1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh

74 178 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 780,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến tranh không còn được nhìn nhận một chiều, không còn phân chia hai chiến tuyến ta và kẻ thù… Cái mà tác giả quan tâm hơn hết trong cuộc chiến ấy là số phận con người, là nỗi đau là

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG

Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Có lẽ mỗi người dân Việt Nam hôm nay vẫn không thể nào quên một thời quá khứ hào hùng của dân tộc khi mà những chàng trai cô gái trẻ hăng hái lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước mà lòng phơi phới dậy tương

lai” Nhưng quá khứ hào hùng ấy cho đến hôm nay, đặc biệt là từ sau năm đổi

mới 1986, nó đã được nhìn nhận lại, chiến tranh không còn là những chiến công sáng chói nữa mà chiến tranh là nỗi đau, là những vết thương rỉ máu không thể lành… là nỗi ám ảnh đối với những người mặc áo lính Các tác

phẩm của Chu Lai, Lê Lựu, Nguyễn Trí Huân…đặc biệt là Nỗi buồn chiến

tranh của Bảo Ninh đã cho chúng ta một cái nhìn mới về thời kì này Đã hơn

ba mươi năm trôi qua, nhưng chiến tranh vẫn hiện lên sinh động, chân thực

qua những trải nghiệm của chính nhà văn Có thể nói, với tiểu thuyết Nỗi

buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã để cuộc chiến ấy hiện nguyên hình với đầy đủ

mọi góc cạnh của nó Chiến tranh không còn được nhìn nhận một chiều, không còn phân chia hai chiến tuyến ta và kẻ thù… Cái mà tác giả quan tâm hơn hết trong cuộc chiến ấy là số phận con người, là nỗi đau là sự mất mát mà con người phải gánh chịu cho dù là cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ tổ quốc,

đúng như tiêu đề mà Bảo Ninh đặt cho đứa con tinh thần của mình, Nỗi buồn

chiến tranh Và đó không chỉ là cách nhìn mà còn là cách cảm, cách lí giải

mới của ông về đề tài này

Trang 3

Chưa dừng lại ở đó, Nỗi buồn chiến tranh đã chứng tỏ được một cây

bút sắc sảo có chiều sâu nghệ thuật nhất là nghệ thuật trần thuật hết sức độc đáo Trong tác phẩm, Bảo Ninh đã chọn cho mình điểm nhìn đa chiều của những người trong cuộc, một hình tượng người trần thuật lưỡng phân, cách kết hợp táo bạo với thủ pháp đồng hiện của điện ảnh… Điều này không những góp phần làm nên thành công của tác phẩm mà còn là đóng góp quan trọng của nhà văn trên con đường hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam Và tất cả những điều ấy đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm nghệ

thuật của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh để có thể hiểu tác

phẩm một cách sâu sắc và toàn diện hơn cũng như góp phần khẳng định thêm đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà Đó là lí do mà chúng tôi quyết

định chọn đề tài : “Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của

Bảo Ninh”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến

tranh của Bảo Ninh do nhà xuất bản Trẻ Hà Nội ấn hành năm 2011

Nghiên cứu về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, luận văn này chủ yếu

đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của tiểu thuyết này ở các phương diện cơ bản như: thế giới hình tượng, nghệ thuật trần thuật

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh ra đời đã đánh dấu

những bước đổi mới quan trọng của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Cho nên, ngay khi nó vừa ra đời đã được bàn luận sôi nổi ở nhiều góc độ như

về tác giả, phương diện phản ánh hiện thực hoặc về chủ đề, về cấu trúc, về thi pháp

Trên tạp chí văn học số 6 (1991), với bài viết Văn xuôi gần đây và quan

niệm về con người Bùi Việt Thắng đã đưa ra nhận định hết sức xác đáng về

Trang 4

quan niệm nhân cách con người trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Ông viết: “Cái phần được của Thân phận của tình yêu chính là ở chỗ Kiên mới

dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào quá khứ, mới dám đối diện với hiện tại, rất công bằng mà phán xét lịch sử Cao hơn nữa là đối diện với chính mình, rồi xám hối, tranh đấu và vượt lên” [16, tr.18]

Nghiên cứu về Nỗi buồn chiến tranh ở góc độ thi pháp, tác giả Trần Quốc Huấn trong tạp chí văn học số 3 (1991) đã quan tâm đến thiên truyện từ

điểm nhìn chiến tranh Tác giả viết: “Toàn bộ tác phẩm là cái nhìn ngoái lại, thờ thẫn, đăm đắm của một người lính khi đã tàn cuộc Cái nhìn dằng dặc đầy phân tán nhưng không hề lơ đãng Điểm nhìn có góc độ rộng song khá tập trung” [7, tr.85] Bên cạnh đó Trần Quốc Huấn còn đưa ra nhận xét về nhà văn Bảo Ninh Ông viết: “Bảo Ninh đã độc lập tác chiến trong quá trình rong ruổi ngược Anh can đảm chấp nhận một lộ trình dốc đứng Có lẽ anh trong số những người lính sống sót đã mất đi khả năng quên Đây chính là sự hành xác vừa đau đớn vừa đáng sợ Buồn đau đến thành mãn tính, ám ảnh, luôn mấp mé với bệnh hoạn” [7, tr.86]

Nguyễn Thái Hòa trong công trình Những vấn đề thi pháp của truyện

lại nhấn mạnh đến cách xử lý thời gian linh hoạt của Bảo Ninh Theo nhà nghiên cứu, Bảo Ninh đã sử dụng thủ pháp đồng hiện trong cuốn tiểu thuyết này Nguyễn Thái Hòa viết: “Phong phú và đầy đặn hơn là cách kể, cách xử lí

thời gian của Bảo Ninh trong thân phận của tình yêu Cả quãng đời thơ ấu, đi

học, trước chiến tranh, sau chiến tranh của nhân vật Kiên không phải liên tục,

đều đặn mà lần giở theo hồi ức” [6, tr.143], “Sự xê dịch trong thân phận của

tình yêu mới thật là một thách thức đối với người đọc Nó không có dấu hiệu

báo trước và cũng chẳng biết kết thúc lúc nào”[6, tr.131]

Nguyễn Bích Thu với bài viết Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt

Nam sau 1975, khi nhận định về ý thức cách tân của các nhà tiểu thuyết Việt

Trang 5

Nam trong thời kì đổi mới, tác giả đã nhận định về cốt truyện Nỗi buồn chiến

tranh “Bảo Ninh đã xây dựng được cốt truyện theo dòng tâm trạng của nhân

vật, bao gồm cả ý thức lẫn vô thức sáng tạo dựa trên trực giác, linh cảm để ngòi bút phiêu lưu trong thế giới tâm linh của con người” [17, tr.228]

Gần đây cũng trên báo Văn Nghệ Trẻ, số 39 (2006) trong bài viết Tiểu

thuyết Việt Nam hiện đại phong phú về lượng, khi bàn về tiểu thuyết Việt

Nam đương đại, tác giả Nguyễn Trường Lịch cho rằng tiểu thuyết Việt Nam không nằm ngoài dòng chảy của tiểu thuyết thế giới, ông đưa ra một số tác

phẩm tiêu biểu trong đó là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Tác giả viết: “Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh với độ dài của thời gian,

điểm nhìn mới mẻ về chiến tranh trong quá khứ giúp nhà văn mạnh dạn nhận

rõ cuộc chiến tranh không chỉ mang âm điệu hào hùng thắng lợi mà còn đượm nét đau thương bi tráng trong những ngôi nhà, nơi ngõ phố vắng vẻ hoặc làng quê núi đồi quạnh hiu qua từng nỗi bất hạnh cô đơn của bao người con gái nhỏ hậu phương đêm đêm không ánh đèn mỏi mắt chờ đợi” [10, tr.3] Nguyễn Trường Lịch còn phát hiện những mới mẻ ở cuốn tiểu thuyết này: “Và có lẽ

điểm mới nhất trong kết cấu thân phận của tình yêu là chỗ tác giả lấy trục thời

gian chi phối mọi hành động xuyên suốt các tính cách nhân vật trải rộng trên các vùng không gian mênh mông của chiến trường từ bắc chí nam” [10, tr.3]

Tác giả Nguyễn Phong Nam với bài viết Chiến tranh và nỗi buồn trong

thân phận tình yêu in trong cuốn Dấu tích văn nhân đã không tán đồng với

những ý kiến xem “cuốn tiểu thuyết có cấu trúc chặt chẽ, trình tự lớp lang rành mạch (…) Ở đây tất cả mọi sự kiện, mọi tình tiết đều bị cố ý làm cho lộn xộn, tách biệt, rời rạc, vô lí Đang nói chuyện này, tác giả bỏ phứa đấy, nhảy phắt sang chuyện khác, bỗng nhiên quay về từ đầu” [11, tr.151] Như vậy ít nhiều tác giả đã đề cập đến cốt truyện “đứt mạch” của tác phẩm

Trang 6

Trên Tạp chí Sông Hương, số 205 (3-2006), Trần Huyền Sâm viết bài khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của Nỗi buồn chiến tranh qua bài

Bảo Ninh và nỗi ám ảnh về chiến tranh Theo Trần Huyền Sâm, “thành công

của Bảo Ninh không chỉ là tính chân thực, ở cách nhìn mới về chiến tranh mà

còn ở cách cảm thụ, cách cắt nghĩa và lí giải mới về đề tài này Nỗi buồn chiến

tranh vì vậy, không chỉ bộc lộ ở chiều sâu tư tưởng mà còn ở chiều sâu nghệ

thuật” [14, tr.45]

