1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật thơ tế hanh

103 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 621,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam khi giới thiệu Tế Hanh như một cây bút "vẫn còn trẻ lắm và cũng mới bước vào làng thơ" đã kể lại ấn tượng về lần gặp gỡ với người thiếu niên thi sĩ rụ

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Phong Nam

Đà Nẵng – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phan Thị Thanh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Bố cục của luận văn 8

CHƯƠNG 1: TẾ HANH - HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ CA 9

1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP THƠ CA CỦA TẾ HANH 9

1.1.1 Tế Hanh giai đoạn khởi đầu 9

1.1.2 Tế Hanh với những tháng năm “Ngày Bắc đêm Nam” 11

1.1.3 Tế Hanh tuổi xế chiều 14

1.2 VỊ TRÍ CỦA TẾ HANH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THƠ CA HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 17

1.2.1 Tế Hanh trong phong trào Thơ Mới 17

1.2.2 Tế Hanh trong dòng mạch thơ ngợi ca quê hương 19

CHƯƠNG 2: NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TẾ HANH 23

2.1 “GƯƠNG MẶT QUÊ HƯƠNG” VÀ NỖI NHỚ TRONG THƠ TẾ HANH 23

2.1.1 Hình bóng làng quê trong thơ Tế Hanh 23

2.1.2 Nỗi nhớ sông biển trong thơ Tế Hanh 40

2.2 NHÂN VẬT TRỮ TÌNH- CHÂN DUNG TỰ HỌA TRONG THƠ TẾ HANH 43

2.2.1 Một tâm hồn đa cảm 43

2.2.2 “Nhân vật người tình” trong thơ Tế Hanh 51

Trang 5

3.1 NÉT ĐẶC SẮC CỦA NGÔN TỪ THƠ CA TẾ HANH 55

3.1.1 Lối diễn đạt trong sáng, giản dị 55

3.1.2 Từ ngữ tinh tế, hàm súc 58

3.2 GIỌNG ĐIỆU TRONG THƠ TẾ HANH 60

3.2.1 Giọng tâm tình, giãi bày, sẻ chia 61

3.2.2 Giọng mộc mạc, chân tình 65

3.2.3 Giọng suy tư, triết lý 70

3.3 MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC TRONG THƠ TẾ HANH 75

3.3.1 Lối so sánh ẩn dụ 75

3.3.2 Nét độc đáo trong việc tạo lập tứ thơ 81

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tế Hanh là nhà thơ có vị trí quan trọng trong nền thơ hiện đại Việt Nam Ngay từ khi mới xuất hiện trong làng Thơ mới, Tế Hanh đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà thơ, nhà phê bình tên tuổi Tài năng và năm tháng đã đem lại cho nhà thơ một cái nhìn đầy đủ, ý thức hơn về nghiệp thơ ca của mình Gần một thế kỷ sống và sáng tạo, nhà thơ thực sự ghi lại một dấu ấn quan trọng Mỗi tập thơ của ông ra đời dù ở thời điểm nào cũng đều gây được sự chú ý của bạn đọc Vì thế, từ trước đến nay đã có nhiều bài trên các sách, báo, tạp chí, trang web… viết về sáng tác của Tế Hanh Các bài viết đều làm nổi bật những đặc sắc, thành công cả về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện, đồng thời cũng chỉ ra được vị trí của mỗi tập thơ trong quá trình sáng tác của Tế Hanh

Thêm vào đó, một số tác phẩm của Tế Hanh cũng được đưa vào trường học Điều này đã hiến tên tuổi của nhà thơ trở nên quen thuộc với mọi người

Chỉ cần đọc vài câu trong Quê hương, Nhớ con sông quê hương thì ắt hẳn

không mấy ai là không gọi tên Tế Hanh

Đến với thơ Tế Hanh người đọc dễ dàng bắt gặp hồn thơ trong trẻo, hồn hậu mà dạt dào cảm xúc Rung động chân tình, sáng tạo trong nghệ thuật cấu

tứ, nhiều bài thơ của ông đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc

Chọn đề tài “Đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh”, chúng tôi muốn tiếp tục

khám phá, giải mã thế giới nghệ thuật thơ của một tác giả lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại, vị “ đại biểu cuối cùng trong phong trào Thơ mới ” Qua đó, góp phần khẳng định thành tựu nghệ thuật của Tế Hanh, phục vụ cho việc học tập, giảng dạy văn học trong nhà trường

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tế Hanh xuất hiện trên thi đàn khá sớm Năm 1939, tập thơ Nghẹn ngào

Trang 7

của ông đã đạt giải thưởng của Tự lực văn đoàn và tên tuổi Tế Hanh bắt đầu

có sức thu hút đối với giới nghiên cứu, phê bình văn học Với cái nhìn nhạy

cảm, tinh tế của một nhà phê bình tài hoa, Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân

Việt Nam đã viết: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm Tế Hanh đã ghi

được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương Người nghe thấy

cả những điều không hình sắc, không thanh âm như “mảnh hồn làng” trên

“cánh buồm giương”, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ con đường quê nho nhỏ Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm trao cho cảnh vật…Nhưng Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người sẵn

có một tâm hồn tha thiết” [23, tr.140]

Phạm Hổ thì giải thích: “ Ngay từ khi mới xuất hiện, Tế Hanh đã mang tâm trạng, giọng thơ riêng, tha thiết, đằm thắm, tinh tế và đặt biệt là những tình cảm hết sức chân thành, hồn nhiên” [14, tr 18]

Bích Thu cho rằng: “ Thơ Tế Hanh với những xúc cảm về nội tâm chân thành, tinh tế dễ đi vào lòng người, được nhiều thế hệ độc giả mến mộ và thuộc” [18, tr.142]

Đánh giá về tập thơ Lòng miền Nam, Vũ Tuấn Anh đã khẳng định: “ Thơ

anh giúp họ vượt qua nỗi buồn và sự cô đơn mà ít ai thoát khỏi, để vươn tới niềm tin yêu cuộc sống, ở chế độ” [3, tr 21]

Sau cách mạng tháng tám, nhiều nhà phê bình, nhà nghiên cứu đã giành cho thơ Tế Hanh một sự quan tâm đặc biệt Một trong số đó là Hà Minh Đức

Viết lời giới thiệu cho Tuyển tập thơ Tế Hanh, Hà Minh Đức đã có nhận xét

khá sâu sắc về con đường thơ ca của Tế Hanh: “ Tế Hanh là bông hoa nở muộn trên thi đàn” Và ông cũng đã chỉ ra: “ Mùa hoa đẹp trong thơ tác giả chủ yếu ở nhưng chặng thơ sau Cách mạng tháng Tám” Trong một bài viết của mình, ông viết: “Tế Hanh là nhà thơ luôn ở giữa cuộc đời mà suy nghĩ,

Trang 8

cảm xúc yêu thương…Tế Hanh là nhà thơ của đời thường Chất liệu đời

thường gần gũi được Tế Hanh trân trọng khai thác” [11, tr 25] Theo ông,

“Tế Hanh không chỉ cảm nhận cuộc sống với lòng chân thực và cách nhìn

bình dị, mà cũng luôn có ý thức phát hiện cái thi vị ở đối tượng miêu tả Kết

hợp cái thật và cái đẹp là một trong những đặc điểm chủ yếu của thơ Tế Hanh… Anh hướng thơ đến cái đẹp thi vị thanh cao lại vừa đưa thơ về với cuộc đời bình dị Tế Hanh không thi vị hoá cuộc sống mà biết phát hiện chất thi vị đó đây trong đời, trong thơ” [11, tr 29-30] Thơ Tế Hanh, theo Hà Minh Đức là thứ thơ thiên về cảm xúc Ông viết: “Tế Hanh là một tâm hồn thơ giàu cảm xúc Cảm xúc chân tình tha thiết đã đem đến trong thơ Tế Hanh một bản sắc riêng có sức lôi cuốn hấp dẫn tự bên trong, không ồn ào mà lay động, dễ đồng cảm, dễ đắm say…; tình cảm đã tạo nên sức mạnh chủ yếu trong thơ Tế Hanh…; tình cảm trong thơ Tế Hanh có nhiều sắc thái, giọng điệu nhưng có

lẽ cái điệu cảm xúc trội hơn cả là điệu buồn” [8, tr 90-92]

Cuốn Tế Hanh về tác gia và tác phẩm được coi là một trong nhưng

công trình nghiên cứu, sưu tầm, biên tập các bài viết, nghiên cứu về Tế Hanh lớn nhất từ trước đến nay Mã Giang Lân đã tập hợp những bài nghiên cứu

về thơ với đời Tế Hanh của nhiều tác giả khác thành một công trình mang tính tổng hợp, Mã Giang Lân cho rằng, tạng thơ của Tế Hanh là “ giản dị,

trong sáng, tinh tế mà đậm tình đất nước” Cùng cách nhìn ấy, trong bài Tế

Hanh - tinh tế - trong trẻo ông cũng nhận định “Tiếng vọng cuộc đời trong

thơ Tế Hanh trước hết là tiếng vọng của quê hương… Quê hương là nguồn mạch chính xuyên suốt chảy dạt dào trong cả đời thơ ông và cũng là mạch thơ Tế Hanh có những bài thơ hay nhất, thành công nhất” [18, tr 31-32] Và ông cũng phát hiện nét riêng trong phong cách Tế Hanh, đó là “ một tâm hồn luôn nhạy cảm với cái đẹp Ông muốn miêu tả hiện thực cuộc sống với một

lí tưởng đẹp và vì vậy thường thiên về khai thác cái đẹp trong cuộc sống,

Trang 9

trong thiên nhiên” [18, tr 42]

