Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1946 - 1954, cùng thời với một số nhà thơ khác như: Nguyễn Đình Thi, Hữu Loan, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu,
Trang 1Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 2Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Đinh Thị Quyên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngôn ngữ và Văn hóa
Việt Nam: Đặc điểm nghệ thuật thơ Quang Dũng là công trình nghiên cứu
của cá nhân tôi
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Đinh Thị Quyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn 4
7 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 THƠ QUANG DŨNG TRONG THƠ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP 5
1.1 Khái lược về thơ kháng chiến chống Pháp 5
1.1.1 Thế hệ các nhà thơ chống Pháp 5
1.1.2 Đặc điểm thơ ca chống Pháp 5
1.2 Hành trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của Quang Dũng 11
1.2.1 Cuộc đời Quang Dũng 11
1.2.2 Hành trình sáng tác 13
1.2.3 Quan điểm nghệ thuật của Quang Dũng 14
1.2.3.1.Quan niệm về sứ mệnh của thơ ca 14
1.2.3.2.Quan niệm về nhà thơ 17
Chương 2 NGHỆ THUẬT CẤU TỨ VÀ XÂY DỰNG HÌNH ẢNH, HÌNH TƯỢNG THƠ QUANG DŨNG 19
2.1 Nghệ thuật cấu tứ 19
2.1.1 Khái niệm tứ thơ và nghệ thuật cấu tứ 19
2.1.1.1 Tứ thơ 19
2.1.1.2 Nghệ thuật cấu tứ 20
Trang 52.1.2 Nghệ thuật cấu tứ trong thơ Quang Dũng 21
2.1.2.1 Các loại tứ thơ trong thơ Quang Dũng 21
2.1.2.2.Tổ chức sự vận động của tứ thơ 29
2.1.2.3 Cấu tứ dựa trên tổ chức các yếu tố thơ 32
2.2 Nghệ thuật xây dựng hình ảnh, hình tượng thơ 41
2.2.1 Khái lược về hình ảnh, hình tượng thơ 41
2.2.2 Các loại hình ảnh, hình tượng thơ Quang Dũng 42
2.2.2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 42
2.2.2.2 Hình tượng quê hương, đất nước 43
2.2.2.3 Hình tượng người chiến sĩ 49
2.2.3 Các thủ pháp nghệ thuật xây dựng hình ảnh, hình tượng thơ Quang Dũng 72
2.2.3.1 Phiêu lãng hóa hiện thực 72
2.2.3.2 Tăng cường tính nhạc cho thơ 75
2.2.3.3 Sử dụng màu sắc đa dạng 78
Chương 3 NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU, THỜI GIAN, KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT THƠ QUANG DŨNG 82
3.1 Ngôn ngữ, giọng điệu thơ Quang Dũng 82
3.1.1 Ngôn ngữ thơ Quang Dũng 82
3.1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ 82
3.1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Quang Dũng 83
3.1.2 Giọng điệu thơ 87
3.1.2.1 Khái niệm giọng điệu thơ 87
3.1.2.2 Đặc điểm giọng điệu thơ Quang Dũng 88
3.2 Thời gian, không gian nghệ thuật thơ Quang Dũng 99
3.2.1 Thời gian nghệ thuật 99
3.2.1.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 99
Trang 63.2.1.2 Đặc điểm thời gian nghệ thuật trong thơ Quang Dũng 100
3.2.2 Không gian nghệ thuật thơ Quang Dũng 102
3.2.2.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 102
3.2.2.2 Đặc điểm không gian nghệ thuật trong thơ Quang Dũng 103
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Thơ là cái nhụy của cuộc sống nên nhà thơ phải đi hút cho được cái
nhụy ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy” (Phạm Văn Đồng) Trên thi đàn thơ ca từ xưa đến nay đã có biết bao dấu chân thi
nhân tài ba Họ giống như những vì sao lấp lánh tỏa ánh sáng khắp bầu trời
Có nhiều thi sĩ để lại ánh sáng trong lòng bạn đọc với những dấu ấn riêng, độc đáo Thơ ca là thế giới của cảm xúc, là “vương quốc của chủ quan” Trong sáng tác thơ ca, cuộc đời nhà thơ và thơ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Nó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sự trải nghiệm sự rung động mạnh mẽ để đạt tới sự chân thành của cảm xúc Người đọc thông qua đó, cũng hiểu được những rung động diễn ra trong tâm hồn nhà thơ Người nghệ sĩ trong sáng tác
dù có phong phú về đề tài, chất liệu, phạm vi phản ánh hiện thực, thì luôn có những hình ảnh quen thuộc lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm Có thể những hình ảnh đó không hoàn toàn giống nhau, chỉ gặp nhau ở một dáng vẻ, có thể
là một cái nhìn nhiều phía để khám phá phần sâu kín bên trong Nhưng chính điều đó lại làm nên đặc điểm riêng biệt trong thơ ca của người nghệ sĩ ấy
Nhắc tới Quang Dũng là người ta nhắc tới một con người của vùng quê
“Xứ Đoài mây trắng” với tấm lòng yêu quê hương da diết, một con người hồn
hậu, một ngòi bút tài hoa, một hồn thơ phiêu lãng
Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), cùng thời với một số nhà thơ khác như: Nguyễn Đình Thi, Hữu Loan, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Thôi Hữu, Hồng Nguyên,… Họ là những nhà thơ mặc áo lính, được tôi luyện và trưởng thành
từ hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh Quang Dũng đã định hình cho mình một đạc điểm nghệ thuật thơ rất riêng, lôi cuốn sự chú ý của độc giả
Trang 8Cuộc đời Quang Dũng trải qua nhiều biến cố thăng trầm của thời đại Thơ của ông cũng vậy, nó cũng chịu nhiều sóng gió của dư luận xã hội một
thời Có một thời, bài thơ Tây Tiến bị xem là bài thơ mộng rớt, buồn rớt làm
nhụt ý chí cách mạng của các chiến sĩ nơi chiến trường
Trải qua một thời gian dài, vị trí và vai trò của Quang Dũng lại được khẳng định trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam Thơ Quang Dũng để lại
không nhiều Ông để lại khoảng 50 bài thơ, hai tập thơ tiêu biểu là Mây đầu ô
(1986), Tuyển tập Quang Dũng (2000) đều do người bạn thân là nhà thơ Trần
Lê Văn biên soạn, tuyển chọn Mặc dù số lượng tác phẩm ít nhưng giá trị nội dung lại vô cùng lớn lao Bởi lẽ đó, tên tuổi của Quang Dũng sẽ mãi sáng chói trong “viện bảo tàng” của văn chương dân tộc Nói như nhà văn người Nga
Mac Xim Gor Ki: “Nhà văn chỉ thực sự lớn lao khi thuộc về một quê hương,
một dân tộc cụ thể”
Hiện nay, trong sách giáo khoa Ngữ văn ở trường phổ thông (Ngữ văn
12) bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đã được đưa vào giảng dạy Điều đó,
khẳng định được vị trí vững chắc của Quang Dũng trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thơ ca kháng chiến chống Pháp Nhưng phần tiểu dẫn sách giáo khoa chưa giúp học sinh và những người yêu thơ Quang Dũng hiểu rõ về đặc điểm nghệ thuật thơ ông
Nhà thơ Xuân Diệu quan niệm: “Người đọc thơ muốn rằng thơ phải
xuất phát từ thực tại, từ đời sống Nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ
Và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ phải in dấu vào đó thật sâu sắc Càng
cá thể, càng độc đáo càng hay” Quả vậy, ngay từ khi trình làng thơ cách
mạng với bài thơ Tây Tiến Quang Dũng đã được nhiều người biết tới và ông
đã khẳng định được tài năng của mình Ông đã hình thành cho mình một giọng thơ có đặc trưng rất riêng, không trùng lặp với các nhà thơ cùng thời với mình Thơ Quang Dũng mang hào khí của cả một thời kì cách mạng, của một thời xả thân vì non sông đất nước
Trang 9Sinh thời Quang Dũng sáng tác thơ nhưng ông không hay có thói quen lưu lại bản thảo nên nhiều bài thơ hay đã bị thất lạc
Các công trình nghiên cứu về Quang Dũng có: Vài ý nghĩ về Hoa chanh của nhà thơ Quang Dũng của tác giả Vân Long; tác giả Ngô Văn Giá
có bài viết Áng mây trắng xứ Đoài Quang Dũng; tác giả Lê Bảo có bài viết
Cuộc đời và sự nghiệp Quang Dũng; giáo sư Trần Đăng Suyền viết về bài thơ
Tây Tiến trong cuốn sách Giảng văn Văn học Việt Nam; nhà thơ Trần Lê