Trong Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời hậu chiến – từ chủ

nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp, Phạm Xuân Thạch đã có những

nhận xét về sự đổi mới của Bảo Ninh về mặt xây dựng nhân vật cũng như khai thác đề tài Tác giả khẳng định: “Anh không tiếp cận hiện thực qua những nhân vật điển hình, hoặc qua tính phản ánh, hoặc mang tính lí tưởng (…) Anh xây dựng và tô đậm tính đặc biệt của số phận nhân vật Anh rời bỏ phạm vi tồn tại

xã hội để đi sâu vào chiều kích tâm lí của nhân vật.” [17, tr.248] và “Riêng Bảo Ninh, anh đã đẩy những khuynh hướng nghệ thuật của những nhà văn đi trước đến một chiều kích mới Anh quyết liệt từ bỏ hình thức tiểu thuyết hiện thực

truyền thống (theo kiểu tiểu thuyết – kí sự như Đất trắng) để theo đuổi tiểu

thuyết tâm lí Anh đã đưa vào những chiều kích hiện thực chưa từng có trong tiểu thuyết của những nhà văn thế hệ trước: Yếu tố tình dục, “hình ảnh đen” về chiến tranh,…Nhưng đồng thời, anh cũng sáng tạo nên một sắc thái anh hùng

mới của văn học viết về chiến tranh Trong Nỗi buồn chiến tranh những mất

mát và đau thương mà con người chịu đựng trở thành một chiều kích không thể quy giản Không lẩn tránh hoặc trừu tượng hóa chiều kích đó, Bảo Ninh cụ thể hóa nó thành những dòng tâm tư khủng khiếp của những ám ảnh đeo đuổi cựu chiến binh Kiên suốt quãng đời hậu chiến” [17, tr.250]

Gần đây, tác giả Đào Duy Hiệp cho đã xuất bản cuốn Phê bình văn học

từ lí thuyết hiện đại, trong đó có một bài nghiên cứu về Thời gian trong Thân

Trang 7

phận của tình yêu Ở bài này, tác giả đã thống kê khá tỉ mỉ và công phu về thời

gian nghệ thuật của tác phẩm: “Thời gian văn bản trải dài 343 trang cho một cốt truyện 25 năm; như vậy con số trung bình là 343: 25=13,72 trang/năm; gần

14 trang/năm Tốc độ truyện kể tính trung bình như vậy không phải là gấp gáp quá so với những truyện kể khác thiên về hành động hoặc thiên về kể một cốt truyện” [9, tr.268] Ông cho tác phẩm có 4 kiểu thời gian: thời gian niên biểu,

sự sai trật niên biểu, lối quay ngược, lối đón trước Trong từng kiểu thời gian, Đào Duy Hiệp đã có sự thống kê, phân chia tỉ lệ như tốc độ truyện kể, thời gian xuất hiện ở các chương, tần số xuất hiện của Phương… Tuy thống kê tỉ mỉ và công phu nhưng ý nghĩa của việc làm này vẫn chưa thể hiện rõ trong bài viết Đào Duy Hiệp chỉ cho rằng “Những thủ pháp sai trật, ngoái lại, đón trước ở đây đã dệt nên trong tác phẩm của Bảo Ninh một mạng lưới tâm lí truyện kể” [9, tr.289]

Ngoài ra còn một số công trình, bài viết của các tác giả khác cũng đưa ra

những nhận định khác nhau về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh nói chung và

các phương diện như cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian hay kĩ thuật trần thuật của tác phẩm

Nhìn chung, các bài nghiên cứu này các tác giả đều tập trung khẳng định

và đánh giá sự mới mẻ, đột phá của Bảo Ninh ở các phương diện khác nhau

trong cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Và điều này mới chỉ dừng lại ở

những nhận định khái quát được đan lồng vào các vấn đề khác chứ các nhà nghiên cứu chưa đi sâu làm rõ trong bài viết của mình Tuy nhiên, những bài viết này đã cung cấp nguồn tư liệu hết sức quý giá để chúng tôi đi vào nghiên cứu sâu hơn về đề tài này

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu tiểu sử tác giả

Trang 8

- Phương pháp khảo sát - thống kê

5 Bố cục đề tài

Đề tài này ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung gồm

ba chương:

Chương 1: Bảo Ninh và tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh

Chương 2: Thế giới hình tượng trong Nỗi buồn chiến tranh

Chương 3: Nghệ thuật trần thuật trong Nỗi buồn chiến tranh

Trang 9

CHƯƠNG I

BẢO NINH VÀ TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH

1.1.Bảo Ninh – cuộc đời và văn nghiệp

Bảo Ninh tên khai sinh là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18/10/ 1952 tại Diễn Châu tỉnh Nghệ An Quê quán xã Bảo Ninh huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình Năm 1969, Bảo Ninh đi lính và chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên (B3) trong phiên chế của sư đoàn 10 bộ binh thuộc quân đội nhân dân Việt Nam (Bắc Việt) Sau năm 1975, ông giải ngũ, đi học trường viết văn Nguyễn Du và trở thành nhà văn chuyên nghiệp

Trong ba lô của người lính, Bảo Ninh đã giữ cho riêng mình những hoài niệm về chiến trường gian khổ Trong hành trang tinh thần của ông, chiến tranh là nỗi nhớ, là nỗi buồn nguyên khối Viết về chiến tranh sau cuộc chiến với Bảo Ninh và cũng như các nhà văn khác đã từng tham gia chiến tranh, nó là một niềm hạnh phúc hay chính là một món nợ văn chương cần phải trả cho cuộc đời

Trong hành trình sáng tác, có lẽ Bảo Ninh là một trong số ít nhà văn dành nhiều thời gian và tâm lực của mình để kể về chiến tranh Ngay từ tập

truyện ngắn đầu tay Trại bảy chú lùn (1987) đến tiểu thuyết Nỗi buồn chiến

tranh (1990) đến Truyện ngắn Bảo Ninh (2002) rồi mới đây nhất là Chuyện xưa kết lại được chưa, âm hưởng chiến tranh cứ trở đi trở lại trong sáng tác

của ông Có lẽ vì vậy mà nhiều người mặc nhiên coi những sáng tác của Bảo Ninh là những tác phẩm về chiến tranh Và chiến tranh là đối tượng chuyên

Trang 10

nhất, duy biệt và ổn định trong sáng tác của ông Nhìn bề ngoài có vẻ là như vậy, bởi hầu hết các truyện ngắn của Bảo Ninh không viết về chiến tranh thì cũng viết về những điều liên quan đến chiến tranh, ngay cả cuốn tiểu thuyết

Nỗi buồn chiến tranh – cuốn tiểu thuyết vinh danh tên tuổi ông cũng là một

cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh Nhưng liệu đấy có phải là vấn đề cốt lõi trong sáng tác của Bảo Ninh? Chiến tranh tuy đã qua lâu, mười năm hay hai mươi năm, tiếng súng đã im trên mặt đất, nhưng lặn sâu vào bên trong những nỗi đau vẫn âm ỉ còn đó, những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ chảy trên những số phận, những cuộc đời đi ra từ cuộc chiến Sự hủy diệt của chiến tranh thật ghê gớm Viết về chiến tranh và những con người sau chiến tranh, Bảo Ninh đặt ra một nghi vấn phải chăng sự tàn bạo nhất của chiến tranh đâu phải chỉ là cái sự tước đi sinh mệnh con người? Thông qua các mảnh kí ức của người lính, chiến tranh trong sáng tác của ông, dù ở góc độ nào thì vẫn chỉ là một thực tại duy nhất của cõi “thảm sầu, vô cảm, là tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người” Chiến tranh và tình yêu, là hai dòng trong - đục của một dòng sông, hai đối cực của một hiện thể Tình yêu thì tạo sinh, chiến tranh thì hủy diệt

Là nhà văn đã từng mặc áo lính đi chiến đấu, tận mắt chứng kiến những

gì diễn ra trong cuộc chiến ấy, sau chiến tranh, ông cũng là người lội qua thung lũng máu để tìm di cốt đồng đội Với những cảm xúc mạnh mẽ ấy, có lẽ hơn ai hết, ông đã trải nghiệm nhiều cảm giác đau đớn và sự sợ hãi Nhưng hình như vượt qua cảm giác này còn khó khăn hơn nhiều Nó như một thứ thuốc độc đã ngấm sâu vào não vào tim và nó cứ trở đi trở lại giày vò nạn nhân Sự trải nghiệm ấy đã giúp Bảo Ninh đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật, tìm và khai phá những mặt khuất lấp còn ẩn sâu trong đó phơi bày trước bạn đọc Và cũng dễ hiểu vì sao, những trang văn của Bảo Ninh dày đặc

Trang 11

những dòng độc thoại nội tâm, những kí ức, những dòng suy nghĩ rối bời và bấn loạn nhưng vẫn hấp dẫn đến lạ kì

Có lẽ, độ lùi của thời gian là một lợi thế để Bảo Ninh nhìn lại những gì diễn ra trong chiến tranh và kiểm chứng nó Thời gian cho phép ông nhìn chiến tranh như một hiện tượng xã hội để kịp nhận ra những dư chấn mà nó

để lại Văn học hậu chiến của bất kì dân tộc nào cũng có nhiệm vụ nhìn lại những gì đã qua để đo lại những chấn động mà nó để lại cho dân tộc mình Chính vì lẽ đó mà văn học hậu chiến mang đến một cái nhìn thấm thía hơn, toàn diện hơn những gì mà được viết trong khói lửa Đề tài chiến tranh trong sáng tác của Bảo Ninh được đặt trong cái nhìn đa chiều, đa diện bởi các thủ pháp đồng hiện, trần thuật nhiều điểm nhìn, miêu tả dòng độc thoại, thế giới tâm linh của nhân vật…

Dù ở thể loại truyện ngắn hay tiểu thuyết thì những trang văn của Bảo Ninh đã mang đến cho người đọc một cái nhìn sinh động, trung thực và đầy tính nhân văn về cuộc chiến tranh ấy Đây là sự sáng tạo, là nét riêng của nhà văn mặc áo lính này

1.2.Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh – thành tựu đặc sắc của văn học

Việt Nam thời kì đổi mới

1.2.1.Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

Sau năm 1975, đồng hành cùng với cuộc sống mới của xã hội, văn học

đã từng bước thay đổi để xứng đáng là một bộ phận của đời sống văn hóa xã hội Trong những năm tiền đổi mới (1975 – 1985), do độ lùi thời gian tính giao thời từ văn học cách mạng sang nền văn học thời kì hậu chiến vẫn chưa làm cuộc bứt phá toàn diện ở cả đề tài, cảm hứng và các phương thức sáng tác

Vì vậy, tiểu thuyết vẫn nghiêng về khuynh hướng sử thi và âm hưởng chiến thắng, tố chất anh hùng vẫn còn đậm nét

