biển và các khu nghỉ dưỡng ven biển, các khu trượt tuyết, các vùng nông thôn đẹp và yên bình thích hợp với du lịch xanh.
Pháp sở hữu một ngành công nghiệp hàng không quan trọng đứng đầu là tổ hợp hàng không Châu Âu Airbus và là cường quốc Châu Âu duy nhất (ngoại trừ Nga) có sân bay vũ trụ(Centre Spatial Guyanais) riêng của mình Pháp cũng là nước độc lập nhất về năng lượng ở phương Tây nhờ đã đầu tư lớn vào năng lượng nguyên tử, khiến nước này trở thành quốc gia gây phát sinh carbon dioxide thấp nhất trong số các nước công nghiệp phát triển trên thế giới Nhờ những khoản đầu tư lớn vào kỹ thuật nguyên tử, khoảng 77% nhu cầu năng lượng của Pháp được cung cấp từ các nhà máy điện nguyên tử
Với những vùng đất rộng rãi và màu mỡ, việc áp dụng kỹ thuật hiện đại cũng như các biện pháp hỗ trợ của EU khiến Pháp trở thành nước sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu Châu Âu Lúa mì, gia cầm, sữa, thịt bò, thịt lợn cũng như các sản phẩm thức ăn
và rượu vang Pháp nổi tiếng trên thế giới là các mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu của nước này Tổng các khoản trợ cấp nông nghiệp của EU dành cho Pháp lên tới 14
tỷ dollar
Từ cuối Chiến tranh thế giới thứ hai chính phủ Pháp đã đưa ra những nỗ lực to lớn nhằm hợp tác ngày càng sâu với Đức, cả về mặt kinh tế và chính trị Hiện nay, hai nước này thường được coi là những quốc gia "trung tâm" trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập sâu hơn nữa trong Liên minh Châu Âu
VI NHỮNG HIỆP ĐỊNH, CAM KẾT SONG PHƯƠNG ĐÃ KÝ GIỮA HAI NƯỚC
Việt Nam và Pháp đã ký kết nhiều Hiệp định ; trong đó, có :
+ Hiệp định thương mại và Hiệp định thanh toán (10/1955) Hai Hiệp định này có giá trị 1 năm, nhưng được gia hạn hàng năm cho đến năm 1965 thì chấm dứt
+ Hiệp định khung về hợp tác kinh tế (4/1977) Hiệp định này có giá trị 10 năm và
là mốc đánh dấu việc hai nước chính thức thiết lập quan hệ hợp tác kinh tế
+ Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật (1989),
Trang 12+ Hiệp định khuyến khích và bảo đảm đầu tư (1992),
+ Hiệp định hợp tác khoa học công nghệ (2007)
Trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 11/2009, hai nước đã ký kết thêm 13 Hiệp định và thỏa thuận, gồm :
+ Thỏa thuận về xây dựng và phát triển trường Đại học khoa học công nghệ Hà Nội
+ Hiệp định liên chính phủ về hợp tác hạt nhân dân sự
+ Hiệp định thành lập và quy chế các Trung tâm văn hóa Việt - Pháp
+ Hiệp định an toàn xã hội
+ Thỏa thuận hợp tác quốc phòng
+ Nghị định thư tài chính cho dự án vệ tỉnh nhỏ Việt Nam quan sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai
+ Nghị định thư tài chính cho dự án Hệ thống quan sát tàu cá, vùng đánh bắt và nguồn lợi thủy sản bằng công nghệ vệ tinh
+ Nghị định thư tài chính nhằm bổ sung vốn cho dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm thành phố Hà Nội, đoạn Nhổn - ga Hà nội
+ Bản ghi nhớ giữa Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Cơ quan hợp tác phát triển Pháp (AFD) liên quan đến dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm thành phố Hà Nội , đoạn Nhổn - ga Hà Nội
+ Thỏa thuận vay vốn cho dự án Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
Trang 13+ Bản ghi nhớ cho vay trực tiếp giữa EVN và AFD dự án nhà máy thủy điện Huội Quảng.