Bàn về thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh, Mai Hương lại quan tâm nhiều

đến giọng điệu Trong bài viết Giọng điệu thơ Tế Hanh, Mai Hương viết:

“Cùng với giọng chủ đạo: tâm tình, thơ Tế Hanh dần có sự kết hợp bổ sung những giọng điệu khác: hoặc day dứt, trăn trở hoặc trầm tĩnh, suy tư” [15, tr 279]

Nhà thơ Chế Lan Viên, người bạn thân thiết của Tế Hanh trong Tế Hanh

hay thơ và cách mạng thì viết: “Khả năng nhìn thấy hồn sự vật, khả năng suy

nghĩ trừu tượng của anh khá mạnh Nhưng hình như nói đến anh, người ta hay nghĩ đến thơ tình, đến trái tim yếu đuối của anh hơn là những thao tác sắc sảo của trí tuệ” [26, tr 5]

“Thơ của Tế Hanh vì thế bộc trực, tả tình, tràn tình, tình để ở trần hơn là nấp sâu, che giấu một cái tứ Cố nhiên anh có nhiều bài lập tứ khá hay Nhưng

ý tứ ở anh cũng là cái tứ của trái tim hơn của óc, cái tứ của anh không phải cái bẫy cầu kì của trí tuệ để nhử những con chim kì lạ, mà chỉ là cái nhành giản đơn vừa đủ cho tình cảm bay về” [3, tr.18]

Bàn về thơ Tế Hanh còn có thể kể đến một số bài báo trên những trang web trên mạng Internet Chẳng hạn như ý kiến của nhà phê bình Vương Trí Nhàn “Tế Hanh có giọng thơ buồn buồn, nó hoà nhịp với cái tâm hồn vốn lặng lẽ chứ không quá nồng nhiệt của dân tộc này Tế Hanh đã bắt nhịp được,

là đại biểu cho dòng thơ đó, vì vậy mà thơ ông dễ đi vào lòng người, dễ chiếm được cảm tình của người Việt Nam” [21, tr.1]

Trong công trình nghiên cứu Tế Hanh tác phẩm chọn lọc, Vũ Tuấn Anh

với những lời đánh giá: “ Thơ Tế Hanh không mạnh về cấu tứ, về trí tuệ Tính trữ tình tự nhiên, đằm thắm và thuần khiết làm nên vẻ đẹp của thơ ông” [3, tr.18]

Ý kiến của Lưu Khánh Thơ “Thơ Tế Hanh vọt ra từ đáy giếng tâm tình

Trang 10

mát rượi và sâu thẳm của anh, thật tự nhiên, thật hồn nhiên nhưng cũng rất điêu luyện nghệ thuật” [24, tr 3]…

Nghiên cứu đánh giá thơ Tế Hanh, không ít tác giả đặc biệt chú ý đến mảng thơ tình bởi nó chiếm một vị trí không nhỏ trong toàn bộ sáng tác của ông Xung quanh vấn đề này, chúng tôi có thể kể đến một số ý kiến tiêu biểu

Tác giả Thanh Quế trong bài viết Có một tình yêu đi suốt thời gian so sánh: “

Tôi thường nghĩ rằng, thơ tình của Xuân Diệu sôi nổi, rạo rực, có cái gì đó quyết liệt chiếm đoạt để hưởng thụ cuộc sống và tình yêu Đó là tiếng nói của một người đi trong giai đoạn cuối của tình yêu Thơ tình của Hàn Mặc Tử đau xót, quằn quại, nhưng hình như ông mượn thơ để nói những việc đời hơn là nói với người tình những chuyện yêu đương Nguyễn Bính là nhà thơ của những mối tình trắc trở, dở dang…Còn thơ tình Tế Hanh thì hồn hậu, da diết, thủ thỉ, gần gũi với đời ta Đấy là tiếng nói của một người tình biết trân trọng, thuỷ chung với bạn tình” [19, tr 23] Chế Lan Viên, trong lời bạt viết cho

Tuyển tập Tế Hanh (1987): “Nếu vào trong khu vườn, Xuân Diệu sẽ ngoạm

vào cả các trái hồng lẫn các trái xanh, Huy Cận lắng nghe chất nhựa trên cành, người nào đó hì hục tìm thơ trong bộ rễ âm thầm, còn với Hanh thì màu xanh của lá cũng đủ cho anh hạnh phúc” [26, tr 28]

Trong bài viết Về một nét riêng trong thơ tình Tế Hanh Trần Hoài

Anhcũng so sánh: “Thật vậy, đọc thơ của Tế Hanh nói chung và mảng thơ tình yêu nói riêng, chúng ta khó bắt gặp những cảm xúc nóng bỏng, vồ vập, sôi nổi, nồng cháy, ngây ngất như thơ tình của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử…Nhưng không phải vì thế mà thơ tình của Tế Hanh vắng thiếu sự nồng nàn vốn là bản chất của tình yêu mà trái lại chính sự lắng đọng trong cảm xúc tạo cho thơ tình Tế Hanh một nét riêng độc đáo Đó chính là sự sâu lắng nhưng không kém phần mênh mông, da diết [1, tr.6]…

Trang 11

Trên Báo Đại đoàn kết số 85 năm 2000, Nguyễn Thanh Bình có bài viết

khá thuyết phục khẳng định sự đóng góp của Tế Hanh và nhiều nhà thơ khác với tựa đề “ Thơ Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa dân tộc” đưa Việt Nam đi một bước đột biến trong quá trình hiện đại hóa [4, tr.5]

Cũng đề cao sự đóng góp của Tế Hanh trong nền thơ ca dân tộc, trên Tạp

chí Tác phẩm mớisố 35, Hoài Anh đã viết: “ Một đời sáng tạo không mệt mỏi,

Tế Hanh đã có một khối lượng tác phẩm phong phú Dù có nhưng thành bại thăng trầm trong sáng tạo, ông đã để lại không ít bài thơ từng làm say mê lòng người đọc một thời và có sức sống bền lâu với thời gian” [1, tr.8]

Như vậy có thể thấy, số lượng nghiên cứu về thơ Tế Hanh không nhỏ Các nhà phê bình, nghiên cứu khá thống nhất trong việc đánh giá quá trình sáng tạo bền bỉ cũng như thơ ông trong nền thơ hiện đại Việt Nam Hầu như không có những đánh giá trái chiều, những khen chê khác biệt mà khá thống nhất trong xu hướng khẳng định những đóng góp, sự vững vàng của Tế Hanh cũng như những thành côngđặc biệt là về mặt nội dung tư tưởng (cảm hứng,

đề tài, chủ đề…) và đã bước đầu quan tâm đến một số phương diện đặc điểm

thơ Tế Hanh Thông qua các bài viết về Tế Hanh, cũng có thể thấy rõ thế giới

nghệ thuật thơ Tế Hanh rất phong phú, đa dạng cần phải tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài này trên cơ sở tổng hợp thành tựu nghiên cứu thơ Tế Hanh của những người đi trước, đánh giá và chỉ ra những vấn đề còn mở ngỏ trong việc

nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh trên phương diện nghệ thuật,

làm rõ nét nổi bật, điểm sáng của thế giới thơ Tế Hanh, đồng thời cũng xuất

phát trên đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh qua một số một số phương thức

thể hiện: so sánh, nét đặc sắc trong việc tạo lập tứ thơ, với hi vọng đem đến một cái nhìn hệ thống, đầy đủ và toàn diện đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh Qua đó, tìm hiểu, khám phá những nội lực còn tìm ẩn bên trong cũng như

Trang 12

những tìm tòi thể nghiệm của Tế Hanh về phương thức nghệ thuật thơ, từ đó khẳng định lần nữa những đóng góp của nhà thơ cho phong trào Thơ mới cũng như trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nói đến đặc điểm nghệ thuật thơ là nói đến toàn bộ những thành tựu, những sản phẩm mang dấu ấn cá nhân tài năng, cá tính sáng tạo của nhà thơ Trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam, Tế Hanh là nhà thơ có phong cách riêng Ông đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc nhiều lứa tuổi và được nhiều nhà phê bình nghiên cứu quan tâm Trong luận văn, chúng tôi cố gắng làm nổi bật đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh ở ba phương diện: Hành trình sáng tạo thơ ca, nét độc đáo của thế giới nghệ thuật và đặc điểm nghệ thuật thơ

