1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật bạch vân quốc ngữ thi tập của nguyễn bỉnh khiêm

107 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 575,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụ văn hoá” Nguyễn Bỉnh Khiêm, các học giả, nhà khoa học đều tập trung ở một số phương diện như: những biến động của thời đại có tác động đến cuộc

Trang 1

NGUYỄN THỊ TÍNH

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT

BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP

CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

NGUYỄN THỊ TÍNH

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT

BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP

CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Ngọc Hòa

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tính

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1 BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP TRONG DÒNG CHẢY CỦA THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THẾ KỈ XVI 11

1.1 THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TẠO 11

1.1.1 Quá trình hình thành 11

1.1.2 Những chặng đường sáng tạo 14

1.2 NGUYỄN BỈNH KHIÊM – CUỘC ĐỜI VÀ QUAN NIỆM VĂN CHƯƠNG 20

1.2.1 Nguyễn Bỉnh Khiêm- Tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi 20

1.2.2 Quan niệm văn chương 24

1.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM RIÊNG CỦA BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP TRONG DÒNG CHẢY CỦA THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THẾ KỈ XVI 27

1.3.1 Đặc điểm chung của thơ Nôm Đường luật thế kỉ XVI 27

1.3.2 Đặc điểm riêng của Bạch Vân quốc ngữ thi tập 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

Trang 5

2.1 CẢM QUAN VỀ HIỆN THỰC 35

2.1.1 Hiện thực chiến tranh phi nghĩa và nỗi thống khổ của người dân35 2.1.2 Hiện thực cuộc sống suy đồi, đạo đức tha hóa 39

2.2 HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ 45

2.1.1 Hình tượng nhà nho ưu tư 45

2.1.2 Hình tượng nhà nho nhàn dật, thoát tục 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 58

CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT TRONG BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP 59

3.1 NGÔN NGỮ 59

3.1.1 Nghệ thuật sử dụng điển cố 59

3.1.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh 66

3.2 GIỌNG ĐIỆU 72

3.2.1 Giọng điệu triết lý, trữ tình 72

3.2.2 Giọng điệu châm biếm, phê phán 77

3.3 KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 80

3.3.1 Không gian nghệ thuật 81

3.3.2 Thời gian nghệ thuật 88

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Bỉnh Khiêm là “cây đại thụ rợp bóng đến một thế kỉ, một thế kỉ lắm biến cố nhất trong lịch sử Việt Nam”, tác phẩm của ông có sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng sâu rộng không những ở thế kỉ XVI mà còn trong cả thời kì văn học Việt Nam trung đại Trên nhiều phương diện, những tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trở thành thước đo thực trạng đời sống tinh thần dân tộc nhất là ở thế kỉ XVI Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại nhiều dấu ấn trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt Nam Ông

là chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học – thời đại Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương và cũng là người đã chứng kiến bao đau thương, tang tóc trong cuộc chiến “nồi da xáo thịt” của dân tộc Cuộc sống hiện thực này được ông phản ánh vào trong thơ rất rõ nét

1.2 Thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm là những thành tựu nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tên tuổi của ông trở thành niềm tự hào của nhân dân Việt Nam, Tổng bí thư Trường Chinh nhận định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những thiên tài, một trong những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi” Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là thơ triết lý mang ý nghĩa giáo huấn kín đáo gửi tâm sự cho đời và cho con cháu mai sau với lý tưởng tốt đẹp để mọi người tự nguyện thấm đậm vào theo chiều sâu tâm thức của mình, hướng con người đi đến chân – thiện – mĩ và góp phần dựng xây một xã hội tốt đẹp hơn

Nếu Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi phản ánh bước hội nhập tiên phong của tiếng Việt vào nền văn học bác học thì Bạch Vân quốc ngữ thi

tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là sự hưởng ứng, kế thừa đầy ý nghĩa

đối với những thử nghiệm của người mở đường Nguyễn Trãi Thơ Nôm

Trang 7

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp nối thành tựu thơ tiếng Việt dân tộc Thơ ông ảnh hưởng nguyên tắc thẩm mỹ của văn học trung đại, tuy nhiên do gắn bó với nhân dân, cuộc sống đời thường nên thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn “ngồn

ngộn” tính nóng bỏng của hiện thực xã hội đương thời Bạch Vân quốc ngữ

thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện mức độ cao nội dung và chất liệu

thơ mang tâm hồn Việt

1.3 Là một tác gia lớn, giữ vị trí quan trọng trong dòng văn học trung đại Việt Nam, tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được đông đảo các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện Các giáo trình Đại học và Cao đẳng đều dành cho Nguyễn Bỉnh Khiêm một vị trí xứng đáng Song những ý kiến đánh giá về thơ ông chưa hẳn đã hoàn toàn thống nhất Hơn nữa, chúng ta vẫn chưa có một chuyên luận riêng nghiên cứu một cách

có hệ thống, đầy đủ và toàn diện về đặc điểm nghệ thuật Bạch Vân quốc ngữ

thi tập Thế giới nghệ thuật trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập như mảnh đất

màu mỡ, chứa đựng những nét đặc sắc và còn nhiều điều bí ẩn vẫn chưa được

khám phá hết Những câu từ, hình ảnh trong Bạch Vân quốc ngữ thi thập có

một sức hút kì lạ đối với bản thân tác giả luận văn Nó gợi lên những suy nghĩ, trở trăn về nhân tình thế thái không chỉ có ở thời đại Nguyễn Bình Khiêm mà còn có giá trị sâu sắc với nhiều thế hệ Với lòng yêu mến, kính trọng và ngưỡng mộ một tài năng, nhân đức của dân tộc Việt Nam, bản thân người viết muốn từ con đường khai thác một đề tài cụ thể về Trạng Trình -Nguyễn Bình Khiêm để thêm hiểu biết và học hỏi nhiều điều cho bản thân

Từ việc tiếp cận đề tài “Đặc điểm nghệ thuật Bạch Vân quốc ngữ thi

tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm””, chúng tôi còn mong muốn đóng góp, bổ sung

hiểu biết về tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm, giúp việc giảng dạy, học tập tốt hơn

Với những lí do trên đây chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm nghệ thuật

Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm” để nghiên cứu

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

Trong quá trình khảo sát, ngoài việc tiếp thu thành quả của những công trình đi trước, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn đặc điểm nghệ thuật thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm Chúng tôi xác định mục tiêu cụ thể:

2.1 Tìm hiểu một cách thấu đáo về con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, những nhân tố có ảnh hưởng đến văn nghiệp của tác giả

2.2 Khai thác được những nét đặc sắc về thế giới nghệ thuật trong Bạch

Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm

2.3 Hiểu được những thông điệp, tư tưởng mà tác giả muốn nhắn gửi đến người đọc

3 Lịch sử vấn đề

Là một tác gia tiêu biểu của nền văn học Việt Nam nói chung, văn học thời kì trung đại nói riêng, tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm được

nhiều người quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu Bạch Vân quốc ngữ thi tập của

Nguyễn Bỉnh Khiêm là tác phẩm lớn, có giá trị quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam Dựa trên những tư liệu hiện còn, đây là thi phẩm lớn thứ

ba trong dòng thơ Nôm Việt Nam thời kỳ trung đại, sau Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Hồng Đức quốc âm thi tập của các tác giả thời Hồng Đức Chính vì thế, Bạch Vân quốc ngữ thi tập thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, tìm hiểu về Trạng Trình cũng như Bạch Vân quốc ngữ thi tập

của ông là một công việc gặp nhiều khó khăn bởi những ghi chép của những người cùng thời viết về ông còn chưa có sự thống nhất Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụ văn hoá” Nguyễn Bỉnh Khiêm, các học giả, nhà khoa học đều tập trung ở một số phương diện như: những biến động của thời đại có tác động đến cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm; Nhà tư tưởng - triết học Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức dân gian; đặc biệt là những công trình nghiên cứu nhìn nhận Nguyễn

Trang 9

Bỉnh Khiêm với tư cách là một đại diện tiêu biểu nhất của thơ văn thế kỉ XVI, đồng thời là một gương mặt xuất sắc của văn học Việt Nam thời trung đại

Một cách khái quát, có thể sơ lược các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bình Khiêm qua các giai đoạn cùng với những nội dung cụ thể như sau:

Giai đoạn trước 1900:

Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được chú ý từ thời kì văn học trung đại Các bài viết của Vũ Khâm Lân trong Bạch Vân am cư sĩ, Nguyễn Công Văn Đạt phả kí (Công dư tiệp kí),

Lê Quý Đôn (thế kỉ XVIII), Phan Huy Chú (thế kỉ XIX) và hàng loạt các công trình có quy mô mang tính chất hợp tuyển, chưa có sự nghiên cứu sâu rộng vào các vấn đề thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Từ 1900 đến trước 1945:

Giai đoạn này, các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục là đối tượng tìm hiểu Theo đó, đối tượng nghiên cứu không chỉ ở phạm vi văn chương mà còn ở mảng “Sấm ký”- tương truyền đây là những lời “tiên tri”, “tiên giác” của Trạng Trình được lưu truyền trong dân gian Tuy nhiên, đáng kể hơn là những bài viết đề cập đến giá trị văn chương của Trạng Trình Giai đoạn này có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm rất công phu và chất lượng hơn thời

kì trung đại Chúng ta phải kể đến Dương Quảng Hàm, Chu Thiên

Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (1943) có bài

giới thiệu khác chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đồng thời tác giả cũng đã làm rõ những nét đặc sắc trong thơ Nôm của Nguyễn Bình Khiêm Theo Dương Quảng Hàm, thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhiều nét đặc sắc và độc đáo: “Những bài ấy, hoặc vịnh cảnh nhàn tản, hoặc tả thế thái nhân tình để ngụ ý khuyên răn người đời, lời thơ bình đạm mà có ý vị; những bài thơ vịnh cảnh nhàn thì phóng khoáng, thanh tao rõ

