1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng bản đồ dạng đất và đề xuất cây trồng rừng bằng công nghệ GIS xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

77 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính mới và sáng tạo Kết quả đề tài là sự kết hợp các chức năng và ứng dụng của phần mềm GIS vào các vấn đề thực tiễn của địa phương trong việc xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

Trang 3

VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH

I Danh sách thành viên tham gia nghiên cứu

sản Trường ĐH Quảng Bình

Trường ĐH Quảng Bình

nông thôn

Khoa Kinh tế - Du Lịch

II Danh sách đơn vị phối hợp chính

Quảng Bình

Trang 4

TRƯỜNG ĐH QUẢNG BÌNH

Đơn vị: Trung tâm NC

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung

- Tên đề tài: “Xây dựng bản đồ dạng đất và đề xuất cây trồng rừng bằng công nghệ

GIS xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”

- Mã số: CS.8.2014

- Chủ nhiệm: Th.S Phan Thanh Quyết

- Đơn vị chủ trì: Trường đại học Quảng Bình

- Thời gian thực hiện: 01 năm

2 Mục tiêu

Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, quy hoạch sử dụng đất hợp lý và bền vững

tài nguyên đất, từ đó đề xuất một số loài cây trồng rừng trên địa bàn nghiên cứu

3 Tính mới và sáng tạo

Kết quả đề tài là sự kết hợp các chức năng và ứng dụng của phần mềm GIS vào các

vấn đề thực tiễn của địa phương trong việc xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về dạng đất đáp

ứng các vấn đề trong quy hoạch sử dụng đất đai và bố trí cây trồng rừng Với khả năng

phân tích không gian của phần mềm GIS, kết quả của đề tài đã phân tích dữ liệu để từ đó

đưa ra được các loại bản đồ số phục vụ cho công tác của địa chính xã

4 Kết quả nghiên cứu

Kết quả của đề tài đã hoàn thiện các nôi dung trong bản thuyết minh của đề tài, bao

gồm:

+ Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế khu vực nghiên cứu

+ Xác định các yếu tố và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ

+ Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ dạng đất

Trang 5

+ Điều tra tình hình sinh trưởng và năng suất lập địa một số loại cây trồng lâm

nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

+ Đề xuất các giải pháp cần thiết để bảo vệ, cải tạo đất và khắc phục các yếu tố hạn

chế

5 Sản phẩm

Sản phẩm của đề tài là sự kết hợp giữa GIS và điều tra thực địa để xây dựng bản đồ

dạng đất, đồng thời lập ô đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của các loại cây trồng rừng trên

từng dạng đất để từ đó có cơ sở để đề xuất cây trồng rừng phù hợp với địa phương

+ Bản đồ dạng đất xã Trường Sơn

+ Khóa tập huấn GIS cho cán bộ địa chính xã

6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp

dụng

6.1 Hiệu quả

* Giáo dục và đào tạo

Kết quả nghiên cứu của đề tài, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn sản xuất lâm nghiệp

trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng và cả nước nói chung Thông qua đề tài, sẽ tiếp

cận được với cộng đồng dân cư xã vùng sâu vùng xa, từ đó có thể tổ chức lớp tập huấn về

GIS cho cán bộ địa chính, cán bộ khuyến nông khuyến lâm xã, đồng thời tổ chức lớp học

cho sinh viên, cho học viên có nhu cầu trên địa bàn, đặc biệt là chuyên ngành lâm nghiệp

Bộ dữ liệu của đề tài, là toàn bộ dữ liệu thuộc tính về các dạng đất phân theo đai

cao, độ dốc, loại đất của xã Trường Sơn, từ đó cung cấp nguồn số liệu quan trọng cho cơ

quan quản lý lâm nghiệp trên địa bàn có định hướng trong quy hoạch trồng rừng, quy

hoạch sử dụng đất hợp lý

Thông qua đề tài nhóm nghiên cứu cũng muốn phổ biến rộng rãi hơn ứng dụng của

công nghệ GIS bằng các khóa học cho các đối tượng trên địa bàn tỉnh với mục đích phục

vụ tốt hơn cho NCKH và cho công tác

Kết quả cụ thể:

+ 01 Lớp chuyển giao kỹ thuật công nghệ GIS cho địa chính xã Trường Sơn

+ 01 đề tài sinh viên NCKH cấp trường đạt giải ba

Trang 6

* Kinh tế - Xã hội

Ứng dụng công nghệ GIS vào thực tiễn sản xuất sẽ giảm bớt công tác điều tra thực

địa, một trong những công việc phức tạp, mất nhiều công sức, đòi hỏi nhiều thời gian và

tốn kém về kinh tế

Kết quả, sản phẩm của đề tài là bản đồ dạng đất và nguồn số liệu về đất đai được

thành lập theo những bộ tiêu chí của tổng cục Lâm nghiệp, kết hợp vơi công tác điều tra

thực địa của đội ngũ điều tra viên có kinh nghiệm, do vậy sẽ có độ chính xác cao; sẽ phục

vụ cho công tác quản lý, quy hoạch sử dụng đất, thiết kế trồng rừng,…giúp việc quản lý

được thuận lợi

Mặt khác, hiện nay công tác quy hoạch sử dụng đất đai của các cấp chính quyền

đang được triển khai trên địa bàn xã, đồng thời các dự án về lâm nghiệp đang được triển

Giao rừng cộng đồng;…Do vậy , sẽ thuận tiện hơn trong việc kết nối với các đối tác, mở

rộng hơn tính liên kết, hợp tác trong tương lai

6.2 Phương thức chuyển giao và khả năng ứng dụng

* Khả năng ứng dụng

Với việc ứng dụng công nghệ GIS vao thực tiễn sản xuất là một trong những hướng

phát triển đã được ứng dụng rộng rãi trên toàn quốc và thế giới Chính vì vậy, phạm vi

nghiên cứu và ứng dụng của đề tài vào tỉnh Quảng Bình là một trong những hướng phát

triển đang được các cấp chính quyền và các dự án quan tâm hiện nay

Kết quả của đề tài sẽ được ứng dụng cho các đơn vị lâm nghiệp, tài nguyên đất đai

trên địa bản tỉnh làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất và đề xuất cây trồng rừng

* Phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu

Chuyển giao kết quả nghiên cứu thông qua tổ chức các buổi Cemina, tập huấn

chuyên đề về phương pháp lập ô tiêu chuẩn, và quy trình thành lập bản đồ dạng đất Bên

cạnh sản phẩm về bản đồ giấy, bản đồ file về các dạng đất, thông qua đề tài hướng cho

đọc giả về cách sử dụng các công cụ hỗ trợ như các phần mềm chuyên ngành:

Arcview;Argis;Mapinfo,…kết hợp với kinh nghiệm của điều tra viên đã tạo ra các sản

phẩm đề tài đạt độ chính xác cao

Trang 7

Đề tài là sự kết hợp chặt chẽ giữa GIS và kết quả khảo sát thực tế, do vậy nguồn số

liệu, sản phẩm sẽ cung cấp dữ liệu đáng tin cậy cho các cơ quan quản lý địa phương nói

riêng và cơ quan lâm nghiệp nói chung sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên

Trang 8

loài cây trồng rừng trên các dạng đất xã

Trường Sơn, huyện Quảng Ninh

39

Trang 9

đồng mức

25

lại(Reclassify)