Trang 12

Tuy nhiên, do có độ lùi về thời gian, con người bình tâm lại nhìn hiện thực bằng con mắt tỉnh táo hơn, cái nhìn hiện thực trước kia đã được chuyển vào chính nội tâm mình Tiểu thuyết bắt đầu quan tâm đến số phận cá nhân như một thực thể riêng biệt, nhà văn đã được tạo điều kiện hơn để tập trung xây dựng tính cách nhân vật, lí giải và phân tích về các sự kiện một cách công bằng, đa dạng theo nhiều chiều hướng

Quá trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 bắt đầu khá sớm bởi các nhà văn tâm huyết mà Nguyễn Minh Châu được xem là người mở đầu tài năng và tinh anh Vai trò “người mở đường” cho văn học thời đổi mới của Nguyễn Minh Châu gắn liền với việc ông thay đổi quan niệm và cách tiếp cận hiện thực Với hàng loạt các tuyên ngôn nghệ thuật ẩn chứa trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Minh Châu lên tiếng bênh vực cho con người cá nhân vốn lâu nay phải dấu mặt, phải hi sinh cho sự hiện diện tuyệt đối của con người cộng đồng Với sự mở đường của Nguyễn Minh Châu, các nhà văn tâm huyết đã góp lời Và không thể không kể đến các tác phẩm gây tiếng vang với

những tín hiệu đáng mừng dự báo sự đổi mới trong Miền cháy (1977), Lửa từ

những ngôi nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu, Cha và con và…(1979) của

Nguyễn Khải, Năm 75 họ đã sống như thế (1979) của Nguyễn Trí Huân,

Trong cơn gió lốc (1980) của Khuất Quang Thụy….Những tác phẩm kể trên

là bước khởi động đầu tiên đưa tới sự đổi mới triệt để và quyết liệt hơn trong cách nhìn hiện thực và thi pháp thể loại

Vào thời điểm 1986 và những năm trước đó, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã có sự thay đổi, nhưng phải đến Đại hội VI sự thay đổi ấy mới trở thành dòng chảy Lúc này, tiểu thuyết nở rộ, đội ngũ người viết ngày càng đông đúc, số lượng tác phẩm dồi dào nhiều cuốn nhận được giải thưởng

từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội Nhà văn, có cuốn không được

giải nhưng làm xôn xao dư luận: Thời xa vắng ( Lê Lựu), Thiên sứ (Phạm Thị

Trang 13

Hoài), Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Côi cút giữa

cảnh đời (Ma Văn Kháng), Một cõi nhân gian bé tý (Nguyễn Khải), Ông cố vấn – hồ sơ một điệp viên (Hữu Mai), Sao đổi ngôi (Chu Văn), Những ngày thường đã cháy lên (Xuân Cang), Ác mộng (Ngô Ngọc Bội), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu), Quãng đời xưa in bóng (Dũng Hà), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Phố, Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Lời nguyền hai trăm năm (Khôi Vũ), Miền hoang tưởng (Đào Nguyễn), … Có thể

nói, tiểu thuyết chặng này đã thực sự bộc lộ ưu thế của mình trên con đường dân chủ hóa nội dung nghệ thuật Với xu hướng “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” trong cái nhìn thông thoáng, cởi mở tự do Trên tinh thần đó, các nhà văn đã tìm được một khoảng cách thích hợp để nghiền ngẫm và nhận thức hiện thực cuộc sống xã hội trong tổng thể toàn vẹn của nó với nhu cầu cấp thiết phải nhận thức lại hiện thực Cuộc sống đã được trả về với đúng quy luật tự nhiên của nó, quan niệm và cách tiếp cận hiện thực đã được thay đổi

Và “cái tôi cộng đồng” lâu nay phải nhường chỗ cho “cái tôi cá nhân”, cái nhìn một chiều phiến diện được thay thế bởi cái nhìn nhiều chiều, biên độ hiện thực đã được mở rộng, khả năng chiếm lĩnh đời sống của tiểu thuyết tăng lên Những mặt trái, những mặt khuất lấp, cái tiêu cực, cái xấu, cái bất hợp lí được tái hiện Tiểu thuyết chặng này viết về mọi đề tài nhưng hệ quy chiếu phổ biến là các giá trị nhân bản Không phải là sự kiện lịch sử mà số phận cá nhân mới là trung tâm chú ý Biến cố lịch sử trở thành đường viền cho số phận cá nhân, thành cái cớ ban đầu để nhà văn khám phá thế giới nhân vật Lịch sử đã trở thành phương tiện để khám phá con người Nỗ lực đổi mới chặng đường này chủ yếu dồn vào cách xử lý chất liệu hiện thực: một hiện thực đa chiều, hiện thực vừa có tính bất định, vừa đáng ngờ, vừa hữu lý vừa

Trang 14

phi lý, vừa trật tự vừa hỗn loạn, vừa thuộc về cái rành rõ lý trí vừa như thuộc cõi siêu linh bí ẩn huyền hồ… đó là sự nới rộng đáng kể biên độ hiện thực so với tiểu thuyết trước 1975

Qua tiểu thuyết chặng này, có thể thấy mối quan hệ giữa văn chương với hiện thực, nhà văn với bạn đọc đều được dân chủ hóa mạnh mẽ Nhà văn

có quyền xem hiện thực là mục đích phản ánh hay chỉ là phương tiện để công

bố tư tưởng riêng do vậy người viết không còn bị lệ thuộc vào hiện thực Người đọc bỏ dần thói quen đối chiếu những điều trong tác phẩm với hiện thực ngoài tác phẩm để suy tư những gì được nhà văn lựa chọn, gửi gắm trong tác phẩm của mình Người đọc có quyền tin hay không tin những gì mà nhà văn kể bằng kinh nghiệm cá nhân như thế

Điều đáng lưu ý là dù nhu cầu đổi mới đã trở nên cấp thiết nhưng văn xuôi (trong đó có tiểu thuyết) vẫn chỉ tập trung đổi mới hiện thực, câu hỏi

“viết cái gì?” luôn được ưu tiên hơn hẳn câu hỏi “viết như thế nào?” Do đó

dù ở đỉnh điểm của cao trào đổi mới nhưng tiểu thuyết Việt Nam vẫn chỉ quanh quẩn với những hiện thực xung quanh cuộc sống hằng ngày, vẫn chỉ là những câu chuyện logic có đầu có cuối để người đọc có thể dễ dàng quy chiếu

ý nghĩa tác phẩm về hình tượng khách quan Nói cách khác giá trị thẩm mĩ của tác phẩm chủ yếu dựa vào nội dung câu chuyện mà nhà văn kể Những biến đổi trong nghệ thuật trần thuật như sự di chuyển điểm nhìn, gia tăng ngôn từ hiện thực – đời thường, giọng điệu trần thuật đa dạng…Những cố gắng ấy chưa đủ sức để tạo ra bước ngoặt trong tư duy thể loại Trên nền

chung ấy, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài ra đời như một bước mở đầu đáng kể, trên tinh thần thẩm mĩ mới, mô hình tiểu thuyết mới Trong Thiên sứ, câu hỏi

“Có thể viết tiểu thuyết như thế nào?” được đặt ra như một mối bận tâm lớn nhất của người viết Phạm Thị Hoài đã “trình làng” một tác phẩm độc đáo từ kết cấu trần thuật đến hình tượng, từ nhân vật đến lời văn, câu văn…tất cả

Trang 15

như “khiêu khích” với lối viết văn truyền thống đã quá quen thuộc Thiên sứ

mang một dáng vẻ lạ lẫm với công chúng Việt Nam, tác phẩm là những mảnh ghép vụn từ cuộc sống, được lắp ghép một cách ngẫu nhiên Không còn kết

cấu logic nhân – quả thông thường nữa, Thiên sứ như đưa người đọc vào một

thế giới trò chơi lắp ghép tạo lập văn bản Rõ ràng là ý nghĩa thẩm mĩ của tác phẩm đến với người đọc từ phía hình thức nhiều hơn là nội dung của câu

chuyên Tiếp sau Thiên sứ là Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu) của

Bảo Ninh thực sự đã gây sốc cho khá nhiều bạn đọc Lúc này, câu hỏi “viết tiểu thuyết như thế nào?” đã được nhà văn chủ động tiếp cận, chính vì thế mà

Nỗi buồn chiến tranh được coi là tác phẩm có sự đột phá về nội dung cũng

như tư duy thể loại Vẫn viết về đề tài chiến tranh quen thuộc, nhưng Bảo Ninh đã mang đến cho bạn đọc một góc nhìn hoàn toàn mới và một cách viết cũng hoàn toàn khác lạ Câu chuyện chiến tranh ấy được hiện lên qua hồi ức của Kiên – một người từng tham gia chiến tranh và bị chấn thương tinh thần Toàn bộ tác phẩm là dòng hồi ức, những tâm trạng “rối bời, bấn loạn” của Kiên khi anh ngược dòng trở về quá khứ tìm cho mình câu trả lời về số phận

về tình yêu, về thiên chức của một nhà văn

Giống như Thiên sứ, với Nỗi buồn chiến tranh, hình thức của tiểu

thuyết đã thành một nội dung của chính nó, chúng lái hứng thú của người đọc tiểu thuyết chuyển dần từ câu chuyện sang các nguyên tắc tạo lập văn bản, sang “hành ngôn” Hướng đi này ở nước ta những năm gần đây được khá nhiều người viết lựa chọn và đã có một số tác phẩm được dư luận quan

tâm: Chinatown, Paris 11 tháng 8, T mất tích của Thuận, Người sông mê của

Châu Diên, Trí nhớ suy tàn, Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi của Nguyễn

Bình Phương, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh…

Trang 16

Cho đến thời điểm hiện tại, nhiều nhà văn vẫn đang trăn trở tìm tòi hướng đi mới cho tiểu thuyết Tuy nhiên, tiểu thuyết được viết theo lối truyền thống hoặc làm mới trên khung truyền thống vẫn chiếm đa số và vẫn có

những thành tựu đáng kể Chẳng hạn các tác phẩm Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Dòng sông mía của Đào Thắng, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Tấm ván

phóng dao của Mạc Can, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Ba người khác của Tô Hoài, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Cuộc đời dài lắm của Chu Lai, Thời của những tiên tri giả của Nguyễn Viện, Luật đời và cha con của Nguyễn Bắc