Trang 10

phẩm cách một bậc quân tử đã thoát vòng danh lợi mà biết thưởng thức cảnh vật thiên nhiên; còn những bài văn răn đời thì có giọng trào phúng nhẹ nhàng kín đáo, rõ ra một bậc triết nhân đã từng trải việc đời và am hiểu tâm lý người đời Thật là một lối thơ đặc biệt trong nền văn Nôm của ta” [8, tr.290]

Trong Tuyết giang phu tử (1945), Chu Thiên đã giành sự quan tâm đặc

biệt cho Nguyễn Bỉnh Khiêm Có thể nói đây là công trình nghiên cứu quy

mô và tỉ mỉ nhất từ trước tới thời điểm này về văn nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm Với công trình này, Chu Thiên đã tìm hiểu, nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhiều phương diện, từ con người, cuộc đời đến sự nghiệp sáng tác và những giá trị về nội dung cũng như nghệ thuật của thơ văn Trạng Trình Chính vì tính chất chuyên sâu, toàn diện cũng như những tìm tòi phát

hiện của tác giả mà cuốn “Tuyết giang phu tử” được các nhà nghiên cứu đánh

giá là một cột mốc quan trọng trong các chặng đường nghiên cứu và tìm hiểu

về Nguyễn Bỉnh Khiêm - con người và thơ văn

Từ sau 1945 đến 1975:

Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, đất nước ta đã mở sang một trang lịch

sử mới, tuy con nhiều khó khăn sau cách mạng nhưng việc nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học

Ta có thể kể đến đầu tiên là: Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ triết lý

(1957) của Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà Đây là một chuyên luận bề thế có chiều sâu và chất lượng, trong đó nhiều vấn đề về tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm được soi chiếu một cách toàn diện, kĩ lưỡng và có sự tìm tòi, phát hiện Có ý kiến đánh giá đã trở thành những “định luận” mang tính định hướng cho việc nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này Tiếp nối thành

tựu đó, nhà nghiên cứu Văn Tân trong cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam

(Quyển II), bên cạnh việc giới thiệu về tiểu sử và sự nghiệp văn học, tác giả

cũng đã có những đánh giá cao về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ văn

Trang 11

Nguyễn Bỉnh Khiêm Theo Văn Tân thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là ở sự giản dị và chân thực, đặc điểm cơ bản này hơn hết cũng xuất phát từ quan niệm về nội dung và hình thức của văn chương Nhà nghiên cứu cho rằng: “Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhiên, bình dị, không cầu kì, không có

có cái hùng khí mạnh mẽ như thơ văn Nguyễn Trãi”, còn thơ chữ Nôm

“thường là văn thơ thời thế và có nhiều tính chất hiện thực” [47; 227]

Từ 1975 đến nay:

Sau hai cuộc chiến tranh đầy gian khổ, đất nước ta đã thống nhất non sông một dải, đây là điều kiện tốt để kiến quốc toàn diện Và đây là thời kì có rất nhiều các công trình nghiên cứu về văn học, trong đó có việc nghiên cứu

về Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngoài việc dịch thơ chữ Hán, phiên âm thơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tuyển chọn và biên soạn, các công trình chuyên luận, bài nghiên cứu về ông có thể lên đến con số trăm Trong đó, có những chuyên luận, những bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu, rất công phu và

bề thế Nhờ đó mà hình ảnh, vị thế cũng như quan niệm văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên rõ nét hơn, toàn diện hơn không những ở trong các bộ giáo trình dạy học ở các trường đại học, các viện nghiên cứu mà còn ở trong nhà trường phổ thông Ở giai đoạn này, việc sưu tầm, nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm một cách có hệ thống, đầy đủ, toàn diện hơn được diễn

ra mạnh mẽ

Nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn với công

trình Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo được dấu ấn mới Công trình này

không chỉ dừng lại ở việc chọn và dịch 96 tác phẩm chữ Hán (93 bài thơ, 3 bài văn) và 161 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà đây là lần đầu tiên một hợp tuyển bề thế và đầy đủ nhất về tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm được giới thiệu đến độc giả Nhóm nghiên cứu đã có cái nhìn thấu đáo về con người và văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm Cùng với sự khẳng định tài

Trang 12

năng và của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với chế độ phong kiến đương thời, tác giả của bài viết còn đi sâu vào việc phân tích, lí giải tính chất phê phán hiện thực cũng như những nét đặc sắc trong nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm Theo tác giả: “Mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nguyên nhân ở chỗ ông không thể thoát khỏi vòng vây của ý thức

hệ phong kiến” [15; 273]

Là người đã nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm một thời gian dài - nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên không chỉ dừng lại ở việc biên soạn và dịch thơ Trạng Trình mà ông còn là tác giả của nhiều bài viết trong các bộ giáo

trình lịch sử văn học về Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong cuốn Lịch sử văn học

Việt Nam - Tập II, khi viết về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả quan tâm

nhiều đến chữ “nhàn” và mọi sự biểu hiện cũng như sự chi phối của quan niệm văn chương đều xuất phát từ chữ nhàn Ông viết: “Có thể chữ nhàn là một chủ đề nổi bật trong thơ của ông, chỉ riêng 101 bài thơ quốc âm đã có 17 chữ nhàn” [29; 236] Khi đề cập đến nghệ thuật thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bùi Văn Nguyên đã khẳng định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ đạo lý nên thường dùng lối thơ triết học- một lối thơ rõ ràng, cô đọng như những châm ngôn, những công thức toán học” và lẽ dĩ nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng bị chi phối bởi một quan niệm sáng tác, quan niệm văn chương “Đương nhiên, ông làm thơ với mục đích là nói về đạo lí, nói về cái chí của mình, như ông đã trình bày trong bài Tựa cuốn Bạch Vân am thi tập” [29; 244]

Khi nghiên cứu về nội dung thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đã có sự nhìn nhận sắc nét về nội dung, tư tưởng thơ của

Bạch Vân cư sĩ Trần Đình Hượu trong bài viết: Triết lí và thơ ở Nguyễn Bỉnh

Khiêm, không chỉ đi sâu vào tìm hiểu và phân tích những biểu hiện của tính

chất triết lí cũng như sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố thơ và triết học Trình - Chu trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn lí giải sự chi phối từ các

Trang 13

phương diện văn hoá, tưởng Theo tác giả, muốn đi tìm cái triết học, cái thơ

và mối quan hệ của hai yếu tố này trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cần chú ý đến quan niệm văn chương của ông “Tìm cái thơ thì cũng không phải khó lắm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nói về quan niệm làm thơ của mình Thơ nói về chí lại là tức cảnh, tức sự, phô bày cái đẹp của thiên nhiên, cái gây cảm hứng cho nhà thơ là cái Đẹp, cái Thực cũng như trường hợp nhiều thi nhân khác” [123- 124]

Để kỉ niệm 500 năm ngày sinh của Trạng Trình, nhiều công trình nghiên cứu được đã được tập hợp để ghi dấu chặng đường tìm hiểu về Nguyễn Bỉnh

Khiêm.Tập kỷ yếu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được thực hiện bao gồm

52 bài tham luận xoay quanh những vấn đề “luôn luôn có một ý nghĩa thời sự, là

những vấn đề còn để ngỏ chứ chưa khép lại”(Lời nói đầu-Trạng Trình Nguyễn

Bỉnh Khiêm) Những bài viết đề cập đến nhiều vấn đề về Nguyễn Bỉnh Khiêm và

được sắp xếp theo một hệ thống chủ đề gồm bốn phần: phần thứ nhất nói về thời đại và quê hương Vĩnh Bảo; phần hai là những bài bình thú vị về con người và

tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm; phần ba đề cập sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm Cuối cùng là những ý kiến trân trọng về vị trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức con người hiện nay

Lã Nhâm Thìn- người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học trung đại,ông đã để lại trong tôi ấn tượng khi tiếp xúc với các bài viết về thời

kì văn học cách xa thế hệ chúng tôi, đặc biệt là về Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trong cuốn Giáo trình văn học Trung đại Việt Nam – Tập 1 có đề cập đến

cuộc đời, sự nghiệp, giá trị văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông nhận xét

“Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là bức tranh rộng lớn và chân thật về đất nước, xã hội, con người Việt Nam thế kỉ XVI” [52;183]

Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm - Trần Thị Băng Thanh-Vũ

Thanh tuyển chọn và giới thiệu Tuyển tập này gồm 67 bài viết tập trung

Trang 14

nghiên cứu theo từng phương diện: Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa thế kỷ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm-Tư tưởng và nhân cách; Nguyễn Bỉnh Khiêm-Nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức thế nhân xưa và nay Những bài viết này thể hiện nhiều phát hiện khoa học lý thú và

những lời bình sắc sảo của các học giả Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh cho

rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có bản lĩnh, một trí giả Tìm đến với

sự nhàn dật chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với cái vụng, cái chuyết

mà theo quan niệm của Nho gia, đã được điều chỉnh bởi quan niệm của đạo Lão, mới là bản chất tự nhiên của sự vật Chính quan niệm nhàn dật đạt tới ý

vị triết học đó đã tạo nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm-Bạch Vân cư sĩ tự do, tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạc quan, khỏe khoắn, rất hiếm thấy trong làng thơ nhàn thời trung đại” [48;tr.48] Đây là công trình tập hợp gần như đầy đủ những công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nó trở thành một tài liệu không thể thiếu khi nghiên cứu về Trạng Trình