28

Trang 10

tính

thuộc tính trên phần mềm ứng dụng GIS

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 12

REDD+ Reduce Emission from Deforestation and Forest

degradation

Trang 13

MỤC LỤC TRANG

A MỞ ĐẦU 1

I TÍNH CẤP THIẾT 1

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

II.1 Đối tượng nghiên cứu 2

II.2 Phạm vi nghiên cứu 2

III MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

III.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

III.2 Nội dung nghiên cứu 3

III.3 Phương pháp nghiên cứu 3

III.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 3

III.3.2 Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp 4

III.3.3 Phương pháp phỏng vấn 4

2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 5

2.3.4 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn 6

2.3.5 Phương pháp bản đồ 7

IV TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9

IV.1 Trên thế giới 9

IV.2 Trong nước 10

B NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 13

1.1 Điều kiện tự nhiên 13

Trang 14

1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 16

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ VÀ PHÂN CẤP CÁC CHỈ TIÊU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DẠNG ĐẤT 23

2.1 Yếu tố kiểu địa hình 23

2.2 Yếu tố độ dốc 23

2.3 Yếu tố nền vật chất tạo đất 23

CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG GIS XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DẠNG ĐẤT 24

3.1 Ứng dụng GIS để xây dựng bản đồ dạng đất 24

3.1.1 Xử lý nền địa hình tỷ lệ 1/50.000 24

3.1.2 Xây dựng bản đồ số độ cao (DEM) cơ sở dữ liệu 26

3.1.3 Xây dựng bản đồ độ dốc (SLOPE) 27

3.2 Kết quả xây dựng bản đồ dạng đất 32

3.2.1 Thiết kế cấu trúc dữ liệu bản đồ dạng đất 32

3.2.2 Kết quả xây dựng bản đồ dạng đất 35

3.3 Sự phân bố và nguyên nhân hình thành các dạng đất chính 36

3.3.1 Nhóm dạng đất núi cao (N1) 36

3.3.2 Nhóm dạng đất núi trung bình (N2) 37

3.3.3 Nhóm dạng đất núi thấp (N3) 38

3.3.4 Nhóm dạng núi đá vôi(DA) 39

3.3.5 Nhóm đất mặt nước 39

3.4 Đặc điểm các nhóm dạng đất 39

3.4.1 Nhóm dạng đất xám Feralit phát triển trên đá nông 40

3.4.2 Nhóm dạng đất xám Feralit phát triển trên đá sâu 41

3.4.3 Nhóm dạng đất đất xám Mùn phát triển trên núi đá nông 41

3.4.4 Đất đất xám Feralit phát triển trên đá điển hình (N3Xf-h và N2Xf-h) 42

Trang 15

3.4.5 Nhóm đất phù sa chua điển hình (Pc-h) 43

3.3.5 Đánh giá chung 44

CHƯƠNG 4 ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LẬP ĐỊA MỘT SỐ LOẠI CÂY TRỒNG LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TRƯỜNG SƠN 45

4.1 Năng suất rừng trồng 45

4.2 Đánh giá khả năng thích hợp của một số loài cây trồng rừng 46

4.2.1 Keo tai tượng ( Acacia mangium) 47

4.2.2 Lim xanh (Erythrophroeum fordii) 47

4.2.3 Keo lai hom (Acacia hybrid) 47

4.2.4 Bạch đàn (Eucalyptus camaldulensis) 48

4.2.5 Cao Su (Hevea brasiliensis) 48

4.3 Đề xuất một số loài cây trồng rừng và quy trình thành lập bản đồ dạng đất 49 4.3.1.Chọn loài cây trồng trên các nhóm dạng đất 49

4.3.2 Chọn tập đoàn cây trồng phù hợp với chức năng rừng 50

4.4 Đề xuất các giải pháp cần thiết để bảo vệ, cải tạo đất và khắc phục các yếu tố hạn chế 51

4.4.1 Các giải pháp nhằm nâng cao độ phì cho đất 51

4.4.2 Các giải pháp chống xói mòn, rửa trôi cho đất 52

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

I KẾT LUẬN 54

II KIẾN NGHỊ 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 16

A MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT

Khu vực vùng đệm vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình bao gồm

13 xã nằm trên địa bàn 5 huyện: Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch và

huyện Quảng Ninh Huyện Bố Trạch, gồm: Phú Định, Hưng Trạch, Sơn Trạch, Phúc

Trạch, Xuân Trạch, Tân Trạch, Thượng Trạch; các xã: Thượng Hóa, Trung Hóa, Hóa

Sơn, Trọng Hóa và Dân Hóa của huyện Minh Hóa và xã Trường Sơn của huyện Quảng

Ninh Tổng tích khu vực vùng đệm là:.334.260 ha, trong đó phần lớn là đất sản xuất Lâm

nghiệp[14]

Xã Trường Sơn thuộc huyện Quảng Ninh là một trong 13 xã vùng đệm với tổng

diện tích tự nhiên là 77.428 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 62.386 ha, chiếm 80,57%

diện tích tự nhiên Mặt khác, đây là khu vực sinh sống chủ yếu của trên 4000 dân tộc kinh

và Vân Kiều, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, hệ thống giao thông

đường xá đi lại còn bị động, trình độ nhận thức của một số dân tộc còn thấp, điều kiện

tiếp cận với các nguồn thông tin còn hạn chế, dẫn đến sự phát triển kinh tế vùng còn

chậm, đời sống nhân dân còn phụ thuộc nhiều vào rừng[13]

Trong những năm qua, ngành lâm nghiệp tỉnh Quảng Bình luôn được đầu tư phát

triển bằng những nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, diện tích rừng trồng ngày một

tăng lên, cơ cấu cây trồng ngày càng đa dạng và phong phú Tuy nhiên bên cạnh đó, một

số loài cây trồng không phù hợp, sinh trưởng kém, khả năng thành rừng thấp, nguyên

nhân chủ yếu là do chưa chọn đúng loại cây trồng thích hợp cho từng dạng đất

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ GIS để xây dựng bản đồ dạng đất sẽ góp

phần giảm bớt công sức điều tra thực địa, mà còn tạo ra cơ sở dữ liệu với độ tin cậy cao

Sự kết hợp giữa công nghệ GIS và điều tra thực địa để xây dựng bản đồ dạng đất là một

trong những phương pháp tối ưu tạo nguồn cơ sở dữ liệu về dạng đất bằng dữ liệu thuộc

tính giúp các nhà quản lý lâm nghiệp nói riêng và các nhà quản lý nói chung có nguồn cơ

sở dữ liệu đáng tin cậy nhằm theo dõi diễn biến nguồn tài nguyên đất qua các năm được

dễ dàng, thuận lợi[6],[7]

Mặt khác, để có cơ sở chọn loài cây trồng phù hợp với từng dạng đất trên địa bàn xã

Trường Sơn, thì việc ứng dụng công nghệ GIS và điều tra xây dựng bản đồ dạng đất khu

vực xã Trường Sơn nhằm cung cấp tài liệu cơ bản về lập địa, đánh giá năng suất rừng

Trang 17

trồng, giúp cho việc đề xuất, bố trí cây trồng phù hợp với tiềm năng đất đai địa phương,

góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và khả năng phòng hộ của rừng, là căn cứ khoa

học để đưa ra định hướng, biện pháp cụ thể trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa

bàn xã vùng đệm của tỉnh Quảng Bình

Với những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xây dựng bản đồ dạng

đất và đề xuất cây trồng rừng bằng công nghệ GIS xã Trường Sơn, huyện Quảng

Ninh, tỉnh Quảng Bình” là cần thiết

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

II.1 Đối tượng nghiên cứu

Trường Sơn là xã nằm ở phía Tây của huyện miền núi huyện Quảng Ninh tỉnh

Quảng Bình, có tổng diện tích tự nhiên lớn nhất trong toàn huyện: 77.428 ha, chiếm

64,97% tổng diện tích toàn huyện, có vị trí địa lý như sau:

+ Phía Bắc giáp xã Tân Trạch và Phú Định huyện Bố Trạch;

+ Phía Đông giáp xã Trường Xuân huyện Quảng Ninh;

+ Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào;

+ Phía Nam giáp xã Ngân Lâm Thủy và Thủy huyện Lệ Thủy

II.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này chọn xã Trường Sơn làm địa bàn nghiên cứu Vì xã Trường Sơn

vừa là xã vùng đệm, vườn có đường biên giới giáp Lào, thêm vào đó điều kiện dân sinh

kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn, là nơi tập hợp của một số cộng đồng dân

tộc cùng chung sống Hiện nay đã có nhiều chương trình, dự án tập trung hỗ trợ cho xã

như: Như dự án Phân cấp giảm nghèo, Giao rừng cộng đồng, REDD+,… do vậy với đề

tài này nhóm tác giả cũng mong muốn bước đầu có hướng tiếp cận với cộng đồng dân cư

vùng đệm xã Trường Sơn

Đặc biệt, trong đề tài này chỉ nghiên cứu đề dạng đất theo tiêu chí đai cao và độ dốc

nhằm phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất, không đi sâu vào phân tích đất, điều

Trang 18

tra phẫu diện, vì công tác này đòi hỏi tốn nhiều công sức và thời gian, trong khi kinh phí

thực hiện đề tài có hạn

- Không gian nghiên cứu: phạm vi xã Trường Sơn

- Thời gian nghiên cứu: 1 năm

- Kinh phí thực hiện: 40.000.000 đồng

Hình 1: Phạm vi nghiên cứu đề tài a) tỉnh Quảng Bình b) xã Trường Sơn

III MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

III.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, quy hoạch sử dụng đất hợp lý và bền vững

tài nguyên đất, từ đó đề xuất một số loài cây trồng rừng trên địa bàn nghiên cứu

III.2 Nội dung nghiên cứu

III.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế khu vực nghiên cứu

III.2.2 Xác định các yếu tố và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ

III.2.3 Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ dạng đất

III.2.4 Điều tra tình hình sinh trưởng và năng suất lập địa một số loại cây trồng lâm

nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

Trang 19

III.2.5 Đề xuất các giải pháp cần thiết để bảo vệ, cải tạo đất và khắc phục các yếu

tố hạn chế

III.3 Phương pháp nghiên cứu

III.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện dân sinh kinh tế, xã hội của huyện xã Trường

Sơn, số liệu theo dõi diễn biến tài nguyên Đất của hạt Kiểm lâm Quảng Ninh, số liệu cập

nhật về diện tích rừng và đất rừng của các Ban quản lý, các Lâm trường và Công ty trên

địa bàn xã Thu thập bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 từ Sở Tài nguyên và Môi trường

* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Để xây dựng bản đồ dạng đất và đề xuất cây trồng rừng xã Trường Sơn, trong quá

trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành đi khảo sát hiện trường để tiến hành lập ô đo đếm

các chỉ tiêu sinh trưởng của cây rừng (rừng trồng) với 11 ô trải đều trên toàn xã Tiêu chí

xác định số lượng ô tiêu chuẩn căn cứ vào số lượng các dạng đất trên địa bàn nghiên cứu

Đồng thời tiến hành phỏng vấn hộ gia đình, cán bộ xã để thu thập thông tin liên quan đến

cơ cấu cây trồng và hiện trạng sủ dụng đất của xã

III.3.2 Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp

Các số liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, ở các hệ tọa độ khác nhau như

ở hệ tọa độ VN2000 kinh tuyến trục 106 múi chiếu 3 độ (Bản đồ địa hình); VN2000 kinh

tuyến trục 105 múi chiếu 3 độ (Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2012; Bản đồ hiện

trạng rừng năm 2007, 2010); VN2000 kinh tuyến trục 105 múi chiếu 6 độ (Bản đồ ranh

giới các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình); Tọa độ các điểm khảo sát trên

hệ tọa độ khác nhau (WGS84 dạng độ, mét; VN2000 kinh tuyến trục 105 múi chiếu 3 độ,

6 độ), các định dạng khác nhau… vì vậy cần phải chuẩn hóa số liệu để khi thực hiện các

nội dung công việc không bị sai lệnh Toàn bộ các bản đồ đều được chuyển về hệ tọa độ

UTM WGS84 giúp cho việc tích hợp các số liệu vào GIS được chuẩn hóa

Các bản đồ thu thập được ở các dạng khác nhau như: các lớp bản đồ chạy trên phần

mềm khác nhau nên có định dạng khác nhau như shp trên ArcGIS; tab trên Mapinfo;

.dgn trên Microstation,… hay dạng raster, vector

Tính toán, xử lý số liệu đo đếm trên ô tiêu chuẩn để tính năng suất rừng trồng trên

Trang 20

từng dạng đất

III.3.3 Phương pháp phỏng vấn

Trước hết chúng ta xác định được những người tham gia vào quá trình nghiên cứu

bao gồm: Nhóm thực hiện đề tài, chính quyền địa phương, lãnh đạo thôn và các hộ gia

đình Nhóm thực hiện đề tài được chuẩn bị kỹ năng PRA và những kỹ thuật như: Kỹ năng

phỏng vấn, kỹ năng làm việc với cộng đồng, kỹ năng thu thập số liệu và những kỹ năng

khác Chính quyền địa phương là lực lượng quản lý các hoạt động sản xuất nông nghiệp,

lâm nghiệp, đều là những lực lượng lãnh đạo của xã Trong một số trường hợp cần thu

thập thông tin đầy đủ, nhóm nghiên cứu đã mời một số người trong ban lãnh đạo thôn, xã

và những người có kinh nghiệm để thu thập thông tin Nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn

những hộ mà trưởng thôn đã liệt kê là những nhóm sở thích như: Nhóm hộ làm vườn,

nhóm hộ trồng keo, Ban quản lý rừng thôn bản, nhóm hộ trồng cây ăn quả

Để trả lời cho vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu trên, thì nhóm nghiên cứu

đã sử dụng phương pháp định lượng và phương pháp định tính trong từng trường hợp

Công cụ của phương pháp PRA thể hiện thông qua việc thành lập những nhóm để thảo

luận, phỏng vấn bán cấu trúc, những câu hỏi khảo sát chung, qúa trình sử dụng đất, và sử

dụng bản đồ Những thông tin thu thập được sẽ được dùng cho phân tích số liệu bao gồm

cả số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp đã được thu thập từ những nguồn khác nhau trong đó

chủ yếu là từ xã, thôn, và từ các hộ gia đình

Sử dụng những câu hỏi để kiểm tra, xác định các vấn đề có liên quan đến diễn biến

sử dụng đất, quỹ đất và những vấn đề liên quan đến giao đất ở cấp độ xã thông qua việc

phỏng vấn cán bộ xã, thôn để thu thập thêm tư liệu cho vấn đề nghiên cứu Ở huyện,

