1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý rừng bằng công cụ GIS.

28 342 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 400,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương VI: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP Kết Luận Từ khi ứng dụng công nghệ GIS, công việc của các cán bộ được phần nào giảm bớt, thời gian cho việc kiểm tra rừng cũng được tiến hành nhanh gọn và chính xác hơn. Việc số hóa bản đồ dựa trên cơ sở các bản đồ giấy có sẳn sẽ tiến hành nhanh chóng nhưng tính chính xác so với thực tế không đảm bảo. Bắt buộc các cán bộ phải tiến hành điều tra xác minh, tiến hành bấm điểm kiểm tra lại tọa độ… Với việc ứng dụng thiết bị Garmin Etrex 10 vào việc đo thực địa sẽ giúp giảm thời gian đo thực địa và nâng cao độ tin cậy của thông tin thu thập được. LFM còn cho phép lưu ảnh và các thông tin liên quan khác của rừng bị mất sẽ làm tăng độ chính xác của thông tin. Công cụ LFM cho phép lưu tạm thời các điểm mất rừng giúp cho người đo có thể thực hiện đo nhiều điểm mất rừng mà không bị giới hạn. Sau khi đo thực địa có thể dễ dàng gửi toàn bộ thông tin lên LFM Server khi có mạng, rút ngắn thời gian tập hợp dữ liệu. LFM Web hiển thị trực tiếp các thông tin điểm mất rừng và ranh giới các điểm MR trên bản đồ số giúp việc kiểm tra lại các thông tin đơn giản, hiệu quả hơn tránh trùng lặp thông tin. Dữ liệu mất rừng tự tổng hợp từ ảnh vệ tinh tuy không phải là dữ liệu chính xác tuyệt đối nhưng cũng tương đối chính xác và rất có ích cho công tác quản lý và lập kế hoạch.Dữ liệu này có tính khách quan, không phụ thuộc vào con người nên có ý nghĩa nếu được dùng hợp lý. Ta có thể dựa vào số điểm mất rừng để lập kế hoạch kiểm tra và xác minh. Dữ liệu được tạo tự động nên có tính cập nhật thường xuyên, giúp sớm phát hiện các điểm mất rừng mới.Các báo cáo được tạo ra bởi LFM Web giúp nhà quản lý phân tích để tìm ra các vấn đề và nguyên nhân mất rừng, qua đó tìm giải pháp khắc phục. Kiến Nghị Hiện nay, các công cụ phục vụ điều tra, quản lý bảo vệ rừng tại hạt còn rất đơn giản và thiếu thốn. Trong thời gian tới cần trang bị các dụng cụ tiên tiến như các máy tính và mạng máy tính mạnh có khả năng xử lý khối lượng ảnh vệ tinh, bản đồ và các số liệu điều tra rừng nhanh chóng; Các máy định vị GPS có độ chính xác cao; các bản đồ địa hình số; các loại ảnh vệ tinh có độ phân giải cao; Các phần mềm lưu trữ và xử lý dữ liệu điều tra rừng.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến, với địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ

là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc,

đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật Những hệsinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừngrụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừngngập mặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt

Rừng cung cấp cho ta những sản vật quí hiếm Nhiều loại cây cỏ của rừng là những vịthuốc đem lại sức khỏe và sự sống cho con người Rừng cũng giữ vai trò điều hòa khí hậu, bảo

vệ sự sống Rừng cây xanh bạt ngàn là lá phổi khổng lồ thanh lọc không khí, cung cấp nguồndưỡng khí duy trì sự sống cho con người Có loại rừng chắn gió, chắn cát ven biển, có loại rừngngăn nước lũ trên núi Rừng giúp con người hạn chế thiên tai Rừng ngập mặn là bức tườngthành ngăn chặn bão gió, sóng thần, lũ lụt, …Đặc biệt, rừng còn là khu bảo tồn thiên nhiên vôgiá với hàng ngàn loài chim, loài thú quí giá, là nguồn đề tài nghiên cứu bất tận cho các nhà sinhvật học