Tựu trung lại, chúng ta thấy có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm ít nhiều đã làm rõ nét được vai trò, tài năng của ông Tuy vậy, hầu hết các bài viết mang tính khái quát, tổng hợp… một số bài viết chi tiết nhưng lại ở những vấn đề về tiên tri, chất bí ẩn…Nghiên cứu về đặc điểm

nghệ thuật Bạch Vân quốc ngữ thi tập là một hướng nghiên cứu mới, tạo được

cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là “Đặc điểm nghệ thuật Bạch Vân

quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm” biểu hiện qua cảm quan về hiện

thực, hình tượng tác giả và các phương thức biểu đạt

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: chúng tôi tiến hành khảo sát các tác

phẩm thơ chữ Nôm – Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh,

Trang 15

Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn, NXB Văn học, H, 1983

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn một cách khoa học, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê: Chúng tôi sẽ khảo sát toàn bộ 161

bài thơ trong Bạch Vân quốc ngữ thi để từ đó thống kê phân loại các bài thơ

theo hệ thống chủ đề làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Bạch Vân quốc ngữ thi được so sánh, đối chiếu với thơ Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông để thấy được những

đóng góp cũng như hạn chế của Nguyễn Bỉnh Khiêm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

Từ việc làm rõ những đặc điểm nghệ thuật Bạch Vân quốc ngữ thi tập

của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đề tài sẽ góp thêm tiếng nói khẳng định những giá trị văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhìn từ đặc điểm nghệ thuật, trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam thời trung đại

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận,Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Bạch Vân quốc ngữ thi tập trong dòng chảy của thơ Nôm

Đường luật thế kỉ XVI

Chương 2: Cảm quan về hiện thực và hình tượng tác giả trong Bạch

Vân quốc ngữ thi tập

Chương 3: Các phương thức biểu đạt trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập

Trang 16

CHƯƠNG 1

BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP TRONG DÒNG CHẢY

CỦA THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THẾ KỈ XVI

Thơ Nôm Đường luật là một thành tựu rực rỡ của thơ ca Việt Nam

Theo nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn trong Phân tích tác phẩm văn học trung

đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại, khái niệm thơ Nôm Đường luật bao

hàm những bài thơ viết bằng chữ Nôm theo luật Đường hoàn chỉnh và cả những bài viết theo thơ luật Đường phá cách có những bài xen câu ngũ ngôn, lục ngôn vào bài thơ thất ngôn

1.1 THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TẠO

Thể loại là yếu tố cũng không kém phần quan trọng để tạo nên thơ Nôm Đường luật Tính chất mô hình hóa về mặt kết cấu của thơ Đường luật

đã tạo điều kiện dễ dàng cho sự tiếp thu và chuyển hóa Các thể loại văn học trung đại đều có tính mô hình hóa nhưng mô hình hóa cao và chặt chẽ đến

Trang 17

mức như thơ Đường luật thì quả là “độc nhất vô nhị” Đó vừa là thử thách, vừa là lợi thế cho sáng tác thơ Nôm Đường luật

Thơ Đường luật đã được đưa vào hệ thống thi cử của nước ta từ thế kỉ XIII chính vì vậy mà càng về sau này thơ Đường luật trở thành một môn thi bắt buộc thì số người biết và làm thơ Đường luật ngày một nhiều hơn, trình

độ thành thục hơn Thơ Đường luật là thơ được xây dựng trên một quan niệm

tư tưởng nhất định, là sự thể hiện mô hình vũ trụ Trong thực tế, thời cổ trung đại, giữa Trung Quốc và Việt Nam có những nét tương đồng về tư tưởng nói chung và tư tưởng văn học nói riêng Văn học chữ Hán hầu hết được viết theo các thể loại văn học Trung Quốc Phạm vi đề tài của văn học chữ Hán rất rộng, từ những vấn đề chung của dân tộc đến những vấn đề riêng của con người, vừa giàu tinh thần nhân đạo, vừa rất phong phú về chủ nghĩa yêu nước Chính vì vậy, sự xuất hiện dòng văn học viết bằng chữ Nôm được xem là một

sự kiện văn hóa lớn, khẳng định bước phát triển nhảy vọt của quá trình văn học dân tộc, đồng thời thể hiện tinh thần tự lập, tự cường về mặt văn hóa của người Việt Từ đây văn học chữ Nôm song hành cùng văn học chữ Hán, tạo ra

sự đa dạng về diện mạo cho nền văn học dân tộc

Sự xuất hiện văn học chữ Nôm nói chung và thơ Nôm Đường luật nói riêng là bước nhảy vọt của quá trình phát triển văn học, đồng thời thể hiện tinh thần tự lập, tự cường về mặt văn hóa của dân tộc Việt trong tương quan với nền văn hóa, văn học Hán Chính xác cho sự xuất hiện của thơ Nôm

Đường luật là sự ra đời của Quốc âm quốc thi tập của Nguyễn Trãi vào nửa

đầu thế kỉ XV “Đối với một dân tộc, trên con đường tiến lên của lịch sử nói chung, của nền văn hóa nói riêng, bao giờ sự xuất hiện của văn tự cũng được coi như là một cái mốc có tầm quan trọng đáng kể và có tác dụng khá quyết định Đặc biệt, nếu đó là một nền văn tự chuyên dùng để ghi tiếng nói dân tộc thì lại càng có ý nghĩa” [4;tr.288]

Trang 18

Xuất hiện sau Đường luật Hán và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa, văn học Trung Quốc, chúng ta không phủ nhận sự ảnh hưởng và kế thừa thơ ca Trung Quốc, thơ Đường luật Hán của Đường luật Nôm, mà trước hết ở

hệ thống đề tài, chủ đề mang tính ước lệ, điển phạm như: Vịnh năm canh, bốn mùa, vịnh tứ thú (ngư, tiều, canh, mục), tứ khoái (phong, hoa, tuyết, nguyệt,

cầm, kỳ, thi tửu); vịnh đạo Cương thường theo giáo lý Khổng Mạnh Quân tử

chi chí ư đạo dã, bất thành chương bất đạt - Tận tâm hạ) trong các quan hệ

ứng xử và rèn luyện các phẩm chất nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; vịnh nhân vật lịch

sử (nhất là các nhân vật Bắc sử) gắn với thái độ tôn sùng cổ nhân và mục đích giáo hóa Ngoài ra, các nội dung khác của tư tưởng Nho giáo như đạo “trung dung”, “triết lý mệnh trời”, các quan niệm sống “an bần lạc đạo”, “dĩ hòa vi quý” cũng được đề cập nhiều trong cảm hứng vịnh đề của các nhà thơ Nôm Đường luật

Đồng thời với quá trình kế thừa, tiếp nối Đường luật Hán, hệ thống đề tài, chủ đề thơ Nôm Đường luật còn thực hiện quá trình cách tân và sáng tạo theo xu hướng dân chủ hóa, dân tộc hóa thể loại Nói cách khác, phần cách tân, sáng tạo của thơ Nôm Đường luật trong tương quan với Đường luật Hán, suy tới cùng chính là kết quả của sự trưởng thành ý thức dân tộc Bởi, một khi

ý thức dân tộc chưa trưởng thành, trong giao lưu với nước ngoài, chỉ có thể dẫn tới một trong hai khả năng: một là bế quan tỏa cảng và hai là đồng hóa, đánh mất mình Sự ra đời và quá trình vận động, phát triển của dòng thơ Nôm Đường không rơi vào một trong hai khả năng trên, mà từng bước khẳng định

vị thế của mình với tư cách là một thể loại văn học dân tộc Chủ đề, đề tài của thơ Nôm Đường luật đã có sự kết hợp hài hòa giữa những yếu tố tích cực của

tư tưởng Nho giáo với tinh hoa dân tộc và tinh thần thời đại

Một số vua chúa sáng tác thơ Nôm Đường luật đã góp phần kích thích

sự phát triển của thể loại văn học này Như vị trí quan trọng của Lê Thánh

Trang 19

Tông trong phong trào sáng tác thơ Nôm Đường luật nửa cuối thế kỉ XV, địa

vị của Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm trong thơ Nôm Đường luật nửa cuối thế kỉ XVII – nửa đầu thế kỉ XIX đã phần nào xác định được sự phát triển của thơ Nôm Đường luật

1.1.2 Những chặng đường sáng tạo

Thơ Nôm Đường luật có vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của văn học trung đại Chúng ta khó có thể nói một cách chính xác thời điểm ra đời và thời điểm kết thúc của thơ Nôm Đường luật Thơ Nôm Đường luật lại trải qua những chặng phát triển với những đặc điểm riêng

a Giai đoạn từ thế kỉ XIII - XIV : Thơ Nôm Đường luật có lẽ ra đời

vào cuối thế kỷ XIII, song về mặt văn bản, cho đến nay, vẫn chưa sưu tầm

được Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “Nhâm ngọ (Thiên Bảo), năm thứ tư

(1282) mùa thu, tháng tám, Bấy giờ có cá sấu đến sông Lô, vua Trần Nhân Tông sai Thượng thư Hình bộ là Nguyễn Thuyên làm văn ném xuống sông, con cá sấu tự đi mất ( ) Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc âm Nước ta thơ phú dùng nhiều quốc âm, thực bắt đầu từ đây) [43, tr.48] Sáng tác đầu tiên lưu lại được là vào đầu thế kỷ XIV, bài thơ tương truyền là của nàng Điểm Bích trong câu chuyện với sư Huyền Quang Để có thể khẳng định rằng có một giai đoạn hình thành, tất nhiên phải có cơ sở lý luận: Xét từ góc độ ngôn ngữ, đến thế kỷ XIII, chữ Nôm có đầy đủ khả năng để trở thành thứ văn tự dùng trong sáng tác

văn học Còn xét từ góc độ văn học, sự xuất hiện của Quốc âm thi tập vào nửa

đầu thế kỷ XV tuy có vẻ là một sự kiện đột biến song phải là một tập đại thành, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị từ trước về mặt thể loại Và lại đây cũng là giai