Phỏng vấn các ban ngành liên quan nhằm thu thập những thông tin chung cho toàn

xã những thông tin thu thập được bao gồm: diện tích tự nhiên xã Trường Sơn, tổng và

các chương trình trồng rừng và sinh kế của người dân

Ở xã, phỏng vấn cán bộ xã có liên quan để thu thập những số liệu cần thiết như:

tổng diện tích đất toàn xã, hiện trạng sử dụng đất của xã, các thông tin về điều kiện tự

nhiên, cơ cấu cây trồng, tình hình kinh tế xã hội của xã trong những năm qua vv

Trang 21

Hình 2: Phỏng vấn cán bộ xã và họp thôn ở xã Trường Sơn

2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

+ Phúc tra, kiểm chứng bản đồ và thực địa

Kiểm tra khoanh vẽ bổ sung theo hệ thống tuyến thiết kế sẵn trên bản đồ, xác định

ranh giới các dạng lập địa

+ Điều tra năng suất lập địa cây trồng rừng

Chồng ghép bản đồ dạng đất lên bản đồ rừng rồng để xác định phân bố các loại cây

trồng rừng theo các dạng đất khác nhau trong khu vực điều tra, trên cơ sở đó tính số

lượng ô tiêu chuẩn cần lập và bố trí ô tiêu chuẩn theo loài cây, cấp tuổi và nhóm dạng đất

theo phương pháp điển hình

tính toán lượng tăng trưởng về đường kính và chiều cao(ZD, ZH) của cây trồng trên các

nhóm lập địa khác nhau

Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA) đế đánh giá các mô hình sử

dụng đất lâm nghiệp và phát hiện ra các loài cây bản địa có khả năng trồng rừng trên các

dạng lập địa khác nhau

Trong quá trình điều tra, nhóm thực hiện đề tài đã khảo sát, đo đếm bổ sung các

trạng thái rừng trồng dọc theo tuyến đường HCM Tây ở một số thôn, bản như: bản Đá

Chát, bản Chân Trộng, bản Cây Cà, bản Khe Cát, bản Rào Rèng, bản Sắt, bản Cổ Tràng,

bản Đìu Đo, thôn Xuân Sơn, thôn Hồng Sơn, thôn Tân Sơn Kết hợp phỏng vấn đối với

Trang 22

người sử dụng đất, chính quyền địa phương và các cấp quản lý đất đai, đã thu thập được

một số thông tin về hiện trạng sử dụng đất của xã

Hình 3: Phương pháp điều tra thực địa

2.3.4 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn

Vị trí, hình dạng và kích thước của tất cả các ô đo đếm được thành lập trên phần

mềm GIS Ranh giới ODD phải được đo đạc và xác định rõ ràng trên thực địa để phân

biệt cây trong và ngoài ô Mỗi phân ODD có diện tích 500m2 (kích thước 20m x 25m)

Trong ô đo đếm tiến hành xác định, đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng cây rừng như: D1.3,

Hvn, Dt( ĐT – NB), Hdc, Phẩm chất cây,…

Hình 4: Ứng dụng GIS lập ô tiêu chuẩn đo đếm

Đối với đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng trồng, tiến hành lập ô tiêu chuẩn

theo từng dạng đất Phân bố hệ thống ô tiêu chuẩn theo phương pháp điển hình, vị trí lập

Trang 23

ô chủ yếu nằm ở các khu vực dễ tiếp cận, dọc các tuyến đường và gần các thôn bản trong

xã Trong ô tiêu chuẩn tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây trồng về chiều

cao, đường kính, phẩm chất từ đó làm cơ sở cho việc tính năng suất cây trồng trên các

dạng lập địa

Hình 5: Phương pháp điều tra đo đếm trong ô tiêu chuẩn

2.3.5 Phương pháp bản đồ

Đây là phương pháp dùng để xác định, quản lý địa điểm nghiên cứu mà cái đích

hướng đến cuối cùng là giúp hiểu được, biết rõ hơn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,

dân số, tình hình sản xuất của thôn, xã và những vấn đề quan trọng khác Khi tiến hành

nghiên cứu thì bắt đầu thành lập nhóm để thảo luận; nhóm để thảo luận bao gồm những

thành viên như: lãnh đạo xã, những người lớn tuổi trong làng, trưởng thôn, và một số

nông dân có kinh nghiệm và hiểu về tình hình sử dụng đất và cơ cấu cây trồng rừng của

địa phương

Kết quả mong đợi của phương pháp này là vẽ được hiện trạng sử dụng đất, và

những vùng sản xuất như: vùng trồng lúa nước, vùng sản xuất hoa màu, vùng trồng keo,

vùng rừng tự nhiên, bản đồ nguồn tài nguyên

Ứng dụng các chức năng cơ bản của GIS như tích hợp các thông tin vào bản đồ;

chồng ghép, phân tích, truy vấn, hiển thị dữ liệu để xây dưng các bản đồ: DEM, Độ dốc,

Phương pháp này cho phép xác định đặc tính không gian, đặc tính lãnh thổ của các

đối tượng bản đồ hiện trạng sử dụng đất Dựa trên các bản đồ thu thập được như:

Bản đồ địa hình 1/50.000 (VN 2000) của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 24

Bản đồ Hiện Trạng sử dụng đất tỉnh Quảng Bình do Đoàn điều tra quy hoạch, Sở

Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình thành lập

Các bản đồ kết quả của rà soát 3 loại rừng và đất lâm nghiệp tỉnh do Trung tâm thiết

kế Nông – Lâm – nghiệp xây dựng

Từ đó khai thác những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài và sử dụng nguồn bản

đồ này để so sánh, đối chứng với các bản đồ mới xây dựng Phương pháp bản đồ được sử

dụng song song với các phương pháp khác

Sơ đồ 1 Quy trình xây dựng bản đồ dạng đất và đề xuất cây trồng

IV TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

IV.1 Trên thế giới

Trang 25

Ngày nay, hệ thông tin địa lý GIS đã trở thành hệ thống quản lý thông tin không

gian có khả năng lưu trữ, thống nhất, phân tích, mô hình hoá và mô tả nhiều loại dữ liệu,

đặc biệt là khả năng phân tích và liên kết dữ liệu thuộc tính với dữ liệu không gian Vì

vậy GIS là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa công nghệ bản đồ số, những thông tin mang

tính không gian và hệ thống cơ sở dữ liệu - những thông tin vô hướng[2]

Việc ứng dụng GIS trong thăm dò và quản lý tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất

đai được tiến hành ở nhiều nước với mức độ và kết quả khác nhau Tại Hoa Kỳ, từ những

năm 1940 đã tiến hành điều tra đánh giá tài nguyên đất từ ảnh hàng không và công nghệ

GIS Cùng với sự phát triển về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tin học, các ứng dụng công

nghệ GIS ngày càng được phát triển rộng rãi ở nhiều nước Các hệ thống trạm thu và xử

lý thông tin có ở nhiều nước trên thế giới như Canađa, ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc

Công nghệ GIS được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: lâm nghiệp, nông nghiệp,

địa chất - khoáng sản, quy hoạch đô thị ở cả các nước tiên tiến trên thế giới như: Hoa

Kỳ, Canađa, Pháp, Nhật Bản, Bỉ và ở các nước trong khu vực châu Á như: Ấn Độ, Trung

Quốc, Thái Lan, Malaysia

Các ứng dụng này đã được tổng kết trong hội nghị khoa học Quốc tế bàn về vấn đề

theo dõi lớp phủ thực vật và sử dụng đất tại Nhật Bản năm 1995 với các báo cáo về vấn

đề sử dụng tư liệu viễn thám và GIS trong phát hiện nạn phá rừng và sạt lở đất đai ở

Philippin, nghiên cứu sự phục hồi rừng và chống xói mòn đất trên cơ sở sử dụng chỉ số

thực vật trên tư liệu vệ tinh kết hợp với hệ thông tin địa lý, sử dụng tư liệu viễn thám đa

thời gian để nghiên cứu sự biến động của thực vật, của đồng cỏ, xây dựng các bản đồ sản

lượng và bản đồ cây trồng nông nghiệp[5]

Vấn đề sử dụng GIS trong xây dựng bản đồ lâm nghiệp, trong đánh giá biến động

rừng và trong quản lý và theo dõi rừng, đất đai của các nước Nhật Bản, Malaysia,

Philippin, Thái Lan cũng được đề cập trong các báo cáo tại hội nghị viễn thám châu Á lần

thứ 19 tại Manila - Philippin (tháng 11 năm 1998) và lần thứ 20 tại Hồng Kông (tháng 11

năm 1999)