Để bảo vệ rừng, thế giới nói chung và nhà nước ta nói riêng đã có nhiều công cụ pháp lýnhư luật, chính sách, thông tư, nghị định… để các công cụ pháp lý này thực sự hiệu quả đòi hỏiphải có sự hỗ trợ về công nghệ và kĩ thuật Một trong những công cụ quản lý môi trường khá phổbiến hiện nay trên thế giới là GIS- hệ thống thông tin địa lý Tuy nhiên ở Việt Nam trong nhữngnăm gần đây, GIS mới thực sự được quan tâm và phát triển Đề tài này nhằm giới thiệu và phổbiến rộng rãi hơn nữa công nghệ GIS cho các lĩnh vực khác nhau của ngành môi trường Cụ thể

là về việc quản lý rừng bằng công cụ GIS

Trang 2

Tuy nhiên, Việt Nam cũng xuất hiện tình trạng chung như những nước đang phát triển khác, diệntích rừng bị thu hẹp nhanh chóng Theo bản đồ rừng của Maurand vào năm 1945 thì nước ta có 14,352 triệu ha rừng, chiếm tỷ lệ 43,8% so với diện tích lãnh thổ.

Theo số liệu điều tra của viện qui hoạch rừng thì đến năm 1975 còn 9,5 triệu ha rừng, chiếm 29,1% diện tích lãnh thổ, đến năm 1981 còn 7,4 triệu, chiếm 24%, đến năm 1989 có 9,3 triệu, trong đó có những rừng mới trồng

Bảng so sánh diện tích rừng ở Việt Nam so với diện tích đất tự nhiên:

Tỉ lệ diện tích rừng/đất tựnhiên (%)

Gần đây, diện tích rừng tuy có tăng lên 37% (năm 2005), nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh vẫn chỉ ởmức khoảng 8% so với 50% của các nước trong khu vực

Đây là một thách thức lớn đối với Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu, trong các hoạt động thực hiện mục tiêu năm 2010 của công ước đa dạng sinh học nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn và dịch vụ của các hệ sinh thái rừng trong giảm thiểu thiên tai, bảo vệ tài nguyên nước, giảm phát thải CO2

• Trong vòng 25 năm qua, toàn bộ vùng rừng tự nhiên mất đi hơn 5 triệu ha ở cả vùng cao và vùng ven biển, trung bình mỗi năm mất đi khoảng 250.000 ha Trong mấy năm qua, diện tích

Trang 3

rừng có chiều hướng tăng lên, từ 28,2%, theo thống kê đến năm 2004 thì độ che phủ rừng toàn quốc lên đến 36,7% (bảng 1).

Bảng 1 Diễn biến về diện tích rừng ở Việt Nam (đơn vị tính: 1.000.000ha)

Tổngdiệntích(ha) 14,30 11,16 10,60 9,89 9,17 9,30 10,99 11,78 12,30Rừng trồng (ha) 0,00 0,01 0,42 0,58 0,74 1,05 1,52 1,91 2,21Rừngtự nhiên(ha) 14,30 11,07 10,18 9,30 8,43 8,25 9,47 9,86 10,89

Độ che phủ (%) 43,00 33,80 32,10 30,0 27,8 28,20 33,20 35,8 36,7I.Các kiểu rừng chính ở Việt Nam

Điều kiện tự nhiên khí hậu và các nhân tố khác đã tạo cho cây rừng sinh trưởng và phát triển quanh năm, thảm thực vật rừng phong phú đa dạng với nhiều kiểu rừng Theo các nhà Lâm nghiệp, người ta chia ra các kiểu rừng sau : (Báo cáo về hiện trạng môi trường Việt Nam năm

1994, Cục Môi trường)

1 Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới

Người ta còn gọi là rừng mưa nhiệt đới, rừng nhiệt đới ẩm, kiểu rừng này thường gặp trên các vùng núi cao, dưới 800 m ở phía Bắc, cao trên 1000 m ở phía Nam, là kiểu rừng hỗn loài thuộc

họ quen thuộc ở vùng nhiệt đới như họ Đậu (Papilionoideae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), chúng phát triển tươi tốt thành nhiều tầng với nhiều năm tuổi khác nhau Ở kiểu rừng này còn có rất nhiều thực vật phụ sinh như phong lan và cây dây leo thân cỏ (song mây) và thân gỗ

Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới có năng suất sinh học rất cao, và có nhiều loài gỗ quí Sự thuận lợi về môi trường, phong phú về thức ăn đã tạo ra một quần thể động vật phong phú về chủng loại và số lượng

2 Rừng khộp

Trang 4

Còn gọi là rừng thưa nhiệt đới, rừng nhiệt đới rụng lá, thường thấy ở miền Nam tại các vùng có

độ cao dưới 1000 m Thành phần gồm cây rụng lá xen lẫn cây thường xanh ở mức độ khác nhau

Trên nhiều vùng đất bằng phẳng ở Tây Nguyên thường đọng nước trong mùa mưa, và cạn nước trong mùa khô, thêm vào đó lửa rừng tàn phá thường xuất hiện rừng Khộp nghèo với vài loài cây

họ Dầu mọc thưa thớt, sinh trưởng chậm

Trên sườn dốc, nơi có tầng đất sâu hơn hoặc có nước tương đối thuận lợi hơn, nhất là ở vùng đất

đỏ bazalt và ven sông suối thường xuất hiện rừng khộp giàu có, thành phần loài phong phú, cây mọc dầy thành nhiều tầng xanh tươi, cho nhiều gỗ cứng, gỗ quí với kích thước lớn như : Giáng hương, Trắc, Cẩm lai, Gụ, Mun và nhiều loài gỗ Sao, Dầu

Rừng khộp là nơi tập trung của nhiều loài thú nổi tiếng vùng Châu Á như: Hươu, Nai, Voi, Khỉ, Vượn trong đó có các loài thú quí hiếm của thế giới như Bò xám Cuprey, Tê Giác

Rừng khộp nghèo để tạo thành đồng cỏ chăn nuôi Đất rừng khộp giàu để phát triển cây công nghiệp, cây lương thực và cây ăn trái Ở rừng này, người ta thường áp dụng lối canh tác nông lâm kết hợp

3 Rừng lá kim

Ở các vùng cao trên 1000 m ở phía Nam thích hợp với các loài thực vật lá kim (Tùng, Bách, Thông 2 lá, Thông 3 lá) đã tạo nên những cánh rừng bạt ngàn trên cao nguyên Lâm Đồng Tùy theo độ cao và chế độ ẩm cụ thể mà rừng thông có thể xen lẫn với cây lá rộng của rừng Khộp hoặc của rừng thường xanh Á nhiệt đới

Rừng thông ở đây cung cấp gỗ xây dựng, gỗ gia dụng, làm bột giấy Nhựa thông dùng để chế biến colofan, dầu thông, nhiều loại hóa chất khác nhau là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao Ở dưới tán rừng thông hoặc xen kẻ với cây công nghiệp, cây thuốc, cây ăn trái hoặc các đồng cỏ chăn nuôi

Trang 5

Ở các vùng cao trên 1500 m thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn cũng có rừng lá kim, nhưng khu vực nhỏ hơn, thường gặp là thông, Pơmu là loại quí.

4 Rừng thường xanh lá rộng Á nhiệt đới

Thường gặp ở các vùng núi cao trên 800 m ở phía Bắc, phần lớn gồm các cây hiện diện thuộc họ

Dẻ (Fagaceae), họ Long Não (Lauraceae), họ Thạch Nam (Ericaceae) và các cây Tre, Nứa (họ Poaceae) thực vật phụ sinh phát triển mạnh, thường là Phong lan (Orchidaceae), ráng đuôi phụng, ráng tổ rồng (Polypodiaceae) và các cây Thảo quả (họ Zingiberaceae) Ở vùng rừng này, người ta thường trồng những cây thuốc như: Đỗ Trọng (họ Eucommiaceae), Quế (họ Lauraceae),Nhân sâm (họ Araliaceae)