Tế Hanh

Về mặt văn bản, chúng tôi chọn toàn bộ tác phẩm của Tế Hanh làm văn

bản khảo sát chính Ngoài ra, còn khảo sát thêm một số văn bản khác có liên quan đến tác giả Tế Hanh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phân tích là chia tách, phân chia đối tượng thành nhiều yếu tố; tổng hợp

là sắp xếp, gộp nhập các yếu tố thành chỉnh thể Phương pháp phân tích, tổng hợp giúp cho việc nghiên cứu thơ Tế Hanh vừa đảm bảo tính cụ thể, lại vừa

mang tính hệ thống, toàn vẹn

4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

So sánh, đối chiếu là đặt tác phẩm của Tế Hanh trong mối tương quan hác nhau Phương pháp này giúp chúng tôi tìm ra những điểm tương đồng và nét độc đáo riêng của nhà thơ Tế Hanh

Trang 13

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, luận văn triển khai trong 3 chương

Chương 1: Tế Hanh- hành trình sáng tạo thơ ca

Chương 2 : Nét độc đáo của thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh qua một số phương thức thể hiện

Trang 14

CHƯƠNG 1

TẾ HANH - HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ CA

1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP THƠ CA CỦA TẾ HANH

1.1.1 Tế Hanh giai đoạn khởi đầu

Bước vào làng thơ một cách rụt rè, nhưng Tế Hanh đã sớm khẳng định được vị trí của mình trong giai đoạn phát triển của thơ ca cuối những năm 30

của thế kỷ trước Năm 1941, khi xây dựng cuốn Thi nhân Việt Nam, tập hợp

46 tác giả nổi bật trong phong trào thơ Mới, Hoài Thanh - Hoài Chân đã nhận định: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người sẵn có một tâm hồn tha thiết” [23, tr.140] Cái "tinh"như Hoài Chân, Hoài Thanh nói là sự tinh tế, nhạy cảm của một hồn thơ trước vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của con người, của tình đời

Là người nhập cuộc khá muộn, Tế Hanh bước vào làng thơ khi phong

trào Thơ mới đã đi được một chặng đường dài từ lãng mạn qua tượng trưng, siêu thực Khi mỗi nhà Thơ mới là một ốc đảo riêng với cái hố cá nhân chủ

nghĩa, tách biệt với cuộc sống cộng đồng và đi vào siêu hình thì Tế Hanh, người đến sau, cũng không nằm ngoài quỹ đạo Ông không thoát khỏi mạch cảm xúc buồn, cô đơn của thế hệ Chính Tế Hanh sau này đã bộc bạch chân thành: “…Và tôi đã giải quyết bằng cách không công nhận cuộc đời ấy…nhưng con đường nghệ thuật mà tôi đã đi…là thứ nghệ thuật giúp tôi quên tất cả những cái đó một cách tôi cho là thần diệu” [10, tr.3]

Tế Hanh lặng lẽ và dè dặt góp tiếng thơ riêng của mình Tuy nhiên, điểm khác của Tế Hanh so với các nhà thơ lãng mạn cùng thời là buồn, cô đơn mà không bế tắc; có ao ước, mơ màng mà không quên gắn bó với quê

hương, cuộc sống Trong khi các nhà Thơ mới mỗi người tìm cho mình một

lối thoát phi thực tế: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường

Trang 15

tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận” [23, tr.47] thì Tế Hanh lại hướng tâm hồn về với những cái thân thuộc nhất của quê hương, gia đình và cuộc sống nơi làng quê vốn làm nghề chài

lưới của ông

Là người con đã gắn bó, lớn lên cùng quê hương bản xứ, Tế Hanh đã cảm nhận được một cách tinh tế vẻ đẹp của người lao động quê mình Và bằng tất cả yêu thương, ông đã vẽ lại họ trong một khúc ca trong trẻo, hồn nhiên Có được điều đó là bởi ông đã từng:

Tôi thâu tê tái trong da thịt

Hương đất, hương đồng chẳng ngớt tuôn

(Lời con đường quê)

Khởi thủy từ một tâm hồn nặng lòng với cuộc sống, giàu tình thương với con người và quê hương, Tế Hanh đem đến cho Thơ Mới những bài thơ hồn nhiên, trong trẻo Đó phải chăng là cái buồn trong sáng của một tâm hồn đáng quý! Tế Hanh góp thêm không khí thơ đương thời một luồng gió trong lành Thơ của ông gần với cảm quan với tình cảm hơn là phân tích suy đoán

của lý luận Những bài thơ Hoa niên của mơ mộng học trò, của lãng mạn thi

nhân đã được tuổi trẻ đón nhận một cách hân hoan, nồng nhiệt Hoài Thanh

trong Thi nhân Việt Nam khi giới thiệu Tế Hanh như một cây bút "vẫn còn trẻ

lắm và cũng mới bước vào làng thơ" đã kể lại ấn tượng về lần gặp gỡ với người thiếu niên thi sĩ rụt rè ngượng nghịu mới bước vào tuổi đôi mươi thể hiện "cái nhìn sâu sắc của một con người sẵn có một tâm hồn tha thiết" [23,

tr.5] Bài thơ Quê hương ít nhiều có thể coi là một hiện tượng của thơ đương

thời về đề tài thôn quê, để nâng cảm xúc thôn dã thành một chủ đề có tầm

khái quát mới, sâu sắc hơn: quê hương Khái niệm "quê hương" nay có thêm

Trang 16

âm vang sóng nước và vị mặn mòi của biển cả, được cất lên qua một khúc ca lao động khỏe khoắn và trong lành, một tiếng nói thiết tha gắn bó với một vùng chài lưới Có thể nói, Thơ mới lần đầu tiên biết hát lên những câu hát khỏe khoắn, đẫm mồ hôi lao động qua những vần thơ tha thiết ấy Tế Hanh đã

tô thêm màu sắc, bồi đắp thêm những giá trị mới cho thơ lãng mạn vào chặng cuối của nó

1.1.2 Tế Hanh với những tháng năm “Ngày Bắc đêm Nam”

Tuy sớm khẳng định được những nét riêng của “bông hoa nở muộn

trong vườn hoa Thơ mới”, nhưng Tế Hanh cũng không tránh khỏi những tác

động của xã hội những năm 40 của thế kỉ XX, rơi vào chán nản, bi quan Trong thơ Tế Hanh thời kỳ 1942-1944, đã xuất hiện một mạch thơ khác

không còn chất hồn nhiên, đằm thắm, gắn bó với hiện thực như thuở “Hoa

niên” ngày trước Ở giai đoạn này, thơ Tế Hanh xuất hiện một nỗi buồn nặng

nề, có phần bế tắc trước cuộc sống Có thể thấy điều này qua cách nhìn đời của ông:

Và sau hết ta chỉ còn ngấn lệ

Nằm rưng rưng trong mắt của đêm hờn

(Trăng tàn)

Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ, đưa Tế Hanh và nhiều văn nghệ sĩ

sang quỹ đạo của lý tưởng chính trị và nghệ thuật mới Trong giai đoạn này,

Tế Hanh đã phải vượt lên chính bản thân mình rất nhiều Đầu tiên, là một sự chuyển đổi trong nhận thức, trong cách sống, cách nghĩ, cách cảm Chính những chuyển đổi ấy đã tạo nên những cách tân rõ rệt trong thơ Tế Hanh Giờ

đây, Tế Hanh đã chuyển cái Tôi công dân của mình được biểu hiện trực tiếp

thông qua phẩm chất cái Tôi hành động, tham gia các hoạt động cách mạng Ông hăng say lao vào công tác, gần gũi quần chúng lao động, nhất là bà con nông dân.Càng trưởng thành, tâm hồn Tế Hanh càng giàu có hơn lên Ở hai

Trang 17

tập thơ Hoa mùa thi (1949) và đặc biệt là Nhân dân một lòng (1953) cái Tôi

hành động của nhà thơ được biểu hiện cụ thể, rõ nét Chủ thể nhà thơ hầu như không xuất hiện trong trạng thái tĩnh, trầm tư, trữ tình mà giờ đây như một người trong cuộc sống đang trực tiếp tham gia vào các hoạt động kháng chiến cùng cảm nhận khách quan hiện thực mới một cách có ý nghĩa Tế Hanh lúc này đã dần chuyển mình, lột xác, tìm tòi, hướng đến cái mới Trong thơ ông giờ đây đã xuất hiện những nhân vật trữ tình mới, khoẻ khoắn Đây là một bước chuyển rõ rệt của Tế Hanh đã tìm được chất thơ ở ngoài mình, nhưng xét về hiệu quả nghệ thuật thơ kháng chiến chống thực dân Pháp của ông vẫn chưa tạo được âm vang trong lòng người đọc

Ngày đất nước hòa bình 1954, trong “Chiêm bao” và “Nhớ con sông quê

hương”, viết liên tiếp trong hai tháng 5 và 6 năm 1956, thơ ông đã có một

bước tiến vượt bậc về chất lượng Tế Hanh đã tìm được mối hòa hợp đúng nhất của hồn thơ với chất thơ của đời sống Thơ ông lúc này đạt độ chín và đó cũng là kết quả của một quá trình phấn đấu để có sự hòa hợp thực sự giữa cái Tôi và cái Ta