Sơn, Chuyện lan man đầu thế kỷ của Vũ Phương Nghi, Và khi tro bụi, Mưa ở

kiếp sau của Đoàn Minh Phượng… ít nhiều đều có “thêm vào” cho nghệ thuật

trần thuật truyền thống những cái mới Trong năm 2004, các cuốn tiểu thuyết

“sử thi” về đề tài chiến tranh sự có bứt phá góc nhìn đề tài cũng như chiều sâu

nội dung Có thể kể đến Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy, Ngày

rất dài của Nam Hà, Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuấn

Như vậy, đi qua một chặng đường dài với nhiều sự kiện hấp dẫn, sự xuất hiện của những cá tính nghệ sĩ độc đáo, tiểu thuyết trong thời gian vừa qua đã thu hút được sự chú ý rộng rãi của dư luận và vẫn đang tiếp tục trên con đường đổi mới Tuy vẫn có nhiều điều phàn nàn, nhiều cái nhìn hoài nghi nhưng không thể phủ nhận được rằng những nỗ lực đổi mới tiểu thuyết hơn

ba thập kỉ qua đã tạo ra không ít tác phẩm có giá trị bên cạnh sự đông đúc của đội ngũ tác giả, sự dồi dào về số lượng tác phẩm là sự đa dạng về bút pháp, sự phong phú về đề tài và chủ đề

1.2.2 Sự đổi mới của Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một tác phẩm có số phận đặc

biệt Xuất bản lần đầu tiên năm 1990 với tiêu đề do các biên tập viên nhà xuất

bản Hội Nhà Văn lựa chọn - Thân phận của tình yêu - chỉ một năm sau đó,

Trang 17

cuốn sách đầu tay của nhà văn cựu chiến binh thuộc thế hệ sinh viên đầu tiên của Trường viết văn Nguyễn Du được tái bản với tiêu đề của chính tác giả -

Nỗi buồn chiến tranh Cũng trong năm đó, cuốn sách được giải thưởng của

Hội nhà văn, một trong những giải thưởng văn chương quan trọng nhất ở Việt

Nam Từ những ngày đầu xuất hiện, Nỗi buồn chiến tranh đã gây xôn xao dư

luận vì tính phức tạp của nó không chỉ ở mặt nội dung mà ở cả hình thức thể hiện Với những cố gắng cách tân, Bảo Ninh đã mang đến cho người đọc một

“làn gió mới” trong việc tiếp cận hiện thực chiến tranh cũng như trong việc

đọc tiểu thuyết

Văn học thời kỳ hậu chiến của chúng ta là sự phát triển tiếp nối của truyền thống yêu nước trong văn học dân tộc Tuy việc phản ánh cuộc sống và con người trong giai đoạn này đã có sự thay đổi, sự nhìn nhận lại nhưng âm hưởng hào hùng mang đậm chất sử thi vẫn còn đậm nét Trong bối cảnh chung ấy, Bảo Ninh đã có những khám phá mới mẻ về việc tiếp cận hiện thực,

số phận của con người trong chiến tranh Và nó được đánh giá là một thành tựu đặc sắc của văn học thời kỳ đổi mới ở mảng đề tài viết về chiến tranh sau

chiến tranh

Độ lùi của thời gian là một lợi thế của Bảo Ninh để nhìn lại những gì đã diễn ra trong chiến tranh Thời gian tạo cho nhà văn có cơ hội nhìn chiến tranh như một hiện tượng xã hội tổng thể và nhất là cho phép nhà văn kiểm chứng những hậu quả xã hội của nó

Với Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đem lại cho người đọc một cảm

nhận hoàn toàn mới về cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc Toàn bộ khung cảnh của cuộc chiến tranh: từng địa danh, từng khoảnh khắc từ ngày đầu đến ngày cuối cùng không được mô tả một cách trực tiếp mà tái hiện qua dòng hồi ức của Kiên – một cựu chiến binh trở về sau cuộc chiến Chiến tranh được viết lại bằng chính sự trải nghiệm của người lính từng sống và chiến đấu

Trang 18

trong chiến trường, cho nên nó hiện lên với đầy đủ các mặt gớm ghiếc và thảm khốc Trong cảm nhận của Kiên, chiến tranh không còn là “bản tình ca đẹp” như kiểu “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, chiến tranh hiện lên trên từng trang văn là nỗi ám ảnh bởi sự chết chóc, sầu muộn, cô đơn, cuộc sống thiếu thốn, tâm trạng yếm thế của những người lính

Viết về đề tài chiến tranh, Bảo Ninh đi sâu vào thể hiện những hồi ức chiến tranh, hiện thực cuộc sống thời hậu chiến đa dạng, phức tạp Có những trường đoạn miêu tả cái chết (trận thảm sát xóa sổ cả một đơn vị “mùa khô đầu tiên sau Hiệp định” - xuất hiện ngay từ phần đầu tiên của tiểu thuyết) Có những hình ảnh trở thành một thứ âm bản của sử thi chiến tranh (mùa mưa, những cánh rừng đại ngàn, thời kỳ bài bạc, ma túy “hồng ma”, mối quan hệ dị thường giữa những người lính trinh sát trong đơn vị của Kiên và những cô gái thủ kho trong rừng già ) Có hình ảnh buồn bã về ngày chiến thắng trĩu nặng những dự cảm kinh hoàng về sự tổn hại của nhân tính trong nhà ga hàng không Tân Sơn Nhất Và đồng thời, lần đầu tiên, những ẩn ức và đời sống tình dục được người viết đưa vào tác phẩm và trở thành một chiều kích không thể quy giản trong cuộc đời của nhân vật chính Nhưng cuối cùng nhà văn hướng người đọc vào hệ quy chiếu: thân phận nhỏ bé của con người càng trở nên nhỏ nhoi hơn trước vòng quay tàn bạo của chiến tranh Tác phẩm, vì vậy

là lời tố cáo chiến tranh đanh thép, hùng hồn

Tuy thế, vượt qua những ám ảnh của quá khứ, Kiên đã nhận ra ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh, cái mà bạo hành và cái chết không thể hủy diệt

được Đó là “vĩnh cửu những tình người” Điều đó như một sự cứu rỗi : “Kể

lại, viết lại, làm sống dậy những linh hồn đã mai một, những tình yêu đã tàn phai, làm bừng sáng những giấc mộng xưa, đó là con đường cứu rỗi của Kiên”, đó là “một thứ chân lý cao cả, được giác ngộ từ những trải nghiệm đau đớn” Cho dù chiến tranh là nỗi buồn nhưng là “nỗi buồn mênh mông, nỗi

Trang 19

buồn cao cả, vượt lên trên nỗi niềm hạnh phúc, mọi nỗi bất hạnh … nhưng đó

là cuộc đời tốt đẹp nhất mà chúng tôi có thể mơ ước, cuộc sống trong hòa bình.”

Đó là thành công của Bảo Ninh trong khi xử lý đề tài về chiến tranh Ông đã đào sâu hiện thực chiến tranh bằng những trải nghiệm cá nhân để làm phong phú thêm cái nhìn của cộng đồng về hiện thực lịch sử Nhìn thẳng bộ mặt tàn khốc của chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về những hiểm họa của chiến tranh để lại sau chiến tranh, nhưng đồng thời dựng lại hình ảnh của những con người bằng sự chịu đựng và sức mạnh anh hùng đã làm nên sức mạnh cho cuộc chiến, làm nên chiến thắng hôm nay

Bên cạnh việc chọn cho mình một cách xử lí đề tài mới lạ, Bảo Ninh còn khiến bạn đọc bất ngờ với lối viết có thể nói là khá lạ với thời điểm lúc bấy giờ Cũng là câu chuyện về chiến tranh và tình yêu quen thuộc, nhưng câu chuyện của ông không diễn ra theo trình tự logic thông thường mà nó “bấn loạn, rối bời” theo dòng tâm trạng, cảm xúc của Kiên Từng chương, từng phần trong cuốn tiểu thuyết như những mảnh ghép nhỏ của hiện thực và chúng được xáo trộn một cách ngẫu nhiên Bảo Ninh như đưa người đọc vào một thế giới trò chơi đầy mới lạ của cấu trúc nghệ thuật ngôn từ Ở thời điểm những năm 90 thì việc đọc nó quả là một thách thức lớn với đọc giả khi mà họ

đã quen với kiểu kết cấu trình tự lớp lang của tiểu thuyết Quả thực, sau khi

đọc Nỗi buồn chiến tranh, gấp cuốn sách lại, khó có ai có thể kể lại câu

chuyện một cách rành mạch, rõ ràng Muốn hiểu được câu chuyện của anh cựu chiến binh ấy, chúng ta phải tự mình sắp xếp lại các sự kiện, biến cố theo trình tự thời gian tự nhiên Các thủ pháp nghệ thuật: đồng hiện không gian - thời gian, độc thoại nội tâm, dòng ý thức, sử dụng huyền thoại, đa giọng điệu

đã được Bảo Ninh sử dụng tài tình, biến hoá linh hoạt uyển chuyển góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật đặc sắc, hiện đại cho tác phẩm

Trang 20

Với tất cả những yếu tố đó, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã góp phần

đắc lực vào việc đổi mới tư duy tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Cùng với sự sáng tạo của nhiều cây bút văn xuôi tiêu biểu khác như: Chu Lai, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Trí Huân, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đã có diện mạo mới đặt nền móng cho tiểu thuyết Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời gian sau này

Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Với tác giả, nhân vật là đứa con tinh thần phải thai nghén, cưu mang, vật vã, nhập tâm để thể hiện nó Bảo Ninh cũng vậy, những năm từng khoác ba lô người lính trên chiến trường Tây Nguyên đã giúp ông tiếp xúc với bao gương mặt, bao số phận cuộc đời Đây là nền tảng để ông xây dựng thế giới nhân vật trong tác phẩm của mình

Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh xây dựng một thế giới nhân vật khá đồ

sộ, chúng tôi thống kê có tới 50 nhân vật trong tiểu thuyết này Trong đó có

26 nhân vật là xuất hiện trong quan hệ trực tiếp, có đối thoại với nhân vật chính Còn lại, các nhân vật khác chỉ xuất hiện trong câu chuyện kể của Kiên Tác phẩm có nhiều nhân vật không có cả tên gọi: Người phụ nữ câm, người lính lái xe cho Phương và Kiên đi nhờ, tên Ngụy trong câu chuyện của Phán,