đoạn mở đầu cho nền văn chương chữ Nôm Tác giả cuốn Văn chương chữ

Nôm gọi đây là phôi thai thời đại (1225 - 1430), trong đó Nguyễn Sĩ Cố với Quốc âm thi phú, “có tài làm thơ quốc âm và khéo khôi hài”, Chu Văn An (? -

1370) với Quốc ngữ thi tập, Hồ Quí Ly làm phú bằng quốc âm

Trang 20

b Giai đoạn từ thế kỉ XV đến XVII : Chúng tôi nhận định về quá trình

phát triển giai đoạn này thông qua các tập thơ tiêu biểu: Một là, với Quốc âm

thi tập, Nguyễn Trãi đã tô đậm xu hướng dân tộc hóa ở hình thức nghệ thuật

lẫn nội dung thể loại, một cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh cũng nhận xét thấy: “Nguyễn Trãi là nhà thơ rất

có ý thức” trên con đường tìm tòi một thể thơ dân tộc ít nhiều thoát ly Đường luật trong khi vẫn giữ phong cách chung của thơ Đường luật [17,tr.46] Biểu hiện nổi bật của xu hướng dân tộc hóa là ở hai điểm sau đây: Về mặt nội

dung, “Nhìn bao quát thì 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập trước hết là thơ về

chủ đề thiên nhiên Nguyễn Trãi ca ngợi cảnh vật đất nước với tấm lòng tin yêu, rộng mở ” [17, 258] - Về mặt hình thức, Nguyễn Trãi có rất nhiều sáng tạo “Về thể loại, trong thơ quốc âm Nguyễn Trãi có một số bài làm theo luật Đường; nhưng rất nhiều bài không phải luật Đường Đó là thơ Việt đang trên

xu hướng, định hình, có sự tiếp thu cả thơ Đường lẫn thơ ca dân gian dân tộc, câu 6 chữ xen vào những câu 7 chữ ( ) Có những câu tuy là 7 chữ, nhưng cách ngắt nhịp 3/4 cho phép ta hiểu đó không phải là câu 7 chữ của thơ Trung Quốc (vốn ngắt nhịp 4/3 là chính) Nguyễn Trãi đã sử dụng một vốn từ tiếng Việt phong phú bậc nhất vào thời ấy để sáng tác thơ Nguyễn Trãi cũng rất thích dùng thành ngữ, tục ngữ của quần chúng ” [17,tr.258 - 259] Nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn cũng nhận thấy: “Thể thơ lục ngôn, nói đúng hơn là thể thất ngôn bát cú có chen vào những câu lục ngôn, đó là một sự thay đổi

có thể là một thí nghiệm tìm tòi một âm điệu mới ra ngoài khuôn phép luật

Đường” [57;tr.54] Hai là Hồng Đức quốc âm thi tập vào nửa sau thế kỷ XV một mặt kế thừa nội dung dân tộc ở Quốc âm thi tập Tất nhiên là tập thơ có

nhiều hạn chế; lại là cái chính: đề tài thông tục nhưng lại mang khẩu khí cao sang Thi tập có vẻ nặng nề tính chất cung đình Tuy vậy, “ nhiều thành ngữ, tục ngữ, từ lấp láy được sử dụng ( ) Tính ước lệ tượng trưng là phổ biến

Trang 21

trong tác phẩm nhưng cũng có xu hướng tả thực với những chi tiết cụ thể,

sinh động” (17; tr 323) Ba là Bạch Vân thi tập (thường được gọi là Bạch Vân

quốc ngữ thi) của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 15850) “Một cây đại thụ rợp

bóng suốt thế kỷ XVI” Nếu trong thơ chữ Hán, các thể tài đề vịnh, thù tạc, trữ tình đều được bảo lưu rất đậm thì ngược lại dường như trong thơ chữ Nôm chủ yếu là thơ ngôn chí Gần gũi với Nguyễn Trãi về nội dung tư tưởng nhưng nếu như thơ Nguyễn Trãi thiên về cái tinh tế trong khi miêu tả sự diễn biến, những rung động thầm kín của trái tim thì thơ Tuyết Giang phu tử thiên

về cái uyên thâm trầm lắng những nghĩ suy về thế sự Có lẽ vì thế nên thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thường giàu tính triết lý Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh khi nhận xét về thơ Đường luật của hai thế kỷ XVI và XVII có lẽ dựa trên thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Sang các thế kỷ XVI và XVII thì thơ Đường luật vốn rất phù hợp với yêu cầu trữ tình lại đã được nhiều tác giả sử dụng để viết về triết học, về đạo lý, tức là thể hiện những suy tư về thế giới, về xã hội ” Cùng với chân dung một con người luôn tự chủ, bình tĩnh, ung dung, thư thái, thường lạc quan, yêu thích thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên, là

âm vang của những dòng thơ tiếng Việt giản dị, trong sáng, vừa có cái cụ thể sinh động khi tiếp cận cuộc sống, vừa nâng lên tầm khái quát, cô đúc như những chân lý Quả thật tập thơ đã có những đóng góp mới cho xu hướng Việt hóa và quá trình dân chủ hóa thể loại này Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân viết: “Thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được Việt hóa thêm một bước, nhất là về mặt ngôn ngữ, rất gần với thơ Nôm Nguyễn Công Trứ, thậm chí Nguyễn Khuyến thời sau, trong những bài thơ đó, không tự giác mà nhà thơ đã phá vỡ truyền thống khuôn sáo, cầu kỳ, ước lệ trong phong cách thơ Nôm thời Lê Thánh Tông, xét về phong cách ngôn ngữ thì thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng phản ảnh rất rõ tác động ngày càng mạnh của thơ

ca dân gian vào dòng văn học viết của trí thức phong kiến” [16, tr.155 - 156]

Trang 22

Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên nhận xét: “Nguyễn Bỉnh Khiêm đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng thơ tiếng Việt, ông tiếp tục cái quá trình sử dụng và pha chế chất liệu ngôn ngữ thuần Việt Đặc biệt là đã đưa vào thơ những chất liệu thường ngày, những câu chữ xuất từ ca dao, tục ngữ, từ tiếng nói bình dân Đó là quá trình dân chủ hóa nền văn học dân tộc, một quá trình

vĩ đại Những câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Thèm nỡ phụ canh cua

rốc./ Lạnh đà quen đắp ổ rơm” chứa dựng bên trong nó một sự chuyển biến

vĩ đại, một sự từ bỏ một nền mỹ học quan phương cung đình có phần nào rập khuôn thơ Trung Hoa, đến việc kiến tạo một nền mỹ học dân tộc Nó cũng là biểu hiện của mỹ học của cái thường ngày, bình dị ” [16, tr107 - 108] Tuy nhiên, sự xuất hiện của ba truyện thơ Nôm khuyết danh (cho đến nay vẫn không biết chắc thời điểm xuất hiện) trong đó tác giả “kết” những bài thơ Đường luật lại để tự sự là một thể nghiệm cần thiết Truyện Vương Tường gồm 39 bài thơ thất ngôn bát cú và 10 bài thất ngôn tứ tuyệt Tô công phụng

sứ gồm 24 bài thất ngôn bát cú Lâm tuyền kỳ ngộ (còn gọi là Bạch Viên Tôn Các) gồm 146 bài thất ngôn bát cú, 1 bài thất ngôn tuyệt cú ở cuối truyện ( ngoài ra còn có bài Thạch tuyền ca khúc phỏng theo thể hát nói) Qua thể nghiệm, có thể thấy rất rõ là: nếu sử dụng thơ Đường luật thất ngôn bát cú hay tuyệt cú để tự sự thì sẽ không thành công Để tự sự các sự kiện, tình tiết cần móc xích, đan xen lẫn nhau, nghĩa là cần có tính liên tục; trong khi đó, Đường luật lại có kết cấu chặt chẽ trong từng bài, tức sự hoàn chỉnh, khép kín, không chấp nhận sự co giãn, uyển chuyển Nói cách khác, có sự mâu thuẫn không thể giải quyết giữa hình thức thế loại với yêu cầu của tự sự Nhìn lại cả giai

đoạn phát triển từ Quốc âm thi tập đến trước Hồ Xuân Hương, thì xu hướng

chung của thơ Nôm Đường luật là dân tộc hóa và xã hội hóa Bên cạnh những đóng góp lớn, những thành tựu nghệ thuật là những thể nghiệm, tìm tòi nhưng không thành công Tất nhiên, vấn đề cải biến thơ bảy chữ ra xen sáu chữ

Trang 23

không phải là nhạc điệu luôn thất bại mà ngược lại dường như có một nhạc điệu khác có ý nghĩa và thẩm mỹ

c Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX: Nhận định Thơ Nôm

Đường luật từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương là giai đoạn phát triển ở đỉnh cao của thể loại này Nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Yên viết: “ nhất là từ nửa thế kỷ thứ XVIII về sau, thơ Nôm nói chung đều viết theo thể luật Đường hoàn chỉnh Với những thành tựu rực rỡ của thơ Bà huyện Thanh Quan, nhất

là thơ Hồ Xuân Hương thì thể thơ Nôm Đường luật ổn định, đạt đến đỉnh cao nghệ thuật” [35, tr.123] Tất nhiên, để đạt được đến đỉnh cao nghệ thuật, sự thành tựu rực rỡ ấy, có thể có nhiều yếu tố, chẳng hạn, những chặng đường trước đó như những thể nghiệm và đặc biệt là mấy chục năm cuối thế kỷ XVIII như một chặng chuyển tiếp: "Riêng về phương diện văn chương, có thể nói rằng sự thịnh vượng của ba bốn chục năm về cuối thế kỷ XVIII là cái buồng đợi (salle d'attente) để đưa người ta vào thế kỷ XIX” [35,tr.33] Trong chặng đường chuyển tiếp vắt qua hai thế kỷ ấy, cũng là mở đầu cho thế kỷ XIX, có Phạm Thái (1777 - 1813) và Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825), một trong Gia Định tam gia thi