Đất nước tạm chia cắt, chủ đề mới đến với thơ Tế Hanh, chủ đề bao trùm trong nhiều thập niên và tạo nhiều thành công trong thơ ông: sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước Ở đây Tế Hanh đã tìm được sự hòa hợp, nhuần

nhị của hồn thơ mình với chất thơ của đời sống Lòng miền Nam, Gửi miền

Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương…Hàng loạt những bài thơ hay của ông

được dư luận chú ý, đánh giá cao và cho đến nay, đọc lại vẫn dâng trào cảm xúc Trên đường thơ của mình, Tế Hanh đã tiến một bước dài Đây là thời kỳ sung sức, chín rộ nhất của thơ Tế Hanh Ông vượt lên ở thế chủ động Chủ động kết hợp riêng chung trong lý tưởng, kết cấu, nhịp điệu, ngôn ngữ, gieo vần, nó hòa đồng được với nhịp đập con tim Tế Hanh lựa chọn những gì dịu nhẹ, sâu lắng ; ngay cả trong các biến cố xã hội dữ dội, ông cũng lấy ra những

Trang 18

mảnh nhỏ để thể hiện Nhưng tổng hợp lại, từ những dòng nước nhỏ ấy, chúng ta vẫn nhận ra sự gắn bó của ông với đời sống dân tộc và tiếng thơ ông

có cách thâm nhập riêng để rồi đọng lại trong lòng người tấm lòng chân thành, nhưng sự chân thật là yếu tố quan trọng trong thơ Tế Hanh :

Lòng ta như bếp lửa Đun củi những cuộc đời Thành thơ bao nỗi vui Thành thơ bao nỗi khổ

Sự giằng xé nội tâm đã tạo sự phong phú trong thơ ông

Tế Hanh vui với miền Bắc có thêm những công trình mới nhưng lại chạnh lòng xa xót quê hương, đồng chí, đồng bào miền Nam đang còn chịu

nhiều đau khổ Gửi miền Bắc, Khúc ca mới, Đi suốt bài ca, Theo nhịp tháng

ngày, Giữa những ngày xuân, Bài ca sự sống…Chiêm bao và Nhớ con sông quê hương Nó chính là tình cảm của tác giả những ngày đầu xa quê hương,

một cuộc đi xa mà ngày về phải qua nhiều khó khăn trắc trở, khiến nỗi thương

nhớ càng ngút ngàn, thấm thía xót xa Bài thơ Chiêm bao có cái thảng thốt

bàng hoàng của nỗi lòng đó:

Chiêm bao bừng tỉnh giấc Biết là em đã xa

Trên tường một tia nắng Biết là đêm đã qua

Nhưng lại có được sự tin tưởng, tỉnh thức của ý chí :

Giấc chiêm bao đêm trước Soi sáng cả ngày sau Đây chính là bước tiến của hồn thơ Tế Hanh, là kết quả của quá trình phấn đấu bền bỉ đầy cam go của ông Tế Hanh giờ đây đã tìm lại được mình với những nét chân thật trong tình cảm mới Sự chuyển biến lớn trong nhận

Trang 19

thức về cách mạng đã trở thành tình cảm thiêng liêng, vững bền Tế Hanh nhìn nhận mới về hiện thực, phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua tâm trạng, cảm xúc sâu lắng của mình

Đất nước thống nhất 1975, một chặng đường mới của thơ Tế Hanh bắt

đầu Tập thơ Giữa những ngày xuân ra đời trong không khí ấy Ở đây chúng

ta bắt gặp khát vọng trở về của người con đã từ lâu mang trong mình niềm khát khao cháy bỏng:

Tôi sẽ trở lại nơi tôi hằng mơ ước Tôi sẽ về sông nước của quê hương Tôi sẽ về sông nước của tình thương

(Nhớ con sông quê hương)

Bên cạnh chủ đề đấu tranh thống nhất đất nước, Tế Hanh còn viết nhiều vấn đề mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội, tình hữu nghị quốc tế Từ một nhà thơ trữ tình chỉ biết tả mình, Tế Hanh chuyển sang tả người, nói về người Chế Lan Viên nhận xét: “Tế Hanh đã làm giàu mình thêm bằng chất tiểu thuyết, chất đời, chất người qua các nhân vật và lối thơ kể chuyện” [27, tr.83] Với những cảm xúc mới mẻ này, Tế Hanh nhiệt thành sống, lặng lẽ bồi đắp tâm hồn Thơ Tế Hanh do vậy, càng “nhập cuộc” hơn, càng có sự mở rộng về

đề tài Cuộc sống và con người vào thơ ông ngày một sâu hơn, sôi động, khoẻ

khoắn hơn Tế Hanh hoàn thành tiếp các tập thơ Hai nửa yêu thương (1963),

Khúc ca mới (1966), Đi suốt bài ca (1970), Theo nhịp tháng ngày (1974)

Tấm lòng chân thành, là cảm xúc dồi dào, ý nhị vốn là một đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ của Tế Hanh

1.1.3 Tế Hanh tuổi xế chiều

Vậy, ở các tuổi xế chiều thơ Tế Hanh có gì khác những chặng trước không?

Tế Hanh đã viết: “ Năm 1976, tôi bị đau mắt, thơ tôi chuyển nhiều vào

Trang 20

nội tâm, nói nhiều về vui buồn của đời mình và cuộc đấu tranh chống bệnh tật, đó là giai đoạn tôi bước vào giai đoạn tuổi già 60 – 70, trong khi đất nước chuyển mình đổi mới” [10, tr.20]

Mắt anh không được như xưa Nhìn quanh như thể cơm mưa ròng ròng Không nhìn rõ được thế giới bên ngoài, nên ông quay sang nhìn bên trong, cảm nhận cái thế giới bên trong của mình sâu lắng, từng trải hơn trước

Nếu ở chặng Hoa niên, thơ Tế Hanh là sự rung lên của cái vị quê hương tanh

nồng miền biển Quảng Ngãi thấm vào cảm tính tinh nhạy của chàng học sinh mới lớn, thì ở chặng cuối này là cái nhìn hướng vào nội tâm với những nỗi vui buồn, nhưng không phải là cái trữ tình hoàn toàn riêng tư với sự cô đơn,

mà với những trải nghiệm về nỗi vui, nỗi buồn của đời người, về đấu tranh và

hi vọng, về lẽ sống và số phận con người… Tất cả những điều đó đã tích tụ lại như mưa nắng đã tích tụ vào trong chất bột của quả để chín thành hương,

thành vị Những bài thơ Cái nhìn, Hà Nội vắng em, Bài ca sự sống, Ánh sáng

mới,…là những tâm tình trầm lặng mà sâu lắng Nhưng, cũng như ở giai đoạn

trước, thơ Tế Hanh vẫn giữ được cái cảm xúc chân thành Đúng như ông đã nói “Nguồn cảm xúc chân thành là đầu mối của sự sáng tác thơ văn” [10, tr.19] Chính vì vậy, mà ở tuổi già, thơ ông vẫn giữ được cái hồn nhiên, vẫn khiến người đọc rung động từ bên trong:

Yêu em như một bài thơ

Mà nay câu chữ đều mờ trong anh Yêu anh như một bức tranh

Mà nay màu đỏ, màu xanh đều tàn

(Bức tranh – Bản đàn)

Suy nghĩ giờ đây đằm lại, chiều sâu tư tưởng tăng lên, tứ thơ chặt, rõ, lời thơ cũng tiết kiệm đi Ở Tế Hanh, tiềm thức dường như đã đóng vai trò quan

Trang 21

trọng tích lũy những mạch ngầm Cũng vì lẽ đó, thơ ông dễ gợi cho ta những

niềm cảm thông, đồng cảm:

Quyển sách đầu giường lạc đã lâu

Đến khi tìm lại mất trang đầu Bụi nhòa gián gặm thương trang sách Quên cả thương mình đọc được đâu

(Thương sách)

Nhân chuyến thăm thành phố Arles ở Pháp, ông viết:

Hương đồng nội thấm vào lông chú thỏ Đưa đôi chân bé nhỏ đùa trăng

(Thành phố nhỏ của tôi ơi)

Giờ đây, thơ ông vẫn giữ được cái cảm quan nhạy bén tinh vi thời trẻ nhưng sự suy tưởng, ngẫm nghiệm trong thơ ông lại chín hơn, những ý tưởng triết lý chắt lọc, nhuần nhị, suy nghĩ hòa quyện với cảm xúc hơn Ông cảm

nhận về thời gian:

Thời gian sao nhanh thế Nhìn lại căn phòng mình Một cái đinh

Ba mươi năm không nhúc nhích

Nghĩ về thơ, làm thơ cũng tự nhiên như nghĩ một chuyện đời thường:

Đóa hoa tự nó thơm Như bài thơ tự đủ

Với thơ Nguyễn Du, thì sự cảm nhận lại thấm thía như một nỗi niềm máu thịt:

Thế đấy, Nguyễn Du vĩ đại ơi Câu thơ máu thịt đã bao đời Bốn chiều cuộc sống hồn dân tộc Đựng cả mênh mông của đất trời

(Bói “Kiều”)