ả cave, nhân vật người cười bị bỏ quên trong rừng,… Các nhân vật trong tác

Trang 21

phẩm cũng có đủ tầng lớp, đủ độ tuổi, đủ nghề nghiệp Có lính chiến như Kiên và các đồng đội, có lính Ngụy như ba tên thám báo, tên lính Ngụy bị chết thảm; có cave như em gái Vĩnh, ả cave trong quán cà phê với Kiên, có nhà thơ như Sinh, như dượng Kiên; họa sĩ như cha Kiên, ông họa sĩ Phương

đã bỏ theo, giáo viên như mẹ Phương, bà giáo Thủy; nghệ sĩ dương cầm như Phương; chủ quán, lái xe, lái tàu điện,… Có những đứa trẻ mới sinh ra đã chết yểu như con của Lan, có những cụ già dù sống tới hơn 90 tuổi khi chết vẫn nuối tiếc trăn trở với đời như cụ cố Dụ,… Một thế giới nhân vật phong phú,

đa dạng, tuy vậy chúng ta có thể phân chia thế giới nhân vật ấy thông qua mối quan hệ với nhân vật Kiên Đó là những người phụ nữ, những người đồng đội

và những người thân

2.1.1.Hình tượng những người phụ nữ

Đó là những phụ nữ đã đi qua cuộc đời Kiên Họ là hiện thân của tình yêu – đối âm của chiến tranh Nếu như chiến tranh đánh thức trong Kiên phần tàn bạo, biến anh thành một cỗ máy “âm thầm và mệt mỏi” nghĩa là vô cảm – của sự giết chóc thì những người phụ nữ từ Hạnh cho đến Phương, người nữ y

tá trong Điều trị 8, Lan Đồi Mơ, Hiền … lại đánh thức trong anh tình yêu, một tình yêu mà cho đến tận cuối cuộc đời anh, vĩnh viễn không trọn vẹn Những người phụ nữ hóa thân thành những tiếng gọi níu kéo Kiên không chỉ với cuộc sống và cả với cái thiện, nhân tính và tình người Trong khoảnh khắc khi anh chuẩn bị thực hiện cuộc hành quyết những người lính đối phương, chính tiếng nói của Phương (“Anh sẽ giết nhiều người chứ ?’” “Sẽ thành anh hùng chứ?”) đã níu kéo anh ở lại ở phía bên này của cái thiện Có thể nói trong tiểu thuyết của Bảo Ninh, người phụ nữ là biểu tượng cho cái Đẹp và Nhân tính, những thứ có ý nghĩa với cuộc đời Kiên như một sự cứu rỗi trong một thế giới khủng khiếp của chiến tranh Người phụ nữ không chỉ là ánh sáng cứu rỗi cuộc đời con người mà còn là nạn nhân của sự hủy diệt Điều đó

Trang 22

được biểu thị tập trung trong hình tượng Phương, người phụ nữ xuyên suốt cuốn tiểu thuyết

Với Kiên, Phương vừa là người bạn vừa là mối tình trong trẻo của cả cuộc đời anh và cũng vừa là một người mẹ, người chị hiền dịu: “Kiên gối đầu lên tay cô, áp chặt mình vào cô Như một cậu bé con (…) cô như một người chị, một người mẹ trẻ, cô lùa tay vào tóc anh vuốt nhè nhẹ và thì thầm kể chuyện về người cha của anh (…) Kiên không nhận thấy là miệng mình đã ngậm chặt vào đầu vú Phương còn thành thạo hơn một chú bé con Anh mút nhè nhẹ thoạt tiên là như thế, như thuở mới ra đời người ta bú” [12, tr.152) Phương đã đánh thức tình yêu thời tuổi trẻ trong Kiên, là nguồn sức mạnh chập chờn trong quãng đời chiến trận của anh Phương là tượng trưng cho cái đẹp, đối lập với chiến tranh Cuộc đời của Phương, sắc đẹp của Phương, tâm hồn Phương là những huyền thoại không dứt, mênh mông và huyền ảo “vĩnh viễn ở ngoài thời gian, vĩnh viễn trong trắng”, có lẽ cô yêu cha của Kiên hơn yêu Kiên vì cha Kiên là một họa sĩ cũng lạc loài như Phương Cha Kiên và Phương oán thù bạo lực, còn Kiên thì “say mê cuộc chiến đến đứng ngồi không yên” Chiến tranh đã hủy diệt con người Phương, làm cho một con người ham sống và quyết liệt như cô giờ không dám coi cái gì là thiêng liêng nữa

Chiến tranh còn tàn phá cả tình yêu - sợi chỉ mong manh kéo con người vượt qua thời khắc chiến tranh khốc liệt Tình yêu thuở học trò trong trắng hồn nhiên của Kiên và Phương khiến người đọc cứ hy vọng mãi một kết cục tốt đẹp sau này cho hai người Nhưng cái ác liệt của mưa bom bão đạn, cái thất thường, đảo nghịch của chiến tranh đã làm mối tình ấy bị đứt phựt một cách bất ngờ Hình ảnh chuyến tàu định mệnh trở đi, trở lại trong dòng hồi tưởng của Kiên như nỗi ám ảnh đau đớn, biểu tượng của sự mất mát trong tình yêu Trên con tàu ấy Kiên và Phương đã đi cùng nhau những cây số cuối

Trang 23

cùng của mối tình đầu, của thời niên thiếu đẹp đẽ, trong sáng Để rồi hai người cùng cập bến một cuộc chiến tranh bước ngoặt số phận của Kiên được đánh dấu trên hành trình đầy ắp bóng đen, đêm tối Hình ảnh chuyến tàu định mệnh đi trong đêm tối đã dạt Phương và Kiên vào hai ngả đời mà tình yêu trong sáng của họ chỉ làm tăng thêm khoảng cách Chiến tranh đã cắt đứt tình yêu, chia nửa cuộc đời con người Nó đưa Kiên từ một con người có lí tưởng trở nên hoang mang trước bão táp chiến tranh, đưa Phương từ một cô gái trong trắng, thanh tân trở nên một người phóng túng, bất cần Và Kiên đã

bị dứt ra khỏi Phương từ sau chuyến tàu ấy Tình yêu của họ mất mát, chia lìa

từ đó Và sự mất mát, chia lìa của Kiên trong tình yêu, hoà bình không thể hàn gắn, thậm chí chỉ làm "đổ bể tâm hồn nhau" Bởi vậy mà xa nhau là giải pháp tốt nhất cho cả hai người

Người phụ nữ trong Nỗi buồn chiến tranh còn là nơi chốn cho con

người tìm về nương náu lúc cô đơn, tuyệt vọng Lan - người thiếu phụ bất hạnh nơi đồi Mơ vẫn vượt lên nỗi đau mất mát người thân để khao khát yêu thương và sẵn sàng đem hơi ấm sưởi ấm trái tim Kiên, chờ đợi anh trở về khi anh gặp cảnh ngộ không may và hết ngả để đi tiếp

Người phụ nữ không chỉ là đời sống tinh thần của nam giới Họ còn là hiện thân của tình yêu nhục thể Họ mang tới cho Kiên những ham muốn tự nhiên về thể xác Hiền, cô gái tàn tật đã cùng Kiên “thoả sức hôn hít nhau, sống gấp lên với nhau những cây số cuối cùng còn vương lại của tuổi thanh xuân chiến hào’’ [12, tr.85] Ngay cả người con gái chết thê thảm ở cửa hải quan mà Kiên chưa bao giờ gặp mặt cũng hiện về với ái lực đắm say Nhưng Phương luôn là khao khát trọn đời kiên “tình dục vốn đã ngủ say và những nồng cháy của xác thịt tưởng đã bị dập tắt hẳn từ lâu lại như bắt lửa bừng rực lên với bóng hình nàng nhập vào anh hằng đêm giữa những giấc mơ… tất cả

Trang 24

những nhân vật nữ mà anh say mê trong sáng tác của mình rút cuộc vẫn chỉ loà những giấc mơ về phương…’’ [12, tr.185]

Bảo Ninh đã không ngần ngại đề cập đến cuốn tiểu thuyết của mình chất sắc dục Tình yêu nhục cảm vốn là một lĩnh vực rất tế nhị và riêng tư của mỗi cá nhân, nhưng đó cũng là những khát vọng tự nhiên, tích cực của con người mà văn học viết về đề tài chiến tranh trước đó ít đề cập tới Tiếp cận tới vấn đề nhạy cảm này ở mặt tích cực, Bảo Ninh đã chạm tới khía cạnh rất nhân bản của văn học

Như vậy, trong Nỗi buồn chiến tranh, những người phụ nữ luôn sống

sôi nổi, chân thành trong tình yêu, khao khát tình yêu lứa đôi chân chính Với tình yêu giản dị của mình, những người phụ nữ cũng tiến hành cuộc chiến tranh của riêng họ bên cạnh cuộc chiến tranh bạo lực của nam giới để bảo vệ những khát khao nhân bản, bảo vệ sự sống, nhân tính và họ đã chiến thắng vẻ vang !