Văn học dân gian thế kỷ XVIII cũng có nhiều bài làm theo thể Đường luật, như một số bài thơ cho là của Trạng Quỳnh Tuy nhiên, hiện tượng phổ cập hóa, dân gian hóa của thơ Nôm Đường luật vào thế kỷ XIX dường như đã trở nên một nét đặc trưng của đời sống văn hóa dân tộc Có thể nói thêm rằng đây chính là giai đoạn vàng son của thể loại thơ Nôm Đường luật Để đạt đến đỉnh cao của sự phát triển, thơ Nôm Đường luật đã tiếp tục xu hướng dân tộc hóa của nhiều thế kỷ trước, đồng thời, chuyển nhanh trên con đường dân chủ hóa cả nội dung lẫn hình thức thể loại Một cách khái quát, có thể nói thêm về hình thức câu thơ Nôm Đường luật giai đoạn này: hầu như đã xóa bỏ hình thức câu thất ngôn xen kẽ lục ngôn, như nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh nhận xét

Trang 24

và lý giải: “Thơ Đường luật có pha lục ngôn sẽ ít thấy từ thế kỷ XVIII trở đi, có

lẽ vì khi ấy những thể thơ yêu vận như song thất lục bát và thơ lục bát đã đủ thành thục để đáp ứng một cách thích hợp hơn với cảm quan về âm điệu của người Việt cũng như yêu cầu phản ánh của thơ ca Việt” [17, 67]

Đi vào cụ thể, để làm nên diện mạo của thơ Nôm Đường luật giai đoạn này, chúng tôi thấy có những khuôn mặt tiêu biểu: Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ Đến Bà huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương, dòng thơ Đường luật đã xuất hiện phong cách tác giả Đây là bước phát triển vượt bậc Trước hai nữ sĩ, chúng ta chỉ thấy phong cách thời đại và phong cách thể loại của thơ Nôm Đường luật Với khoảng bốn mươi bài của

Hồ Xuân Hương và chưa đầy mười bài của Bà huyện Thanh Quan – số lượng quá ít so với các tác giả trước nhưng đó là một sự kì diệu khi có phong cách thơ Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan Những tên tuổi đó đã chứng tỏ thơ Nôm Đường luật sẵn sang bước vào quỹ đạo của văn học hiện đại so với nhiều thể loại văn học khác

d Giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX: Tú Xương và Nguyễn Khuyến là hai

tác giả đã góp phần không hề nhỏ cho thể loại thơ Nôm Đường luật của nước

ta Giai đoạn này, thơ Nôm Đường luật từ văn học trung đại đã được tiếp cận sang văn học cận - hiện đại Chức năng phản ánh xã hội của thể loại không chỉ dừng ở mức “trữ tình thế sự”, “tư duy thế sự”, “trào phúng thế sự” mà còn vươn tới chỗ phản ánh xã hội với những chi tiết hiện thực sinh động Ở Tú Xương và Nguyễn Khuyến đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trào phúng và trữ tình trong những vần thơ “cười ra nước mắt” Một xã hội thực dân phong kiến ở thành thị trong thơ Tú Xương, ở nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến, với nhiều hạng người, màu sắc sinh động, chân thực Tú Xương và Nguyễn Khuyến cũng là những nhà thơ đã để lại phong cách tác giả trong thơ Nôm Đường luật Bằng sự chuẩn bị ấy, cùng với độ sung sức, thơ Nôm Đường luật

Trang 25

có khả năng chuyển sang văn học hiện đại Tuy nhiên hoàn cảnh lịch sử đã chấm dứt sinh mệnh nghệ thuật của một thể loại ở một thời kì vẫn đang có nhiều thành tựu Ngày mà Tú Xương viết “Vứt bút lông đi viết bút chì” cũng

là ngày báo hiệu thời kì suy yếu của thơ Nôm Đường luật

Suốt bảy thế kỉ thơ Nôm Đường luật đã tồn tại với tư cách một thể loại văn học dân tộc Lã Nhâm Thìn có viết “Cái gốc ngoại lai của nó trở nên rất thứ yếu, nó mặc nhiên đứng ngang hàng với lục bát, song thất lục bát – thể loại thuần túy của dân tộc” Từ Nguyễn Trãi đến Tú Xương tạo nên năm thế kỉ phát triển rực rỡ với diện mạo “không có tuổi già” của thơ Nôm Đường luật

1.2 NGUYỄN BỈNH KHIÊM – CUỘC ĐỜI VÀ QUAN NIỆM VĂN CHƯƠNG

1.2.1 Nguyễn Bỉnh Khiêm- Tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491) năm Hồng Đức thứ 22 triều Lê Thánh Tông, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) Trong bài tựa tập

thơ chữ Hán Bạch Vân Am thi tập, tác giả đã khẳng định cuộc đời của

ông chịu ảnh hưởng về sự giáo dục rất lớn của gia đình, ông cho biết: “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích dật nhàn …” Lớn lên, theo học Bảng nhãn Thượng thư Lương Đắc Bằng - một học giả uyên bác và khí tiết thanh cao Năm 7 tuổi, Bỉnh Khiêm

đã phải sống với cha vì mẹ bỏ ra đi do bất đồng trong việc dạy dỗ con cái

Từ trước đến nay, có thể nói, chưa có một tác giả nào bị lịch sử tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, quan niệm như Nguyễn Bỉnh Khiêm Cho nên, dựa vào các cột mốc lịch sử và những hoạt động, có thể chia cuộc đời của nhà thơ làm ba chặng:

Chặng thứ nhất tính từ thời niên thiếu đến năm 1534 Đây là

khoảng thời gian mà từ trong triều đến ngoài xã hội có nhiều biến động,

Trang 26

“Nội chiến phi nghĩa làm cho hao người, tốn của, sưu cao, thuế nặng; rồi

cướp bóc, chém giết ” (Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến đầu thế kỷ

XVIII - Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương) [17, tr.358]

Trong khoảng thời gian t ừ n ă m 1523 đến năm 1526, d ư ớ i triều

Lê Tương Dực có mở khoa thi nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mai danh

ẩn tích, không ra ứng thí Khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi nhà Lê, nhà Mạc

đã có một số chính sách mới nhằm ổn định trật tự xã hội và nhằm thúc đẩy đất nước phát triển về mọi mặt Do đó, uy tín nhà Mạc chẳng những được củng cố dần dần mà còn được một số các quan lại nhà Lê cũ phò trợ đắc lực Và, tuy nhà Mạc có tổ chức các khoa thi Hội (1529), thi Hương để kén chọn nhân tài, các sĩ tử hưởng ứng rất đông nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn

ẩn cư, dạy học

Người bốn mươi tuổi khỏe triều quan

Ta tuổi bốn mươi đã được nhàn

(Thơ Nôm, bài 135)

Chặng thứ hai tính từ lúc ra đi thi và làm quan (1535-1542) Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định nhập thế Mặc dù đã 44 tuổi, ông vẫn đi thi Hương và đỗ Giải nguyên khoa Giáp ngọ dưới triều Mạc Đăng Doanh (1534) Năm 1535, dự thi Hội bốn kì đều đạt nhất, đỗ Hội nguyên; dự thi

Đình, đỗ Trạng nguyên Theo Vũ Khâm Lân, khi nghiên cứu Bia ký quán

Trung Tân, ông cho rằng sau khi thi đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm

lần lượt được bổ chức Đông Các Hiệu Thư, sau đó được sung chức Hữu Thị Lang Bộ Hình, rồi Tả Thị Lang bộ Lại kiêm chức Đông Các Đại học sĩ Như vậy, con đường khoa hoạn của tác giả không có gì trắc trở thậm chí còn quá thuận lợi Làm quan được 8 năm, ông từng dâng sớ chém đầu 18 nịnh thần nhưng vua Mạc không thuận Tiếp đó, lấy cớ con rể Phạm Dao cậy thế cậy quyền làm nhiều điều bất nghĩa, ông thác bệnh xin về trí sĩ vào thời Mạc

Trang 27

Phúc Hải (1543) Trong bài Trung Tân quán bi ký, ông cũng có viết: “Mùa

thu năm Nhâm dần, ta bỏ quan chức về nghỉ ở quê nhà, mời các cụ già đi dạo chơi ở bến giữa (Trung Tân)”

Chặng thứ ba tính từ năm 1543 đến 1585 Trong thời gian ở ẩn,

Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng am Bạch Vân, bắc hai chiếc cầu Nghinh Phong và Tràng Xuân, tu bổ chùa chiền, dựng một ngôi quán gọi là Trung Tân trên bến Tuyết Giang, được học trò xưng tôn là Tuyết Giang phu tử Ông có dựng bia cạnh quán và soạn bài văn khắc vào bia đá để khuyên nhủ người

đời nên làm điều thiện Dựa theo bài Phả ký, trong Công dư tiệp ký, Vũ

Phương Đề cho rằng tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn cư dạy học nhưng với tài đức cao vời vợi của Trạng Trình, vua Mạc vẫn lấy “sư lễ” đãi ông Những khi nhà nước có việc gì quan trọng, triều đình đều sai sứ đến hỏi, có khi triệu ông về kinh “thung dung trù liệu kế hoạch, rồi lại trở về am, chứ không