IV.2 Trong nước

Mặc dù ra đời sớm, nhưng đến những năm 1990 công nghệ tiên tiến này mới được

biết đến ở Việt Nam Tuy tiếp cận muộn song phạm vi ứng dụng của nó là không nhỏ

Trong những năm gần đây GIS đã phát triển mạnh mẽ và ngày càng khẳng định được tính

ưu việt của nó qua việc ứng dụng thành công trong nhiều lĩnh vực như quản lý tài nguyên

Trang 26

thiên nhiên và môi trường (quản lý tài nguyên rừng, quy hoạch sử dụng đất, đánh giá xói

mòn đất, quản lý lưu vực sông, quản lý và giám sát chất lượng môi trường…), quản lý

kinh tế xã hội (quản lý dân số, cơ sở hạ tầng, mạng lưới y tế giáo dục….), hỗ trợ trong

các chương trình quy hoạch phát triển (đánh giá thích nghi cây trồng, quy hoạch quản lý

đô thị, công nghiệp…)[3]

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính, kinh tế - xã hội, an ninh

trật tự địa phương là hết sức cần thiết, điều này đã được nhấn mạnh trong chủ trương của

Đảng và Chính phủ qua chỉ thị 58-CT/TW của bộ Chính Trị về “Đẩy mạnh ứng dụng

công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa” Trong công tác

quản lý về kinh tế xã hội, an ninh trật tự của 1 phường/xã, các thông tin thường phải được

cập nhật thường xuyên và với khối lượng lớn Mặt khác, việc tổng hợp số liệu để theo

dõi, quản lý thường mất thời gian do phải tổng hợp từ nhiều nguồn, nhiều lãnh vực như

tình hình sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, buôn bán, v.v Đặc biệt, yếu tố không gian

của số liệu rất quan trọng trong công tác quản lý của phường/xã như sự phân bố các thành

phần kinh tế của từng khu vực/ ấp trong phường/xã, số đối tượng hình sự cần trong từng

tổ dân phố, v.v Hệ thống thông tin địa lý (GIS), với khả năng mạnh về phân tích, quản

lý dữ liệu không gian, rất phù hợp trong công tác này[8]

Công nghệ GIS được ứng dụng đầu tiên trong công tác điều tra, quy hoạch sử dụng

đất đai, đất rừng từ những năm đầu của thập kỷ 70 thế kỷ Việc sử dụng công nghệ này

đã mang lại nhiều lợi ích với những ưu thế nổi trội của nó về chi phí, thời gian cũng như

độ chính xác của thông tin

Đến những năm đầu của thập kỷ 90, công nghệ GIS đã được nghiên cứu và ứng

dụng Những năm gần đây, công nghệ này ngày càng phát triển tại rất nhiều cơ quan, đơn

vị Những cơ quan, đơn vị đã và đang ứng dụng thành công công nghệ này như:

- Trung tâm Tư vấn thông tin Lâm nghiệp - Viện ĐTQH rừng - Bộ NN&PTNT

- Trung tâm Tài nguyên và môi trường Lâm nghiệp - Viện ĐTQH rừng - Bộ

NN&PTNT

- Trung tâm Viễn thám và Geomatic - Viện Địa chất - TT KHTN&CN Quốc gia

- Trung tâm Công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý - Viện Địa lý

- Trung tâm Viễn thám - Bộ Tài nguyên Môi trường

Trang 27

- Công ty đo đạc ảnh - địa hình - Bộ Tài nguyên Môi trường

Tại Viện Điều tra Quy hoạch rừng, công nghệ GIS trong xây dựng các bản đồ hiện

trạng tài nguyên rừng và đất đai đã được áp dụng trong rất nhiều công trình Từ đầu năm

1970 đến năm 1984, trong khuôn khổ của dự án FAO/UNDP-VIE 79/014, công nghệ GIS

đã được sử dụng trong công tác điều tra quy hoạch rừng và sử dụng đất; Từ năm 1985

đến năm 1990, công nghệ GIS được sử dụng để xây dựng bản đồ hiện trạng rừng và đất

lâm nghiệp vùng Tây Nguyên; Năm 1990-1991, GIS đã được sử dụng để thành lập bản

đồ hiện trạng rừng và đất đai vùng Trung tâm, phục vụ công tác quy hoạch vùng nguyên

liệu giấy cho nhà máy giấy Bãi Bằng; Từ năm 1991 đến năm 1995, trong Chương trình

theo dõi, đánh giá diễn biến tài nguyên rừng toàn quốc chu kỳ I, GIS đã được sử dụng để

xây dựng bản đồ hiện trạng rừng và đất đai cấp tỉnh ở tỷ lệ 1:100.000, cấp vùng ở tỷ lệ

1:250.000; Trong chu kỳ II của Chương trình này (giai đoạn 1996-2000), bản đồ hiện

trạng rừng và hiện trạng sử dụng đất toàn quốc được xây dựng trên cơ công nghệ GIS

Tuy nhiên, trong giai đoạn này do có nhiều hạn chế về trang thiết bị máy tính cũng như

các phần mềm chuyên dùng nên mất khá nhiều thời gian, công lao động cũng như kết quả

phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của các chuyên gia, do đó việc khai thác, sử dụng

thông tin gặp rất nhiều khó khăn[12]

Trong Chương trình theo dõi, đánh giá diễn biến tài nguyên rừng và sử dụng đất đai

toàn quốc chu kỳ III (giai đoạn 2001-2005), GIS đã được sử dụng để xây dựng bản đồ

hiện trạng rừng Đây là một bước tiến mới trong việc ứng dụng công nghệ GIS để xây

dựng các bản đồ thành quả của Chương trình Bản đồ kết quả đã được xây dựng, biên tập,

lưu trữ dưới dạng số, chính vì vậy rất thuận tiện cho việc sử dụng, khai thác, xử lý cũng

như cập nhật thông tin về tài nguyên rừng Trong giai đoạn này, ứng dụng công nghệ GIS

với phương pháp chồng xếp các lớp thông tin đã được sử dụng trong việc đánh giá biến

động rừng trong thời gian đầu và cuối Chương trình

Còn ở địa phương, tại các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bình Định, Đồng

Nai, Vĩnh Phúc, Bắc Giang cũng đã áp dụng công nghệ GIS để cập nhật bản đồ hiện

trạng rừng và sử dụng đất đai tỷ lệ 1:25.000 các xã theo chỉ thị số 32/2000/CT-BNN-KL

về việc tổ chức theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trong cả nước (năm

2000-2004)

Còn tại các trung tâm như: Trung tâm Viễn thám - Bộ Tài nguyên và môi trường;

Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia; Viện Thiết kế và Quy hoạch

Trang 28

Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn); Viện Địa lý; Địa chất, Vật lý;

một số trường đại học thì công nghệ GIS cũng đã được ứng dụng và triển khai trong rất

nhiều lĩnh vực như: (1) Sử dụng GIS để điều tra, giám sát tài nguyên đất (2) Sử dụng GIS

để điều tra, giám sát tài nguyên nước (3) Sử dụng GIS để điều tra, giám sát môi

trường[11]

Tóm lại, trong những năm qua nhiều cơ quan của nước ta đã tiếp cận với công nghệ

GIS trong lĩnh vực điều tra, giám sát môi trường Tuy nhiên, những kết quả thu được mới

đề cập đến một số khía cạnh và được thực hiện trong khuôn khổ của các đề tài, các dự án

với các mục tiêu khác nhau

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, báo cáo có nội dung chính như sau:

Chương 1 Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế khu vực nghiên cứu

Chương 2 Xác định các yếu tố và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ dạng đất

Chương 3 Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ dạng đất

Chương 4 Điều tra tình hình sinh trưởng và năng suất lập địa một số loại cây trồng

lâm nghiệp trên địa bàn xã Trường Sơn

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Trường Sơn là xã nằm ở phía Tây của huyện miền núi huyện Quảng Ninh tỉnh