Trang 22

Tóm lại, trên chặng đường cuối thế kỷ, điều mà Tế Hanh mong ước là

cố gắng có một mùa thơ mới Trong mùa thơ ấy, hoa trái thưa hơn trước, nhưng hương vị vẫn giữ được cái tinh, cái tình vốn có, nay lại có phần chắt lọc, tinh vi hơn Với Tế Hanh những năm xế chiều vẫn có không ít bài giữ được cái mức của thời kỳ sung sức, hẳn ông đã tìm thấy câu tự trả lời mình trong miệt mài sáng tác, hoặc là chính những sản phẩm sáng tác đã trả lời cho ông Chính vì thế, thơ ông trong giai đoạn này vẫn còn nhiều người đọc và yêu mến Biết bao thất vọng và hy vọng vật lộn với nhau nhưng nhà thơ vẫn luôn tự xác định: muốn tồn tại trên trái đất phải tính từng giây, coi đấu tranh

giữa tồn tại và mất mát là nỗi đau nhưng cũng là sức mạnh của con người

Dẫu mất mát có lớn đến chừng nào, Tế Hanh thấy cuộc sống vẫn còn hạnh phúc, nếu con người biết thích nghi Bước sang tuổi 70, Tế Hanh yếu hẳn Nhưng phải thừa nhận rằng, tâm hồn ông còn nhạy cảm Đọc giảm đi, ông tăng cường “nghe” để hiểu thêm tình hình và hiểu thêm đồng nghiệp Ông vẫn kiên trì, cố gắng suy nghĩ và viết để đồng hành với các thế hệ sau

Thật vậy, sự nghiệp thơ như thế thật đáng quý, đáng quý trân trọng và không phải một tài năng thơ nào cũng thực hiện được, với một người lao động sáng tạo, còn gì yên tâm hơn khi cảm thấy điều ấy?

1.2 VỊ TRÍ CỦA TẾ HANH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THƠ CA HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

1.2.1 Tế Hanh trong phong trào Thơ Mới

Có một thời, nếu chọn năm gương mặt tiêu biểu của nền thơ đương đại Việt Nam, các nhà phê bình thường nhắc tới: Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và Tế Hanh Tế Hanh gần một đời trọn vẹn với thơ, thực sự đã

tự khẳng định được tài năng, sự đóng góp của mình trong nền thơ hiện đại Việt Nam

Năng khiếu thơ ca của Tế Hanh phát lộ sớm Với thi phẩm từng được

Trang 23

nhiều người nhắc đến: "Lời con đường quê", "Những ngày nghỉ học", "Quê

hương" thể hiện rõ phong cách của Tế Hanh được Hoài Thanh, Hoài Chân

chọn đưa vào cuốn hợp tuyển "Thi nhân Việt Nam" Đó là những bài có ý

tưởng, cấu tứ lạ, thuộc loại hiếm gặp trong thơ ca cổ kim, ghi nhận dấu ấn riêng, độc đáo của nhà thơ Tế Hanh được nhận giải khuyến khích của nhóm

Tự Lực văn đoàn đồng hạng với nữ thi sĩ Anh Thơ năm 1939 Về nghệ thuật thơ, Tế Hanh đã tự nhận xét : “ Tế Hanh có một linh hồn rất phong phú, có những rung động rất sâu sắc và để diễn tả tâm hồn ông có đủ nghệ thuật và

cách đặt câu, tìm chữ….” “ Nghẹn ngào là thơ của một người có tấm lòng

giàu, dễ rung động trước muôn nghìn cảnh hoặc tầm thường hoặc éo le trong

đời Tập Nghẹn ngào gom góp lại tất cả những rung động phức tạp của một

đời thiếu niên” [18, tr.16]

Năm 1941 Tế Hanh trở thành một trong 46 tác giả được Hoài Thanh giới

thiệu trân trọng trong Thi nhân Việt Nam Tuy “ chưa muốn nói gì nhiều về

Tế Hanh, vì Tế Hanh còn trẻ và cũng mới bước vào làng thơ, chưa có thể biết

rõ những con đường người sẽ đi” nhưng tác giả thi nhân đã khẳng định những

gì thuộc cốt lõi của cây bút trẻ này : “ Thơ Tế Hanh đưa ta vào môt thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ cái thế giới những tình cảm ta

đã âm thầm trao cho cảnh vật” [19, tr.140] “ Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì phê bình người sẵn có một tâm hồn tha thiết” , [19, tr.144] “Sự thành thực của thi nhân không thể ngờ được” [19, tr.148] Có thể thấy, Tế Hanh khẳng định như một cây bút nhiều hứa hẹn, tài năng ngay từ phong trào thơ Mới

Trong nghệ thuật thơ của mình, Tế Hanh không có những bước tiến vọt, nhưng ông tiến đều, con đường đi vào trái tim người đọc của thơ ông thường

là con đường đi thẳng Cứ thế mà Tế Hanh có chỗ đứng vững vàng, qua bao nhiêu năm tháng thơ ông đã thực sự đi vào lòng người Trong thơ ông, họ bắt

Trang 24

gặp tâm trạng của mình trong tâm trạng của nhà thơ trước cuộc sống Thơ và bạn đọc trở nên gần gũi đến lạ thường! Thơ Tế Hanh còn giúp họ vượt qua nỗi buồn, sự cô đơn để vươn tới niềm tin yêu ở cuộc sống Nhấn mạnh cái riêng của thơ Tế Hanh cũng là nét chung của nhiều bài viết Nói như Chế Lan Viên: “ Tế Hanh đã đem một cái mới cho bản thân mình, riêng của mình, rất

Tế Hanh và cái riêng ấy đã đóng góp vào cái chung của nền văn học chúng ta” [27, tr.397]

Tế Hanh được công chúng yêu thơ, mến tiếng bởi trên ba mươi cuốn sách xuất bản trong sáu mươi năm cần mẫn lao động; chủ yếu là những tập thơ, phê bình thơ và dịch thơ cũng gây ấn tượng đặc biệt cho người đọc Ông được xem là “ một trong những nhà thơ Việt Nam đọc thơ tây nhiều nhất” [27, tr.16] Sự lao động bền bỉ và đóng góp của Tế Hanh là kết quả của một cuộc đời sáng tạo nghệ thuật đã khẳng định vị trí của ông trong phong trào thơ Mới Một đời sáng tạo không mệt mỏi, mỗi bài thơ hay của Tế Hanh thực sự

là một mảnh đời ông, là tấm gương phản chiếu tâm hồn ông - một hồn thơ luôn đằm thắm và trong trẻo Đấy chính là hồn cốt cơ bản làm nên đời thơ và phong cách thơ Tế Hanh

1.2.2 Tế Hanh trong dòng mạch thơ ngợi ca quê hương

Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là Tế Hanh – một tác giả có mặt trong phong trào thơ Mới và sau cách mạng vẫn tiếp tục sáng tác dồi dào về chủ đề này Ông được biết đến qua những bài thơ về quê hương miền Nam yêu thương với tình cảm chân thành

và vô cùng sâu lắng Ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển, hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ Nghĩ về những vần thơ viết

về quê hương, người ta nghĩ ngay tới Tế Hanh bởi thơ viết về quê hương của ông đã góp phần đưa Tế Hanh đến thật gần với người đọc

Trang 25

Quê hương như một dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt đời thơ Tế Hanh, nguồn cảm xúc vô tận để ông viết nên những vần thơ tha thiết, lai láng

như : “Nhớ con sông quê hương”, “Quê hương”, “Trở lại con sông quê

hương” Trong thời gian xa quê ông viết rất nhiều tác phẩm, chủ yếu là về quê

hương, bằng tất cả những tình yêu, nỗi nhớ của mình Năm 1939, nhà văn

Nhất Linh đã viết trên Báo Ngày nay: "Có thể gọi bài thơ "Quê hương" và

"Những ngày nghỉ học" là hai bài thơ hay của thi ca Việt Nam, xác định giá trị

về nhà thơ Tế Hanh"

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Đối với Tế Hanh, quê hương luôn là bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa

Ca dao, dân ca dường như cũng đã ngấm sâu vào hồn thơ Tế Hanh nên, dù ở phương trời nào, lòng ông vẫn nhớ quê hương, nó luôn dạt dào, cháy bỏng khiến trong tiềm thức của nhà thơ thì hình ảnh quê hương liên tục hiện ra lung linh, huyền ảo, mang vẻ đẹp đầy quyến rũ

Quê hương chính là sức sống của ông, ở một khía cạnh nào đó, ta lại thấy tình yêu quê hương của Tế Hanh lại đa chiều và phức tạp Lúc thì da

Trang 26

diết, ngập tràn với “Nhớ con sông quê hương”, lúc thì hồn thơ trẻ trung phơi phới của “Quê hương” Nhưng dù ở góc độ, khía cạnh nào thì nó đều ẩn chứa

một tình yêu, nỗi khát khao đoàn tụ, bày tỏ khát vọng gặp gỡ rất rõ ràng, cụ thể Không như thơ Huy Cận, Lưu Trọng Lư đầy chất mộng ảo, không như thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên hun hút sầu thương, thơ Tế Hanh trong sáng, khoẻ mạnh, đắm đuối rất thực Bởi ông có một vùng quê bằng xương, bằng thịt, mà ông luôn dõi theo bằng đôi mắt rất thực, bằng trái tim có địa chỉ rõ ràng