ở lại” Bên cạnh đó, cả những người phù Lê cũng luôn tôn trọng, vị nể Nguyễn Bỉnh Khiêm Sau 2 năm, Mạc Phúc Hải gia phong cho ông tước Trình Tuyền hầu (Hầu tước khơi nguồn dòng suối triết học của họ Trình) Người đời thường gọi ông là Trạng Trình

Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn luôn mong muốn đất nước được thịnh vượng, thái bình Với sự uyên thâm vốn có, ông nhận thấy vận mệnh của đất nước trong hoàn cảnh bi đát này không thể trao vào tay bất kỳ một lực lượng chính trị nào Bởi vì, lúc bấy giờ các tập đoàn phong kiến huyết chiến với nhau chỉ vì muốn tranh giành quyền lực Tuy nhiên, nhà nghiên cứu

Nguyễn Khuê nghiên cứu Bạch Vân am thi tập cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm

còn hai lần ra làm quan, trực tiếp tham gia những cuộc “chinh phạt” của triều Mạc ở phía Tây nữa rồi mới “ quy lão” năm 73 tuổi (1563):

“Đếm tuổi mình đã bảy mươi ba Treo xe hơi muộn cũng nên thẹn

Vốn tự hẹn đua bay với người ta, than ôi không đủ sức

Trang 28

Không cần sang hèn đâu phải là tham….”

(Về hưu gửi cho quan Thượng thư Bộ lại Kế Khê Bá) Dựa vào bài thơ Quá Hữu Giang (bài 3), tác giả Vũ Đức Phúc cho rằng

có thể Nguyễn Bỉnh Khiêm về hưu năm 1541, nhưng sau đó lại ra làm quan

và đến khi Phạm Dao cậy quyền càn quấy, ông chán nản xin về trí sĩ Nhưng sau đó lại “tòng nhung” hai lần dẹp loạn: “Tuổi ngoài sáu chục gắng gượng theo quân Hai dịp qua đây, đóng lại ở núi này”

Đôi lúc nâng chén ruợu nhàn nhìn bóng trời chiều, Nguyễn Bỉnh Khiêm

nhớ lại những ngày tòng chinh đi Qua sông Hữu “trợ sức cho quân nhà vua” (bài 2), cùng lo với nỗi lo “tìm một vị tướng nhân đức” của vua Mạc (bài

4), cùng bày mưu tính kế và vui với nỗi vui mừng chiến thắng của chư

tướng (bài 6) Trong buổi loạn ly gửi Nguyễn Cảo Xuyên (Nguyễn Thiến,

trọng thần nhà Mạc, cha của Nguyễn Quyện), người bạn cùng chung chí hướng đã từng cùng Nguyễn Bỉnh Khiêm hộ giá vua Mạc đánh Tuyên Quang, ông có tâm sự:“Xét mình giúp vua trẻ còn giữ được nghĩa, Biết ông tuy khởi biến vẫn không đành lòng”

Vì tấm lòng chung thủy với dân, với nước cho nên: “Ta tuổi già và tật bệnh mà gặp mãi cảnh loạn ly này Phải gắng đi theo để tham dự vào việc

quân cơ” Hàng loạt bài Theo đánh miền Tây) nói về Nguyễn Bỉnh Khiêm

đi theo quân Mạc chinh phạt miền Tây-sáng tác trong khoảng niên hiệu Quang Bảo (niên hiệu của Mạc Phúc Nguyên) từ 1554 đến 1561 Ông đi theo quân Mạc đánh anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật ở vùng Hưng Hóa, Tuyên Quang:

“Thẹn già yếu vụng đường thao lược,

Gượng dấu mình dự cuộc viễn chinh

Nắng soi rạng rợp cờ tinh, Thác vang gió chuyển rập rình trống quân.”

Trang 29

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất ngày 28 tháng 11 năm 1585, hưởng thọ 95 tuổi Mạc Mậu Hợp sai Mạc Kính Điển đến dự tế, truy phong Thượng thư

bộ Lại, Thái phó Trình quốc công và tặng mấy chữ trước cửa đền thờ: “Mạc triều Trạng nguyên Tể tướng từ”

Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn mong muốn đất nước thịnh vượng, thái bình

và đời sống nhân dân no đủ và yên bình Tương truyền, hình như để tránh những cuộc binh đao khói lửa, tương tàn cho chúng dân và nhìn thấy trước thời cuộc nên khi các tập đoàn phong kiến đến hỏi kế sách, ông đều bày cho

họ những phương sách khác nhau để giữ thế “chân vạc” Đọc thơ ông là thấy

cả tấm lòng lo cho nước, thương đời, thương dân và một tâm hồn sáng suốt da diết với đạo lý: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu,hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).Vì thế mà sau khi về ở

ẩn, ông vẫn mở trường dạy học mong đào tạo cho đời những tài năng “kinh bang tế thế” Học trò của ông cũng có những người trở thành danh tướng, Trạng nguyên: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền…Khi tuổi đã cao, sức đã yếu, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn mong mỏi được đem tài đức của mình lo dân giúp đời Chế độ phong kiến khủng hoảng, không có đường lập công, ông đã chọn con đường lập ngôn, hi vọng những câu thơ tuyên truyền đạo đức, bằng uy vọng của mình, ông có thể góp phần vào việc “phù nghiêng, đỡ lệch” Tấm lòng ưu ái rừng rực của ông “đến già chưa thôi”

1.2.2 Quan niệm văn chương

Quan niệm cơ bản và mang tính chất đặc thù của văn chương Việt Nam thời trung đại không nằm ngoài hai mệnh đề “Thi dĩ ngôn chí” và “Văn dĩ tải đạo” Quan niệm “Thi dĩ ngôn chí” (Thơ để nói chí) xuất hiện ở Trung Quốc vào thời thượng cổ và được chép lại trong một số kinh sách như: Thượng thư,

Tả truyện, Lễ ký… “Thi ngôn chí thịnh thành từ đời Hán và trở thành một quan niệm áp đảo, gắn liền với tư tưởng Nho gia Chí ở đây, chủ yếu là hoài

Trang 30

bão chính trị, đạo đức lễ nghĩa, là chí hướng làm người, cũng bao hàm cả tình cảm… Thi ngôn chí là quan niệm về bản chất quan trọng, cơ bản của thơ nhưng không phải là tất cả Trong từ điển của Đỗ Đức Hiểu có định nghĩa tuỳ theo cách hiểu rộng, hẹp về “chí” mà mệnh đề có nội dung phong phú hay nghèo nàn” Còn mệnh đề “Văn dĩ tải đạo”, xuất hiện muộn hơn “Nó chỉ là đặc sản của Tống Nho, là sản phẩm của Chu Trình” Và “đạo” ở đây được hiểu là những phép tắc, lễ nghĩa của Nho giáo, trong đó có cả phần cực đoan máy móc khi Nho giáo trên đà thoái hoá Tuy nhiên tuỳ từng người, từng thời đại mà khái niệm “đạo” biểu đạt những nội dung khác nhau “Có cái đạo vì dân vì nước, vì tổ quốc giống nòi trong văn thơ yêu nước nhưng cũng có cái đạo thuần tuý là lễ giáo phong kiến, là tư tưởng thánh hiền” Quan niệm “Thi

dĩ ngôn chí” và “Văn dĩ tải đạo” đã chi phối và tác động sâu sắc đến tư tưởng nhận thức trong quá trình sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam thời trung đại

Nho giáo quan niệm văn chương là phương tiện để bày tỏ chí hướng mà chí hướng của nhà nho không nằm ngoài việc thực hiện nhiệm vụ “kinh bang tế thế” nhằm ổn định kỷ cương của nhà nước phong kiến đồng thời để giữ vững nhân tâm thế đạo Văn chương với Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là một phương tiện

để bày tỏ tấm lòng “chí nghĩa” vừa gắn với những hành động cụ thể nhằm thực hiện những hoài bão lớn lao của một con người “đã từng nhập thế tích cực, với hoài bão và tráng chí của một con người hành động” [56, tr.244]

Thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn hướng về nhân dân, dành cho người dân lầm than khốn đốn vì chiến tranh, loạn lạc một vị trí quan trọng

Đó là niềm cảm thông, thương xót trước nỗi khổ đau mất mát của những người dân lam lũ, tội nghiệp Cái chí trong thơ ông là vậy

Rõ ràng, Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa một lần phát biểu, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp quan niệm làm thơ hướng đến dân, vì dân như Nguyễn Trãi

Trang 31

trước đó đã làm, nhưng khảo sát thơ ông số lần xuất hiện của từ “dân” không kém so với thơ Ức Trai, cả về thơ chữ Hán và chữ Nôm Điều này chứng tỏ, phải xuất phát từ quan niệm, từ ý thức mang tính chất nhất quán mà quyết định cách lựa chọn các phương tiện từ ngữ để biểu đạt nội dung quan niệm Bởi vậy, có thể khẳng định: con đường hành đạo và thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ban đầu không phải là để thoả mãn thú “nhàn” mà được đặt trên nền tảng vì dân, vì nước Chính vì thế mà tấm lòng lo nước, thương đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn hướng về nhân dân và “dành những tình cảm trong sáng, cao đẹp hướng về dân chúng” [39, tr.313]