2.1.2.Hình tượng những người đồng đội

Trở về với quá khứ, Kiên thường xuyên bị ám ảnh, bị lương tâm dày vò

Sự may mắn sống xót của anh trở thành gánh nặng cho cuộc sống thêm mòn mỏi Anh may mắn còn được tồn tại sau cuộc chiến nhưng biết bao đồng đội của anh đã hi sinh: Vĩnh, Thịnh “nhớn”, Thịnh “con”, Cừ, Thanh, Vân, Tạo

“voi”, Hoà, Liên đâu rồi tất cả? Chiến tranh đã cướp đi của anh bao nhiêu người bạn chí thiết, bao quãng đời thanh xuân tươi đẹp, bao hình hài yêu dấu Anh chẳng lưu giữ được gì, đã để phí hoài tất cả Sau mười năm chiến tranh, nếu có ai may mắn sống xót thì cũng không có người nào trở về nguyên vẹn Mỗi người bị chấn thương theo một kiểu, người bị chấn thương thể xác, người

bị chấn thương tinh thần Sinh - nhà thơ trẻ của lớp 10A năm nào giờ trở thành kẻ “bán thân bất toại” Nỗi đau đớn về thể xác và sự xót xa ái ngại của những người xung quanh khiến Sinh chẳng phút nào được thanh thản Người

Trang 25

lính ấy dù sống sót trở về nhưng chiến tranh chẳng buông tha Sống cuộc sống như thế, quả chẳng hề dễ chịu chút nào Vượng, người lính lái xe năm xưa cũng những tưởng mình may mắn ngày trở về Tưởng rằng con đường hòa bình sẽ là bầu trời không tiếng bom rơi, bằng phẳng ai ngờ lại là con đường gập ghềnh mà anh khó lái hơn cả thời chiến Anh trở thành tay bợm rượu, từ giã tay lái vì chứng “ngợp mặt đường” Vượng không thể quên được nỗi ám ảnh xương thịt người bị nghiền nát dưới bánh xe Cảm giác chiếc xe “hơi rướn lên” khi đè lên mỗi thân người chờn vờn, rờn rợn mãi trong tâm khảm anh Những cô thanh niên như Hiền, với chiếc nạng gỗ cũng là những mất mát thể xác sẽ biến thành mất mát tinh thần khi cô khó hòa nhập với đời sống hậu chiến

Những cái chết, những vết thương nó phản ánh tính hai mặt của chiến tranh Nó gắn liền với bạo lực, thứ bạo lực tăm tối hủy diệt con người “chà đạp, hành hạ, ( ), làm nhục, ( ), giết chết, ( ) chôn vùi, quét sạch, tuyệt diệt”, nó chà đạp lên nhân tính của con người và hủy diệt “những người ưu tú nhất, tốt đẹp nhất, xứng đáng hơn ai hết quyền được sống trên cõi dương”, nó khơi dậy bạo lực và sự tàn bạo trong con người, sự dửng dưng với cái ác Ở phương diện đó, vết thương khủng khiếp nhất mà chiến tranh để lại không chỉ

là sự thương tổn và cái chết cụ thể mà quan trọng hơn, là sự chà đạp lên nhân tính Ở một phía khác, cũng chính cái chết của những người đồng đội phản ánh một phương diện khác của chiến tranh: cái đẹp của tình người

Trong màn mưa bom lửa đạn đầy hiểm nguy, chúng ta vẫn thấy sáng lên những hành động, cử chỉ nghĩa hiệp của tình đồng đội Quảng – người tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Kiên đã hi sinh trong đau đớn trong mùa khô năm

66, chiến dịch Đông Sa Thầy Khi ấy, Kiên mới là lính mới, lần đầu dự trận nên luống cuống và thiếu nhiều kinh nghiệm Anh chỉ biết theo sát Quảng, làm theo anh mọi động tác vận động chiến: đứng, nằm, lăn, bắn, vọt, tiến,

Trang 26

chạy, Quảng dẫn dắt, kèm cặp, thực chất là che chắn cho Kiên Quảng đã bị đốn ngã trong trận bom dữ dội

Người đọc sẽ không thể nào quên lời giã biệt của Từ khi bước vào trận cuối cùng của chiến tranh Dự cảm về cái chết đang cận kề không lấy đi được

tinh thần quả cảm được tôi luyện trong gần 10 năm lửa đạn của anh: “thế nào

tớ cũng ngỏm trận này ( ), các quân hai, quân ba, quân bốn này chứa hồn thiêng của cả trung đội đấy bọn tớ sẽ phù hộ cho cậu trăm trận trăm thắng.” [12, tr.17]

Và khi cùng Kiên tấn công vào Lăng Cha Cả, Từ đã dũng cảm “thoát lên

trước, áp tới khung cửa dành cho Kiên Loạt đạn của tên lính không thể trúng Kiên được nữa, dù anh chỉ sau từ có nửa bước chân Dòng máu đặc sệt của Từ vọt tóe vào mặt Kiên thay cho một tiếng thét, thay cho một lời giục giã ” [12, tr.242] Cũng trong những ngày đầu mùa xuân năm 1975, Kiên đã lần lượt mất đi Oanh, Cừ, Thịnh “nhớn”, Tâm Trong tích tắc, họ đã giành lấy phần

chết để bạn bè còn chút cơ hội sống “Oanh đã che chắn cho Kiên khỏi hứng

phải loạt đạn của kẻ bắn lén mặc váy mà hai người đã sơ ý để cho sống” [12, tr.242]

Đặc biệt trong lần trinh sát vào Lữ dù 3 chân đèo Phượng Hoàng, nhóm trinh sát 4 người chỉ còn Kiên sống sót trở về “Cừ đã nổ súng bắn chặn cả một trung đội địch cho nhóm Kiên thoát thân.” [12, tr.242] Cừ chết ba người còn lại mới thoát thân được ở phía bên kia Khánh Dương Nhưng cái chết đeo đẳng, chẳng tha, một tên dù xuất hiện đột ngột với khẩu AR15 chĩa họng đen ngòm vào ngực Kiên Tình huống thật nguy ngập cho nhóm trinh sát Kiên, Tâm, Thịnh “nhớn” đều giơ tay hàng, ba khẩu ak nằm chỏng chơ dưới đất Cái chết ập tới cách trong gang tấc Ranh giới sự sống - cái chết mong manh bằng sợi chỉ mục Khi ba người tiến lại gần tên địch trong tư thế hàng, Tâm

Trang 27

vẫn tìm cách cứu vãn tình thế bằng hành động táo bạo “Tâm vượt lên trước

( ) thình lình xoài người tới túm lấy chân tên lính dù lực lưỡng, giật thật lực(…)- chạy Thịnh, Kiên! chạy đi !

( ) Kiên và sát sau anh là Thịnh “nhớn” lập tức vùng chạy thục mạng dọc theo bờ mương xói (…) - ối - Thịnh hộc một tiếng, nhảy dựng lên húc đầu

vào không khí, vật sấp.”[12, tr 244]

Bằng ngòi bút hiện thực, Bảo Ninh đã tái hiện lại lần lượt từng cái chết của từng người lính trong cuộc chiến trực diện với kẻ thù Trong hàng loạt sự

hi sinh của lính bộ binh, cái chết của Tạo “voi” được nhà văn miêu tả thật

đẹp, vừa bi thương vừa lãng mạn, hào hùng “còn Tạo thì lại từ từ gập người

xuống , hai bàn tay ôm ngực như muốn đỡ lấy quả tim, mắt dại đi, tuồng như đầy ngạc nhiên, nửa lưng bên trái bung nở rất nhanh một bông hoa máu.”[12, tr.137] Chính những cái chết kiêu hùng sáng ngời tinh thần đồng chí, đồng đội cao cả đã dệt nên cuộc chiến tranh thần thánh bi hùng của dân tộc

2.1.3.Hình tượng những người thân

Đó là những người như cha, mẹ, dượng của Kiên Cha và dượng của Kiên thuộc về cùng một kiểu nhân vật Họ nổi bật ở sự yếu đuối và lạc loài, là hình ảnh cuối cùng buồn bã của một lớp người đã qua, không thể hòa nhập

vào cuộc sống hiện tại

Người cha quá cố của Kiên là một hoạ sĩ tài hoa nhưng lạc thời Ông ấp

ủ trong lòng mình khát khao cái đẹp vĩnh cửu Ông xa lạ với thứ hội họa phải xác định thành phần giai cấp Một tâm hồn nghệ sĩ như cha Kiên dĩ nhiên không thể hiểu những triết lí khô khan của vợ Ngay Kiên cũng không hiểu cha mình Tâm hồn người họa sĩ này bị tổn thương, u ẩn nên bức họa của ông

là “những hình nhân héo vàng” Mâu thuẫn giữa khát vọng sáng tạo với giới hạn phục vụ chính trị tạo nên nỗi buồn trong sáng tạo nghệ thuật khiến ông cô đơn vô cùng May mắn hơn cho cha Kiên bởi ông còn có Phương là tri kỉ Thế

Trang 28

nhưng một mình Phương không cứu được đời họa sĩ của ông Ông sống vu vơ giữa miền không có thực ở đời và cuối cùng ông bước ra khỏi dương gian không ngoái nhìn lại Nghệ sĩ chân chính ấy không hề nuối tiếc đời vì cuộc sống này không có chỗ, không dành cho ông “Hòa nhập vào những hình nhân

bi thảm” [12, tr.139], ông chỉ để lại nỗi buồn truyền kiếp cho con Và quả thực, sau ngày chiến thắng, Kiên không thể hòa nhập với cuộc sống Chỉ đến lúc ấy anh mới thực sự hiểu cha và tâm hồn anh thêm một vết thương lòng Dượng Kiên là “một nhà thơ tiền chiến” đã ẩn danh Ở ông có một trí tuệ sâu sắc với một tâm hồn lãng mạn và nhịêt thành theo lối chủ nghĩa tình cảm thời xưa, mơ mộng, ngọt ngào và giàu nhạy cảm Ông có quan niệm riêng khá

mới mẻ về lí tưởng, lẽ sống của một trang nam nhi: “nghĩa vụ của một người

trước trời đất là sống chứ không phải hi sinh nó, là nếm trải sự đời một cách ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ” Bằng kinh nghiệm của cuộc đời, ông hiểu được ý chí, hoài bão của tuổi trẻ sẵn sàng xả thân vì nghĩa, tử vì đạo

Ông khuyên Kiên: “mong con hãy cảnh giác với tất cả sự thúc giục con người

lấy cái chết để chứng tỏ điều gì đấy ( ) cuộc đời con còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ con bây giờ ” [12, tr.72] ông dự cảm được một thời đại đang cận kề, rất đỗi hào hùng nhưng cũng đầy nguy hiểm với tuổi trẻ muốn chứng tỏ lí tưởng cao cả bằng cái chết Ông hát tiễn đưa Kiên lên đường, tiễn đưa cả một thế hệ sắp quăng mình vào chiến trận một bài hát của Văn Cao bằng một giọng trầm Bài hát chầm chậm, buồn buồn gợi nhớ những người thân yêu đã khuất dự cảm những ngày mai bất bất hạnh song lại khuyên con người đừng nên vô vọng, đừng mãi sầu thương vì như thế chẳng ích gì mà hãy sống

Cha – mẹ – dượng của Kiên, mẹ của Phương chẳng thể nào vượt qua cái bóng của thời đại cũ Họ lìa đời khi thời đại mới đang mấp mé, và mang theo tiên cảm về thời đại sắp đến Trước lúc từ giã cõi đời, cha Kiên đã làm một