5 Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên núi đá vôi

Thành phần thực vật trên núi đá vôi khá phong phú, chủ yếu là rừng thường xanh, cây rụng lá chiếm tỷ lệ nhỏ Các loài cây đặc hữu của vùng này gồm : Nghiến (họ Tilliaceae), cây Kim giao (họ Podocarpaceae), cây Trai ly (họ Clusiaceae) là những loại gỗ quí, thường chúng có đặc điểm chung là ưa Calci, chịu hạn, ít chịu chua Nhiều loài vừa có bộ rễ phát triển sâu, vừa có khả năng kiềm chế thoát nước trên mặt lá Nhưng cũng có những loài rễ cạn, chúng sinh trưởng nhanh trong mùa mưa ẩm và rụng lá vào mùa khô Nơi gần đầu nguồn do hang động đưa nước từnơi khác đến, nên chúng ta thường gặp cây nhiệt đới thường xanh và Tre, Trúc Rừng này thích hợp cho các loài vật cần hang động để lẫn trốn thú dữ như: Sơn dương, khỉ, vượn Đây là loại rừng đặc sắc đối với con người vì nơi đây còn giữ lại nhiều nguồn gen, quí, có giá trị cao trong nghiên cứu khoa học, rừng quốc gia Cúc Phương được thành lập theo kiểu này

6 Rừng ngập mặn ở Việt Nam

Ở Việt Nam, những nguồn tài nguyên rừng ngập mặn đã được sử dụng bởi nhân dân sống trong vùng biển nhiều thế kỷ không gây ra sự mất cân bằng sinh thái Tuy nhiên trong những năm gần đây, sự gia tăng dân số (đặc biệt sự di dân), lợi tức của nhân dân địa phương thấp, và sự phát triển nhanh chóng kinh tế đã gây ra sự khai thác quá mức và sự phá hoại gây hậu quả cho những khu rừng ngập mặn Vả lại, chính sách của Việt Nam cho sự tái xây dựng kinh tế làm phát triển

sự khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên, dưới chính sách này, sự phát triển nuôi tôm

Trang 6

trong những khu vực rừng ngập mặn là một trong những chiến lược phát triển quốc gia Chính vìvậy mà thủy canh được xem như một trong những mối đe dọa quan trọng của rừng ngập mặn Việt Nam.

Chương II: Tài nguyên rừng ở nước ta

1: Hiện trạng tài nguyên rừng

A: Các vấn đề cấp bách đối với tài nguyên rừng

Nguyên nhân:

+ Chủ quan:

Chính quyền địa phương một số nơi chưa quan tâm thực hiện tốt chức năng quản lý nhànước về rừng và đất nông nghiệp, một số cán bộ tham mưu cho chính quyền địa phương trongcông tác bảo vệ rừng còn nhiều bất cập, nhân sự thường xuyên thay đổi nên dẫn đến chưa đápứng nhu cầu nhiệm vụ

Một số cán bộ tiểu khu thuộc các Ban Quản lý rừng thiếu linh hoạt trong tuần tra truyquét, chưa kịp thời ngăn chặn ngay từ đầu các vụ vi phạm phá rừng, khai thác rừng trái phép Cónơi vụ việc vi phạm xảy ra nghiêm trọng nhưng chậm phát hiện, công tác phối hợp với các cơquan chức năng, chính quyền địa phương thiếu đồng bộ nên rừng tiếp tục bị tàn phá, lấn chiếmtrái phép Việc xử lý các vụ vi phạm còn thiếu kiên quyết

Trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trồng bằng nguông vốn tự có của các doanh nghiệp,

cá nhân, hộ gia đình chưa đảm bảo an toàn trong khâu xử lý vật liệu cháy và đường ranh cản lửa

+ Khách quan:

Công tác bảo vệ rừng là công việc khó khăn và phức tạp, lực lượng mỏng chưa tươngxứng, chưa đồng đều, dụng cụ trang thiết bị chưa được trang bị đầy đủ đặc biệt là công cụ chữacháy rừng, chỉ áp dụng công cụ thủ công

Dân số gia tăng về cơ học, nạn di cư tự do từ các vùng miền đến Lâm Hà sinh cơ lậpnghiệp nên nhu cầu đất sản xuất, lâm sản ngày càng lớn