Có thể thấy thơ Việt đã đi vào nhiều chủ đề ngóc ngách, các thi sĩ sẵn

sàng bóc tách mình ra để sắm nhiều vai, song hóa thân làm "Lời con đường

quê" để ca ngợi cảnh đẹp bình dị, dân dã của quê hương mình như trường hợp

của Tế Hanh lại hiếm thấy:

Tôi, con đường nhỏ chạy lang thang Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng Thiên nhiên dù chỉ hiện lên với đôi nét song vẫn đủ sức mê hoặc Hơi thở tạo cảm giác thật gần, dù sao việc để hương đồng cất lên tiếng hát ít nhiều mang dấu ấn của thơ tượng trưng Pháp mà thuyết tương giao của Baudelaire:

"Hương thơm, màu sắc và âm thanh tương giao cùng nhau" Có thể nói những bài thơ về quê hương trước và hai mươi năm sau Cách mạng Tháng Tám của

Tế Hanh cất lên tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ mộng về con sông hiền hòa

đã “ tắm cả đời tôi”, về cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ ông Độc giả được giao tiếp với một hồn thơ khoẻ mạnh, trong sáng song lại rất đỗi bình dị mà sâu sắc như thơ Tế Hanh Nó không hề làm nặng đầu ta với những bóng dáng siêu hình hay những vô thức u minh, mà nó chắp cánh mộng mơ, bồi đắp cho mỗi chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết, là điểm trở về bình yên trong cuộc đời nhiều bươn trải, cũng là sự thôi thúc ta vươn đến cái đẹp của cuộc sống Tế Hanh đóng góp cho nền thơ Việt Nam một hồn

Trang 27

quê gần gũi, chân thực mà dung dị Bức tranh quê hương Tế Hanh thêu dệt nên trải qua bao năm tháng vẫn in đậm tình yêu tha thiết của một tâm hồn gắn

bó sâu đậm với quê hương

Quả thật, cuộc đời, sự nghiệp và hành trình sáng tạo nghệ thuật của Tế Hanh trải qua thời gian dài Dù không gây được ấn tượng mạnh mẽ, ồ ạt như nhiều nhà thơ cùng thời, nhưng chính sự thắm thiết của con tim, chân thành trong tình cảm cộng với sự giản dị, tinh tế, trong trẻo, trung thực thơ ông đã thấm dần vào người đọc, cư trú lâu dài trong tâm hồn nhiều lứa tuổi Ông đã

để lại cho nền văn học chúng ta nhiều những tác phẩm có giá trị, nó góp phần tôn vinh tên tuổi cùng tài năng của ông bởi những giá trị nghệ thuật đặc sắc

mà Tế Hanh đã tạo nên

Trang 28

2.1.1 Hình bóng làng quê trong thơ Tế Hanh

Là một trong những nhà thơ lớn của nền thơ hiện đại Việt Nam, Tế Hanh luôn có những tình cảm đặc biệt, thường trực, da diết với làng quê của mình Nhà thơ dành cảm xúc đẹp cho quê hương: một quê hương thực và một quê hương trong tâm tưởng Tế Hanh tự nhận xét: "Thơ tôi được hình thành từ 3 yếu tố: tuổi trẻ, quê hương và tình yêu… Có lẽ, quê hương là yếu tố thấm sâu vào tôi nhất" Quê hương cũng là mảng đề tài quen thuộc nhất, thành công nhất của ông " Đi suốt cuộc đời, tình yêu quê hương đất nước như một cảm hứng lớn bao trùm thơ Tế Hanh và trên nhiều bình diện, nhiều thời điểm, Tế Hanh đã để lại những bài thơ hay về chủ đề thơ gần gũi này" [11, tr 25] Cảm hứng về làng quê, quê hương, đất nước trong thơ Tế Hanh được biểu hiện trên nhiều khía cạnh, tiêu biểu là viết về quê hương thực

Vâng, quê hương là nguồn mạch chính xuyên chảy dạt dào trong cả đời thơ Tế Hanh Nó như một mảnh hồn, một phần đời, duyên nợ với thi nhân Nhà thơ đã tạo ra “một cõi đi về” cho riêng mình với vẻ đẹp riêng Đó là cái đẹp của sông – biển quê hương rồi quê hương luôn đọng lại những “ám ảnh” đậm sâu, góp phần tạo nên nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo, một hồn thơ, một cốt cách nghệ thuật rất Tế Hanh Lớn lên ở một vùng quê đằm thắm hương vị của biển và ruộng đồng, Tế Hanh mang trong mình tấm lòng tha thiết với quê hương Ông khẳng định: “Thơ tôi là tấm lòng với quê hương đất nước Viết về quê hương mình, tôi muốn mở rộng ý nghĩa quê hương của tất

cả chúng ta Đồng thời gắn với những tình cảm cụ thể…” [11, tr 226- 227]

Trang 29

Có thể thấy rằng trong thơ Tế Hanh hai chữ “quê hương” hiện lên thật bình dị, thanh thoát, nhẹ nhàng, chân chất như con người ông; hồn hậu, không kém

phần sâu lắng Tiếng nói trong thơ ông là tiếng nói nhỏ nhẹ của tâm hồn tạo

nên nét rất Tế Hanh không lẫn vào đâu được Nhờ thế, nhà thơ dần dần chiếm lĩnh trái tim bạn đọc bằng những lời thơ chân thật, sự giản dị đến tinh lọc Thơ của Tế Hanh thoạt đọc, thoạt nghe tưởng như không có gì, nhưng ngẫm lại, ta cảm được chiều sâu trong câu chữ Nói đến cảnh sinh hoạt của cái làng

chài ven biển, không ai trong chúng ta lại không nhớ ngay đến bài thơ “Quê

hương” của ông:

Làng tôi vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá…

Tế Hanh giới thiệu làng quê mình một cách dung dị, mộc mạc Ở cái tuổi

16, đôi mươi, với tâm hồn nhạy cảm, gắn bó với làng quê, Tế Hanh đã tinh tế, chọn lọc nét đặc trưng, đưa vào thơ hình ảnh sinh hoạt trong cuộc sống của làng quê, quê hương đẹp lúc hừng đông trong khung cảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của con người tìm thấy niềm vui trong lao động: Cảnh tấp nập ghe thuyền cá đầy khoang trên bến đỗ, những con thuyền như tuấn mã căng cánh buồm vôi trắng bạc lộng gió trên biển xanh mênh mông như mảnh hồn làng của ngư phủ giữa sóng nước đại dương Hình ảnh những con thuyền nằm im bến mỏi sau chuyến ra khơi… Và, cả cái mùi nồng mặn quá của một làng chài Bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ, với tình cảm hồn nhiên của mình, ông cảm nhận sức sống bền vững của quê hương như một ma lực có sức gợi, sức hút đến kì diệu! Dù thời gian xa cách, dù không gian mênh mông không định hình, ở một nơi nào đó, hễ bắt gặp cánh buồm trên màu nước xanh là thức dậy

ở nhà thơ lòng tưởng nhớ, buâng khuâng chốn làng quê nước mặn Hình ảnh

Trang 30

thơ đẹp, sáng tạo, Tế Hanh như hòa tâm hồn vào cảnh vật của làng quê, quê

hương mình Hình ảnh của sông nước quê hương và“ mảnh hồn làng” giờ đây

đã đi vào thơ ca của Tế Hanh trên suốt nhiều chặng đường dài Cái “Mảnh

hồn làng” ấy kết thành hồn quê bình dị, trong trẻo đến lạ lùng! Nó không phải

là những hình tượng thơ lớn lao, đầy âm hưởng anh hùng ca như trong sử thi

mà các nhà thơ khác đã không hết lời ca ngợi, mà ở đây thật lặng lẽ, khiêm

nhường như chính hồn thơ đôn hậu của Tế Hanh Quê hương quả là một bài

thơ toàn bích được tạo nênbởi hương vị mặn mòi của làng quê, bởi tuổi trẻ

giàu yêu thương và khát vọng “Quê hương” của Tế Hanh như “cánh buồm

vôi” vượt trùng dương đã đi qua thế kỷ” [28, tr.1] Và rồi, Tế Hanh ghi dấu ấn rất riêng trong phong trào thơ Mới Bài thơ kể từ khi ra đời cho đến nay vẫn còn và mãi mãi hấp dẫn với những người yêu thơ khi nghĩ về làng quê, quê hương mình Vì thế, Hoài Thanh - Hoài Chân không hết lời ca ngợi: “Tế Hanh là một người tinh lắm Tế Hanh đã ghi lại được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, không thanh âm như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ con đường quê nho nhỏ Thơ Tế Hanh đưa

ta về với cái thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm trao cho cảnh vật” [23, tr.140]

Rồi hình ảnh con đường quê đi về quen thuộc, gắn bó với mọi người cũng trở thành nỗi day dứt, ám ảnh thường trực trong thơ Tế Hanh

Tôi, con đường nhỏ chạy lang thang Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng

(Lời con đường quê)

Hình ảnh ga tàu lặng lẽ, buồn tha thiết khi chứng kiến bao cảnh tiễn biệt nơi sân ga Thực chất là những chuyến tàu xuôi ngược cũng gợi cho nhà thơ nỗi nhớ nhà và mơ ước những phương trời xa xôi:

Trang 31

Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu Ngàn đời không đủ sức đi mau

Có chi vướng víu trong hơi máy

Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau

(Những ngày nghỉ học)

Hình ảnh một ngôi trường làng nhỏ nhoi lặng im sau bốn năm xa cách, trở lại trường xưa, thi nhân không khỏi chạnh lòng trước cảnh xác xơ của nơi

đã từng ôm ấp bao kỷ niệm tuổi học trò yêu dấu:

Hơn bốn năm trời trở lại đây

Trường ơi! Sao giống tấm thân này?