Với Nguyễn Bỉnh Khiêm văn chương không chỉ mang chức năng phản ánh hiện thực cuộc sống mà qua sự việc, sự vật được miêu tả để người viết thể hiện thái độ, tình cảm Làm thơ, với ông là việc “tức cảnh mà ngụ ý, tức sự

mà tự thuật” và đó là “thơ nói về chí” Xuất phát từ quan niệm đó mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chủ trương “thơ tức là sử” nghĩa là thực hiện nhiệm vụ tái hiện chân thực bức tranh đời sống của xã hội Lẽ dĩ nhiên, tái hiện không xa rời với việc thể hiện tư tưởng tình cảm của nhà thơ trước hiện thực Do đó, không phải ngẫu nhiên thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm tính hiện thực và

“Hiện thực trong thơ ông mang một tinh thần phê phán sâu sắc mà trước Nguyễn Bỉnh Khiêm văn học Việt chưa có ai viết được những bài thơ có tính hiện thực cao kế thừa truyền thống Đỗ Phủ - một truyền thống được tôn trọng

và cắm rễ sâu ở thơ Việt, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, Cao Bá Quát sau này” [38; tr 145]

Quan niệm văn chương gắn với chức năng giáo huấn, tải đạo Xuất thân

từ một gia đình nhà nho, được đào luyện trong môi trường Khổng - Mạnh tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không gì khác ngoài tư tưởng Nho giáo chính thống Sống trong một thời đại mà chế độ phong Việt Nam xảy ra nhiều biến động, những kỷ cương, chuẩn mực của Nho giáo bị rạn nứt, biểu hiện qua sự

Trang 32

xáo trộn và đổ vỡ của các mối quan hệ từ gia đình đến xã hội Đó là hiện thưc:

“ở triều đình thì tranh nhau cái danh, ở chợ búa giành nhau cái lợi Khoe là sang thì xe mát quán ấm, khoe là giàu, thì lầu múa nhà hát Thấy người chết đói dọc đường, không dám bỏ một đồng tiền ra cứu giúp, thấy nơi trống trải không có gì che mưa, không dám bó một bó tranh để che đậy, điều thiện không được tu dưỡng đã lâu vậy” (Bi ký quán Trung Tân) Tầng lớp nho sĩ đương thời đã có những ứng xử khác nhau trước hiện thực ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không ngoại lệ Trên nền tảng của tư tưởng Khổng giáo, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc hệ thống triết học Tống - Nho để cắt nghĩa, lý giải và chọn làm nguyên tắc ứng xử với thời cuộc Sự tiếp thu và ảnh hưởng đó cũng đã tác động đến quan niệm văn chương với chức năng giáo huấn, tải đạo

Như vậy, quan niệm văn chương là sự nhận thức của nhà văn về vai trò,

vị trí cũng như chức năng và bản chất xã hội của văn học được biểu đạt qua một hình thức nghệ thuật thích ứng Quan niệm văn chương chỉ được định hình trên một nền tảng vững chắc của các nhân tố về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và diễn tiến của quá trình vận động, phát triển của đời sống văn hoá - văn học Sự tác động của các nhân tố đó ít nhiều đã chi phối đến quá trình hình thành và lựa chọn những nội dung biểu hiện của quan niệm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo được quan niệm văn chương cho chính mình bằng cuộc đời, bằng các tác phẩm

1.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM RIÊNG CỦA BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI

TẬP TRONG DÒNG CHẢY CỦA THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THẾ KỈ

XVI

1.3.1 Đặc điểm chung của thơ Nôm Đường luật thế kỉ XVI

Thế kỉ XVI là một thế kỉ của những cuộc nội chiến và loạn lạc, xuất phát từ những mâu thuẫn không thể điều hoà giữa các phe phái phong kiến

Trang 33

cầm quyền trong nội bộ của giai cấp phong kiến thống trị và mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân bị trị, chủ yếu là nông dân với triều đình Những mâu thuẫn này là nguyên nhân dẫn đến những cuộc nội chiến kéo dài gây ra nỗi khổ đau, mất mát cho người dân vô tội Bên cạnh đó, chính sách cai trị khá

“cởi mở” của nhà Mạc trong thời gian đầu đã tác động đến sự phát triển của kinh tế hàng hoá Mặt trái của sự phát triển này cũng dẫn đến sự rạn nứt của thiết chế nhà - làng -nước mà trước đó vương triều Lê Thánh Tông đã củng cố vững chắc Tệ hại hơn là một số chuẩn tắc đạo đức của cả Nho gia và dân tộc

đã bị đảo lộn, thậm chí bị vi phạm nghiêm trọng

Sang đến thế kỉ này, triều đại phong kiến bước vào sự suy thoái, nhưng Nho giáo vẫn nằm trong sự phát triển của nó Ảnh hưởng của thời Hồng Đức vẫn sâu rộng đến tầng lớp nhà nho Tuy nhiên, đây là thế kỷ mà việc hành đạo trở nên khó khăn, nhà nho lui về ở ẩn để bảo vệ cái đạo của mình Họ chán nản, chán ghét cảnh chông gai bụi bặm của con đường công danh, rút về nông thôn, vùng núi để sống cuộc sống an nhàn, bình ổn…mà vẫn giữ trọn cái đạo mình theo đuổi Thay vì xả thân hành đạo, họ lui về ở ẩn, sống an bần mà lạc đạo Chẳng hạn như Nguyễn Hàng, Nguyễn Bỉnh Khiêm Như vậy, cùng với việc thịnh của Nho giáo, việc tu dưỡng của nhà nho vẫn đạt, cảm hứng an bần lạc đạo gần như trở thành chủ đạo trong văn học thế kỉ XVI

Chiến tranh phong kiến liên miên gây bao thảm cảnh cho nhân dân Nhưng đó cũng là thời kì nhiều công trình kiến trúc được trùng tu hoặc làm mới Các chùa, quán, đình được xây dựng thời này còn lưu lại nhiều dáng kiến trúc mới mẻ, trang trí, chạm khắc độc đáo, đậm chất dân gian Các loại hình sân khấu như chèo, múa rối và các trò diễn dân gian khác cũng được phục hồi, phát triển Nền mĩ thuật và nghệ thuật thời này về nhiều mặt đã thoát ra ngoài những khuôn sáo, ước lệ chính thống, gần gũi với văn hóa dân gian, bình dị, lành mạnh, giàu sức sống Sức ép của tư tưởng chính thống

Trang 34

trong giai đoạn loạn lạc này không còn chặt chẽ như trước Tư tưởng xã hội

đã có phần tự do, khai phóng hơn Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn học nói riêng và văn hóa nói chung trong đó có thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tiếp nối tất cả những nội dung đã được định hình ở nền văn học dân

tộc, đặc biệt ở thơ Nôm Đường luật từ Quốc âm thi tập đến Hồng Đức quốc

âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập ra đời đã ghi nhận một dấu ấn đậm nét

những tâm sự của thi nhân trong thời buổi khủng hoảng của chế độ phong kiến ở thế kỉ này

Thế kỉ XVI ghi nhận bước phát triển của thơ Nôm Đường luật với Bạch

Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nếu so sánh về quy mô số

lượng thì Bạch Vân Quốc ngữ không lớn bằng hai tác phẩm ở thế kỉ XV Nhưng thơ Nôm Đường luật thế kỉ này đã được nâng lên một tầm cao mới về

đề tài, chủ đề, không đậm nét đề tài, chủ đề dân tộc mà nổi bật là đề tài, chủ

đề mang tính chất xã hội Tính chất triết lí trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang hơi thở của thơ tiếp cận cuộc sống vừa cụ thể, vừa sinh động, vừa có tầm khái quát xã hội rộng lớn

Xu hướng phá cách trong thơ Nôm Đường luật vẫn được tiếp tục trong

giai đoạn này Số lượng câu thơ sáu chữ trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập giảm khá nhiều so với Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập Điều này

phản ánh quy luật phát triển của thơ Nôm Đường luật : Hiện tượng không theo quy cách thơ Đường giảm dần và quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật là đi từ thể chưa ổn định tới ổn định

Việc dùng thơ Đường luật để trào phúng manh nha từ Nguyễn Trãi tới Nguyễn Bỉnh Khiêm chức năng trào phúng của thơ Nôm Đường luật đã được khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm không từ chối một bút pháp trào phúng khi sáng tác thơ Nôm Đường luật mặc dù ông là một nhà đạo đức mực thước , một bậc thầy đầy uy vọng Bởi tính chất phức tạp của thời đại (thế kỷ XVI-

Trang 35

XVII), tình hình sáng tác văn học cũng có sự thay đổi Bên cạnh một số tác phẩm có nội dung thỏa mãn với hiện thực, bảo vệ chính sách của Nhà n ước phong kiến ngày càng ít đi, số lượng các tác phẩm bộc lộ sự bất mãn với thời cuộc xuất hiện ngày một nhiều cùng với sự xuất hiện của hàng loạt những tác phẩm của các danh sĩ ca tụng lối sống nhàn tản, ẩn dật Đây là kết quả tất yếu của yêu cầu thời đại đối với sứ mệnh phản ánh hiện thực, phản ánh tư tưởng, tình cảm của con người

1.3.2 Đặc điểm riêng của Bạch Vân quốc ngữ thi tập

Bạch Vân thi tập ( còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi) của Nguyễn Bỉnh