+ Bản ghi nhớ giữa Vietnam Airlines và EADS về phát triển công nghiệp hàng không
+ Biên bản thỏa thuận giữa Vietnam Airlines và và tập đoàn Airbus về thỏa thuận mua máy bay
VII.QUAN HỆ KINH TẾ, THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ GIỮA HAI NƯỚC:
1 Quan hệ hợp tác, hỗ trợ phát triển :
Việt Nam là một trong ít nước được hưởng cả ba kênh viện trợ tài chính của Pháp
là viện trợ phát triển chính thức từ ngân khố, cho vay ưu đãi từ Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và từ Quỹ Đoàn kết ưu tiên (FSP)
Việt Nam hiện đứng thứ 7 trong số các nước hưởng ODA của Pháp Đến nay, Pháp đã cấp cho Việt Nam tổng số vốn trên 1,2 tỷ euros cho trên 210 dự án Trong những năm gần đây, Pháp đã liên tục cam kết tăng ODA cho Việt Nam (2002: 103 triệu euros, 2003: 106 triệu euros; 2004: 334,4 triệu euros; 2005: 339,8 triệu euros; 2006: 281 triệu euros; trong đó có 34 triệu euros không hoàn lại)
Đặc biệt, trong chuyến thăm làm việc tại Việt Nam của Bộ trưởng Đặc trách Hợp tác và Pháp ngữ Pháp tháng 9/2006, phía Pháp tuyên bố cam kết dành cho Việt Nam khoản ODA 1,4 tỷ euros cho giai đoạn 2006 - 2010 để tài trợ các dự án trong các lĩnh vực
ưu tiên nêu trong Tài liệu khung về đối tác Việt Nam - Pháp 2006 - 2010 như hạ tầng cơ
sở, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, nông nghiệp và an toàn thực phẩm, dịch vụ, ngân hàng, tài chính
Pháp đã định hướng hợp tác trung hạn với Việt Nam, tập trung thế mạnh của Pháp vào 4 lĩnh vực ưu tiên :
- Hỗ trợ Việt Nam cải cách pháp luật ;
- Hỗ trợ chương trình hiện đại hóa hệ thống giáo dục và nghiên cứu ;
- Hỗ trợ chuyển đổi nền kinh tế ;
Trang 14- Góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện phúc lợi xã hội qua việc tham gia vào các hoạt động y tế cộng đồng
2 Quan hệ đầu tư, hợp tác công nghiệp :
Hiện nay, Pháp có 216 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn thực hiện hơn 3
tỷ USD Pháp đang đứng đầu các nước châu Âu và đứng thứ 13 trong tổng số 88 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam
Có 240 doanh nghiệp Pháp hoạt động tại 24 tỉnh, thành phố của Việt Nam
và đang thu hút khoảng trên 24.000 lao động của Việt Nam
Hình thức đầu tư chủ yếu của Pháp là hợp đồng hợp tác kinh doanh (chiếm 31%) ; xây dựng, khai thác, chuyển giao công nghệ - BOT (chiếm 29,6%) Quy mô trung bình của các dự án đầu tư khoảng 16,24 triệu USD/dự án
Các dự án đầu tư lớn của Pháp cần kể đến, gồm: France Télécom đầu tư để thực hiện hợp đồng hợp tác xây dựng 540.000 đường dây điện thoại, trị giá 467 triệu USD tại phía Tây TP Hồ Chí Minh; Công ty Điện lực Pháp (EDF) đứng đầu một tổ hợp (cùng một công ty của Nhật và Tổng Công ty Điện lực Việt Nam) đầu tư vào Nhà máy điện Phú
Mỹ 2.2 với tổng số vốn 400 triệu USD; Tập đoàn Bourbon đầu tư 270 triệu USD vào một
số lĩnh vực khác nhau Ngoài ra, y tế cũng là một trong những lĩnh vực đầu tư có vị trí quan trọng của Pháp ở Việt Nam
Việt Nam có khả năng thu hút đầu tư của Pháp trong các lĩnh vực: viễn thông, điện nguyên tử, hàng không, nông nghiệp và chế biến thực phẩm, may mặc và giầy da cao cấp, công nghệ bảo vệ môi trường và xử lý rác thải, giáo dục, dịch vụ khách sạn và ăn uống Đây cũng là những lĩnh vực mà Pháp có thế mạnh và đang tăng cường tìm cơ hội đầu tư
ra nước ngoài
3 Quan hệ hợp tác văn hoá, khoa học và kỹ thuật :
Hàng năm, Pháp duy trì ngân sách hợp tác văn hoá, khoa học và kỹ thuật dành cho Việt Nam trị giá khoảng 10 triệu euros, tập trung vào các lĩnh vực giảng dạy ngôn ngữ, cải cách hành chính, xây dựng luật pháp, tài chính, ngân hàng, đào tạo cao học về quản lý kinh tế, luật, hàng không Mỗi năm, Pháp cung cấp cho Việt Nam khoảng 100 suất học
Trang 15bổng cao học, tập trung vào một số lĩnh vực như y tế, quy họach đô thị Tại Pháp, có khoảng 4.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại các trường đại học.
Hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, nghiên cứu khoa học Ngày 01/01/2006, Việt Nam đã ban hành quy chế hoạt động và cho phép Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Pháp (CIRAD) và Viện Nghiên cứu và Phát triển Pháp (IRD) lập văn phòng đại diện tại Việt Nam
Festival Huế được tổ chức lần đầu tiên vào tháng 4/2000 với sự tài trợ và tham gia tích cực của Pháp Festival Huế đã được tổ chức 4 lần và trở thành một họat động văn hóa quốc tế
Bên cạnh các kênh hợp tác truyền thống nêu trên, hợp tác giữa các địa phương hai nước (hợp tác phi tập trung) ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu Hiện có 52 địa phương (vùng, tỉnh) của Pháp là đối tác hợp tác của 54/64 tỉnh, thành phố Việt Nam, với
657 dự án (trong đó : 257 dự án đã kết thúc, 400 dự án đang thực hiện) và với 567 đối tác Pháp, 441 đối tác Việt Nam tham gia Hội nghị hợp tác Phi tập trung lần thứ 6 được tổ chức lần đầu tại Việt Nam năm 2005 Hội nghị lần thứ 7 đã được tổ chức tại Pháp 10/2007
4 Các hoạt động hợp tác khác :
Pháp ngữ : Là thành viên của tổ chức Pháp ngữ, Việt Nam và Pháp có nhiều hoạt động hợp tác trong khuôn khổ tổ chức Pháp ngữ, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Pháp, giảng dạy đại học, các hoạt động nghị viện…
Hợp tác ba bên : Hợp tác giữa Việt Nam, Pháp và một số nước Châu Phi như Mali, Sénégal trong cách lĩnh vực nông nghiệp, y tế… đã thu được những kết quả tốt và được các nước thụ hưởng hoan nghênh, đề nghị nhân rộng
5 Quan hệ thương mại :
Quan hệ thương mại Việt - Pháp trong thời gian qua liên tục phát triển Hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Pháp tăng mạnh hơn hàng hoá của Pháp xuất khẩu sang Việt Nam Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn luôn xuất siêu vào thị trường Pháp
Trang 165.1 Tình hình xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Pháp từ năm 2000 đến nay :
Đơn vị tính : triệu euros
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu thương mại Cán cân ngạch XNK Tổng kim
Nguồn : Hải quan Pháp
Hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Pháp tương đối phong phú, đa dạng, bao
- Hàng mây tre đan
Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu từ Pháp về Việt Nam bao gồm :
- Máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ
Trang 17a Xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Pháp năm 2009 :
Tổng kim ngạch buôn bán hai chiều trong năm 2009 ước tính sẽ đạt khoảng 1,73
tỷ euros tăng khoảng 5,92% so với năm 2008 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng chủ yếu nhờ tăng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Pháp về Việt Nam, ước đạt trên 500 triệu euros, tăng 27,8% so với 2008 Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Pháp ước đạt trên 1,23 tỷ euros, giảm nhẹ hoặc bằng năm 2008 Cán cân thanh toán vẫn duy trì mức thặng
dư, nhưng thấp hơn năm 2008 do nhập khẩu tăng cao
Đơn vị : Nghìn euros
10 tháng 2009
10 tháng 2008
Tăng giảm
Dự kiến
2009 2008
Tăng giảm
2009 so với 2008Xuất khẩu 1 032 172 1 032 053 0,01% 1 230 000
1 242
074 -0,97%Nhập khẩu 438 681 327 414 33,98% 500 418 391 555 27,80%Cán cân
thanh toán 593 491 704 640 -15,77% 729 582 850 519 -14,22%
Trang 18- Hiện nay, cùng với việc áp dụng Luật an toàn thực phẩm chung do Ủy ban Châu
Âu quy định thì Pháp vẫn áp dụng Luật quốc gia của mình Do đó, thủy sản xuất khẩu cho dù có phù hợp với điều kiện của EU, nhưng vẫn có thể không được cơ quan chức năng của Pháp chấp nhận
- Thủy sản nhập khẩu vào Pháp vẫn phải chịu thuế VAT 5,3%
- Ngoài ra, Pháp còn cấm nhập khẩu các loại cá như : Cá độc thuộc các họ như Tetraodontidae, Molidae, Diodontidae, Canthigasteridae; Các sản phẩm cá chứa biotoxin như độc tố ciguatera hay muscleparalysing
Mã số Mặt hàng
10 tháng 2009
10 tháng 2008
Tăng giảm 2009 2008
Tăng giảm khoảng
13,55%
-113 000
127 218
10,77%
-42 Đồ da, mặt hàng du
lịch 51 937 50 298 3,26% 62 000 61 626 1,13%
Trang 1903 Thủy sản
49 531 60 883
18,65% 59 000 76 423
22,23%
-0901 Cà phê 46 744 43 940 6,38% 56 000 48 340 16,04%
Nhập khẩu :
Nhập khẩu hàng hóa từ Pháp về Việt Nam năm 2009 tăng đột biến so với các năm trước đó : kim ngạch nhập khẩu dự kiến đạt trên 500 triệu euros, tăng khoảng 27,8% so với 2008 Kim ngạch tăng cao chủ yếu là do mặt hàng thiết bị bay tăng đột biến : kim ngạch đạt trên 103 triệu euros, tăng hơn 13 lần so với 2008 Các mặt hàng khác đều có mức tăng rất cao Trừ sản phẩm điện tử, kim ngạch nhập khẩu giảm gần 26% so với năm
10 tháng 2008
Tăng giảm 2009 2008
Tăng giảm khoảng
83
758 19,00%
84 Sản phẩm cơ khí 46 402 44 401 4,51%
55 600
51
337 8,30%85
Sản phẩm điện, điện
52 600
b Dự báo xuất khập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Pháp năm 2010 :
Nhu cầu thị trường Pháp :
Bước sang năm 2010, nền kinh tế Pháp có nhiều dấu hiệu phát triển khả quan Dự đoán nhu cầu thị trường sẽ tăng Nhu cầu của thị trường Pháp dự kiến có xu hướng ổn định hoặc tăng nhẹ đối với các mặt hàng mà Việt Nam vốn có thế mạnh về xuất khẩu Vì