Quảng Bình, có tổng diện tích tự nhiên lớn nhất trong toàn huyện: 77.428 ha, chiếm

64,97% tổng diện tích toàn huyện, có vị trí địa lý như sau:

Trang 29

1.1.2 Ranh giới hành chính

+ Phía Bắc giáp xã Tân Trạch và Phú Định huyện Bố Trạch;

+ Phía Đông giáp xã Trường Xuân huyện Quảng Ninh;

+ Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào;

+ Phía Nam giáp xã Ngân Lâm Thủy và Thủy huyện Lệ Thủy

Hình 6 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu

1.1.3 Địa hình địa thế

Xã Trường Sơn nằm ở phía Tây Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng, thuộc dãy

Trường Sơn có địa hình tương đối phức tạp Căn cứ vào địa hình địa mạo của xã có thể

chia ra thành các dạng sau:

+ Dạng địa hình núi đất: Địa hình vùng núi đất nằm ở phía Bắc và phía Đông Nam

của xã

+ Dạng địa hình núi đá xen lẫn núi đất nằm ở giữa núi đất của phía Bắc và phía

Đông Nam của xã

+ Dạng địa đồng bằng: Chủ yếu nằm ở khu vực trung tâm của xã, và nằm sen kẽ

giữa núi đá, núi đất chủ yếu để sản xuất nông nghiệp

Trang 30

1.1.4 Khí hậu

Trường Sơn nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc trưng của vùng

Bắc Trung Bộ có mùa đông lạnh, mưa nhiều, mùa hè nóng ít mưa

Nhìn chung khí hậu không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi,

cây trồng, mưa ngập úng, lũ lụt; nắng thiếu nước sinh hoạt và nước tưới tiêu

Lượng mưa: Tổng lượng mưa khá lớn, bình quân 2100-2300mm/năm và tập trung

chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 9-12 chiếm tới 70-75% lượng mưa cả năm, mưa tập trung

theo mùa và phân phối không đều giữa các tháng trong năm đã ảnh hưởng không nhỏ đến

sản xuất và đời sống của nhân dân

Độ ẩm không khí: Tương đối cao tập trung từ 83-85% và nhìn chung không ổn

định Ngay trong những tháng khô hạn nhất của mùa hè (mùa có gió Tây Nam) độ ẩm

trung bình tháng vẫn thường xuyên trên 70%, riêng những ngày có gió Tây Nam ( Gió

Lào) độ ẩm tương đối thấp

Gió: Chế độ gió ở xã có phân phối rõ rệt theo mùa Gió mùa Đông Bắc xuất

hiện từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, gió Tây Nam khô nóng xuất hiện từ tháng 3-9,

cao điểm là tháng 7

1.1.5 Thuỷ văn

Xã Trường Sơn có một hồ đập giữ nước, nguồn nước lấy chủ yếu từ những con

sông chảy qua trên địa bàn xã, hệ sông chính là sông Long Đại Các suối nhỏ bao gồm

suối Rào Tràng và một số con sông khác như Lồ Ô, Khe Cát chảy về sông Long Đại và

nhiều khe nhỏ đổ về Long Đại, dòng chảy lớn nhất là trong mùa mưa lũ, nước chảy dồn

từ các sườn núi xuống các thung lũng hẹp, thường gây ngập lụt, ngược lại trong mùa

khô, nước sông xuống thấp, dòng chảy trong tháng kiệt rất nhỏ Sự phân bố dòng chảy

đối với các sông suối theo mùa rõ rệt

1.1.6 Các nguồn tài nguyên

* Tài nguyên đất

Trang 31

Theo báo cáo thuyết minh bản đồ đất của huyện Quang Ninh xã Trường Sơn chủ

yếu là nhóm đất xám, bao gồm Đất xám Feralit, đất xám kết von Các loại đất này phù

hợp với trồng rừng và cây ăn quả

* Tài nguyên nước

Trường Sơn có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối, đập, hồ chứa

nước trên địa bàn Tuy nhiên việc sử dụng nguồn nước này phục vụ cho sản xuất nông

nghiệp và sinh hoạt còn nhiều hạn chế do sự phân hóa khí hậu theo mùa

Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của xã Trường Sơn không ổn định do ảnh

hưởng của địa hình, nước ngầm thường sâu và dễ cạn kiệt vào màu khô, ảnh hưởng

không nhỏ đến đờii sống sinh hoạt của người dân trong vùng

* Tài nguyên rừng

Với diện tích rừng lớn chiếm trên 80,57% diện tích đất tự nhiên của toàn xã, nên

có một ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống của người dân đia phương Toàn xã có

75.359 ha đất lâm nghiệp bao gồm: Đất có rừng tự nhiên sản xuất là 41.610 ha (đất trồng

rừng đó có 1.942 ha rừng có trạng thái từ IIa), rừng trồng là 697 ha, đất trồng rừng 9.132

ha và 33.749 ha rừng phòng hộ đã được giao cho BQL rừng phòng hộ Ba Rền

* Tài nguyên nhân văn

Xã Trường Sơn cả 2 dân tộc chủ yếu sinh sống; dân tộc kinh và dân tộc Vân Kiều

Xã có truyền thống cách mạng, với bản chất cần cù lao động, tinh thần đoàn kết tương

thân tương ái tạo nên một sức mạnh trong sản xuất

Trong thời kỳ đấu tranh xây dựng bảo vệ Tổ quốc, nhân dân xã Trường Sơn đã

dũng cảm chiến đấu với nhiều chiến công, đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ, nhân

dân xã Trường Sơn đã đoàn kết anh dũng chiến đấu để bảo vệ tuyến đường Hồ Chí Minh

(Tuyến đường Lịch sử của đất nước từ bắc vào nam), góp phần vào chiến thắng vĩ đại

của đất nước, giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước

1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

1.2.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

Trường Sơn là một xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu theo báo cáo năm 2012 của

UBND xã thì kết quả đạt được của các ngành sản xuất chính như sau:

Trang 32

- Trồng trọt: Diện tích gieo trồng cây nông nghiệp 635,3 ha, bình quân lương thực

đầu người 149,1 kg Cây lương thực 200,5 ha, cây ngô 151 ha, trong đó vụ đông xuân

125 ha, vụ hè thu 26 ha

- Chăn nuôi : Ngành chăn nuôi có bước phát triển khá về tổng đàn, cơ cấu đàn, Đàn

trâu tăng 1% 720 con, Đàn bò tăng 1,2% 1.736 con, 1.620 con lợn Đàn gia cầm hiện có

8.640 con Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được quan tâm thường

xuyên nên trong những năm qua không có dịch bệnh xảy ra Công tác kiểm soát vệ sinh

an toàn thực phẩm được duy trì thường xuyên bảo đảm an toàn sức khoẻ người tiêu dùng

- Lâm nghiệp: Công tác quản lý bảo vệ rừng được nhân dân chú trọng, ý thức trách

nhiệm của các chủ rừng được nâng cao Xã đã triển khai phương án PCCC rừng, thành

lập ban chỉ đạo PCCCR ở xã, ở các thôn đều thành lập các tiểu ban và bố trí lực lượng

sãn sàng chữa cháy khi có sự cố cháy rừng xảy ra

Công tác giao đất, giao rừng đã được giao cho các hộ dân sử dụng để sản xuất và

trồng rừng kinh tế Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ là 1.040,80 ha trên

448 hộ

Diện tích nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ 2.800 ha/8 bản tăng thu nhập 280 triệu

đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng, hạt chế việc phát rừng tự do

- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản

Trong từng thôn hiện đang hình thành các điểm kinh tế khu dịch vụ quy mô hộ gia

đình, ở các ngành nghề khác, vật liệu xây dựng vẫn đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch, việc làm,

tăng thu nhập cho người lao động nhìn chung các ngành nghề đã và đang phát triển

song chưa tương xứng với tiềm năng của xã

- Thuơng mại, dịch vụ

Công tác phát triển công thương nghiệp dịch vụ bước đầu còn chậm phát triển

Công tác dịch vụ được duy trì thường xuyên, đảm bảo hàng tiêu dùng, giống vốn, vật tư,

phân bón, khuyến nông, bảo vệ sản xuất, nguồn nước,… đáp ứng yêu cầu phục vụ sinh

hoạt, nâng cao sản xuất khả năng của nhân dân Các loại hình dịch vụ chưa phát triển, các

mặt hàng dịch vụ không phong phú, mới chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu thiết yếu

của sản xuất và đời sống nhân dân

Trang 33

Nhìn chung, nền kinh tế của xã Trường Sơn đang từng bước phát triển, tuy nhiên

cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn còn cao, cần phát huy hơn nữa thế mạnh của ngành tiểu

thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ Bên cạnh đó còn có một số mặt chưa đạt được

như việc triển khai thực hiện một số dự án về phát triển kinh tế – xã hội còn chậm Việc

chuyển giao khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng còn hạn chế chưa có nhiều mô hình thí

điểm Thực hiện trồng cây vụ đông còn hạn chế

1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

- Dân số: Dân số chủ yếu là người Kinh và người Vân Kiều Tính đến tháng 1 năm

2013 trong xã có 3824 khẩu, số người trong độ tuổi lao động là 2587 người Tổng số hộ

trong toàn xã 881 hộ

- Lao động:

Công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm đã được quan tâm Từ những kết quả

tổ chức thực hiện các đề án, dự án, tổ chức các lớp chuyển giao KHKT, thông tin giới

thiệu tìm việc làm cơ cấu lao động từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực

- Thu nhập mức sống:

So với các năm trước thu nhập đã được cải thiện đáng kể, song thu nhập bình quân

của nhân dân vẫn còn ở mức thấp, tỷ tệ khẩu nghèo còn cao 1222 khẩu, chiếm 31,9%

Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao

1.2.3 Thực trạng phát triển khu dân cư

Toàn xã có 21 khu dân cư với tổng diện tích đất ở là 28,07 ha Khu có dân số đông

nhất là thôn Tân Sơn với 162 khẩu và thôn có dân số thấp nhất là thôn Mụt với 6 khẩu, tỷ

lệ hộ nghèo chiếm 34% Sự phân bố dân cư của xã mang đặc thù của xã miền núi, cụm

dân cư ở cách xa nhau nên việc đi lại không thuận tiện Chính vì vậy mà việc xây dựng

các công trình công cộng, cơ sở hạ tầng gặp nhiều khó khăn

1.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

- Giao thông:

Xã Trường Sơn có đường Hồ Chí Minh nhánh tây đi qua, có tuyến đường chạy từ

trung tâm huyện đến đường Hồ Chí Minh nhánh tây Hệ thống đường liên thôn đã được

Trang 34

quan tâm tu sửa, song một số bản giao thông đi lại còn khó khăn như : Bản Sắt, Pờ

Loang, Zìn Zìn, Hối Rấy, Nước Đắng

Trong thời tới cần quy hoạch cần mở rộng cũng như nâng cấp chất lượng mặt

đường, mặt khác cũng cần mở mới một số tuyến đường nông thôn, đường nội đồng tạo

điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại

- Xây dựng cơ bản

Hiện tại xã đã xây dựng trụ sở UBND xã kiên cố Trạm Ytế cũng đã xây dựng đàng

hoàng, trường THCS được đầu tư xây dựng rất tốt, b một số bản có đường đi lại khó khăn

cơ sở hạ tầng xây dựng còn rất hạn chế

- Thuỷ lợi và phòng chóng lụt bão – ngập úng

Diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhỏ lại phân tán nên gấy khó khăn trong việc

xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho sản xuất Hiện nay trên địa bàn

của xã có một hồ chứa nước thuộc Bản Trung Sơn, và một vài đập nhỏ ở Khe Cát, Chân

Trộng, và hệ thống sông suối cung cấp nước cho đồng ruộng

1.2.5 Công tác giáo dục

Công tác giáo dục luôn được Đảng, chính quyền, nhân dân quan tâm, phong trào

thi đua dạy tốt, học tốt luôn được duy trì và phát huy ở cả 3 cấp học Kết quả dạy và học

trong năm học 2012 – 2013 đạt được như sau: Tổng số học sinh ở 3 cấp 961 em, trong

đó: Học sinh tiểu học 466 em, học sinh trung học sơ sở 300 em, học sinh mầm non 195

em Công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 81,7%, phổ cập giáo dục THCS

đạt 71,7%

Đảng uỷ, chính quyền và nhân dân trong xã đang tập trung lãnh đạo chỉ đạo và

thực hiện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp

giữa thầy và trò, bè bạn, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương giao cho nhà

trường

1.2.6 Công tác y tế

Xã Trường Sơn có một trạm y tế tại trung tâm xã, cơ sở hạ tầng tương đối kiên cố,

đội ngũ cán bộ nhân, cộng tác viên đến từng thôn bản Trạm y tế xã trực 24/24h, đội ngũ

cán bộ có đủ nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho

nhân dân trong xã

Trang 35

1.2.7 Văn hoá, thông tin, truyền thanh và TDTT

Phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng được duy trì và phát triển, các tệ nạn xã

hội được đẩy lùi Công tác vận động nhân dân thực hiện lành mạnh hoá việc cưới, việc

tang đạt kết quả thiết thực Các hoạt động thể dục thể thao diễn ra đều khắp ở các thôn,

bản Xã đã tổ chức nhiều hoạt động VHVN-TDTT nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn

như 3/3, 30/4, 2/9, 22/12 … ngày 19 tháng 4 đội văn nghệ Bru Vân Kiều của xã đã tham

gia ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Hà Nội Thăm hỏi, động viên những gia

đình thuộc đối tượng chính sách, học sinh tiêu biểu hoặc có hoàn cảnh khó khăn Xã đã tổ

chức tặng quà thăm hỏi những gia đình chính sách xã hội nhân dịp tết và ngày 27/7 hàng

năm Chính sách xã hội ở cơ sở được đảm bảo tốt

Cơ sở vật chất đài truyền thanh đảm bảo tiếp sóng, thực hiện tốt công tác thông tin,

tuyên truyền chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước góp phần thúc đẩy thực hiện

thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương Hệ thống điện thắp sáng và điện kinh

doanh đã được kéo đến từng thôn và trong toàn xã

1.2.8 Đánh giá thuận lợi, khó khăn

* Thuận lợi

Hiện trạng đất đưa vào quy hoạch tham gia dự án tương đối thuận lợi, diện tích tập

trung không xen lẫn các đất sản xuất của người dân, không tranh chấp, không phức tạp

Điều kiện khí hậu của xã thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp

Lực lượng lao động địa phương dồi dào, người dân cần cù chịu khó, thuận lợi cho

công tác trồng rừng và bảo vệ rừng

Sự nhiệt tình của dân bản tham gia dự án tốt, rất đồng tình ủng hộ dự án, được thể

hiện thông qua các cuộc họp thôn bản

Được chính quyền địa phương hưởng ứng, nhiệt tình tham gia công tác triển khai

thực hiện dự án, được người dân đồng tình ủng hộ, tự nguyện tham gia

Công tác quản lý đất lâm nghiệp trên địa bàn: UBND xã luôn quan tâm, phối hợp

với các ban ngành trong công tác chỉ đạo, tuyên truyền, vận động người dân hiểu được lợi