Văn có bài Nghĩ về thơ bạn Ngoài ra, còn có rất nhiều bài tiểu luận, phê bình
của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu in trên tạp chí văn nghệ
Các tác giả đã trình bày khái quát về phong cách thơ Quang Dũng, về con người Quang Dũng - một con người hồn hậu, mộc mạc, lạc quan, thích ngao du, có máu giang hồ nghệ sỹ nhưng chưa có công tình nào nghiên cứu tập trung về đặc điểm nghệ thuật thơ Quang Dũng
Với công trình nghiên cứu này, người viết mong muốn góp thêm một
tiếng nói, một cách cảm nhận riêng của bản thân về Đặc điểm nghệ thuật thơ Quang Dũng
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục đích là phát hiện và khẳng định giá trị nghệ
thuật thơ Quang Dũng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Xác định vị trí của thơ Quang Dũng trong thơ kháng chiến chống Pháp Tìm hiểu nghệ thuật cấu tứ và xây dựng hình ảnh, hình tượng thơ
Khảo sát ngôn ngữ, giọng điệu, thời gian, không gian nghệ thuật thơ Quang Dũng
Trang 104 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Đặc điểm nghệ thuật thơ Quang Dũng
Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thơ Quang Dũng trong toàn bộ sáng tác
của ông; tập thơ Mây đầu ô (NXB Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà
Nội 1986); Tuyển tập Quang Dũng (NXB Văn học, 2000) do nhà thơ Trần
Lê Văn tuyển chọn, sưu tầm và những tác phẩm in rải rác trên một số tạp chí hoặc do bạn bè của ông lưu giữ chưa đưa vào tuyển tập
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
có các phương pháp chính: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp loại hình; phương pháp cấu trúc; phương pháp hệ thống; phương pháp lịch sử - xã hội
6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu, khảo sát một cách có hệ thống về đặc điểm nghệ thuật thơ Quang Dũng
Kết quả của luận văn này, hi vọng có thể sẽ là tài liệu tham khảo có ích cho việc dạy học thơ Quang Dũng trong nhà trường và nghiên cứu thơ Quang Dũng nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn được
triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Thơ Quang Dũng trong thơ kháng chiến chống Pháp
Chương 2 Nghệ thuật cấu tứ và xây dựng hình ảnh, hình tượng thơ Quang Dũng
Chương 3 Ngôn ngữ, giọng điệu, thời gian, không gian nghệ thuật thơ Quang Dũng
Trang 11Chương 1 THƠ QUANG DŨNG TRONG THƠ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
1.1 Khái lược về thơ kháng chiến chống Pháp
1.1.1 Thế hệ các nhà thơ chống Pháp
Thế hệ các nhà thơ chống Pháp rất đa dạng Ngoài những nhà thơ được trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp còn có một số lượng lớn các nhà thơ đã có tên tuổi, đã có những thành tựu nhất định về thơ ca giai đoạn trước cách mạng như : Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Huy Cận, Tố Hữu,… Đa số đều thuộc phong trào Thơ mới (1932- 1945) Trong hoàn cảnh mới, họ đã nhập cuộc cùng đất nước, nhân dân và có nhiều đóng góp lớn cho thơ ca cách mạng Họ đã vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ, cách biệt để
“nhận đường”, hòa nhập với cái ta chung của toàn thể dân tộc
Thế hệ nhà thơ thứ hai là những nhà thơ trẻ trưởng thành trong phong trào cách mạng như: Nguyễn Đình Thi, Hồng Nguyên, Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Vũ Cao, Thôi Hữu, Quang Dũng, Nông Quốc Chấn, Tuy là lớp nhà thơ trẻ, nhưng họ đã dần khẳng định được tài năng của mình bằng bản sắc riêng, giàu vốn sống thực tế, tạo nên âm hưởng mới khỏe khoắn cho thơ
ca Có những nhà thơ từng tham gia quân đội nên hình thành kiểu nhà thơ - chiến sĩ, vừa sáng tác vừa tham gia cách mạng như Quang Dũng, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi,…
Vị trí, vai trò của thế hệ các nhà thơ chống Pháp rất lớn, góp phần thay đổi diện mạo thơ ca, tạo tiền đề cho thơ ca chống Mỹ
1.1.2 Đặc điểm thơ ca chống Pháp
Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã đem lại một luồng gió mới cho
xã hội Có rất nhiều nhà thơ đã trưởng thành trong cuộc kháng chiến ấy, đồng thời thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Pháp cũng đạt được nhiều thành tựu
Trang 12xuất sắc Những thành tựu đó đã tạo nên một dấu ấn riêng biệt của thời đại chống Pháp được biểu hiện ở hai phương diện: nội dung và nghệ thuật
Nội dung chính của thơ ca chống Pháp là thể hiện những tình cảm lớn lao của dân tộc, bám sát hiện thực đời sống kháng chiến, động viên, cổ vũ cả nước
hướng về cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc Tiêu biểu là Bên kia sông Đuống của nhà thơ Hoàng Cầm, đó là nỗi đau xé lòng khi quê hương thân yêu bị
giặc tàn phá Những câu thơ vang lên như một tiếng lòng thổn thức:
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô
Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu
Đoạn thơ xuất hiện nhiều từ ngữ gây ấn tượng mạnh: “ ngùn ngụt”,
“lưỡi lê sắc máu”, “hung tàn”, “kiệt cùng”, “chia lìa”, “tan tác” Những từ
ngữ đó đã làm nổi bật được tội ác của kẻ thù, sự điêu tàn của quê hương sông Đuống Những câu thơ dài, ngắn xen kẽ kết hợp với nhịp thơ nhanh, mạnh đã
thể hiện rõ sự uất hận, đau đớn của Hoàng Cầm Nhà thơ gọi kẻ thù là “chó
ngộ một đàn” đi tìm uống máu người Hình ảnh này nói lên thái độ khinh bỉ,
căm giận của nhà thơ, của nhân dân đối với kẻ thù xâm lược Không còn sự sum vầy ấm áp thay vào đó là sự li tán, mất mát Mượn hình thức bức tranh, Hoàng Cầm đã phản ánh hiện thực ngoài đời Biết bao gia đình bị tan vỡ, mẹ
Trang 13phải xa con, vợ phải xa chồng, hạnh phúc lứa đôi cũng trở nên chia lìa, tan tác Kết thúc đoạn thơ là một câu hỏi thể hiện nỗi đau đớn, xót xa tột cùng
Nhà thơ tìm kiếm trong tuyệt vọng “Bây giờ tan tác về đâu?” Câu thơ là một
câu hỏi, đúng hơn là một tiếng nức nở
Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi thể hiện cảm xúc bâng khuâng
trước cảnh thu về:
Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tác giả bày tỏ cảm xúc của mình khi đứng trước mùa thu của đất nước
ở chiến khu Việt Bắc Trong cảm nhận của Nguyễn Đình Thi, trời trong xanh, khí thu mát lành, gió thu thổi nhẹ, thoảng trong gió là hương vị của cốm mới
Đó là hương vị đặc trưng của đất trời, cây cỏ mùa thu nhất là mùa thu xứ Bắc Nguyễn Đình Thi đã mở rộng nhiều giác quan để cảm nhận cảnh thu Cách cảm nhận của nhà thơ rất tinh tế, nhạy cảm Chứng tỏ ở nhà thơ có một năng lực giao cảm kì diệu với cảnh sắc tươi đẹp của đất trời Với Nguyễn Đình Thi, cảnh thu hôm nay thật gần với cảnh thu trong quá khứ Vì thế, mà nhà thơ liên
tưởng so sánh “như sáng năm xưa” Chính cách liên tưởng so sánh ấy đã giúp
nhà thơ trở về quá khứ để sống trong hoài niệm về mùa thu Hà Nội, mùa thu kháng chiến
Đó còn là Quang Dũng với bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây thể hiện
tình cảm thiết tha, sâu sắc về miền đất đá ong Nhà thơ Hoàng Lộc có bài thơ
Viếng bạn Tình quân dân thắm thiết, đơn sơ mà sâu nặng trong bài thơ Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông Tiếng hát ân tình của người Việt Nam trong kháng chiến qua Việt Bắc của Tố Hữu
Nghệ thuật thơ chống Pháp 1946 - 1954 sử dụng phổ biến các thể thơ dân gian song đã có những cách tân, đổi mới, phát triển theo thể thơ tự do và lối thơ hợp thể Nhà thơ Tố Hữu là người vận dụng thành công thể thơ lục bát
Trang 14quen thuộc của dân gian trong nhiều tác phẩm của mình (Việt Bắc, Tiếng ru, Nước non ngàn dặm, Bài ca quê hương, )