Mái hư, vách lở, buồn xơ xác Tim héo, hồn đau, tủi đoạ đày

(Trường xưa)

Một nét nữa mà người đọc dễ nhận ra là Tế Hanh có nhiều thành công khi viết về xa cách, nhớ thương Xa quê nhà là nỗi đau của nhà thơ, còn là nguồn thơ, động lực, Tế Hanh thể hiện tình yêu làng quê thắn thiết, mãnh liệt qua hình ảnh người dân chài giữa đất trời lồng lộng gió với đủ hình khối, màu sắc và hương vị Chất muối mặn nồng ngấm vào thân hình người dân quê hương cũng như ngấm sâu vào làn da, thớ thịt vào tận tâm hồn thơ Tế Hanh:

Dân chài lưới làn da ngăm dám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm (Quê hương)

Bằng giọng thơ giãi bày, ông đã kể về kỉ niệm tuổi thơ tươi đẹp của mình:

Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bày chim non bơi lội trên sông (Nhớ con sông quê hương)

Trang 32

Cao hơn trong xa cách, nhưng với sức mạnh của tình quê, không chỉ có hình ảnh đặc trưng của quê hương, nhà thơ còn cảm nhận được cả mùi vị quê hương mình:

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá

(Quê hương)

Đối với Tế Hanh, làng quê, quê hương luôn là nơi đẹp nhất trên đời Cho nên, dù ở phương trời nào lòng nhà thơ vẫn mãi hướng, nhớ về quê hương Hình ảnh quê hương luôn dạt dào, cháy bỏng khiến nỗi nhớ nhà thơ khắc khoải, nhớ thương, day dứt

Sau năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt, Tế Hanh tập kết ra Bắc Tình yêu làng quê trong Tế Hanh giờ đây trở thành khát vọng cháy bỏng Nhà thơ theo cách mạng, chấp nhận gian khổ hi sinh, mở rộng lòng mình cũng là

để thực hiện ước vọng giải phóng làng quê, quê hương mình

Hồn tôi mở trong cánh buồm lộng gió

Đi, ta đi, đến những chân trời xa Tim tôi thả neo trong bến đỗ

Về, ta về trở lại quê nhà

(Tiếng sóng) Thời gian sống xa quê, trong tâm trạng “ngày Bắc đêm Nam”, tấm lòng

nhà thơ luôn da diết khôn nguôi, đúng hơn là càng da diết gắn bó với làng

quê, quê hương miền Nam Tập thơ ra đời trong nỗi nhớ khôn nguôi: Tiếng

sóng, Bài thơ tháng Bảy nói đến những chủ đề khác nhưng vẫn nằm trong

cảm hứng “Hai nửa yêu thương”:

Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng cả hai miền

(Tiếng sóng)

Trang 33

Rồi Tế Hanh tâm niệm:

Tôi nói đến trời mây, tôi nói đến Những cánh đồng, nhà máy, những hoa chim Nhưng muốn nói nhiều hơn về xứ biển

Như cái gì thầm kín nhất trong tim

(Tiếng sóng)

Xuyên suốt các bài thơ của Tế Hanh là ý thức, trách nhiệm với làng quê, quê hương mình Tế Hanh càng ngày càng hiểu và yêu mến làng quê, quê hương mình Nhà thơ tiếp tục gửi tâm tình với quê hương Có thể nhận thấy,

Tế Hanh là nhà thơ có nhiều tập thơ dành riêng cho quê Nam nhất và cũng là nhà thơ có số lượng bài thơ nhiều nhất viết về quê Nam Nằm trong quĩ đạo

ấy, tâm trạng chia ly, buồn đau, day dứt, hồn quê trong thơ Tế Hanh giờ đây

đã dệt thành “mảnh vườn xưa” cháy bỏng một khát vọng tìm về:

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh

Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc Hai ta ở hai đầu công tác

Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

(Vườn xưa)

Hình ảnh “Con sông quê hương” tha thiết chảy với biết bao hồi ức, nhớ

thương:

Có những trưa tôi đứng giữa hàng cây

Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy Hình ảnh con sông quê mát rượi

(Nhớ con sông quê hương)

Hồn quê trong tâm thức nhà thơ không chỉ là hình ảnh “con sông quê

hương”, là “mảnh vườn xưa” mà còn là “Tiếng sóng” xao xác, dù sống trong

xa cách nghìn trùng ông vẫn mang nó, ẩn chứa trong lòng Bởi với Tế Hanh,

Trang 34

cái hồn quê vừa là thực lại vừa là mộng, vừa hiện hữu lại vừa hư vô:

Nơi rất thực và cũng là rất mộng Của đời tôi yêu dấu tự bao giờ Trong giấc ngủ vẫn nghe tiếng sóng Như tiếng lòng giục giã những lời thơ

(Tiếng sóng)

Chính hồn quê đã làm nên hồn cốt, giá trị thơ Tế Hanh Hồn quê luôn ôm

ấp trong nó không chỉ có sông biển quê hương, con đường quê với những

ngày nghỉ học, những toa tàu, những vườn xưa lối cũ…mà còn có hình ảnh

của người thương ở “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” để rồi cho mãi đến bây

giờ vẫn thấy lòng xao xuyến, ngẩn ngơ:

Câu chuyện ngây thơ tự thuở nào Bây giờ nhớ lại ngỡ chiêm bao

Ơi cô bạn nhỏ đâu rồi nhỉ?

Chỉ thấy trong tôi mía xạc xào…

(Mía)

Tất cả dường như kết tinh thành một điệu hồn riêng, tạo nên phong cách thơ đôn hậu, đằm thắm và ngọt ngào, cảm hứng được gợi lên từ kỷ niệm tuổi thơ, được lưu giữ bền vững trong miền sâu tâm tưởng của nhà thơ

Vâng, như nét riêng đậm phong cách Tế Hanh, một tâm hồn luôn nhạy cảm với cái đẹp, Ông muốn miêu tả hiện thực cuộc sống với lý tưởng đẹp và

vì vậy thường thiên về khai thác cái đẹp trong cuộc sống, trong thiên nhiên

Đi vào cuộc sống, Tế Hanh dường như muốn lướt qua phần hiện thực vất vả, gai góc mà hướng vào những nét duyên dáng ở những đối tượng mà tự nó vốn

là đẹp Với nét riêng đó trong phong cách, thơ Tế Hanh viết về đất nước thường không ồn ào, không “gắt” mà nồng nàn, trong trẻo, hồn hậu Tình cảm yêu thương gắn bó làng quê luôn thường trực, thơ Tế Hanh không bỏ qua một

Trang 35

biến cố, một sự kiện, một giai đoạn nào của quê hương miền Nam Ông không đứng ngoài cuộc để rồi hóa vô tình Ông cũng không xốc nổi, ồn ào để rồi tình cảm dễ lắng xuống và quên đi Ông đã nói tiếng nói tha thiết nhất về nỗi nhớ và những cảm thương với làng quê, quê hương đang chịu bao cảnh cay đắng, tủi nhục Thơ ông do vậy được coi như tập “ biên niên sử” của một vùng quê Tình cảm chân thành, sâu sắc của Tế Hanh thể hiện trong những tìm tòi và sáng tạo về nghệ thuật Một tin tức trên báo chí về tội ác của kẻ thù ném thuốc độc vào giếng nước của nhiều làng xóm miền Nam đã thôi thúc sự hình thành một tứ thơ xúc động Bao nhiêu kỉ niệm đẹp bên bờ giếng nước, nơi gặp gỡ của bà con xóm làng, chốn hò hẹn của trai gái yêu đương giờ đây đang bị kẻ thù gieo tội ác:

Cái giếng đầu làng.Cái giếng đầu làng

Êm như kỉ niệm, trong như ngọc Một mảnh lòng tôi ở miền Nam Bọn giặc Mỹ rải đầy thuốc độc!