Trang 29

cuộc hành quyết linh hồn của mình cũng như biết bao linh hồn đang náu trong những bức tranh Ông nhờ Phương nhóm lửa và tự tay mình đốt từng bức

tranh một Đó là một thứ nghi lễ “cuồng tín, dấy loạn, man rợ”, một cuộc tự

hành xác, một cuộc sám hối quyết liệt nhưng rầu rĩ, im lìm, nửa lén lút Trong

không khí ma quái, kì ảo, huyền bí như nghi lễ tà giáo ấy, cái đẹp “bừng sáng tuyệt vọng” và trong ánh lửa là sắc diện của con ngưòi tử vì đạo: đau đớn, say

cuồng, tột cùng hạnh phúc – một thứ hạnh phúc lộn ngược Các linh hồn đi vào cái chết để được phóng sinh trong hư vô Hành động cuồng loạn của cha Kiên là sự lạc loài cao độ của linh hồn trước cái bóng của thời đại mới, đang hình thành “thời đại mới rồi sẽ huy hoàng, tráng lệ, không còn những bất hạnh lớn lao nữa nhưng buồn thì khôn nguôi nỗi buồn truyền kiếp” [12,

tr.159] Đó là cái buồn trước sự tàn phá của chiến tranh đối với cái đẹp, cái

giá đau đớn của một cuộc chiến

2.2.Hình tượng người kể chuyện trong Nỗi buồn chiến tranh

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, người kể chuyện là: “Hình tượng ước

lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả (…), có thể là một nhân vật đặc biệt được tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện Hình tượng người kể chuyện mang đến cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú, thêm nhiều bối cảnh” [4, tr.221]

Với Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh vẫn khai thác hiện thực chiến

tranh – một đề tài quen thuộc của văn học Việt Nam đương đại, nhưng vẫn tạo được sức hấp dẫn với bạn đọc Có lẽ, một phần nhờ vào cách kể chuyện khá thú vị và độc đáo của người kể chuyện

Trang 30

Người kể chuyện ở đây không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, đóng vai trò là người kể chuyện giấu mặt, kể lại sự việc qua nhân vật chính –

Kiên Nhưng cái độc đáo của Nỗi buồn chiến tranh là câu chuyện được khéo

léo kể lại qua từng dòng hồi ức của nhân vật chính Vì thế khi đọc tác phẩm, người đọc cứ ngỡ đây không phải là câu chuyện được người thứ ba kể lại mà chính là những dòng tự bạch của nhân vật chính Qua những dòng hồi tưởng của Kiên, người đọc như được cùng anh nhập cuộc vào chính cuộc chiến mà anh đã tham gia, trực tiếp chứng kiến cuộc chiến ấy Và thật bất ngờ, cuộc chiến của Kiên không phải là những vòng hào quang mà chúng ta vẫn tưởng Cuộc chiến trong anh chỉ toàn là chết chóc kinh hoàng, con người chỉ toàn là những kẻ khát máu không chút nhân bản, nhân tính gì nữa Xung quanh cuộc chiến là không khí ảm đạm, ủ dột, ngột ngạt: “Có đêm mưa nặng nề xối dội,

có đêm vã từng cơn rào rào, ngắt quãng, nhưng không đêm nào là tạnh ráo (…) Trời tạnh mưa Không khí vẫn ủ dột, ám màu chì” [12, tr.45] Những người lính mụ mị trong khói hồng ma, ghê rợn trong tiếng rú của ma rừng, đói rét, bệnh tật khiến con người thêm hoang mang, tuyệt vọng về cuộc chiến phía trước “Hết trận thắng này đến trận tháng khác nhưng đường chiến tranh vẫn hun hút mịt mù, tuyệt vọng vô phương” [12, tr.22] Trong văn học truyền thống những tình cảm này đã từng bị coi là “tiêu cực”, ta chưa bao giờ thấy

nó xuất hiện dày đặc và đau đớn và rõ nét như trong trang văn của Bảo Ninh

Có đôi lần trong tác phẩm, ta cũng thấy sự xuất hiện của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, “Nhưng tâm hồn tôi đã ngưng đọng ở những ngày tháng ấy chứ không tài nào đổi đời nổi như bản thân đời sống của tôi Một cách trực giác tôi luôn nhận thấy quanh tôi quá khứ vẫn đang lẩn khuất Đêm đêm giữa chừng giấc ngủ tôi nghe bước chân tôi từ những thuở nào đó rất xa xôi vang lên trên hè phố lát đá(…) Ôi năm tháng của tôi, thời đại của tôi, thế

Trang 31

hệ của tôi! Suốt đêm nước mắt tôi ướt đầm gối bởi nỗi nhớ nhung, bởi nỗi tiếc

thương cay đắng ngậm ngùi” [12, t.r47-48)

Sự đan xen giữa người kể chuyện ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba mang đến cho tác phẩm một cách cảm nhận mới về cuộc chiến tranh “ Tôi” làm chúng ta thấy đau đớn, băn khoăn, day dứt, thất vọng về một niền tin bấy lâu nay Nhưng cũng không khỏi bị thuyết phục bởi sự trải nghiệm của người kể chuyện, câu chuyện do Kiên kể lại - một người đã từng trải nghiệm lại là người chứng nhân cho những câu chuyện mà người đọc được nghe kể Kiên thay mặt cho tất thảy đồng đội của mình, thế hệ mình lên tiếng về cuộc chiến tranh đã qua Có thể nói với sự xuất hiện của hình tượng người kể chuyện ngôi thứ nhất đã mang cho tác phẩm them nhiều tầng nghĩa và nó góp phần làm thay đổi kĩ thuật kể chuyện bình thường, truyền thống sang một lối kể chuyện mới theo hướng hiện đại

2.3.Cốt truyện và kết cấu tác phẩm

2.3.1 Cốt truyện

Cốt truyện được xem là yếu tố không thể thiếu của bất cứ một tác phẩm

tự sự nào, nó như một bộ khung xương nâng đỡ cho toàn bộ công trình nghệ thuật ấy Đây là khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Theo G.N.Pospelov, cốt truyện là “việc miêu tả các sự kiện hành động trong đời sống nhân vật diễn ra trong không gian và thời gian” Và cốt truyện là cái thuộc về hình thức nghệ thuật Cũng giống như các mặt khác của hình thức, cốt truyện thể hiện một quan niệm, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, tư tưởng nghệ thuật của nhà văn thể hiện trong tiến trình các sự kiện

Còn theo Lê Huy Bắc cốt truyện được hiểu đơn giản là những sự kiện được nhà văn kể trong văn bản tự sự (và văn bản kịch) mà người đọc có thể

kể lại Thực chất trong tác phẩm tự sự, cốt truyện là sợi dây liên kết các mối

Trang 32

quan hệ của nhân vật, tổ chức sắp xếp các sự việc diễn ra trong đó, bộc lộ chủ

đề tư tưởng của tác phẩm

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, cốt truyện được xem là “hệ thống sự

kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng nghệ thuật nhất định” Theo cách hiểu này, cốt truyện là sự sắp xếp các nhân vật và sự kiện theo mối liên

hệ nhân quả, sự việc này dẫn đến sự việc kia cho đến khi kết thúc truyện Vì thế trật tự trần thuật ở kiểu tổ chức sự kiện nhân quả mang ý nghĩa “khám phá

ý nghĩa tâm lí, tư tưởng, nhận thức của sự kiện đối với nhân vật”

Ngoài ra cũng còn tồn tại một quan niệm khác về cốt truyện Nhưng nhìn chung, có thể thấy rằng vấn đề mấu chốt chính của cốt truyện là hệ thống nhân vật, sự kiện và kĩ thuật tổ chức sắp xếp hệ thống nhân vật, sự kiện ấy

Từ những năm đổi mới đến nay, các nhà tiểu thuyết đã không ngừng tìm tòi, đổi mới, sáng tạo trên tinh thần tiếp cận những nét tinh túy của tiểu thuyết hiện đại để tìm con đường đi riêng cho những đứa con tinh thần của mình Chúng ta thường bắt gặp những cuốn tiểu thuyết có cốt truyện lỏng lẻo,

mơ hồ, khó tóm tắt, khó kể lại Cấu trúc của tác phẩm được chắp ghép, kết nối bởi những mảnh vụn của hiện thực, không tạo ra những tình huống kịch hoặc lối kể chuyện có trước, có sau Các yếu tố của sự kiện, nhân vật được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc, suy nghĩ Tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ thể hiện cái hiện tại đang vận động, biến chuyển không khép kín Tiểu thuyết được viết một cách

tự nhiên không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống, được hình thành bằng cách lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự mà ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ của tác giả tạo ra “truyện trong truyện” Những tình huống, cảnh ngộ, biến cố như “không quan hệ”, liên đới được xích lại gần nhau

Trang 33

Có thể xem Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một tác phẩm có sự

sáng tạo đặc biệt về cốt truyện Tác phẩm không có cốt truyện, tình tiết rành mạch mà chỉ là những dòng hồi ức chắp vá, vụn vặt của Kiên – một người lính B3 trở về sau chiến tranh Xuyên suốt dòng hồi ức hỗn mang của anh là câu chuyện về chiến tranh về tình yêu với Phương – cô bạn “thanh mai trúc mã” Ngay từ những trang đầu tiên của tác phẩm là những đoạn hồi ức của Kiên về trận thảm sát, xóa sổ một đơn vị vào “mùa khô sau hiệp định” hé mở

về một cuộc chiến tranh tàn khốc Rồi từ đó, những khoảnh khắc, những kỉ niệm về chiến tranh dần dần hiện ra trong anh Với Kiên chiến tranh là những ngày “hun hút mịt mù, tuyệt vọng vô phương”, nó “đầy ải tàn nhẫn làm cho suy sụp cả thể xác lẫn tinh thần”, chiến tranh là “cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ, là phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà,

là thế giới thảm sầu, vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người” Chiến tranh là những trận đánh, những trận thảm sát đẫm máu, ngổn ngang xác đồng đội và địch làm nên những địa danh như Truông gọi hồn, đồi Xáo thịt, đèo Thăng Thiên chốn rừng xanh và ám ảnh Kiên mãi thời hậu chiến