Khiêm Nếu trong thơ chữ Hán, các thể tài đề vịnh, thù tạc, trữ tình đều được bảo lưu đậm thì ngược lại dường như trong thơ chữ Nôm chủ yếu là thơ ngôn chí Gần gũi với Nguyễn Trãi về nội dung tư tưởng nhưng nếu nhà thơ Nguyễn Trãi thiên về cái tinh tế trong khi miêu tả sự diễn biến, những rung động thầm kín của trái tim thì thơ Tuyết Giang phu tử thiên về cái uyên thâm trầm lắng những nghĩ suy về thế sự Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh khi nhận xét về thơ Đường luật của hai thế kỷ XVI và XVII dựa trên thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Sang các thế kỷ XVI và XVII thì thơ Đường luật vốn rất phù hợp với yêu cầu trữ tình lại đã được nhiều tác giả sử dụng để viết về triết học,

về đạo lý, tức là thể hiện những suy tư về thế giới, về xã hội, ” Cùng với chân dung một con người luôn tự chủ, bình tĩnh, ung dung, thư thái, thường lạc quan, yêu thích thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên, là âm vang của những dòng thơ tiếng Việt giản dị, trong sáng, vừa có cái cụ thể sinh động khi tiếp cận cuộc sống, vừa nâng lên tầm khái quát, cô đúc như những chân lý Quả thật tập thơ đã có những đóng góp mới cho xu hướng Việt hóa và quá trình dân chủ hóa thể loại này Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân viết: “Thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được Việt hóa thêm một bước, nhất

là về mặt ngôn ngữ, rất gần với thơ Nôm Nguyễn Công Trứ, thậm chí Nguyễn

Trang 36

Khuyến thời sau, trong những bài thơ đó, không tự giác mà nhà thơ đã phá vỡ truyền thống khuôn sáo, cầu kỳ, ước lệ trong phong cách thơ Nôm thời Lê Thánh Tông xét về phong cách ngôn ngữ thì thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng phản ảnh rất rõ tác động ngày càng mạnh của thơ ca dân gian vào dòng văn học viết của trí thức phong kiến” [17, tr.155 - 156] Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên nhận xét: “Nguyễn Bỉnh Khiêm đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng thơ tiếng Việt Ông tiếp tục cái quá trình sử dụng và không chế chất liệu ngôn ngữ thuần Việt Đặc biệt là đã đưa vào thơ những chất liệu thường ngày, những câu chữ xuất từ ca dao, tục ngữ, từ tiếng nói bình dân Đó là quá trình dân chủ hóa nền văn học dân tộc, một quá trình vĩ đại Những câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm; Thèm nỡ phụ canh cua rốc./ Lạnh đà quen đắp ổ rơm chúa dựng bên trong nó một sự chuyển biến vĩ đại, một sự từ bỏ một nền

mỹ học quan phương cung đình có phần nào rập khuôn thơ Trung Hoa, đến việc kiến tạo một nền mỹ học dân tộc Nó cũng là biểu hiện của mỹ học của cái thường ngày, bình dị ” [56,tr.107 - 108] Còn GS Lê Trí Viễn, trong bài

viết Tài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm khẳng định "Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là thơ

hay với đầy đủ phẩm chất thơ Cách dùng từ thoải mái, thêm chút tự do và có lúc có thể nói ngang tàng sử dụng hư từ lạ và tài: Cá tôm tối chác bên kia bến Củi đuốc ngày mua mé nọ đèo ( ) “Ngâm biếm nguyệt” và “chén vầy thu” thì sức cô đúc nhượng gì thơ chữ Hán: Song bắc kìa ai ngâm biếm nguyệt Lầu nam nọ khách chén vầy thu âm điệu thì khỏi nói Nào chen lục ngôn hoặc toàn lục ngôn Nào ngắt nhịp bất chấp nhạc điệu thơ luật mà chỉ nghe theo nhạc điệu của hồn thơ, chẳng chút e dè” [56,tr.157] Đỗ Kim Thịnh, trên tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật số 6/1991 có bài Quan niệm đạo đức và thẩm mỹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong đó ông chỉ ra bản sắc văn hóa, tâm hồn Việt Nam ở thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm "Sự gắn bó với các ngạn ngữ dân ca Việt được ông thể hiện trong các bài thơ Nôm - thứ quốc ngữ đầu tiên

Trang 37

của dân tộc càng chứng tỏ sức sống của văn hóa cội nguồn, nối mạch thơ văn ông truyền đạt cho đời sau Ngôn ngữ trong thơ ông trong sáng ghi lại được

phong vị, bản sắc của đời sống rất Việt Nam: Bếp trà hâm đã sôi măng trúc

nương cỏ cày thôi, vãi hạt bông./ Cửa vắng ngựa xe thôi quýt ríu./ Cơm no tôm cá kẻo thèm thuồng"

Có thể khẳng định, đến Bạch Vân quốc ngữ thi tập, thì xu hướng dân

tộc hóa ở cả phương diện nội dung và hình thức của thơ Nôm Đường luật nâng lên một bước cao hơn Học giả Dương Quảng Hàm viết: “Những bài ấy hoặc vịnh cảnh nhàn tản, hoặc tả thế thái nhân tình để ngụ ý khuyên răn người đời Lời thơ bình đạm mà có ý vị; những bài vịnh cảnh nhàn thì phóng khoáng, thanh tao còn trong những bài răn đời thì có giọng trào phúng nhẹ nhàng, kín đáo Thật là một lối thơ ca đặc biệt trong nền văn nôm của ta” [19, tr.284 - 285] Tác giả Đinh Gia Khánh cũng có ý kiến tương tự khi nhấn mạnh

đến xu hướng dân tộc hóa thể loại của Bạch Vân quốc ngữ thi tập: “Trong thơ

Nôm viết bằng ngôn ngữ văn học dân tộc, thiên nhiên đất nước và cuộc sống của nhân dân lại được miêu tả với một phong vị dân tộc đậm đà hơn, cụ thể và sinh động hơn ” [26,tr.425]

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong nền văn học trung đại, tiếp sau Nguyễn Trãi, có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm là tác gia tiêu biểu và có nhiều đóng góp hơn cả Ông là một nhà văn hóa lớn của dân tộc Tài năng và nhân cách của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến gần hết thế kỷ XVI - thế kỷ với những biến động lớn lao trong lịch sử đất nước Ông là một chính khách có uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri, người thầy, người mà các vua chúa đương thời phải kính sợ tôn

là bậc phu tử Là người Việt có lẽ ít ai không biết đến đại danh Trạng Trình - Ông trạng giỏi việc chính sự, giáo dục và tinh thông lý số Nhưng trước hết phải khẳng định rằng, nổi bật trên tất cả, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ, người đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học dân tộc

Nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn, trong bài viết Tài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

còn khẳng định “Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là thơ hay với đầy đủ phẩm chất thơ Cách dùng từ thoải mái, thêm chút tự do và có lúc có thể nói ngang tàng

sử dụng hư từ lạ và tài: Cá tôm tối chác bên kia bến./ Củi đuốc ngày mua mé

nọ đèo “Ngâm biếm nguyệt “và” chén vầy thu” thì sức cô đúc nhượng gì thơ chữ Hán: Song bắc kìa ai ngâm biếm nguyệt/ Lầu nam nọ khách chén vầy thu

âm điệu thì khỏi nói Nào chen lục ngôn hoặc toàn lục ngôn Nào ngắt nhịp bất chấp nhạc điệu thơ luật mà chỉ nghe theo nhạc điệu của hồn thơ, chẳng chút e dè” [50,157] Đỗ Kim Thịnh, trên tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật số 6/1991 có bài Quan niệm đạo đức và thẩm mỹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong

đó ông chỉ ra bản sắc văn hóa, tâm hồn Việt Nam ở thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm “Sự gắn bó với các ngạn ngữ dân ca Việt được ông thể hiện trong các bài thơ Nôm - thứ quốc ngữ đầu tiên của dân tộc càng chứng tỏ sức sống của văn hóa cội nguồn, nối mạch thơ văn ông truyền đạt cho đời sau Ngôn ngữ

Trang 39

trong thơ ông trong sáng ghi lại được phong vị, bản sắc của đời sống rất Việt

Nam: Bếp trà hâm đã sôi măng trúc Nương cỏ cày thôi, vãi hạt bông Cửa

vắng ngựa xe thôi quýt ríu, Cơm no tôm cá kẻo thèm thuồng” [17,80]

Bạch Vân quốc ngữ thi là tập thơ tiêu biểu của Nguyễn Bỉnh

Khiêm, chứa đựng nhiều tư tưởng, quan niệm sống của ông Các vấn đề mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cập đến trong tập thơ này ít nhiều chịu ảnh

h ưở n g của các khuynh hướng sáng tác trước đó và cùng thời như: vấn đề chính sự, lý tưởng sống của các bậc nho sĩ…Cộng với tài năng của một con người lỗi lạc có phong cách thanh cao của một bậc danh sĩ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phần nào hoàn thiện và làm phong phú hơn đặc điểm nghệ thuật mà thơ văn giai đoạn trước đã đề cập đến, góp phần mở ra những phương diện phản ánh cuộc sống và con đường tư duy nghệ thuật mới mẻ cho các tác giả giai đoạn sau

Trang 40

CHƯƠNG 2

CẢM QUAN VỀ HIỆN THỰC VÀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ

TRONG BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã quyết định ra làm quan, lựa chọn thái độ hợp tác với nhà Mạc Ông vừa chấp nhận cũng vừa chịu sự quy định chung của thời thế và dòng chảy lịch sử, với khao khát thực hiện tâm nguyện giúp đời Tuy nhiên, sức người không thể xoay chuyển guồng quay tất yếu của lịch sử, chế độ phong kiến đã suy vi không thể cứu vãn được Nguyễn Bỉnh Khiêm sau tám năm làm quan đã quyết định về ở ẩn

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm phản ánh đậm nét hiện thực chiến tranh Lịch

sử Việt Nam thế kỉ XVI là những trang thấm đẫm chiến tranh Chiến tranh muôn đời luôn là nỗi thống khổ của nhân loại cho dù khoác lên mình màu áo chính nghĩa hay phi nghĩa thì nó cũng để lại bao bi thương, bao tang tóc

Ngày đăng: 17/05/2021, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w