(Việt Bắc)
Tác giả dùng thể thơ lục bát và cách xưng hô “ta - mình” quen thuộc
trong ca dao, dân ca để thể hiện nỗi nhớ thiên nhiên, con người Việt Bắc Khung cảnh núi rừng hiện lên lung linh, tươi sáng Mùa đông cả rừng Việt Bắc tràn ngập hoa chuối đỏ tươi Sắc đỏ của hoa chuối tạo ra một bầu không khí ấp áp xua tan đi cái lạnh của mùa đông nơi miền sơn cước Thiên nhiên thật đẹp, cái đẹp ấy làm nền cho con người xuất hiện trong tư thế lao động
khỏe khoắn “dao gài thắt lưng” Câu thơ có độ sáng của nắng, độ sáng phản
chiếu của cả lưỡi dao đã tô đậm được vẻ đẹp của con người Họ chăm chỉ lao động, họ lên rừng phát nương trồng chỉa
Xuân sang, cả rừng Việt Bắc ngập tràn hoa mơ Sắc trắng của hoa mơ gợi ra vẻ đẹp trong trẻo, tinh khiết của núi rừng Sắc trắng ấy, tạo nên vẻ đẹp thanh quý Từ vẻ đẹp ấy, con người Việt Bắc hiện ra rất đỗi tài hoa với dáng
vẻ cần mẫn trong một nghề thủ công “đan nón” Hè về, tiếng ve kêu rộn rã
Âm thanh của tiếng ve làm cho núi rừng chuyển hóa kì diệu “rừng phách đổ
Trang 15vàng” Mùa thu núi rừng Việt Bắc tràn trề ánh trăng Đó là ánh trăng hòa
bình, sáng trong, dịu mát Những câu thơ lục bát ngọt ngào làm hiện lên một bức tranh tứ bình về bốn mùa độc đáo mang đậm vẻ đẹp cổ điển Á Đông Cấu trúc đoạn thơ được bố trí rất hài hòa, cân xứng Câu lục dành cho nhớ cảnh, câu bát dành cho nhớ người Chính điều này tạo ra sự xen kẽ của thiên nhiên, con người Việt Bắc
Trong phong trào Thơ mới 1932-1945, thơ tự do đã được khai thác nhưng chưa đạt được thành công Nhưng trong thời kì này, thơ tự do đã khẳng định được vị thế của mình Với sự biến đổi linh hoạt của thể thơ, và sự dung chứa hiện thực lớn, thơ tự do có điều kiện thuận lợi để phát triển Chẳng hạn
bài thơ Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông viết theo thể thơ tự do:
Các anh đi Ngày ấy đã lâu rồi Xóm làng tôi còn nhớ mãi Các anh đi
Bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong
Những câu thơ dài ngắn khác nhau đã thể hiện được tình cảm quân dân khăng khít Câu thơ giãn, nở theo dòng cảm xúc của nhà thơ
Ngôn ngữ thơ thời kì chống Pháp chuyển sang ngôn ngữ đời thường, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Có nhiều từ ngữ so sánh ví von theo kiểu ca dao, cách đối đáp hàng ngày, từ ngữ địa phương trở thành nét riêng, đặc sắc của thơ kháng chiến
Bài thơ Nhớ của nhà thơ Hồng Nguyên viết về nỗi nhớ của người lính
về quê hương, gia đình, sử dụng rất nhiều ngôn ngữ đời thường, cách đối đáp hàng ngày:
Trang 16Lũ chúng tôi Bọn người tứ xứ, Gặp nhau hồi chưa biết chữ Quen nhau từ buổi “Một hai”
Súng bắn chưa quen, Quân sự mươi bài Lòng vẫn cười vui kháng chiến
… Đằng nớ vợ chưa?
Đằng nớ?
Tớ còn chờ độc lập
Nguyễn Đình Thi cũng dùng cách nói ví von theo kiểu ca dao:
Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta
(Đất nước)
Ngôn ngữ thơ không cầu kì mà trở nên gần gũi, bình dị, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của làng quê hiện lên dân dã, mộc mạc với lúa, ngô, khoai, sắn, con trâu Không gian rộng lớn của đất nước được biểu hiện rất sinh động mang lại cho người đọc cảm xúc tươi mới Ta sẽ bắt gặp rất rõ điều này khi đọc thơ của Tố Hữu:
Trâu về xanh lại Thái Bình Nứa mai gài chặt mối tình ngược xuôi
(Việt Bắc)
Hay:
Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt
Trang 17Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước bình ca
(Ta đi tới)
Thơ kháng chiến chống Pháp sử dụng rộng rãi địa danh Các địa danh hiện lên trong thơ góp phần biểu hiện tình yêu quê hương, đất nước tha thiết hơn gần gũi hơn
Qua bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, nhiều địa danh đã đi vào lòng
người đọc thật tự nhiên, thân thuộc:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Đọc bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, người đọc thấy
hiện lên rất nhiều địa danh quen thuộc của miền đất Tây Bắc Tổ quốc:
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng
Thơ ca thời kì này chuyển từ thơ điệu ngâm sang thơ điệu nói và đạt được những bước đi chắc chắn Thơ ca chống pháp, đánh dấu sự trưởng thành của đội ngũ sáng tác và của thơ ca Đây là kết quả của quá trình tích lũy tạo tiền đề cho thơ ca chống Mỹ phát triển rực rỡ
1.2 Hành trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của Quang Dũng
1.2.1 Cuộc đời Quang Dũng
Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình làm nghề buôn bán nhỏ Thủa nhỏ, Quang Dũng học ở trường làng, đến cấp Thành Chung học ở trường Sư phạm Hà Nội Học trường Sư phạm ra, Quang
Trang 18Dũng không đi làm công chức mà làm nhạc công cho một gánh hát, rồi làm
“cậu giáo” ở các trường tư, nay đây mai đó trong thành phố Hà Nội
Bản thân Quang Dũng sinh tại làng Phượng Trì, thuộc tổng Phùng, vốn
là làng có tài nói khoác để gây cười: “Người Phượng Trì dù nghèo xơ xác đến
phải đeo cái “khố nối” vẫn ăn chơi trải đủ mùi đời,… Vừa chăm chỉ làm ăn vừa đam mê du hí” Phải chăng thế mà cái máu giang hồ và tính cách hài
hước đã ngấm sâu vào con người Quang Dũng Là người thích sống theo phong cách đại trượng phu, kiểu con người nghĩa khí, không chịu gò ép vào bất cứ điều gì nên khoảng đầu những năm 40, Quang Dũng thường gặp gỡ, kết bạn với những người có cùng chí khí, có tinh thần yêu nước và sang tận Trung Quốc để thực hiện hoài bão đó
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Quang Dũng gia nhập quân đội Sau đó, với cương vị là phái viên Phòng Quân vụ Bắc bộ, ông làm công việc cất giấu các máy móc quân sự, đi các địa phương tìm mua vũ khí cho cách mạng Rồi người chính trị viên phó đại đội vệ binh khu II ấy được cử đi học lớp bổ túc quân sự ở Tống (Sơn Tây) Cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến với cấp bậc đại đội trưởng Sau một thời gian làm nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với bộ đội Pa - thét Lào bảo vệ biên giới Lào - Việt, ông cùng đơn vị trở lại Việt Nam Ít lâu sau, Quang Dũng chuyển sang làm trưởng tiểu ban Văn nghệ, thuộc Phòng Chính trị, Bộ Tư lệnh liên khu III cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp Hòa bình lập lại, Quang Dũng làm Biên tập viên báo Văn nghệ, rồi Biên tập viên Nhà xuất bản Văn học Ông nghỉ hưu năm 1978; sau một thời gian dài bị bệnh nặng, ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại Hà Nội
Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc,… Lĩnh vực nào ông cũng có những thành tựu đáng kể, nhưng thành công nhất vẫn là thơ Ông được giải thưởng Văn học Nhà nước năm 2000 Bài
Trang 19thơ Tây Tiến được chọn khắc một đoạn vào Đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây
Tiến ở Châu Trang, Thượng Cốc, Lạc Sơn (tỉnh Hòa Bình) ngày 20 tháng 12 năm 1990 và tượng đồng bán thân của Vệ quốc quân Quang Dũng được đặt tại trường tiểu học quê nhà là một minh chứng về sự tôn vinh của Nhà nước, nhân dân đối với nhà thơ Quang Dũng
1.2.2 Hành trình sáng tác
Là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp và gắn bó với hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, vì vậy, sáng tác của Quang Dũng cũng mang những nét đặc trưng của thơ ca kháng chiến Ông thường xoay quanh các đề tài lớn như: Đề tài chiến tranh, đề tài ca ngợi quê hương đất nước Qua các đề tài ấy, Quang Dũng cũng tập trung thể hiện tính cách giang hồ phiêu lãng Đây chính là đặc điểm tiêu biểu của nghệ thuật thơ Quang Dũng không giống với các nghệ sĩ khác
Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài nhưng lĩnh vực thành công nhất của ông vẫn là thơ ca Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nổ ra, ông
đã bước vào chiến trường với khí thế hào hùng của người chiến sĩ Những năm tháng chiến tranh Quang Dũng sáng tác khá nhiều với đề tài quen thuộc
là chiến tranh và quê hương đất nước Một số bài tạo được dư ba trong lòng
bạn đọc: Tây Tiến (1948), Những làng đi qua (1947), Đường 12,… Có thể
khẳng định đây là giai đoạn thành công nhất của Quang Dũng Ông đã xây dựng thành công hình tượng người lính tiêu biểu cho cuộc kháng chiến chống
Pháp, nhất là bài thơ Tây Tiến đã ghi dấu tên tuổi vang lừng của Quang Dũng
trong nền thi ca cách mạng Việt Nam Bài thơ xây dựng được một tượng đài bằng thơ về hình tượng người lính Giống như lời bài hát của nhạc sĩ Thế
Hiển trong bài hát Hát về anh người chiến sĩ biên cương đã viết: “Một ba lô,
cây súng trên vai, màu áo xanh chẳng quản chông gai Anh ra đi chẳng để lại
gì cho riêng anh, chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ” Nhà thơ
Trang 20Giang Nam cũng thể hiện sự yêu thích bài thơ Tây Tiến với những câu thơ rất
độc đáo, giống như một tiếng lòng tri âm, đồng điệu:
Tây Tiến biên cương mờ lửa khói Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy, con người ấy Vẫn sống muôn đời với núi sông
(Với bài thơ ấy) 1.2.3 Quan điểm nghệ thuật của Quang Dũng
Mỗi một người nghệ sĩ khi sáng tác văn chương đều có những cách nhìn, những quan niệm riêng về cuộc đời, con người, nghệ thuật Chính những quan niệm đó, đã định hướng chi phối toàn bộ sáng tác của nhà văn Nhà thơ Quang Dũng cũng vậy, ông cũng đưa ra những quan niệm nghệ thuật riêng của mình
1.2.3.1.Quan niệm về sứ mệnh của thơ ca
Quang Dũng đề cập tới vấn đề phát triển thơ ca cách mạng, thơ ca trong thời kì mới khi đất nước đang tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lược Ông
đã nêu lên những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của thơ cách mạng
Điều kiện đầu tiên, là phải bắt đầu từ nhu cầu thưởng thức của độc giả Bởi lẽ, văn bản văn học chỉ có thể trở thành tác phẩm văn học khi nó được độc giả thẩm thấu Có bao nhiêu độc giả thì sẽ hình thành nên bấy nhiêu cách tiếp nhận Chính vì vậy, độc giả được coi là khâu cuối cùng trong quá trình
tiếp nhận văn học Theo nhà thơ Quang Dũng: “Theo ý tôi, đã có những triệu
chứng đáng mừng cho thơ: Người đọc đã muốn đòi hỏi một cái gì khác trong tiếng nói của thơ chứ không muốn đọc dễ dãi một ít sự việc ghi chép thành vần, một ít tình cảm đã gặp nhiều lần sắp xếp thành những vần điệu, và bao giờ cũng thế, có cái kết hướng đi lên một cách đã quá quen thuộc” [8] Theo
Quang Dũng, nhu cầu về văn học mới, nhu cầu tiếp nhận lối thơ mới là tiền đề
Trang 21thúc đẩy thơ ca nhìn nhận lại con đường đã đi từ lâu nay để thay đổi cho phù hợp Tóm lại, độc giả đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thúc
đẩy thơ ca phát triển Vì thế mà M Gorki quan niệm: “Người sáng tác là nhà
văn, nhưng người tạo nên số phận cho tác phẩm lại là độc giả” Do đó,
hướng tới người đọc, quan tâm tới nhu cầu thưởng thức của người đọc là vấn
đề quan tâm sâu sắc của Quang Dũng
Tiền đề thứ hai thúc đẩy thơ ca phát triển chính là hiện thực đời sống cách
mạng Quang Dũng đã nêu ra quan niệm của mình như sau: “Dân tộc làm một
cuộc cách mạng Cuộc sống bao nhiêu cái vĩ đại đang diễn ra, cái mừng vui cũng như cái đau khổ, mười năm qua, ai mà chẳng thấy có cái vinh dự được trải qua Cái hiện tại thật là to lớn, ai mà không thấy tự hào được có mặt” [8]
Từ hai tiền đề trên, Quang Dũng nhận thấy phải thay đổi một diện mạo mới cho thơ ca hiện tại, thơ ca cách mạng, cho đến thơ ca đã từng phát triển
qua “mười năm kháng chiến”, thơ ca phải nhận thức rõ được nhu cầu thưởng
thức của người đọc, vai trò của hiện thực đời sống cách mạng Thơ ca phải bắt
rễ từ đời sống, phải bắt nhịp kịp với hơi thở mới của thời đại, có như vậy thơ
ca mới tìm được “địa chỉ sống” trong lòng bạn đọc Quang Dũng đã chỉ ra
nhược điểm của thơ ca là chưa bắt kịp mau lẹ với mạch của cuộc sống nên vẫn tồn tại kiểu sáng tác dễ dãi, quen thuộc Điều đó, đã làm cho thơ ca bị mờ nhạt, làm độc giả mất hứng thú với thơ ca Bởi lẽ bản chất của văn học là phải
sáng tạo Nói như nhà văn Nam Cao:“Văn chương không cần đến những
người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” Quang Dũng quan niệm thơ ca là phải
bắt kịp đời sống, thể hiện trách nhiệm của một nhà thơ đối với sự phát triển
của thơ ca Hiện thực đời sống là một nguồn cảm hứng dạt dào để làm nên những cánh đồng thơ ca phì nhiêu, tươi tốt Dù vậy, thơ ca không phải là bê
Trang 22nguyên xi hiện thực một cách đơn thuần, mà bao giờ cũng chắt lọc, cũng gắn
với cái đẹp, có như thế thơ ca mới mang tính nghệ thuật Tuy nhiên, các nhà
thơ Cách mạng đã mở thêm những chân trời về cảm xúc và chính cách mạng
cũng mong đợi ở các nhà thơ có những đóng góp phát hiện mới mẻ thể hiện được vai trò của những người sáng tạo nghệ thuật chân chính Nói như nhà
văn người Nga Pau topxki: “Nhà văn chân chính là người dẫn đường tới xứ
sở của cái đẹp”
Nếu chỉ hướng tới cách mạng, phục vụ cách mạng thôi thì chưa đủ, thơ
ca còn có chức năng to lớn hơn là hướng tới con người, phản ánh con người trong chiều sâu tư tưởng, tình cảm, tâm hồn một cách chân thật, sinh động nhất Con người được đặt trong nhiều mối quan hệ phức tạp của đời sống,
Mác từng nói: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Quang Dũng
đã đưa ra ý kiến cá nhân của mình trong giai đoạn văn học mới: “hướng tới
mục đích tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu làm nhiệm vụ hàng đầu, nói đến thuận lợi nhiều hơn là khó khăn, đến chiến thắng nhiều hơn là thất bại, về thành tích hơn là tổn thất, về cái vui hơn cái buồn đau” [31] Nhận thực được
vai trò đi đầu của nhà thơ, sự thay đổi những cái tất yếu, mà ta nhận thấy trong thơ Quang Dũng, bên cạnh cái bình dị, thân quen, những chiến thắng trong chiến đấu thì người lính cũng phải đối diện với những mất mát, hi sinh
to lớn Nhưng họ hiện lên không hề yếu đuối, mà rất oai hùng, lẫm liệt Với hình tượng người lính Tây Tiến lãng mạn, hào hùng Quang Dũng đã xây dựng thành công hình tượng người chiến sĩ cách mạng cho nền thơ ca kháng chiến
1946 - 1954
Quan niệm của Quang Dũng về thơ là khá mới mẻ Đó là những trăn trở, hoài bão của nhà thơ với hi vọng thơ ca sẽ có những thành tựu mới, góp một tiếng nói riêng cho sự phát triển của thơ ca cách mạng Quan niệm này sẽ giúp cho nhiều nhà thơ cách mạng có những nhận thức mới để tạo ra những
Trang 23đứa con tinh thần chất lượng, sáng tạo, thỏa mãn được nhu cầu thưởng thức
của bạn đọc
1.2.3.2.Quan niệm về nhà thơ
Quang Dũng nhấn mạnh đến cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Để có được một tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhà văn phải không ngừng lao động, sáng tạo Đã là nhà văn, thì phải luôn trăn trở, tìm tòi, sáng tạo không ngừng mang đến cho thơ ca những tiếng nói mới, bước đi mới, tránh rơi vào tình
trạng lặp lại Bởi lẽ sự lặp lại sẽ là cái chết của nghệ thuật Để làm được như