“ những kỉ niệm có thể là êm đềm có thể là ác hại nhưng đều để lại những vết thương mà tới bây giờ một năm đã qua hay mười năm hay hai mươi năm nữa vẫn còn đau, đau mãi.” Trong kí ức của anh, những cái chết của đồng đội là nỗi ám ảnh khôn nguôi nhất Đó là cái chết bi thảm đau đớn của Can, Phán, Thịnh “con”, Hòa – cô giao liên xinh xắn…

Với anh những kỉ niệm về chiến tranh như “gọng bàn tay xiết chặt”, chẳng biết khi nào mới thoát khỏi Và kỉ niệm ngày chiến thắng trong anh cũng chỉ là sự hụt hẫng, là dự cảm về một tương lai mù mịt và là nỗi ám ảnh

về nhân tính con người sau chiến tranh Câu nói của một đồng đội “liệu mà coi chừng nhân tính” khi thấy một người lính cao xạ quăng xác chết của một

Trang 34

phụ nữ như quăng một trái bóng ngay ở sân bay Tân Sơn Nhất, làm anh trăn trở mãi

Xen lẫn với dòng hồi ức về chiến tranh là những dòng hồi ức của Kiên nhớ về tuổi thơ, nhớ về những người thân đặc biệt là cha anh – một người họa

sĩ già mà anh không thể nào hiểu nổi “ anh đã biết quá ít mà hầu như không biết gì cả những năm tháng cuộc đời cha”

Trong dòng hồi ức hỗn mang của Kiên còn có những kí ức về tình yêu thuở học trò của anh với Phương – cô bạn “thanh mai trúc mã”, một mối tình đẹp mà buồn Kiên và Phương vừa là hàng xóm vừa là bạn với nhau từ thuở còn thơ, lớn lên bên nhau, họ yêu nhau lúc nào chẳng hay Ở tuổi 17, tuổi thanh niên mới chớm nở mà hai tâm hồn đó đã yêu nhau “ một thứ tình cảm quá kinh hoàng ở tuổi đó, một tình yêu non trẻ mà như đã trải qua máu lửa mà như đã ngậm hờn” Phương, cô thiếu nữ được trời ban vẻ đẹp “cháy rực sân trường Bưởi” và cái nhìn tiên tri Nhưng rồi, tình yêu ấy cũng bị cuốn vào vòng xoáy nghiệt ngã của chiến tranh, ngay trước cửa của cuộc chiến, trên con tàu tiễn Kiên đi vào chiến trường, Phương đã bị làm nhục Đó là một nỗi đau, một vết thương quá lớn với họ và là vết sâu khoảng cách mà kể cả đến những ngày sau hòa bình họ cũng không thể hàn gắn lại được Họ đã mất nhau từ giây phút đó Sau ngày ấy, Phương quyết định phung phí đời mình Tình yêu của Phương, sắc đẹp của Phương đã bị chiến tranh hủy hoại Nhưng với Kiên, tình yêu trong trắng hồn nhiên thuở đầu đời mãi mãi là một kí ức tuyệt đẹp nâng đỡ cuộc đời anh

Bằng những ký ức chắp nối, tác phẩm như là những độc thoại của Kiên

về thân phận con người Tình yêu và chiến tranh, hai chủ đề, hai nỗi buồn thấm vào nhau, hòa lẫn nhau, da diết, xót xa, hủy diệt

Ra khỏi cuộc chiến tranh, Kiên trở thành một anh nhà văn phường Hằng đêm anh lang thang như người mộng du khắp phố phường Hà Nội, anh

Trang 35

lạc vào những giấc mơ nặng nhọc, ám ảnh Những kỉ niệm của quá khứ không ngừng hiện về trong anh, nó trở thành một phần cuộc sống của anh, khơi gợi nguồn cảm hứng và thúc bách anh phải viết, phải viết Với anh, viết giờ đây như một “thiên mệnh” mà mình phải thực hiện sau cuộc chiến Và hằng đêm bên ngọn đèn anh cặm cụi viết, viết tất thảy cuộc đời mình ra trang giấy Hàng đống bản thảo được hình thành sau mỗi đêm Vào một ngày kia, anh đốt bản thảo tác phẩm của mình, bên người con gái câm, một biểu tượng đẹp, một bản sao khác của Phương Cô gái câm là người duy nhất chứng kiến một tiểu thuyết đang hình thành trong bóng đêm, trong cơn say, trong điên khùng

và hoảng loạn, trong vô thức, tức là từ nỗi buồn tình yêu và nỗi buồn chiến tranh

Trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã không triển khai cốt truyện

theo lối “biên niên” truyền thống mà theo kiểu “truyện trong truyện” Cốt truyện thứ nhất kể về quá trình sáng tạo tác phẩm của nhà văn phường - Kiên,

có ý nghĩa làm nền cho cốt truyện trong lòng nó Cốt truyện thứ nhất không phải là toàn bộ linh hồn tác phẩm nhưng nó là một cái cớ, một lí do hợp thức

để tác giả kể cho chúng ta nghe một câu chuyện khác - câu chuyện về cuộc đời người lính Đặc sắc của cốt truyện là nhân vật chính của cả hai câu chuyện vẫn chỉ là một Kiên, tay nhà văn phường cũng chính là nhân vật người lính trong cốt truyện thứ hai, từ đó thể hiện sâu sắc nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn tình yêu và nỗi buồn sáng tạo của người nghệ sĩ

Kĩ thuật lồng ghép hai cốt truyện giúp Bảo Ninh tái hiện được hai hiện thực lớn trong tác phẩm: hiện tại và quá khứ Hiện tại là một tâm hồn người lính vỡ nát, bị chấn thương không quen với cuộc sống hòa bình Quá khứ ám ảnh, bám riết

Như vậy, đặc sắc cốt truyện của Nỗi buồn chiến tranh là tác giả lồng

ghép, đan cài hai câu chuyện vào nhau, thời gian truyện đứt gãy, xáo trộn liên

Trang 36

tục Từ đó, chúng tôi thấy rằng ngay ở nghệ thuật xây dựng cốt truyện, Bảo Ninh đã cho thấy sự khủng hoảng tâm lí của người lính sau khi tiếng bom ngừng rơi Chính trạng thái khủng y hoảng tâm lí của người lính thời hậu chiến sẽ làm nên những đặc điểm của hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ trong tác phẩm

2.3.2.Kết cấu tác phẩm

Mỗi tác phẩm là một “sinh mệnh”, một “cơ thể sống” nên nó có kiến

trúc, tổ chức cụ thể, phù hợp với nội dung Về khái niệm kết cấu, theo Từ điển

văn học (Bộ mới): “kết cấu là thuật ngữ chỉ sự sắp xếp phân bố các thành

phần hình thức nghệ thuật – tức là sự cấu tạo tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài Một tác phẩm có kết cấu tốt sẽ tạo nên tính toàn vẹn của tác phẩm văn học như là một hiện tượng thẩm mỹ” [5, tr.715]

Còn theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, kết cấu là “toàn bộ tổ chức

phức tạp và sinh động của tác phẩm” [4, tr.156]

Như vậy, một tác phẩm văn học, dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng đều

là những chỉnh thể nghệ thuật, bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận Tất cả những yếu tố, bộ phận đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nào đó nhằm biểu hiện một nội dung nghệ thuật nhất định…gọi là kết cấu Nói cách khác, kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động, phức tạp của tác phẩm văn học

Kết cấu là một khái niệm rộng và phức tạp Bên cạnh việc tổ chức, sắp xếp các yếu tố của tác phẩm, kết cấu còn bao hàm sự liên kết bên trong, những mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm, trong đó có cả yếu tố của bố cục

Trong tác phẩm văn học, kết cấu trước hết có nhiệm vụ góp phần thể hiện chủ đề và tư tưởng của nó Bởi trong lao động sáng tạo văn học, có thể coi chủ đề tư tưởng là mục tiêu nhằm hướng tới của nhà văn trong quá trình

Trang 37

phát hiện và xây dựng kết cấu Tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá kết cấu một tác phẩm chính là hiệu quả diễn đạt nội dung của nó

Với Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã chọn cho mình một hình thức

biểu đạt rất phù hợp Viết về đề tài chiến tranh, Bảo Ninh chọn cho mình cái nhìn từ bên trong của các nhân vật Kiên, Phương…Đó là những con người từng sống trong chiến tranh, trải nghiệm chiến tranh và đi qua chiến tranh với

đủ các cung bậc, các cấp độ của nó Do đó viết về chiến tranh, nói về chiến tranh là cảm nhận, là tâm sự của những con người thấm thía mất mát buồn đau Chính vì thế tính chất của cuộc chiến tranh hiện lên thật chân thực với đầy đủ mọi góc độ và mức độ khốc liệt của nó Ở đó bi kịch của con người không những được phát hiện, soi chiếu trong cuộc chiến tranh mà ngay cả khi

họ may mắn sống sót trở về Qua đó giúp người đọc có cái nhìn, sự hình dung chân xác hơn về nỗi đau, sự hy sinh mất mát trong chiến tranh Mặt khác, dòng hồi ức tâm tư của Kiên là sợi dây liên kết chính trong toàn bộ tác phẩm Chính vì thế, các sự kiện, các mối liên hệ trong tác phẩm nó chồng chéo, đan cài vào nhau, quá khứ và hiện tại nối liền với nhau bởi những hồi ức, cảm xúc, giấc mơ …Sự đan xen, xáo trộn giữa quá khứ và hiện tại một mặt cho thấy nhân vật sống giữa đời thường, sống giữa hiện tại mà vẫn bị ám ảnh bởi quá khứ Điều đó chứng tỏ chiến tranh là cái gì thật ghê sợ, thật nghiệt ngã và khốc liệt thì mới để lại những khắc chạm, những dấu ấn đậm nét trong tâm hồn như thế Mặt khác còn cho thấy thực tại mà họ đang sống, hòa bình mà họ đang hưởng thụ cũng không hoàn toàn thanh bình và yên ả Với họ đó cũng chính là một cuộc chiến thầm lặng không tiếng súng Những người như Kiên, Phương, Vượng, Sinh…từng đi qua chiến tranh, nay phải đối diện với chính cuộc sống của mình với thực tại mà mình đang có, đối diện với những mất mát hy sinh của đồng đội Cũng chính ở cuộc sống thực tại, họ mới có điều kiện để suy nghĩ về giá trị của hai chữ “hòa bình” mà họ đang tận hưởng

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w