Vùng đồng bào dân tộc đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, trình độ nhận thức cònhạn chế, một số đồng bào dân tộc lấy lý do quay về nơi ở cũ trước đây để lập làng định cư, tạomột sức ép không nhỏ cho công tác quản lý bảo vệ rừng

Chương III: Giới thiệu về GIS

Trang 7

1: Khái Niệm

Hệ thống thông tin là tập các tiến trình xử lý dữ liệu thô để sản sinh ra các thông tin cóích cho công tác lập quyết định Chúng bao gồm các thao tác dẫn chúng ta đi từ lập kế hoạchquan sát và thu thập dữ liệu tới lưu trữ và phân tích dữ liệu, tới sử dụng các thông tin suy diễntrong công việc lập quyết định

Hệ thông tin địa lý là hệ thông tin được thiết kế để làm việc với dữ liệu quy chiếu khônggian hay toạ độ địa lý Khái niệm hệ thông tin địa lý được hình thành từ ba khái niệm: địa lý,thông tin và hệ thống Được viết tắt là GIS:

-Geographic Information Systems (Mỹ)

-Geographical Information Systems (Anh, Oxtraylia, Canada)

-Geographic Information Science (nghiên cứu lý thuyết và quan niệm của hệ thông tin địa lý vàcác công nghệ thông tin địa lý)

-Geographic Information Studies (nghiên cứu về ngữ cảnh xã hội của thông tin địa lý như ngữcảnh pháp lý, khía cạnh kinh tế)

Khái niệm “địa lý” (geographic) được sử dụng vì GIS trước hết liên quan đến các đặctrưng “địa lý” hay “không gian” Các đặc trưng này được ánh xạ hay liên quan đến các đối tượngkhông gian Chúng có thể là các đối tượng vật lý, văn hoá hay kinh tế trong tự nhiên

Khái niệm “thông tin” (information) đề cập đến khối lượng dữ liệu khổng lồ do GIS quản

lý Các đối tượng thế giới thực đều có tập riêng các dữ liệu chữ - số thuộc tính hay đặc tính (còngọi là dữ liệu phi hình học, dữ liệu thống kê) và các thông tin vị trí cần cho lưu trữ, quản lý cácđặc trưng không gian

Khái niệm “hệ thống” (system) đề cập đến cách tiếp cận hệ thống của GIS Môi trường

hệ thống GIS được chia nhỏ thành các Modul để dễ hiểu, dễ quản lý nhưng chúng được tích hợpthành hệ thống thống nhất, toàn vẹn

Khái niệm “công nghệ thông tin địa lý” (geographic information technology hay còn gọi

là công nghệ 3S) là các công nghệ thu thập và xử lý thông tin địa lý Chúng bao gồm ba loại cơbản sau:

-Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS): đo đạc vị trí trên mặt đất trên cơ

sở hệ thống các vệ tinh

Trang 8

-Viễn thám (Remote Sensing): sử dụng vệ tinh để thu thập thông tin về Trái đất.

-Hệ thông tin địa lý GIS

Hệ GIS điển hình được thiết lập trên một số khái niệm cơ bản sau:

Các đặc điểm của thế giới thực trên bề mặt Trái đất được mô tả lại trên một hệ quy chiếubản đồ và được lưu lại trong máy tính Đồng thời, máy tính cũng lưu lại lưới chiếu và các thuộctính của các đặc điểm bản đồ đó để có thể trả lời các câu hỏi như “chúng ở đâu?” và “chúng làcái gì?”

Các đặc điểm bản đồ có thể được hiển thị hoặc vẽ ra khi ta kết hợp bất kỳ hai hay nhiềuđối tượng và hầu như trên bất kỳ một tỷ lệ bản đồ Tin học hóa các dữ liệu bản đồ phải được sửdụng một cách linh hoạt hơn so với các bản đồ giấy truyền thống

GIS có khả năng phân tích các mối quan hệ trong không gian giữa các đặc điểm bản đồ.2: Các thành phần :

Hệ thống thông tin địa lý bao gồm 5 thành phần cơ bản sau:

Các thành phần của GIS

A: Phần cứng

Bao gồm hệ thống máy tính và các thiết bị ngoại vi có khả năng thực hiện các chức năng nhập thông tin (Input), xuất thông tin (Output) và xử lý thông tin của phần mềm Hệ thống này gồm có máy chủ (server), máy khách (client), máy quét (scanner), máy in (printer) được liên kết với nhau trong mạng LAN hay Internet

Trang 9

Sơ đồ tổ chức một hệ “phần cứng GIS”

1 Bộ xử lý trung tâm (CPU).

Bộ xử lý trung tâm hay còn gọi là CPU, là phần cứng quan trọng nhất của máy vi tính CPU không những thực hành tính toán trên dữ liệu, mà còn điều khiển sắp đặt phần cứng khác

mà nó thì cần thiết cho việc quản lý thông tin theo sau thông qua hệ thống Mặc dù bộ vi xử lý hiện đại rất nhỏ chỉ khoảng 5mm2- nó có khả năng thực hiện hàng ngàn, hoặc ngay cả hàng triệuthông tin trong một giây(the Cyber 250"máy vi tính siêu hạng") có thể thực hiện 200 triệu thông tin trên giây)

2 Bộ nhớ trong (RAM).

Tất cả máy vi tính có một bộ nhớ trong mà chức năng như là "không gian làm việc" cho chương trình và dữ liệu Bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên (RAM) này có khả năng giữ 1 giới hạn số lượng dữ liệu ở một số hạng thời gian (ví dụ, hệ điều hành MS-DOS mẫu có 640Kb ở RAM ) Điều này có nghĩa nó sẽ ít có khả năng thực hiện điều hành phức tạp trên bộ dữ liệu lớn trong hệ điều hành

3 Bộ sắp xếp và lưu trữ ngoài (diskette, harddisk, CD-ROM).

Băng có từ tính được giữ không những trong cuộn băng lớn (giống trong cuộn băng máy hát đĩa) mà còn trong cuộn băng nhỏ (giống như cuốn băng được dùng trong máy hát nhạc) Thuận lợi của dây băng có từ tính là nó có thể lưu trữ một số lượng lớn dữ liệu (ví dụ toàn bộ Landsat MSS đòi hỏi 8MB của khả năng lưu trữ trên một băng)

Trang 10

Sự gia tăng khả năng lưu trữ thực hiện bằng các đĩa có từ tính Các đĩa cứng với khả nănglưu trữ rất lớn (được sử dụng trên PCs phổ biến 20 hoặc 30Mb) mà còn ở các đĩa mềm với khả năng giới hạn (2.25 inch, với 360Kb hoặc 1.2 Mb hay 3.5inch với 720Kb hoặc 1.4Mb) Đĩa cứngthông thường được sử dụng cho lưu trữ tạm thời mà thông qua quá trình xử lý, sau khi dữ liệu được gán trong đĩa floppy hoặc dây băng có từ tính.

4 Các bộ phận dùng để nhập dữ liệu (INPUT DEVICES).

Bảng số hoá bản đổ bao gồm 1 bảng hoặc bàn viết, mà bản đổ được trải rộng ra, và 1 cursor có ý nghĩa của các đường thẳng và các điểm trên bản đổ được định vị Trong toàn bộ bàn

số hoá (digitizer) việc tổ chức được ghi bởi phương pháp của một cột lưới tốt đã gắn vào trong bảng Dây tóc của cursor phát ra do sự đẩy của từ tính điện mà nó được tìm thấy bởi cột lưới sắt

và được chuyển giao đến máy vi tính như một cặp tương xứng (mm trên 1 bảng XY hệ thống tương hợp) Hầu như các cursor được vừa vặn với 4 hoặc nhiều nút cho việc chuyển các tín hiệu đặc biệt cho việc điều khiển chương trình, ví dụ để chỉ ra điểm cuối của đường thẳng

Các bảng số hoá (digitizer) hiện nay có kích thước thay đổi từ bảng nhỏ 27cmx27cm đến bảng lớn 1mx1.5m

Bảng số hoá (digitizer)

Scanner:

Máy ghi scanner sẽ chuyển các thông tin trên bản đồ tương xứng 1 cách tự động dướidạng hệ thống raster Một cách luân phiên nhau, bản đổ có thể được trải rộng ra trên bàn mà đầu

Trang 11

scanning di chuyển trong 1 loạt đường thẳng song song nhau Các đường quét (scan) phải đượcvector hoá trước khi chúng được đưa vào hệ thống cơ sở dữ liệu vector.

Máy quét (Scanner)

5 Các bộ phận để in ấn (OUTPUT DEVICES) - Máy in (printer):

Là bộ phận dùng để in ấn các thông tin, bản đổ, dưới nhiều kích thước khác nhau tuỳ theoyêu cầu của người sử dụng, thông thường máy in có khổ từ A3 đến A4 Máy in có thể là máymàu hoặc trắng đen, hoặc là máy in phun mực, Laser, hoặc máy in kim

Máy in (printer)

Máy vẽ (plotter):

Đối với những yêu cầu cần thiết phải in các bản đổ có kích thước lớn, thường máy inkhông đáp ứng được mà ta phải dùng đến máy Plotter (máy vẽ) Máy vẽ thường có kích thướccủa khổ A1 hoặc A0

Trang 12

-Nhập thông tin không gian và thông tin thuộc tính từ các nguồn khác nhau.

-Lưu trữ, điều chỉnh, cập nhật và tổ chức các thông tin không gian và thông tin thuộc tính

-Phân tích biến đổi thông tin trong cơ sở dữ liệu nhằm giải quyết các bài toán tối ưu và môhình mô phỏng không gian- thời gian

-Hiển thị và trình bày thông tin dưới các dạng khác nhau, với các biện pháp khác nhau

Phần mềm được phân thành ba lớp: hệ điều hành, các chương trình tiện ích đặc biệt vàcác chương trình ứng dụng

Trang 13

Quản trị cơ sở dữ liệu địa

Quản trị cơ sở dữ liệu địa

Thu thập dữ liệu

Giao diện người dùng

Phân tích không gian Hiển thị làm báo cáo

Chuyển đổi dữ liệu

Trang 14

Minh họa cấu trúc dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính

(tương ứng dạng điểm đường vùng).

D: Con người và tổ chức hệ thống ở nước ta

Các kỹ thuật viên am hiểu về máy tính và các phần mềm GIS có nhiệm vụ sử dụng thiết

bị, nhập và xử lý dữ liệu

Các nhà phân tích và điều hành hệ thống

Các nhà lãnh đạo sử dụng hệ thống làm công cụ trợ giúp để hoạch định các chủ trương,

kế hoạch trong quản lý và phát triển

Tuỳ theo tính chất quản lý, hệ thông tin địa lý có thể mở rộng thêm một số thành phầnliên quan khác

-Phần chuyên gia:

Trong GIS, phần con người còn được biết đến dưới các tên gọi khác như phần não hayphần sống của hệ thống Con người tham gia vào việc thiết lập, khai thác và bảo trì hệ thống mộ

Ngày đăng: 14/09/2016, 21:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Diễn biến về diện tích rừng ở Việt Nam (đơn vị tính: 1.000.000ha) - Quản lý rừng bằng công cụ GIS.
Bảng 1. Diễn biến về diện tích rừng ở Việt Nam (đơn vị tính: 1.000.000ha) (Trang 3)
Sơ đồ tổ chức một hệ “phần cứng GIS” - Quản lý rừng bằng công cụ GIS.
Sơ đồ t ổ chức một hệ “phần cứng GIS” (Trang 9)
Bảng số hoá bản đổ bao gồm 1 bảng hoặc bàn viết, mà bản đổ được trải rộng ra, và 1  cursor có ý nghĩa của các đường thẳng và các điểm trên bản đổ được định vị - Quản lý rừng bằng công cụ GIS.
Bảng s ố hoá bản đổ bao gồm 1 bảng hoặc bàn viết, mà bản đổ được trải rộng ra, và 1 cursor có ý nghĩa của các đường thẳng và các điểm trên bản đổ được định vị (Trang 10)
Sơ đồ quản lý dự án GIS - Quản lý rừng bằng công cụ GIS.
Sơ đồ qu ản lý dự án GIS (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w