Chưa hết Chúng còn cắt hết mọi quan hệ thân tình xóa bỏ kỷ niệm êm đẹp và xóa bỏ đến cả tên quê hương dấu hiệu đầu tiên và cũng là cuối cùng trong tâm trí của mỗi người với quê hương Tế Hanh xót xa trong bao nỗi

nhớ: Tên quê hương, Mặt quê hương, Con sông quê hương… Với Tế Hanh

tình cảm thương nhớ làng quê, quê hương là trạng thái nằm trong tình yêu lớn đối với Tổ quốc Để rồi từ đó, nhà thơ khám phá sức mạnh của nhân dân Tấm lòng yêu làng quê, quê hương đã mở rộng chung trong tấm lòng với đất nước,

nhất là với miền Nam Tác phẩm “Lòng miền Nam” ghi nhận những cố gắng

của nhà thơ tìm đến giữa cuộc đời mà gắn bó yêu thương Tình yêu miền Nam càng da diết, nhói đau với những kỉ niệm về hình ảnh của làng quê thân quen gắn với tuổi hoa niên và suốt những năm đầu kháng chiến Những bài thơ

Nhớ con song quê hương, Trò chuyện với sông Hiền Lương, Cái giếng đầu

Trang 36

làng, Mặt quê hương là những sáng tác hay ghi nhận tấm lòng chân thành của

nhà thơ với quê hương, đất nước, mà sâu xa hơn đây cũng là những sáng tác phản ánh chân thực nỗi đau của đất nước trên một chặng đường cách mạng Sâu sắc và rung động nhiều hơn nhưng vẫn là tấm lòng chân thành của

Tế Hanh Sống và làm việc trên miền Bắc nhưng Tế Hanh lại lần nữa cũng đau đáu một nửa tâm hồn gắn bó với miền Nam Và cũng là câu hỏi nghiêm khắc với bản thân mình:

Tôi đã làm gì cho xứ sở quê hương?

Quả Tế Hanh đã tạo ra một không gian nghệ thuật độc đáo trong phong

cách nghệ thuật của mình Nhà thơ đặc biệt thành công trong không gian ký

ức, không gian tâm tưởng Ở nỗi cách xa, nỗi đau chia cắt, nhớ thương dằng

dặc, ở mảng thơ này của Tế Hanh thường có âm điệu buồn Nhưng phải nói,

Tế Hanh thật sự lôi cuốn người đọc ở những bài thơ có điệu buồn nhớ thương,

xa cách này Nó vừa có gì gần gũi, gắn bó, lại có gì vời vợi cách xa Và vì vậy nỗi nhớ trở đi trở lại dai đẳng, khôn nguôi, như một điệp khúc, một nốt chủ trong điệu tâm hồn của nhà thơ và trong thơ ông :

Nay cách xa lòng tôi luôn tưởng nhớ

(Quê hương) Tôi nhớ không nguôi ánh sáng màu vàng Tôi nhớ cả những người không quen biết

(Nhớ con sông quê hương) Tôi thấy nhớ bạn bè văn nghệ

(Gửi miền Bắc)

Điệu quê hương tràn đầy mong nhớ

(Điệu quê hương)

Nhớ thương ai mong đợi bờNam

(Nước chảy ngang)

Trang 37

Ôi nhớ làm sao những mùa chim én !

Ôi nhớ làm so những mùa cá chuồn !

(Tiếng sóng)

Ban ngày công tác bận

Ban đêm dành nhớ em

(Chiêm bao)

Khó có thể thống kê hết được những nỗi “nhớ” này trong thơ Tế Hanh

Cùng với “nhớ” là những cụm từ, cụm từ chỉ “nỗi nhớ” : vấn vương, không

quên, làm sao quên được,… là những câu thơ diễn tả nỗi nhớ thương da diết

của nhà thơ:

Âm ỷ lòng tôi một vùng lửa cháy

Nóicách xa là gió thổi liên hồi

(Bài thơ tháng Bảy)

Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

Vẫn trở về lưu luyến bên sông

(Nhớ con sông quê hương) Nhiều bài thơ, tác giả đặt tên bằng nỗi nhớ : Nhớ con sông quê hương ;

Nhớ mẹ ; bạn ơi; Bạn ơi, hãy nhớ ! ; Nhớ Quy Nhơn,… Và đặc biệt nhiều bài

thơ được tái tạo, sáng tạo hoàn toàn bằng nỗi nhớ, bằng ký ức, trong đó Nhớ

con sông quê hương là một bài thơ toàn bích Và rồi nỗi nhớ như được giăng

mắc bằng những sợi tâm tình, như những đốm sáng lấp lánh ánh lên từ một vùng ký ức thẳm sâu “rất thực và cũng rất mộng”, có sức rung động mạnh đến không ngờ Không phải chỉ những khung cảnh hùng tráng, phóng khoáng của biển khơi cũng không phải chỉ những dòng sông mênh mang “ xanh biếc”, thơ

Tế Hanh khiến người đọc bùi ngùi sâu xa hơn ở những kỷ niệm, khởi đầu của mỗi cuộc đời, khởi thủy của dòng ký ức Và phải là người nặng lòng với quê

Trang 38

hương lắm mới thấm được vào lòng mình, mới nuôi nấng được trong ký ức mình qua mấy chục năm trời cái hình ảnh :

Những vảy cá rải trên đường lấp lánh

Cái hương vị :

Gió đưa thơm mùi cá nướng ngọt ngào

Và cả những :

Đôi vai gầy gánh cá sang sông

Những nét riêng cái làng quê biển của Tế Hanh được lắng kết trong tâm hồn nhà thơ Điều đó tạo nên vẻ độc đáo riêng khiến thơ Tế Hanh viết về làng quê, quê hương không lẫn với bất cứ vùng quê nào, kể cả với thơ của những nhà thơ chính gốc “ dân biển”

Khi phong trào cách mạng miền Nam lớn mạnh và đặc biệt sống giữa nhân dân miền Bắc trong tháng năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, thơ Tế Hanh mang âm điệu mới Nhà thơ tìm thấy nhiều miền quê mới Giống như câu thơ của Chế Lan Viên “Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương”, Tế Hanh luôn có ý thức nuôi dưỡng tình cảm quê hương trên những miền đất mới Đến nơi nào,

ý thơ cũng vụt hiện Thăm nông trường Đồng Giao, tác giả cảm nhận:

Nông trường ta rộng mênh mông:

Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài

(Nông trường cà phê)

Đến Mộc Châu, tác giả thấy vui vì cuộc sống mới đang ngày càng sinh sôi, đổi mới:

Thảo nguyên trông ngút tầm con mắt

Ngang dọc nhô lên những máy cày Đất mở lòng tươi như ngực trẻ Mầm non hạt mới ấm bàn tay

(Đến Mộc Châu)

Trang 39

Tới Hà Tây, nhà thơ lại hân hoan với mùa tằm nhộn nhịp:

Tơ trắng như mây trắng Trên sườn núi bay quanh

Nhớ về Hà Nội hôm nay

Cây me cây sấu có thay lá vàng?

Con chim én đã về Nam

Giục anh trở lại cầm bàn tay em

(Nhớ về Hà Nội hôm nay)

Có thể thấy, tình cảm với làng quê, quê hương đất nước của nhà thơ ngày càng thiết tha, sâu lắng, Tế Hanh đã mơ thấy:

Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà Nội

Nước Tây Hồ bỗng hoá nước Hồ Tây

(Bài thơ tình ở Hàng Châu)

Để rồi như một quy luật tất yếu của tình cảm đối với dân tộc mà chính ông đã nghiệm sinh:

Anh xa nước nên yêu thêm nước

Không chỉ với miền Trung ruột thịt, miền Bắc thân thương mà tình cảm của Tế Hanh còn dành cho miền Nam bằng cả sự bồi hồi:

Mỗi lần lòng hướng về Nam

Anh càng muốn sống, anh càng muốn yêu

(Nam Bắc, Bắc Nam)

Trang 40

Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc

Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng “miền Nam”

(Nhớ con sông quê hương)

Nỗi nhớ quê Nam và tình cảm gắn bó với quê Bắc của nhà thơ không mâu thuẫn nhau, bởi đó đều là tình cảm với quê hương đất nước:

Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông Tình Bắc Nam chung chảy một dòng, Không ghềnh thác nào ngăn cản được

(Nhớ con sông quê hương)

Sang thăm Cộng hòa dân chủ Đức, trong cảnh nước Đức lúc đó bị chia cắt làm hai miền, cảm thông với người dân nước bạn ngày ngày “Trông về phương Đông, hướng mặt trời mọc”, Tế Hanh càng nhớ về tấm lòng người dân miền Nam luôn hướng về miền Bắc… Đề cập đến những vấn đề xa xôi như thế, thơ Tế Hanh vẫn liên hệ chặt chẽ với quê hương Âu đó cùng là lẽ thường tình của một nhà thơ luôn nặng lòng với quê hương Và bởi thế, hai tiếng “quê hương”, “ miền Nam”, “xứ sở”, “quê nhà”, “quê tôi”, “xứ biển”,… xuất hiện trong thơ Tế Hanh với tần số cao Nhưng điều đáng nói hơn là nó không gây cảm giác nhàm chán, trùng lặp… bởi gắn với mỗi lần xuất hiện hai

từ “quê hương” hoặc những từ biểu hiện quê hương là một sắc thái của tình cảm, tâm hồn, cảm xúc của nhà thơ :

Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

Vẫn trở về lưu luyến bên sông

(Nhớ con sông quê hương)

Dẫu ở miền Nam hay ra miền Bắc, khi ở trong nước hay ra nước ngoài Thời gian sống và hoạt động đã đem lại cho Tế Hanh một tình cảm quê hương

Ngày đăng: 22/05/2021, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w