vậy, bản thân nhà thơ phải không ngừng trau dồi kiến thức bản thân, hòa mình với cuộc cách mạng, phải nói tiếng nói của dân tộc, nếu không sẽ trở nên xa lạ với thời đại mà mình đang sống Quang Dũng chỉ ra những hạn chế của các
nhà thơ trước thời đại mới đó là: thơ mang tính chốc lát, chưa bắt kịp được
mạch sống, hơi thở của hiện tại, chưa có những phát minh về hình thức và khám phá về nội dung Từ đó, ông chỉ ra rằng, để khắc phục những hạn chế
đó, bản thân các nhà thơ phải sống, phải hòa mình vào dòng chảy của cuộc
sống hiện thực Hạn chế lớn nhất của các nhà thơ này là “chưa ý thức được
cách mạng một cách rõ rệt nên tiếng nói của thơ đối với cuộc đời mới đang xây dựng này mà thiếu hào sảng, thiếu cái khí thế vững mạnh của nó Người làm thơ bấy lâu nay chưa làm chủ vấn đề, nói trắng là chưa thấy được rõ cái nhiệm vụ cách mạng của mình, nên tiếng nói chỉ là phụ họa mà không có được cái giá trị sáng tạo đóng góp cho cách mạng” [8] Bản thân họ đã thiếu
đi sự sáng tạo cần thiết trong hoạt động nghệ thuật Cũng có nhiều nhà thơ, vốn đã có cá tính sáng tạo, nhưng khi cách mạng đến, họ chưa chịu hòa mình với quần chúng nhân dân, dè dặt bước đi từng bước, quên hẳn chính mình, mang nặng mâu thuẫn trong tâm hồn
Ngoài ra, Quang Dũng còn chỉ ra sự chủ quan của lớp nhà văn thời kì
này Họ cứ tưởng bước vào ánh sáng cách mạng thì hoa sẽ nở muôn cành,
Trang 24chim sẽ bay muôn dặm, cái khí thế người thi nhân bao giờ cũng dũng cảm bảo
vệ cái Đẹp và cái Thật nhưng lại chịu đi từng bước một Chính những hạn chế
đó, đã làm nhà thơ mất đi cái riêng của chính họ, mất đi vai trò của người sáng tạo
Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân khách quan ảnh hưởng tới cá tính sáng tạo của nhà thơ, đó là đường lối lãnh đạo của những người chỉ đạo đường lối Ông đã chỉ ra những hạn chế này của một số cán bộ chính trị
đương thời Quang Dũng cho rằng: “Những quan niệm giới hạn về văn nghệ
của những người có trách nhiệm hướng dẫn họ đã làm tắt cái lửa đó Người
ta quan niệm người làm thơ là những người mơ mộng không sát thự tế cách mạng, là những người hoàn toàn ngây thơ mà cách mạng phải uốn nắn dạy
dỗ mới đi vào được những vấn đề mới" Một số lãnh đạo văn nghệ đã định
hướng, quan niệm sai về thơ, coi nhà thơ là những nhà chính trị phải có trách nhiệm với cách mạng, do đó mà làm họ trở nên khô cứng, không còn mang tính thi sĩ
Cái cốt lõi nữa là người làm thơ phải nói được tiếng nói của mọi người Nhận thức được điều này, bản thân những nhà thơ phải làm thay đổi thơ ca, đưa vào trong thơ không chỉ là những cái mang bản sắc cá nhân mà còn phải
có cái nhìn lớn hơn, khái quát hơn, cao hơn những người bình thường Có như vậy, thơ ca mới là tiếng nói của nhiều người
Trên đây, là những quan niệm rất mới mẻ của Quang Dũng về nhà thơ,
về thơ ca Vấn đề này, đã có nhiều người nhận ra nhưng chưa ai mạnh dạn lên tiếng Điều đó, chứng tỏ cá tính sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Quang Dũng,
là trách nhiệm của người cầm bút Quang Dũng đã đóng góp cho thơ ca những tiếng nói mới, cách nhìn mới
Trang 25Chương 2 NGHỆ THUẬT CẤU TỨ VÀ XÂY DỰNG HÌNH ẢNH,
Theo nhà thơ Chế Lan Viên: “Gọi là tứ để phân biệt với ý Chữ tứ
chẳng qua là ý toàn bài vậy” (Báo Văn nghệ 17.11.1961, bút hiệu Chàng
Văn) Theo Nguyễn Xuân Nam: “Tứ trong toàn bài là hình tượng xuyên suốt
cả bài thơ” (Báo Văn nghệ, Hà Nội 2.1981)
Hai quan niệm trên khác nhau, một đằng thiên về ý, một đằng thiên về hình tượng
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tứ thơ là cảm xúc thơ hoặc ý nghĩa
hình ảnh thơ” [20] Tức là việc làm thơ phải xuất phát từ cảm xúc Theo
Quách Tấn: “Nội dung bài thơ tỉ như một khóm cây mà nơi cội cành là ý, hoa
quả là tứ Nói cách khác, tứ là sản phẩm của ý, là chi tiết do ý sinh ra và làm cho ý thêm sắc thái, âm vị cũng như hoa là tứ cội cành sinh ra và làm cho cội cành thêm tươi, thêm thắm Nói một cách khác, tứ là sắc, là hương vị, là âm thanh của ý” Qua các ý kiến trên có thể thấy: Tứ thơ là ý chính, ý lớn bao
quát, xuyên suốt toàn bộ bài thơ nhưng không phải là ý tưởng trừu tượng, mà
là những gì cụ thể: Một hình ảnh, một sự kiện, một cảm xúc, một tâm trạng,…
làm điểm tựa cho sự vận động của cả bài thơ
Có hai loại tứ thơ: tứ thơ thiên về tạo hình, tứ thơ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng
Trang 26Tứ thơ thiên về tạo hình là tứ thơ được xây dựng với mục tiêu khắc họa một nhân vật cụ thể, qua đó, nhà thơ gửi gắm cảm xúc và tư tưởng của mình
Tứ thơ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng là tứ thơ tuân theo từng đường nét hội họa của thơ, là những nhịp thở xôn xao tứ trái tim người Đây là loại tứ thơ phổ biến và xuất hiện sớm
2.1.1.2 Nghệ thuật cấu tứ
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Xét trong quá trình sáng tác, là hoạt động tư duy để sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật”.Trong thiên “Thần tứ”, nhà
lí luận văn học Trung Quốc Lưu Hiệp nói: “Cái kì diệu của cấu tứ là làm cho
tinh thần nhà văn gặp gỡ với sự vật khách quan”, “hình và ý gặp nhau” Các
nhà văn thường nói “tình tứ”, “cấu tứ” tác phẩm là như vậy
Xét như một thành quả sáng tạo, cấu tứ là sự cắt nghĩa, lí giải và khái quát hiện tượng đời sống bằng một hình tượng tổng quát có sức chi phối toàn
bộ cảm thụ, suy tưởng và miêu tả nghệ thuật trong tác phẩm Chẳng hạn trong
bài thơ Lệ, Xuân Diệu xem “Trái đất ba phần tư nước mắt” là một giọt lệ lớn
đi giữa không trung hoặc trong bài Hồ Chí Minh (1946), Tố Hữu hình dung
Hồ Chủ tịch qua hình ảnh “Người lính già”đi tiên phong quyết chiến, hi sinh
Cấu tứ là nghệ thuật kiến tạo, triển khai tứ thơ Có thể xem cấu tứ là linh hồn của tác phẩm, cung cấp một thế đứng, thế nhìn, cách cảm nhận để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Cấu tứ là mô hình nghệ thuật của tác phẩm, là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nó
Cấu tứ là một phương diện quan trọng của hoạt động sáng tác văn học
Nó thể hiện quá tình suy ngẫm của tác giả để định hình, tổ chức cả hai mặt nội dung và hình thức của một tác phẩm Nó đóng vai trò thể hiện phong cách nghệ thuật, tư tưởng, quan điểm nghệ thuật về con người và cuộc sống của nhà văn Nghệ thuật cấu tứ là nghệ thuật tổ chức của một tác phẩm nghệ thuật (ở đây là tác phẩm văn học): tổ chức hình ảnh, hình tượng và các yếu tố tạo
Trang 27nên tác phẩm thành một chỉnh thể theo một dụng ý nghệ thuật nhất định, đạt hiệu quả thẩm mỹ cao nhất, có khả năng khái quát đời sống, thể hiện tư tưởng của nhà văn Trong sáng tác thơ ca, Quang Dũng cũng dùng nghệ thuật cấu tứ
để khái quát hiện thực, để tạo nên giá trị thẩm mỹ và sức hấp dẫn của hình tượng nghệ thuật Nghệ thuật cấu tứ trong thơ Quang Dũng được thể hiện rất phong phú, đa dạng
2.1.2 Nghệ thuật cấu tứ trong thơ Quang Dũng
2.1.2.1 Các loại tứ thơ trong thơ Quang Dũng
Tứ thơ về tình yêu quê hương đất nước: Quang Dũng có rất nhiều bài
thơ viết về tình yêu đối với quê hương đất nước Tác phẩm nào cũng có
những tứ thơ độc đáo, sáng tạo Trong bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây tứ thơ
là hình ảnh đôi mắt Đây là một hình ảnh giàu sức gợi cảm và giàu liên tưởng trong lòng độc giả:
Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao lần quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Vầng trán em mang trời quê hương Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương ?
Qua hình ảnh đôi mắt, Quang Dũng đã vẽ lên một bức tranh quê hương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với tất cả niềm đau và nỗi nhớ Trong cái cảnh hỗn loạn, tang thương của một vùng quê bị giặc chiếm đóng
và tàn sát dã man, những xác người vô tội chết một cách thảm khốc:
Trang 28Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan
Mẹ tôi em có gặp đâu không Những xác già nua ngập cánh đồng Tôi cũng có thằng em còn bé dại Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc Buồn viễn xứ khôn khuây
Khởi nguồn của cảm xúc là cảnh biệt ly Biệt ly trong đau thương và mất mát Quang Dũng hỏi về quê hương xứ sở, hỏi về những số phận leo lét rủi may trước những tội ác man rợn của giặc Hỏi để tự trả lời chính mình và
chất vấn chính mình Khi đã nhận ra “điêu tàn ôi lại nối điêu tàn” thì cũng là lúc thi sĩ ôm trọn tình quê hương trong nỗi “buồn viễn xứ khôn khuây” làm
hành trang lên đường để hẹn với người thân, quê hương Hình tượng đôi mắt xuất hiện trong bài thơ với tần suất liên tục đã góp phần khắc họa tâm trạng nhớ nhung và tình cảm yêu quê hương tha thiết, cháy bỏng của nhà thơ
Tứ thơ về tình yêu thiên nhiên: Thiên nhiên luôn là một đề tài hấp
dẫn, lôi cuốn đối với các thi sĩ, Quang Dũng viết về thiên nhiên với nhiều tứ
thơ rất độc đáo Bài thơ Tây Tiến dựng lên bức tranh núi rừng Tây Bắc trong
niềm hoài niệm thiết tha Đó là bức tranh núi rừng hùng vĩ, dữ dội Những địa danh xuất hiện từ đầu bài thơ đưa người đọc vào không gian Tây Bắc - sông
Mã, Sài Khao, Mường Lát Đó là những địa danh gợi không khí núi rừng xa
Trang 29xôi, lạ lẫm Quang Dũng sử dụng một loạt hình ảnh dựng lên khung cảnh rừng núi dữ dội, hùng vĩ:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Hình ảnh đèo dốc khúc khuỷu, thăm thẳm được hiện lên đầy hiểm trở, ghập ghềnh nhờ cách sử dụng từ láy tượng hình Câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” dày đặc thanh trắc càng nhấn mạnh sự hùng vĩ, hiểm nguy của cảnh núi rừng Hai chữ “dốc” mở hai nhịp thơ đã đẩy con đường
“khúc khuỷu”, “thăm thẳm” lên đến tận cùng Cảnh vừa thực vừa khoa trương cường điệu Hình ảnh “cồn mây” cũng góp phần cực tả độ cao của đèo dốc, tô đậm cái hùng vĩ của cảnh núi rừng, độ cao ấy được hình dung cụ thể hơn qua hình ảnh “súng ngửi trời”
Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” nhịp gấp khúc tả con
đường hành quân khắc nghiệt, dữ dội Câu thơ như được bẻ gập đôi cực tả hai
bên lên xuống của đèo dốc “khiến độc giả như đang được thể nghiệm một trò
chơi bập bênh đến chóng mặt” (Phan Huy Dũng)
Thiên nhiên Tây Bắc không chỉ hùng vĩ, mà còn đầy bí hiểm:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Thủ pháp nói quá đã tô đậm vẻ đẹp hoang dại, dữ dội, bí hiểm: Thác dữ gầm gào, hổ dữ rình rập đe dọa Khung cảnh núi rừng Tây Bắc hiện lên đầy
vẻ oai linh, bí hiểm Cả thiên nhiên Tây Bắc bóng chiều và đêm tối như đồng lõa với ác thú để uy hiếp con người
Ngoài ra, thiên nhiên Tây Bắc còn được vẽ bằng nét bút nên thơ trữ tình:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Trang 30Câu thơ sử dụng toàn thanh bằng, âm điệu mượt mà, phác họa không gian mưa rừng mênh mông biển nước Tất cả những cảnh hùng vĩ, dữ dội, nguy hiểm
của miền tây như biến mất nhường vào đó là khung cảnh nên thơ “mưa xa
khơi” Màn mưa mênh mang hiện lên khiến lòng người phải xao động
Cảnh núi rừng Tây Bắc nên thơ nhuốm màu sương khói mờ ảo “sương
lấp”, những bóng nhà thấp thoáng trong mưa, khói cơm chiều lững lờ lưng núi
Cảnh Tây Bắc mỹ lệ, thơ mộng còn được hiện lên trong khung cảnh sinh hoạt của con người với những nét vẽ tài hoa, tinh tế:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Ngòi bút tài hoa tô đậm linh hồn non nước, bóng người thấp thoáng chiều sương, hoa lau phất phơ hồn thiêng sông núi Ngôn ngữ tạo hình phác họa dáng người, dáng hoa, dáng thuyền lung linh, huyền ảo Bức tranh sông nước xứ lạ hoang sơ là dòng hoài niệm nhớ nhung ngọt ngào về một vùng đất
lạ nhưng vô cùng thương mến gắn bó Bài thơ đã khắc họa thành công một thiên nhiên miền tây hùng vĩ hiểm nguy nhưng không kém phần lãng mạn Bài thơ đã chạm khắc vào tâm tưởng người đọc một bức tranh thiên nhiên tây
bắc hùng vĩ, nên thơ
Tứ thơ về tình đồng chí : Trong thơ Quang Dũng, tình cảm đồng đội,
đồng chí luôn gắn bó keo sơn bền chặt:
Quê anh không khăn trắng Nhưng chắc có màu tang Những người con đi vắng Những mẹ già nhớ mong
(Thu)
Trang 31Tứ thơ của bài thơ này đọng lại ở hình ảnh “khăn trắng” và “màu tang” Hình ảnh đó gợi lên sựu ra đi vĩnh hằng của những người đã ngã xuống cho quê hương, dân tộc, là nỗi buồn, nỗi đau, là sự chia sẻ chân thành với những người thân đã vĩnh viễn mất đi người con, người chồng yêu quý nhất Đó còn
là nỗi cô đơn, lo lắng của người mẹ đang hàng ngày nhớ thương đứa con đứt ruột của mình trở về bình yên
Trong bài thơ Tây Tiến tứ thơ của bài thơ là nỗi nhớ sâu sắc của Quang
Dũng về đoàn binh Tây Tiến mà một thời nhà thơ đã từng gắn bó với nhiều kỉ niệm đẹp:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Câu thơ như tiếng gọi chân thành, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc Bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, câu thơ trở nên đẹp kì diệu Sông Mã không đơn thuần là một con sông, mà nó trở thành một hình ảnh hiện hữu, một chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất Tây Tiến không chỉ để gọi tên một đơn vị bộ đội mà nó trở thành một người bạn tri âm tri kỉ để nhà thơ giãi bày tâm sự:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Quang Dũng liệt kê hàng loạt các địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Đó
là những địa bàn hoạt động của đoàn binh Tây Tiến, những nơi họ đi qua và dừng chân trên bước đường hành quân gian khổ, mệt nhọc Có những đêm hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, không nhìn rõ mặt nhau Đoàn quân mỏi nhưng tinh thần không mỏi Bởi ý
Trang 32chí quyết tâm ra đi vì Tổ quốc đã làm cho người lính trở nên kiên cường, bất khuất Nhà thơ rất tài tình khi đưa hình ảnh “sương” vào câu thơ để khắc họa
sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo
Xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ không phai lòng của tác giả về đồng đội Quang Dũng đã miêu tả nỗi nhớ giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ Bài thơ là một khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống Bài thơ xứng đáng được coi là kiệt tác của Quang Dũng khi viết về tình cảm đồng chí, đồng đội thiêng liêng
Tứ thơ vận động theo thời gian Đọc thơ Quang Dũng, ta thấy có rất nhiều bài thơ có tứ thơ vận động theo thời gian Bài thơ Không đề thể hiện
rất rõ sự vận động ấy:
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa Những cây ổi thơm ngày ấy
Và vầng hoa ngâu mưa thu Tóc anh đã thành mây trắng Mắt em dáng thời gian qua…
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa Giữ trọn tình người cho đẹp
Ơi ! con đường xưa Những mùa trút lá Cành bàng mồ côi Cổng cũ rêu phong ý đợi người
Trang 33Ơi ! Con đường xưa Men vườn ổi thơm
Em tuổi hai mươi Yêu anh hào hiệp
Bỏ em, anh đi Đường hai mươi năm Dài bao chia li
Có những vợ chồng Không là trăm năm
Mà tình yêu thương
Sông ơi! Dài sao Rộng ơi! Biển cả Thôi em nước mắt Đừng rơi lã chã!
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa Giữ trọn tình cho đẹp
Tứ thơ của bài thơ được bộc lộ rõ qua hình tượng vườn ổi Đó dường như là duyên cớ của những nhớ nhung phảng phất trong tâm hồn nhà thơ Hình ảnh ấy vận động theo dòng chảy của thời gian Ở khổ thơ thứ nhất, những câu thơ như trĩu xuống bởi tâm trạng hồi cố về cảnh cũ người xưa của Quang Dũng Nhà thơ nhớ về kỉ niệm đẹp êm khi gặp cô gái ấy nơi vườn ổi
Hình ảnh “cây ổi thơm ngày ấy” là một khung cảnh khơi gợi bao yêu dấu,
Trang 34rung động nơi đáy sâu tâm hồn nhà thơ Để rồi, kỉ niệm đó đã đi theo suốt cuộc đời nhà thơ từ lúc tóc còn xanh cho đến khi thời gian đã gội bạc mái đầu của cả anh và em Dấu vết của thời gian còn hằn in nơi đáy mắt của “em”
Quang Dũng rất tài tình khi sáng tạo ra từ “dáng thời gian” Cách nói ấy cho
thấy sự trải nghiệm sâu sắc của một con người đã đi qua nhiều giông tố cuộc
đời Tác giả không dùng từ “bóng thời gian” hay “màu thời gian” mà dùng
từ “dáng thời gian” vì mắt một khi còn in được bóng thời gian thì đó là mắt người ta khi còn trẻ, còn dùng từ “màu thời gian” sẽ lặp lại cách nói của nhà
thơ Đoàn Phú Tứ Qua đó, ta thấy Quang Dũng là một nhà thơ luôn có những tìm tòi sáng tạo trong nghệ thuật văn chương Chính sự sáng tạo đã làm nên đặc điểm nghệ thuật riêng trong thơ Quang Dũng, không trùng lặp với các nhà thơ khác Sang khổ thơ thứ hai, tứ thơ vẫn vận động theo thời gian Đó là thời gian của quá khứ một thời khi anh và em còn trẻ, còn ở độ tuổi hai mươi Điều mà Quang Dũng muốn nhắn nhủ ở đây là dù thời gian có trôi đi nhưng
“anh” vẫn giữ trọn tình, vẫn mãi nhớ về “em” Ở khổ thơ thứ ba, dường như nhà thơ đang lội ngược dòng kí ức tìm về những kỉ niệm Đọc khổ thơ này, người đọc như cảm thấy bâng khuâng, hụt hẫng như đang đánh rơi mất một điều gì, một tiếng rơi trầm lặng Nhớ lại những kỉ niệm cũ không chỉ có buồn vắng như vậy, mà trước đó phải có một cái gì đó trong trẻo khơi nguồn Ở khổ thơ thứ tư, ta thấy tứ thơ vườn ổi xuất hiện như một dấu hiệu gọi dậy bao kí
ức thiêng liêng thủa nào Bởi thế mà nhà thơ Trần Lê Văn mới nhận thấy bài
thơ “có những câu nghe thương thương” Các khổ thơ tiếp theo, tứ thơ vận
động theo dòng chảy thời gian một cách nhịp nhàng, êm ái Tác giả nói đến cuộc chia xa của con người đến là dài Và cuộc đời cũng rộng dài dâu bể với bao biến hóa khôn lường Con người thì nhỏ bé, yếu đuối trước sự dài rộng, mênh mông của sông biển, trời đất Khổ thơ cuối, ý thơ lặp lại, tác giả muốn ngầm nói, ở thời hiện tại hãy sống làm sao để khi nhớ về những kỉ niệm cũ,
em mãi vẫn trẻ trung như thế và “anh” mãi là mùa xanh xưa Để làm được
Trang 35như vậy thì những người trong cuộc phải giữ trọn tình người cho đẹp Đó cũng là thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm
2.1.2.2.Tổ chức sự vận động của tứ thơ
Tứ thơ vận động theo dòng cảm xúc, liên tưởng: Đây là loại tứ thơ dày
đặc hình tượng, tuy nhiên cái mạch chính để dẫn dắt tứ thơ lại là một cảm nghĩ nào đó Hình tượng có thể rời rạc với nhau nhưng lại thống nhất trong một chủ đề chung Nhà thơ có thể mien man liên tưởng đến những vấn đề khác, xa hay gần Kết cấu loại tứ này, do đó thường sinh động và đa dạng Bài thơ được hình thành với chất thơ và chất suy tưởng đan quyện vào nhau Từ hiện tại, nhà thơ có thể quay về quá khứ hay đến tương lai Từ một cảnh vật
cụ thể, nhà thơ mông lung nghĩ ngợi đến những chuyện xa vời Bài thơ
Đường trăng là một bài thơ tiêu biểu, tứ của bài thơ vận động theo dòng suy
nghĩ liên tưởng của Quang Dũng:
Đường ấy dừa trăng như cổ tích Đường vào những chuyện thủa ngày xanh Đường qua bến lội ngang người cát
Biển thủy triều dâng mặn nước lành
Đường ấy đi về qua bóng núi Miếu đêm soi lạnh xuống sông dài Lay động màn sương trên khói sóng Thuyền khơi ai gõ mạn xa khơi
Đường ấy sao khuya đầm nước mắt Trong vời như ngọc, lá tre xanh Giếng làng còn ướt trăng trên đá Chim ngủ xôn xao động lá cành
Trang 36Là những đường đi qua ngõ trúc
Mẹ già thao thức ngó qua phên Hành quân trong đám người đêm ấy Biết có con thương của mẹ hiền
Là những đường trăng qua bến làng Hoa nhài thơm ngõ đượm quân trang Lớp này lớp khác người sang hết Thuyền lại nằm phơi dưới nguyệt vàng
Là bước quân đi đường kháng chiến Lòng thôn trăng giãi biết bao nhiêu Bao nhiêu giấc ngủ làng thôn động
Gà chợt nhầm canh chợt gáy theo
Tứ thơ của bài thơ là hình ảnh con đường ngập tràn ánh trăng Từ hình ảnh ấy mà nhà thơ suy nghĩ, liên tưởng đến nhiều sự việc khác nhau Ở khổ thơ thứ nhất, nhà thơ dẫn dắt người đọc đi vào con đường ngập đầy ánh trăng Trăng soi chiếu khắp các nẻo đường dấu yêu của quê hương Nơi ấy có nhũng
câu chuyện của “thủa ngày xanh”.Sang khổ thơ thứ hai, hiện lên một bức
tranh thôn dã yên ả, thanh bình với hình ảnh: bóng núi, sông dài, miếu đêm, màn sương trên khói sóng, con thuyền đang gõ mạn xa khơi Tất cả lung linh, huyền ảo dưới ánh trăng soi Khổ thơ thứ ba, từ giọng tâm tình đã chuyển sang giọng điệu suy tưởng đầy triết lí Giọng thơ nghẹn ngào đầy xúc động, góp phần thể hiện tâm trạng buồn man mác của tác giả Khổ thơ thứ tư, ánh trăng len lỏi vào “ngõ trúc” để khắc họa hình người mẹ già “thao thức” ngóng trông con Khổ thơ thứ năm, con đường trăng giúp người đọc liên tưởng đến khung cảnh hành quân qua sông của những người chiến sĩ Dù có vận động
Trang 37theo nhiều liên tưởng khác nhau nhưng kết đọng lại vẫn là tình cảm tha thiết
mà nhà thơ dành cho quê hương Khoảng cách địa lí dù có xa xôi nhưng trong lòng nhà thơ khoảng cách ấy thật gần gũi, thân quen Bởi hai tiếng quê hương luôn thổn thức trong trái tim nồng
Tứ thơ vận động theo dòng sự kiện, tâm trạng: Tứ thơ ấy, ta bắt gặp
trong bài thơ Đôi bờ của Quang Dũng:
Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài Mắt kia em có sầu cô quạnh Khi chớm heo về một sớm mai
Rét mướt mùa sau chừng sớm ngự Bên này em có nhớ bên kia
Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ Thoáng hiện em về trong đáy cốc Nói cười như chuyện một đêm mơ
Xa quá rồi em người mỗi ngả Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi Dòng lệ thơ ngây có dạt dào
Tứ thơ của bài là hình tượng đôi bờ Đôi bờ là ranh giới của sự nhận thức khác nhau, một bên là Việt Minh, một bên là những người phía bên kia
Trang 38chiến tuyến trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt Bài thơ vận động theo dòng sự kiện và tâm trạng của Quang Dũng Khổ thơ thứ nhất, sự kiện mưa dài từng lớp trên sông xa, heo may ùa về trong một sớm mai Tất cả các
sự kiện ấy, đã thể hiện tâm trạng thương nhớ của nhà thơ về “em” Khổ thơ thứ hai, sự kiện xuất hiện trong khổ thơ này là: rét mướt, bên này, bên kia, mưa bụi qua phòng tuyến, chiều sông lạnh Những sự kiện ấy, đã thể hiện tâm trạng buồn thương của Quang Dũng khi nghĩ về bên này và bên kia của đôi
bờ Tứ thơ nằm ở câu thơ thứ hai của khổ thơ Đó là sự ngăn cách của hai bên chiến tuyến, cũng là sự ngăn cách của lứa đôi yêu nhau Sự ngăn cách đó đã thổi bùng lên nỗi nhớ bỏng cháy trong trái tim Khổ thơ thứ ba, sự ngăn cách của đôi bờ giữa hai con người không làm vơi cạn đi tình yêu thương, sự nhớ nhung sâu sắc, khắc khoải của chàng trai và cô gái Tứ thơ vận động theo dòng sự kiện, đã thể hiện nỗi nhớ da diết của tác giả Khổ thơ thứ tư, ta thấy hiện lên nỗi lòng trĩu nặng của nhà thơ Giá mà không có chiến tranh thì cuộc sống sẽ trở nên tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn Đôi mắt thơ ngây trong trẻo của
em sẽ mãi trong xanh, nụ cười sẽ mãi thiết tha, những nỗi đau của sự chia lìa,
xa cách sẽ không hằn sâu trong tâm trí em
Tứ thơ thể hiện rõ tài năng sáng tạo của nhà thơ, với nhiều bài thơ người ta có thể quên lời nhưng không thể quên cái tứ độc đáo của nó Quang Dũng đã thể hiện được sự sáng tạo ấy qua việc tạo nên được nhiều tứ thơ độc đáo trong nhiều bài thơ
2.1.2.3 Cấu tứ dựa trên tổ chức các yếu tố thơ
Đó là hình tượng con người trong mối giao cảm với không gian Đến với thơ Quang Dũng, ta bắt gặp mối giao cảm đó rất sâu sắc Qua đó, ta hiểu
rõ hơn thế giới nội tâm của tác giả Trong bài viết Áng mây trắng xứ Đoài
Quang Dũng in trong cuốn Chân dung các nhà văn Việt Nam hiện đại, tập 2,
tác giả Văn Giá viết: “Quang Dũng sinh ra để làm một kiếp mây và ông cứ
Trang 39làm một áng mây trăng xứ Đoài hồn nhiên lang thang từ làng ra phố, hết phố lại lên rừng, rồi lại từ rừng về phố Để cho hôm nay, vào tuổi 50 mới ngộ ra phận mình y như một áng mây lang thang không hơn không kém” [15; 86 -
87]
Khi Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến ta đã bắt gặp một “cồn
mây” bị cái mũi súng chọc thủng hướng lên trời:
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Trong những sáng tác sau này, Quang Dũng cũng nhiều lần nói tới hình ảnh những áng mây Áng mây trăng bồng bềnh, gắn với miền quê xứ Đoài thân yêu:
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
(Đôi mắt người Sơn Tây)
Ba Vì tảng đá xanh Thức với mây Đoài trắng xóa
(Bất Bạt đêm giao quân)
Phải chăng mây đã trở thành một nỗi ám ảnh trong thơ Quang Dũng? Khi viết về chính bản thân mình, hình ảnh áng mây cũng không tách rời khỏi tâm trí nhà thơ Ông ví mình như một áng mây lang thang:
Mây ở đầu ô mây lang thang Ôi! Chật làm sao
Góc phố phường
(Mây đầu ô)
Thơ là những rung động của con người trước cuộc sống Những cảm xúc chiêm nghiệm của Quang Dũng trước cuộc đời đã tạo nên trong thơ ông một cấu tứ rất riêng Đó là cách cấu tứ trong xây dựng hình tượng con người trong mối giao cảm với thời gian
Trang 40Buổi chiều thường gợi cảm giác buồn, nhung nhớ, muốn tìm về đoàn tụ với người thân của những tâm hồn xa xứ Trong thơ Quang Dũng, ta bắt gặp nhưng buổi chiều quạnh vắng, đìu hiu:
Long lanh bóng núi in sông biếc Buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu?
Quạnh quẽ sắn nương rờn nắng ấm Ngõ trúc người ơi tịch mịch chiều
(Thu)
Đó là nỗi buồn man mác đang trĩu nặng tâm tư nhà thơ Chiều như mang theo nỗi nhớ thương ùa về Hình ảnh quê hương với những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc hiện lên trong dòng suy tưởng
Ngoài ra, Quang Dũng còn xây dựng hình ảnh con người trong mối giao cảm với cuộc đời, con người Văn học luôn lấy con người làm trung tâm, làm đối tượng để hướng tới Thơ ca là một thể loại văn học đặc sắc, trong thơ,
ta bắt gặp rất nhiều mối quan hệ mà quan hệ quan trọng nhất vẫn là quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cuộc đời Trong thơ, Quang Dũng cũng xây dựng được mối quan hệ này rất tha thiết
Quang Dũng là nhà thơ có trái tim giàu tình yêu thương Ông đã thể hiện sự xúc động trước cảnh chia li:
Cha già phơi áo rách
Mẹ trông ngõ ngày dài Thương con thành hổ báo Thương một người con trai
(Nhớ bạn)
Hình ảnh người mẹ ngày ngày ngóng trông, lo lắng cho đứa con trai chinh chiến được tác giả khắc họa rõ nét Đó là những tình cảm chân thành, gần gũi nhất của con người