ích của việc bảo vệ và phát triển rừng, sử dụng đất lâm nghiệp một cách có hiệu quả

Trang 36

Đảng ủy, UBND, cấp chính quyền, đoàn thể xã rất quan tâm chú trọng đến phát

triển kinh tế xã hội trên địa bàn của xã, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các dự án đặc biệt

dự án Phong Nha – Kẻ Bàng đang triển khai thực hiện tại xã

* Khó khăn

Vấn đề quản lý đất đồi núi còn nhiều bất cập, chưa thật sự tạo mối quan hệ gắn bó

giữa quản lý nhà nước và quản lý sản xuất

Nhiều diện tích nằm ở khu vực khá xa có độ dốc cao rất khó khăn trong công tác

trồng rừng

Có thôn số hộ tham gia rất đông, nhưng diện tích lại quá ít, có thôn diện tích nhiều

nhưng đăng ký tham gia lại quá ít

Một số thôn còn có điều kiện giao thông khó khăn, nên việc triển khai dự án gặp

nhiều khó khăn (Sắt, Pờ Loang, Zìn Zìn, Hối Dờy, Nước Đắng)

Cơ chế chính sách lâu nay chưa thật sự tạo động lực khuyến khích nông dân trồng

rừng có hiệu quả, bền vững chủ yếu trồng tự phát các loài cây trồng ưa sáng, mọc nhanh,

chưa chú trọng đến cây bản địa lấy gỗ

Việc tham gia dự án trồng và quản lý rừng bền vững vẫn còn rất mới đối với người

dân địa phương, nhất là kỹ thuật xử lý thực bì và trồng cây bản địa lâu năm

* Nhận xét chung

Trong những năm qua xã Trường Sơn đã có nhiều cố gắng lỗ lực vươn lên trong

quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Kết cấu cơ sở Điện - Đường - Trường - Trạm đã được cải thiện rõ rệt đáp ứng nhu cầu

sinh hoạt của nhân dân Các vấn đề thông tin liên lạc, học tập và khám chữa bệnh luôn

được quan tâm hàng đầu và đã đạt được những kết quả đáng chú ý Đời sống vật chất và

tinh thần rất được quan tâm và cũng được nâng cao về chất lượng

1.2.9 Định hướng phát triển kinh tế trong tương lai

Xã Trường Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nông lâm nghiệp, Đảng

Bộ, UBND xã các ban ngành đoàn thể rất quan tâp chú trọng và tạo điều kiện cho Công

tác qui hoạch, phát triển nông thôn, khôi phục và phát triển rừng theo hướng kinh tế, môi

trường bền vững, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất nông, lâm nghiệp, chuyển

dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi sang sản xuất hàng hoá, nâng cao thu nhập của người dân

Trang 37

địa phương Phát triển trồng các cây bản địa có giá trị kinh tế cao, kết hợp với việc phòng

hộ tạo thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái

Trên cơ sở Chương trình hành động thực hiện theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ

tỉnh, huyện lần thứ XVII và Nghị quyết Đại hội đảng bộ xã Trường Sơn lần thứ XXI

nhiệm kỳ 2005-2010 đã đề ra phương hướng nhiệm vụ và giải pháp thực hiện từng lĩnh

vực, từng ngành cụ thể, nhằm tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

bên trong, đồng thời tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, để đầu tư xây dựng có trọng điểm

kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển toàn diện nông nghiệp Thực hiện các chương

trình giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đẩy nhanh quá trình phát triển nông thôn

Tăng cường chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng chống các tệ nạn xã hội, nâng cao đời

sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã

hội Đẩy mạnh cải cách hành chính Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới

* Mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể đến 2015

Cải thiện đời sống vật chất văn hóa và tinh thần cho nhân dân, phát triển kinh tế xã

hội gắn với giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, quan tâm

củng cố quốc phòng Tập trung công tác xây dựng Đảng, không ngừng nâng cao năng lực

và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực và hiệu quả quản lý điều hành chính quyền xã

thôn, đổi mới hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nêu trên Đảng bộ và nhân dân trong xã cần nổ

lực phấn đấu thực hiện tốt các biện pháp sau đây:

* Phát triển nông, lâm nghiệp

Tập trung chỉ đạo phát triển nông nghiệp toàn diện, vững chắc theo hướng công

nghiệp hóa, hiện đại hóa Tăng nhanh giá trị và hiệu quả sản xuất trên từng đơn vị diện

tích; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi

Chuyển những diện tích sản xuất lúa tăng năng suất thấp sang trồng các loại cây

trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn, đặc biệt là cây bắp lai, đậu đỗ các loại

Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, ứng dụng có hiệu quả

tiến bộ KHKT vào sản xuất; tổ chức mô hình chuyển đổi mô hình cây trồng, để tăng giá

trị thu nhập trên từng đơn vị diện tích, xây dựng một số trang trại nông lâm kết hợp có

thu nhập cao để khuyến khích nhân dân đầu tư và phát triển

Trang 38

Tiếp tục khuyến khích nhân dân trồng, chăm sóc, bảo vệ và phòng chống cháy

rừng, thúc đẩy nhanh tiến độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và phát huy có hiệu quả

kinh tế vườn, rừng Tăng cường công tác bảo vệ rừng nhất là rừng đầu nguồn, xử lý

nghiêm, đúng pháp luật những người vi phạm

* Quan điểm khai thác và sử dụng đất cho giai đoạn 10 năm tới

Căn cứ vào điều kiện đất đai, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc

phòng, các quan điểm khai thác và sử dụng đất như sau:

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, thực hiện nghiêm chỉnh luật đất

đai, tuyên truyền sâu rộng pháp luật đất đai trong cán bộ và nhân dân

Sử dụng đất đai trên quan điểm bền vững, quản lý và sử dụng đất đai theo quy

hoạch và kế hoạch Sử dụng đất phải tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả đáp ứng theo nhu cầu

phát triển kinh tế xã hội

Để thúc đẩy kinh tế xã hội của xã đến năm 2015 và xa hơn, góp phần đẩy mạnh quá

trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá phải bố trí quy đất đai hợp lý nhằm phát triển các

ngành nghề mũi nhọn đặc biệt là tiểu thủ công nghiệp xây dựng và dịch vụ thương mại

Bên cạnh đó cũng phải dành quỹ đất hợp lý để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đất để

phát triển các khu dân cư tập trung

Trong những năm tới nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn còn là ngành sản xuất mang

lại thu nhập ổn định cho đa số bà con nông dân Tuy nhiên do áp lực của quá trình phát

triển kinh tế, một phần diện tích đất nông nghiệp phải chuyển sang các loại đất khác Để

góp phần đảm bảo an ninh lương thực và ổn định đời sống nhân dân, cần phải duy trì diện

tích đất nông nghiệp ở một tỷ lệ hợp lý Tăng cường các biện pháp thâm canh tăng vụ,

tăng hệ số sử dụng đất và hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích Phát triển nông

nghiệp toàn diện, tạo bước chuyển đổi mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, đa dạng hoá

các loại cây trồng vật nuôi Chủ động đưa các loài cây và con giống có giá trị kinh tế cao,

áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Mạnh dạn xây dựng các mô hình kinh tế

gia trại, trang trại, nâng cao năng suất sản lượng cây trồng mặt khác đảm bảo được vệ

sinh môi trường sinh thái

Đối với Dự án khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững - Dự án : Tập trung chỉ đạo

các ngành, các thôn tham gia, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân

tham gia thực hiện hiệu quả Dự án nhằm nâng cao độ che phủ của rừng, bảo vệ môi

Ngày đăng: 14/04/2018, 21:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm