Thơ Bùi Quang Thanh đã trở nên quen thuộc với người dân Hà Tĩnh, người dân xứ Nghệ, nhất là với những ai đang yêu, đang giữa vòngvây dăng mắc của tình yêu, tình người, tình đời, đang giữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ BÍCH HỒNG
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ
BÙI QUANG THANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ BÍCH HỒNG
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ
BÙI QUANG THANH
Chuyên ngành văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Biện Minh Điền
Trang 3NGHỆ AN, 2014
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 2
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp và cấu trúc luận văn 5
Chương 1: THƠ BÙI QUANG THANH TRONG BỐI CẢNH THƠ HÀ TĨNH VÀ THƠ XỨ NGHỆ ĐƯƠNG ĐẠI 6
1.1 Thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ đương đại 6
1.1.1 Bức tranh thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ đương đại 6
1.1.2 Những đặc điểm chính của thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ đương đại 9
1.1.3 Các tác giả tiêu biểu thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ đương đại 18
1.2 Bùi Quang Thanh - một gương mặt tiêu biểu của thơ ca xứ Nghệ đương đại 31
1.2.1 Con đường đến với thơ của Bùi Quang Thanh 31
1.2.2 Món "nợ" ân tình đối với quê hương xứ sở và hành trình sáng tạo của Bùi Quang Thanh 33
Chương 2: CẢM HỨNG SÁNG TẠO VÀ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG TRONG THƠ BÙI QUANG THANH 35
2.1 Cảm hứng sáng tạo trong thơ Bùi Quang Thanh 35
2.1.1 Cảm hứng về quê hương, đất nước 35
2.1.2 Cảm hứng về truyền thống văn hóa - lịch sử 38
2.1.3 Cảm hứng về chiến tranh và người lính cách mạng 43
2.1.4 Cảm hứng về mẹ, về người phụ nữ, và về thiếu nhi 49
2.1.5 Tình yêu và những dăng mắc, duyên nợ tình đời, tình người 63
2.2 Hệ thống hình tượng trong thơ Bùi Quang Thanh 68
Trang 52.2.2 Hệ thống những hình tượng chính yếu, xuyên suốt thơ Bùi Quang
Thanh 69
Chương 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CỦA THƠ BÙI QUANG THANH 92
3.1 Sự lựa chọn bút pháp và thể loại thơ 92
3.1.1 Bút pháp 92
3.1.2 Thể thơ 98
3.2 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn từ thơ của Bùi Quang Thanh 107
3.2.1 Giọng điệu và nghệ thuật tổ chức giọng điệu thơ của Bùi Quang Thanh 107
3.2.2 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu thơ của Bùi Quang Thanh 111
3.2.3 Ngôn ngữ thơ và nghệ thuật tổ chức thơ của Bùi Quang Thanh 115
3.2.4 Nghệ thuật tổ chức câu thơ, bài thơ, tập thơ 127
KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Người Việt Nam rất yêu thơ, đặc biệt là những bài thơ về quê
hương mình Hà Tĩnh cũng không nằm ngoài niềm yêu thích đó Thơ HàTĩnh có đặc sắc riêng, đằm thắm tình quê hương, sâu lắng tình người, tìnhđời…
Hà Tĩnh nói riêng, xứ Nghệ nói chung là vùng đất nổi tiếng về truyềnthống yêu nước, cách mạng và bề dày văn hóa, văn học Theo dòng chảythời gian, văn học xứ Nghệ nói chung, Hà Tĩnh nói riêng luôn cắm đượcnhững mốc lớn trên tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc, từ vănhọc trung đại đến văn học hiện đại, thời nào cũng để lại dấu ấn quan trọng
về tác giả, tác phẩm, về khuynh hướng - văn phái cũng như phong cách sangtạo Cái gốc của vấn đề là bắt nguồn từ truyền thống văn hóa lâu đời, ở bảnlĩnh, cốt cách của người Hà Tĩnh Trong khó khăn gian khổ con người nơiđây càng được tôi rèn thêm ý chí cần cù chịu khó, kiên cường, sáng tạo,luôn có khát vọng vươn lên chiến thắng thiên tai, địch họa, chiến thắngnghèo nàn, lạc hậu, để lại cho mai sau những giá trị văn hóa, tinh thần caođẹp
Hà Tĩnh là quê hương của Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, NguyễnHuy Oánh, Nguyễn Huy Tự, Lê Hữu Trác Đến thời hiện đại nhiều thế hệnhà văn Hà Tĩnh xuất hiện với những tên tuổi sang giá, tiêu biểu như HoàngNgọc Phách, Xuân Diệu, Huy Cận, v.v… Đến nay Hà Tĩnh đã có một độingũ nhà văn, nhà thơ đông đảo với hàng ngàn tác phẩm có giá trị, góp phầnquan trọng vào nền văn học nước nhà Đây là nguồn dữ liệu, “vật liệu” hếtsức quý giá cho các nhà nghiên cứu, phê bình văn học…
1.2 “Hà Tĩnh là đất thơ” (lời Huy Cận) Nối gót tiền nhân, lớp nhà
văn, nhà thơ đương đại Hà Tĩnh đã có những nỗ lực lớn trong làm giàu, làm
Trang 7đẹp cho truyền thống văn hóa, văn học của quê hương Trong số những thi sĩ
ấy, có thể kể đến thơ Bùi Quang Thanh
Bùi Quang Thanh - Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên HộiVăn học nghệ thuật Hà Tĩnh - đã từng có một quá trình sáng tác khá dài,
từng có những tập thơ được công chúng độc giả chú ý: Một thời sao lãng quên (1994), Miền tâm tưởng (in chung,1995), Hạt đắng (1998), Đò dọc sông đêm (2002), Ngọn gió dòng sông (2003), Mật ong vàng lũng núi
(2007),
1.3 Thơ Bùi Quang Thanh đã trở nên quen thuộc với người dân Hà
Tĩnh, người dân xứ Nghệ, nhất là với những ai đang yêu, đang giữa vòngvây dăng mắc của tình yêu, tình người, tình đời, đang giữa hiện tại màkhông nguôi hoài niệm quá khứ, nhớ về cội nguồn, và luôn khát khao,hướng về tương lai…
Không chỉ thế, nhìn rộng ra, trong dòng thơ trữ tình đương đại ViệtNam, và cả ở bộ phận thơ viết cho thiếu nhi, Bùi Quang Thanh cũng cũngthực sự đã ghi được những dấu ấn đẹp, rất đáng trân trọng, tôn vinh…
Rất cần có những công trình tìm hiểu, nghiên cứu thơ Bùi QuangThanh, từ đây có thể tìm thấy những bài học quý giá cho sáng tạo và tiếpnhận thơ ca
2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi Quang Thanh
2.2 Giới hạn của đề tài
Đề tài bao quát toàn bộ thơ Bùi Quang Thanh
Văn bản thơ Bùi Quang Thanh dùng để khảo sát luận văn dựa vào:
- Bùi Quang Thanh, Một thời sao lãng quên, Hội VHNT Hà Tĩnh,
1994
- Bùi Quang Thanh (in chung), Miền tâm tưởng, Nxb ,1995.
Trang 8- Bùi Quang Thanh, Hạt đắng, thơ, Nxb Thanh niên, 1998.
- Bùi Quang Thanh, Đò dọc sông đêm, Nxb Hội Nhà văn,2002.
- Bùi Quang Thanh, Ngọn gió dòng sông, Nxb Hội Nhà văn, 2003.
- Bùi Quang Thanh, Mật ong vàng lũng núi, Nxb Hội Nhà văn, 2007.
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3.1 Lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu thơ Bùi Quang Thanh
Việc nghiên cứu về các tác phẩm thơ Bùi Quang Thanh cũng đã cókhá nhiều bài viết, bài giới thiệu (hoặc riêng lẻ đăng trên một số tờ báo, hoặc
bài phê bình trong một số công trình về văn học xứ Nghệ và Hà Tĩnh) Nhìn
chung các bài viết cũng đã phần nào thể hiện cái nhìn đáng trân trọng và cónhững khám phá, kiến giải về đặc điểm thơ Bùi Quang Thanh trên một sốphương diện
Trong Nhà văn Hà Tĩnh đương đại, các tác giả Hà Quảng - Nguyễn
Văn Quang nói về sự tạo hình trong thơ Bùi Quang Thanh: “Những hìnhtượng thơ đầy tính biểu tượng mà Bùi Quang Thanh quen sử dụng như DãTràng, Cuội, Thạch Sanh, ông Đùng tuy quen thuộc nhưng không cũ nhàm
mà gợi được những cảm xúc mới mẻ thích thú cho người đọc” [38, 21]
Trong Lược yếu văn học Hà Tĩnh do Hà Quảng chủ biên, Hà Quảng nhận xét về tập thơ Hạt đắng: "Con người Việt Nam hiện đại không cắt đứt quá
khứ Họ tìm ở đấy nhiều bài học Nhiều tứ thơ liên tưởng đến những huyềnthoại xa xưa, đến lịch sử cha ông cũng như chiến tích thời kháng chiếnchống Pháp, Mỹ Trong cảm nhận của mình, Bùi Quang Thanh với tập Hạtđắng tìm thấy trong lịch sử những bài học cho bản thân, những bài học tựrăn" [35, 207]
Tác giả Văn Giá trong Xuôi cùng đò dọc sông đêm đánh giá cao hình
ảnh Mẹ và Quê trong thơ Bùi Quang Thanh: "Xuyên suốt tập thơ và đượctrở đi trở lại với tần số cao là hai hình ảnh Mẹ và Quê Là hai, cũng là một.Như hai vầng trăng sáng cùng tỏ, có khi giao nhau, có khi lại hòa lẫn trongnhau Mẹ là trung tâm, là kết tinh của quê hương Quê hương lại là sự mở
Trang 9rộng của cõi mẹ mà thành Mẹ và Quê là một nhất thể" [12, 1] Cũng theoVăn Giá, "Hồn thơ Bùi Quang Thanh là một hồn quê trọn vẹn Anh thật mẫncảm với những gì thuộc thế giới đồng quê Thơ anh ít bóng dáng về đô thị,
nếu có cũng một chút xa lạ và ngờ vực: Người ta nhẹ gót về phố thị - Để chút xuân quê đứng ngập ngừng Anh rút sâu vào thế giới đồng quê như một
thế giới vô nhiễu và đồng thời như một thủy lưu văn hóa Đó chính là conđường đang đi của thơ anh và trên con đường này, anh đã cho lữ khách một
chuyến Đò dọc sông đêm đây ấn tượng" [12, 1]
Đọc tập thơ Mật ong vàng lũng núi của Bùi Quang Thanh, nhà thơ Vương Trọng đặc biệt chú ý bài thơ văn xuôi Lời hương khói và nhận xét:
“Đây là bài thơ văn xuôi đầu tiên của anh, vốn là người quen viết bút ký vàphóng sự, anh khéo léo đưa vào những chi tiết rất văn xuôi và cũng nên thơ:
Con đi No tròn ba lô con cóc sau lưng Hoa cỏ may găm đầy quần bộ binh đũng chấm ngang đầu gối Bài thơ đã đoạt giải thưởng của Tạp chí Văn
nghệ Quân đội, ghi nhận một bước trưởng thành trong "nghề" thơ của anh”[61, 2]
Các bài viết về thơ Bùi Quang Thanh mới chỉ là những cảm nhận,những phê bình mang tính chất giới thiệu Tuy nhiên, có thể xem đó như lànhững gợi ý đáng tham khảo Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào tìmhiểu nghiên cứu thơ Bùi Quang Thanh một cách đầy đủ, hệ thống Luận văncủa chúng tôi là công trình đầu tiên đảm nhận công việc này
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát, tìm hiểu thơ Bùi Quang Thanh, luận văn nhằm xác địnhnhững đặc điểm thơ ông, khẳng định những đóng góp của ông cho thơ HàTĩnh nói riêng, thơ Việt Nam hiện đại nói chung; từ đây đề xuất một số vấn
đề về việc nghiên cứu và tiếp nhận sáng tác của các nhà thơ, nhà văn "cắmchốt" ở các Hội Văn nghệ địa phương
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 104.2.1 Đưa ra một cái nhìn chung về thơ Bùi Quang Thanh trong bốicảnh thơ Hà Tĩnh nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung.
4.2.2 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định đặc điểm thơ Bùi QuangThanh trên phương diện nội dung, cảm hứng
4.2.3 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định đặc điểm thơ Bùi QuangThanh trên phương diện phương thức thể hiện
Cuối cùng rút ra một số kết luận về thơ Bùi Quang Thanh
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong
đó có các phương pháp chính: phương pháp thống kê - phân loại, phươngpháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loại hình, phương phápcấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc luận văn
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Thơ Bùi Quang Thanh trong bối cảnh thơ Hà Tĩnh và thơ
Trang 11Chương 1 THƠ BÙI QUANG THANH TRONG BỐI CẢNH
THƠ HÀ TĨNH VÀ THƠ XỨ NGHỆ ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ đương đại
1.1.1 Bức tranh thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ đương đại
Hà Tĩnh là đất văn vật, nổi tiếng vì nhiều người đỗ đạt nhưng nổi bậthơn là cốt cách con người xứ Nghệ Đây là mảnh đất giàu truyền thống thi
ca, có nhiều cây đại thụ tỏa bóng mát qua nhiều thế kỷ Nối tiếp truyềnthống của những thế kỷ trước, thế kỷ hai mươi, Hà Tĩnh vẫn đóng góp chothi đàn dân tộc nhiều tên tuổi: Xuân Diệu, Huy Cận, Chính Hữu, PhạmNgọc Cảnh, Xuân Hoài, Ngô Thế Oanh, Cẩm Lai, Hồ Minh Hà, Hoàng ThịMinh Khanh và sau này: Lê Thành Nghị, Dương Kỳ Anh, Mai Hồng Niên,Nguyễn Ngọc Phú, Duy Thảo, Lê Quốc Hán, Bùi Quang Thanh, TùngBách
Các tác giả Hà Tĩnh cũng đóng góp cho thơ ca hiện đại Việt Namnhiều tác phẩm đỉnh cao và ít nhiều trong số tác phẩm thành công đã tạo nétriêng cho dòng thơ xứ Nghệ Các nhà thơ xứ Nghệ là những cây bút cựphách trong các thể loại lục bát, năm chữ, thơ tứ tuyệt, thơ tự do có mặthầu hết trong các tuyển thơ trong Nam cũng như ngoài Bắc
Với một đội ngũ đông đảo như vậy, thơ Hà Tĩnh đã hòa nhịp được vớinền thơ cả nước Bắt rễ trên vùng đất văn vật giàu truyền thống văn hóa, thơ
Hà Tĩnh thời gian qua vừa tiếp nối rất tự nhiên nguồn mạch truyền thống,vừa có những cách tân theo hướng hiện đại Nếu những năm đầu sau ngàythống nhất đất nước, thơ còn mang lối mòn quen thuộc mà biểu hiện rõ nhất
là cảm hứng sử thi còn rất đậm, thì về sau, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, thơ
đã phát triển theo chiều hướng ngày càng phong phú Điều đáng mừng làthơ đã trở về với tiếng nói riêng tư, thầm kín nhất của mình Ý thức cá nhân
Trang 12của chủ thể sáng tạo đã được đề cao Nó mở ra cho thơ hướng phát triểnđúng đắn, phù hợp với đặc trưng thể loại Nếu trước đây, trữ tình chính trị,trữ tình công dân giữ vị trí độc tôn, thì giờ đây bên những cảm xúc ấy, trữtình riêng tư đã có chỗ đứng xứng đáng trong thơ.
Nhớ những năm sáu mươi, cùng với những khuôn mặt thơ như BằngViệt, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương, rồi sau đó Phạm Tiến Duật, ThanhThảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm,Trần Đăng Khoa, Hà Tĩnh có XuânHoài, Lê Duy Phương, Duy Thảo, Minh Nho với những bài thơ sống mãi
trong lòng bạn đọc (Những ngôi sao, Nơi giấu xe, Mừng chiến thắng trời quê, Bài học từ Hương Phúc) Thời đó, các tác giả Hà Tĩnh được đón chào
đón rất nồng nhiệt "Thuộc thơ các anh lúc bấy giờ như là một biểu hiện củatrình độ văn hóa Các anh lúc bấy giờ không có điều kiện để gọt rũa chămchút câu chữ, nhưng thơ các anh vẫn mới mẻ và có giọng điệu riêng, khónhầm lẫn Phải chăng nhờ vào một nền tảng văn hóa tích lũy cổ kim ĐôngTây bao nhiêu năm trên ghế nhà trường, cộng với một vốn sống phong phú,một tình cảm mãnh liệt, nên lúc sáng tạo nó cứ trào ra tự nhiên, vừa dân tộc
mà cũng rất hiện đại" [35, 17]
Hiện nay các cây bút thế hệ đổi mới cũng đang trên đường tìm tòi tựkhẳng định Ở thơ, các cây bút mới không đơn điệu, họ đã thể hiện bước đầu
sự đa dạng của cá tính, của sự nỗ lực không lặp lại người đi trước Lê Quốc
Hán với tập Lời khấn nguyện mang âm hưởng vừa cổ kính vừa chân quê,
một chút Đường thi lãng đãng pha một chút sương mờ ca dao miền Trung,Bùi Minh Huệ khai thác những kỷ niệm một thời đầy vấp ngã, những ký ức
"cay đắng ngọt ngào" cũng có thể giúp Cho em lớn khôn Nguyễn Trọng
Bính khỏe khoắn, trung thực, thơ ông dồi dào sinh lực như chính cuộc đờibinh nghiệp của ông vậy, Dương Thế Vinh đa cảm, khá thành công trongmảng thơ nhà trường Hải Hà tinh tế mà tự nhiên, vươn lên trên những toantính nghề nghiệp, giữ một hồn thơ trong trẻo theo ngày tháng Ngọc Vượngluôn tìm tòi cả về ngôn ngữ lẫn ý, tình Tùng Bách vui, hóm hỉnh nhưng tinh
Trang 13tế và sâu lắng Bùi Quang Thanh, khỏe khoắn mà say đắm Lê Duy Vănthành công nhiều ở những bài thơ kỷ niệm lính, tình thơ đậm đà, lời thơ giản
dị sâu lắng, hơi có chút ngang tàng Nguyễn Ngọc Phú, cây thơ tràn đầy sinhlực, thơ ông mang hương vị riêng của một miền quê biển ngập tràn sóng gió,hình thức tân kỳ, ngôn ngữ sống động Thái Vĩnh Linh, một cây bút sung
sức trên cả hai mảng thơ người lớn cũng như thơ trẻ em, cảm xúc phong
phú, ngôn ngữ sinh động đôi khi có những tứ lạ, đưa đến cho thơ Hà Tĩnhmột vệt thơ đầy suy tư, trăn trở Lê Văn Vị với cách nói ngồ ngộ nhưng sắcsảo chỉ rõ những vấn đề nhân sinh đầy mâu thuẫn trong đời sống thườngnhật, một nghi vấn nhân văn trong tâm thức độc giả Quỳnh Hoa, một câybút từng được giới thiệu trên truyền hình "người đàn bà bán cá làm thơ", thơchị tạo một cảm giác chua chát dịu nhẹ khi giới thiệu cho độc giả một nỗi bẽbàng mới của người phụ nữ hiện đại và sự vươn lên đầy khâm phục đểkhẳng định mình Hồ Minh Thông, một tác giả nữ có lối viết tân kỳ, nhiềutìm tòi trong thể hiện Thơ Đinh Lan Hương nữ tính dồi dào nhưng khôngkém chất suy nghĩ Phan Duy Đồng chân thật, nhuần nhuyễn trong thể tàilục bát và thơ cho các em
Một bộ phận đáng kể là thơ viết cho thiếu nhi và thơ tuổi học trò Viếtthơ cho lứa tuổi học trò cắp sách đến trường không hề đơn giản Nó đòi hỏingười viết có tâm hồn trẻ trung, biết nhìn các sự vật, hiện tượng trong đờisống bằng cái nhìn hồn nhiên, ngỡ ngàng và kiểu liên tưởng ngộ nghĩnh vớiđôi mắt trẻ thơ Một số tác giả đã dành nhiều tâm huyết trên những trang thơ
viết cho thiếu nhi Xuân Hoài có hai tập Sen lên và Những cây dù đỏ Thơ
Xuân Hoài trở thành những dòng sữa ngọt lành bồi đắp tâm hồn tuổi thơ,giúp các em có những cảm xúc tốt lành về cuộc đời, về tự nhiên Thái Vĩnh
Linh với các tập: Hai mặt trời, Mưa sao ngân hà, Cánh cò trắng, Phố trong bản Phần lớn thơ Thái Vĩnh Linh dành cho lứa tuổi nhi đồng Thơ ông nhẹ
nhàng, đơn giản trong cấu tứ và hình ảnh, mang âm hưởng đồng dao, thiên
về những phát hiện độc đáo, ngộ nghĩnh, bất ngờ, hợp với tâm lí, lứa tuổi
Trang 14Nhìn trên đại thể, thơ Hà Tĩnh trong nhiều năm qua có ba xu hướngchính Xu hướng thứ nhất trung thành với lối viết truyền thống (chiếm sốđông) Viết theo hướng này, thơ thiên về biểu cảm, ý thơ rõ, mạch thơ lộ, tứthơ câu nệ vào sự việc, thậm chí nhiều lúc sa vào kể lể, nhạc điệu thơ dudương, thể thơ đắc dụng là lục bát, tám chữ, bảy chữ, năm chữ , ảnh hưởngcủa dặm vè, của ca dao dân ca xứ Nghệ khá rõ Người viết thiên về xuhướng này có thể đáp ứng số đông độc giả, nhất là đại chúng Tiêu biểu cho
xu hướng này là Xuân Hoài, Duy Thảo, Minh Nho, Nguyễn Trọng Bính vànhiều cây bút khác
Xu hướng thứ hai thuộc về những người có khát vọng đổi mới, nhưngđặt yêu cầu cao ở sự đổi mới về tư tưởng, cách nhìn, quan niệm về cuộcsống và sự kết tinh nghệ thuật chứ không quá câu nệ về hình thức câu thơ,bài thơ Thơ của họ thiên về suy tư, giàu sức gợi Nguyễn Sĩ Đại, Lê QuốcHán, Phan Tùng Lưu, Bùi Quang Thanh, Quỳnh Như thuộc xu hướng này
Xu hướng thứ ba là xu hướng muốn cách tân nghệ thuật, tiếp cận vớithơ hiện đại Loại thơ này thường không rõ mạch, không dễ nắm bắt ý tưởngtác giả Câu chữ, hình ảnh thường táo bạo, tân kì, cách biểu đạt mới lạ, kếtcấu tự do, phóng túng, nhiều trường hợp bài thơ gây khó hiểu, vì thế khônghợp với số đông độc giả Nguyễn Ngọc Phú là nhà thơ luôn có ý thức phấnđấu theo hướng này… Đã có những thành công và chưa thành công, nhưng
có thể nói tiềm năng của thơ Hà Tĩnh là rất đáng hy vọng
1.1.2 Những đặc điểm chính của thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ
Trang 15tranh là một trong những chủ âm của văn học Hà Tĩnh Những bài thơ như:
Đồng chí, Ngọn đèn đứng gác, Thư nhà của Chính Hữu, Mừng chiến thắng trời quê của Duy Thảo, trường ca Sư đoàn của Phạm Ngọc Cảnh, Những ngôi sao của Xuân Hoài từng vang lên như những khúc quân hành,
làm nức lòng bạn đọc cả nước Cũng chính vì thế, sau 1975, chiến tranh đãkết thúc, vậy mà âm vang của nó vẫn còn vọng mãi trong những bài thơ củacác cây bút Hà Tĩnh thuộc mọi thế hệ Tuy nhiên đề tài chiến tranh đã được
"xử lí" theo một hướng khác, bởi nó được khúc xạ qua cái nhìn mới
Trước đây, trong văn học, chiến tranh được thể hiện qua cái nhìn cận cảnh - cái nhìn của kiểu nhà văn - chiến sĩ, những người trong cuộc Do yêu
cầu của thời đại, văn học tập trung làm nổi bật chủ nghĩa anh hùng cáchmạng, đề cao lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan Khi chặng đường khép lạicũng là khi người sáng tác văn học có điều kiện nhìn hiện thực chiến tranh
từ những phương diện mới, trong một tâm thế mới Trong những trang viếtsau thời kỳ đổi mới, hiện thực chiến tranh với tất cả sự đa diện , phong phú
và phức tạp của nó đã từng bước được khám phá Hồi ức chiến tranh được
trở đi trở lại qua nhiều trang viết đủ các thể loại Cảm hứng sử thi đã dần dần được thay thế bằng cảm hứng thế sự Âm hưởng hùng tráng không hề
lấn át tiếng nói cảm thấu những nỗi đau, những mất mát lớn lao của baonhiêu thế hệ người Việt Nam Những vết thương trên thân thể có khi khôngnhức nhối bằng những vết thương trong tâm hồn Đã từng say sưa miêu tảnhững chiến thắng vinh quang, từng ngợi ca anh hùng của những thế hệ nốitiếp nhau viết "bài thơ trên báng súng", văn học còn không quên khắc họa
bộ mặt khủng khiếp của chiến tranh và cảm nhận sâu sắc sự trả giá của dântộc mình cho chiến thắng Bởi vì:
Chiến tranh không đẻ ra làng hoa Không đẻ ra làng lúa
Chiến tranh đẻ ra làng góa bụa
Đẻ ra làng Lòi Những thanh niên xung phong cam khổ
Trang 16Lớn lên không mảnh tình vắt vai
(Chuyện tình ở một làng Lòi - Hồng Chinh Hiền)
"Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh", đó là truyền thống, lẽ sống còn củadân tộc Việt Nam Không phải ngẫu nhiên viết về cuộc chiến tranh đã qua,
âm điệu buồn là phổ biến trong ở các tác phẩm Chỉ những ai vô tâm, hờihợt mới không biết xót đau trước những hi sinh lớn lao của hàng triệu conngười, đặc biệt khi nỗi đau mất mát đó thể hiện trong mỗi ngày ta sống:
Chiến tranh đi qua hơn hai chục năm rồi Bao khuôn mặt vẫn trẻ trung tươi rói Những khuôn mặt lại "nhắn tìm đồng đội"
Đêm hiện về màn ảnh nhỏ thiết tha Giá bây giờ họ đang sống bên ta Thì là bác, là ông, là chú
Là con cháu ấm tình đoàn tụ
Là vui buồn bè bạn có nhau
( Nhắn tìm đồng đội - Duy Thảo)
Bao thế hệ người Việt Nam ngã xuống trong chiến tranh là biểu hiệncủa phẩm chất anh hùng, nhưng mặt khác là đó còn là vết thương âm ỉ có
bao giờ nguôi Đêm A Lưới của Bùi Quang Thanh bằng nỗi thảng thốt ngậm
ngùi trước tâm sự không lời mà người lính vĩnh viễn ôm theo vào lòng đất:
Những tiếng nấc "mẹ ơi" trong gió thoảng Tượng đài cao run rẩy giọng trăm miền Nghì con mắt đỏ mòng đêm thương nhớ Gió chợt dừng Trăng lạnh Phút giây thiêng
Sấp ngửa đồng tiền Âm dương hòa hợp Con nằm đây Con đợi mẹ lâu rồi
Bọc đất nâu như hài nhi khát sữa Riết vào lòng tiếng nấc "à ơi"
Trang 17Tuy nhiên, những tác phẩm viết về chiến tranh không chỉ gieo vào tamột nỗi buồn, mà còn chắt chiu những giá trị nhân bản, làm ấm lòng ngườiđọc Trước cái mất càng biết quí cái còn, trước cái thiệt thòi bất hạnh càngbiết quí cái hạnh phúc bình dị nhỏ nhoi của sự sống.
Ở bất cứ thời đại nào, yêu nước cũng là một trong những niềm cảmhứng sâu đậm nhất trong văn học Việt Nam Thế nhưng cảm hứng yêu nướckhông phải là "dĩ thành bất biến" mà nó được biểu hiện ra thành muôn vàncung bậc, sắc thái khác nhau, nhiều giọng điệu đa dạng phong phú tùy thuộcvào sự tác động của thực tế cuộc sống cũng như cá tính sáng tạo của ngườinghệ sĩ Là một bộ phận của tổng thể, có mối quan hệ hữu cơ với nền vănhọc cả nước, văn học Hà Tĩnh cũng nằm trong qũy đạo đó Tuy nhiên, cuốithế kỉ XX thể hiện trước hết ở tình cảm người cầm bút với quê hương xứ sở
Ấy là những tình cảm thiêng liêng máu thịt, cho thấy sự gắn bó giữa conngười với nguồn cội một cách hết sức mật thiết
Không phải ngẫu nhiên văn học địa phương (trong đó có văn học HàTĩnh) mang những đặc điểm vừa nêu Con người là một phức thể văn hóa,liên quan khăng khít, chịu sự chi phối của môi trường sống (cả tự nhiên và
xã hội) Nó hình thành nên những tình cảm tự nhiên sâu đậm cũng như ýthức về bổn phận của con người đối với nơi mà mình được sinh ra và lớnlên Mặt khác, Hà Tĩnh là một trong những miền quê còn bảo lưu những đặctrưng văn hóa làng xã - yếu tố nổi bật của nền văn hóa nông nghiệp cổtruyền Việt Nam Nó chi phối sâu sắc đời sống tâm hồn, tác động mạnh mẽđến sự hình thành nhân cách của người sáng tác Cho nên dù viết về bất cứvấn đề gì, dù hướng tới đối tượng nào của đời sống hiện đại, thì trong thẳmsâu tiềm thức của mình, các nhà thơ Hà Tĩnh vẫn dành một phần tình cảmchân thành, tha thiết cho quê hương xứ sở Mỗi người viết có riêng mộtdáng vẻ, một cách thức góp thêm vào sự khắc họa hình ảnh một miền quê
Nói đến Hà Tĩnh là nói đến vùng đất khổ nghèo, lam lũ Ấy là miềncủa gió Lào cát trắng, của đá sỏi, đất cằn, đồng chua nước mặn Bao nhiêu
Trang 18khốc liệt khó khăn dồn tụ ở dải đất hẹp này Đã qua rồi cái thời lạc quannông nổi đầy màu sắc ảo tưởng, giờ đây các nhà thơ có đủ bản lĩnh và sựđiềm tĩnh để khám phá, thấu hiểu bản chất và bản sắc quê hương mình mộtcách chân thực:
Nắng chang chang rát mặt gió Lào Trưa đứng bóng, can lạch đầm nứt nẻ Từng mảng bùn khô bết phủ lưng trâu
Cỏ héo úa, nghĩa địa làng hoang vắng Bao kiếp người yên nghỉ giữa đồng khô Ngỡ nằm xuống sẽ qua đi tất cả
Nắng vẫn nung nghiệt ngã những nấm mồ
Cây lúa hạn đội rãnh cày để sống Lưng trần che muôn thủa những túp nhà
( Một vùng quê - Nguyễn Huy Hoàng)
Nằm trên dải miền Trung nhỏ hẹp, Hà Tĩnh thường xuyên đối mặt vớithiên tai khắc nghiệt:
Bão xô nghiêng mảnh đất gầy Nắng hun đến cái diệp cày cũng cong Lụt mang đi hết của đồng
Bao nhiêu hạt mấy đi không trở về
( Lục bát Tiên Điền - Yến Thanh)
Mỗi người viết là một góc nhìn, một cách cảm nhận, nhưng trong bấy
nhiêu tác phẩm viết về quê hương, hình ảnh nắng lửa, gió hun, đồng bãi khô cằn, đất cày lên sỏi đá, cơn bão chưa qua, hạn hán đã tới rồi cứ trở đi trở
lại điệp khúc xót xa:
Bụi tre gầy xác xơ trưa lửa
Cò có bay về đứng rỉa cánh hay không?
(Hồn quê - Nguyễn Ngọc Phú) Quãng đê ráp mặt oi nồng
Tre gầy quắt nghẹn, cơn giông trở chiều
Xứ này như của trời trêu
Trang 19Một giây chín ngọ cũng xiêu bóng người
( Làng diêm - Nguyễn Ngọc Vượng)
Chẳng phải ngoa ngôn hay cường điệu gì đâu mà chính là sắc diện,dáng hình, hồn cốt của vùng quê Hà Tĩnh đấy thôi
Khi đã cởi bỏ cách viết thiên về ca ngợi một chiều, các tác giả mới cóđiều kiện nói một cách chân thực nhất hiện trạng cuộc sống Thấm thía đếntận cùng những kham khổ, lo toan của bao kiếp người, đó là lối ngỏ để vănhọc đến với tâm hồn độc giả:
Đèo Ngang một dải đang nghèo Chú tiều xưa
Vẫn chú tiều ngày xưa
(Đèo Ngang - Nguyễn Trọng Bính)
Hình ảnh quê hương ra trong từng gương mặt người, in dấu trongtừng bữa ăn ngày no, ngày đói:
Mưa tháng tư Mưa gạo
Mẹ nấu cơm Khói trắng đòng đòng Bát canh
Trần lưng sống khế Con tép mòi
Nghi ngút nắt đen
(Tháng tư - Trần Nam Phong)
Viết về quê hương, người viết giàu tâm huyết gửi cả hồn mình vàotừng hình ảnh đơn sơ mà thân thuộc, vào nỗi buồn, niềm vui, nỗi mong ướcbình dị của con người Chẳng phải ngẫu nhiên mà hình tượng mẹ với baonỗi vất vả, nhọc nhằn được thể hiện trong thơ văn luôn gắn liền với nhữngtình cảm thương mến quê nghèo Qua mẹ, ta thấu hiểu hơn về quê hương:
Mẹ cắm cây mạ xuống bùn Cắm nỗi lo vào đất
Trang 20Cây mạ thẳng cao Lưng mẹ thêm còng
Mẹ cấy trong mưa - cằm người chạm sóng Một trăm ngày chờ mong cây lúa chín Một trăm đêm giấc ngủ chập chờn
(Mùa gặt - Quỳnh Như) Lúa đỏ đuôi rồi mẹ ơi
Phất phơ đôi bờ ngực lép Rám nắng lặn vào da mặt Tay gầy vin mãi buồng cong
(Tiếng đồng - Bùi Quang Thanh)
Song, nếu văn học Hà Tĩnh chỉ đề cập đến một vài mặt như vừa trìnhbày trên thì chắc vẫn còn phiến diện Hà Tĩnh là một vùng đất giàu truyềnthống quật cường cũng như có bề dày của một vùng văn hóa lâu đời Cái nơi
đã sinh ra Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Lê Hữu Trác,rồi những Hoàng Ngọc Phách, Xuân Diệu, Huy Cận, nơi đã sinh ra nhữnghuyền thoại, truyền thuyết, cổ tích, những câu chuyện trạng hấp dẫn, nhữnglàn ví dặm, những điệu ca trù đặc sắc thì không thể không gợi lên ở conngười thời nay những suy nghĩ tự hào Văn hóa của quê hương đã trở thànhmột nguồn cảm hứng trong văn học Hà Tĩnh 25 năm qua Viết về quê hươngkhông chỉ tái hiện cái thực tại đang diễn ra, mà còn phải biết khai thácnhững tầng vỉa văn hóa tinh thần còn trầm tích trong lòng cuộc sống Mộtvùng đất linh sơn tú khí sẽ còn góp phần bồi đắp tâm hồn con người mộtcách dài lâu:
Bồi hồi Bến Thủy - đèo Ngang Chân chưa chạm đất đã man mác lòng Chín mươi chín đỉnh non Hồng
Anh linh rừng trúc, mây lồng khí thiêng Trà Sơn một mái che nghiêng
Sông trong ngăn ngắt ngút miền thơ ca Tình cờ ngồi một gốc đa
Trang 21Trạng nguyên, tể tướng sinh ra chốn này.
(Gửi Hà Tĩnh - Nguyễn Sĩ Đại)
Nhiều người đã muốn ngược dòng thời gian trở về tắm đẫm tâm hồntrong mạch nguồn văn hóa quê hương Những truyền thuyết, huyền thoại, cổtích, những khúc ca ngàn đời bất tử sẽ đồng hành với chúng ta trong hành
trình hướng tới tương lai: “Em nhìn kia, phía ráng đỏ là cuối dòng sông, nơi lát nữa vầng dương sẽ mọc, nơi gặp gỡ giữa nguồn non mạch nước và còn
đó chúng mình sẽ cặp bến Long Ngâm Long Ngâm - vẫn là những thân rồng xoắn quyện vào nhau thành hình hài xứ sở - đã nghe nồng mặn xóm diêm, xóm chài, sóng lay bờ đá muôn âm thanh tự Thiên Cầm vọng mãi tới Đèo Ngang”( Đò dọc sông đêm - Bùi Quang Thanh) Gắn bó sâu sắc với
quê hương, các tác giả càng có điều kiện khám phá những giá trị tinh thần
mà cha ông để lại:
Câu ví dặm thấm vào cây, vào đất Cây xanh tươi và đất mỡ màu Câu ví dặm lặn vào trăng vào nước
Để ngàn đời trăng nước yêu nhau
( Câu ví dặm - Phan Thế Cải)
Viết về quê hương, văn học Hà Tĩnh thấm đẫm tình cảm thươngnguồn nhớ cội Đã sống và viết trên mảnh đất này, người viết có điều kiệnthấu hiểu hơn ai hết mạch đất hồn người, thấm thía mọi niềm vui nỗi buồncủa từng ngày sống Họ viết về quê hương với tình cảm chân thành, xúcđộng Xuân Hoài, nhà thơ gắn bó cả đời mình với mảnh đất Hà Tĩnh, vậy
mà trong thơ ông, quê hương đã trở thành một nỗi hoài niệm da diết khônnguôi Ông luôn mang trong mình tâm trạng của một người xa xứ:
Người đi xa mấy năm ròng Chưa ai quên một khúc vòng chân đê
Cỏ xanh như chính lời thề Hai bờ đê gợi bước về vương vương
( Con đường về bến Tam Soa)
Trang 22Thơ Duy Thảo thường thiên về duy cảm, trong đó tình quê luôn đượcông dành cho một vị trí quan trọng:
Nửa đời quen sống xa quê Tóc sương giờ lại tìm về vườn xưa Đọt bầu ngọt, bát canh chua Trái xoan rụng, nhớ tuổi thơ bàng hoàng Chè xanh đậm bột khoai lang
Bạn bè thấm nghĩa mênh mang vơi đầy
(Vườn xưa)
Với một hồn thơ đậm chất suy tư, Lê Quốc Hán đã thể hiện niềm
hạnh phúc của một người được sinh thành trên mảnh đất đáng tự hào: Mẹ sinh ra tôi trên dòng sông Ngàn Phố xanh trong, chảy êm đềm như dáng đi của mẹ Phải hai bên triền sông những miệt vườn mượt mà xanh non đến thế, nên mắt người còn biếc tận hôm nay? Đất văn vật ngàn xưa Hải Thượng Lãn Ông từng in vạn dấu giày, để hôm nay mỗi ngọn cỏ, mỗi bông hoa, mỗi nhành cây đều hóa thành thuốc quí Đất thi sĩ sinh ra người thi sĩ, trùng điệp Tràng Giang vỗ mãi đến bây giờ (Khúc hát về những dòng sông)
Sống gắn bó với đất đai xứ sở, quen thuộc quá với hình ảnh quêhương, nhiều lúc ta dễ quên đó là một phần máu thịt của hồn ta Chỉ cần mộtlần xa quê, ta mới biết thế nào là nỗi nhớ Tình cảm đó không ít nhữngngười cầm bút đã thể nghiệm:
Mười mấy năm làm lính xa nhà Anh đã qua bao mùa xiêm áo cưới Vẫn đau đáu nhớ thương về xóm lưới
Mơ một ngày trở lại ấm vòng tay
( Về Nhượng Bạn - Nguyễn Công Kí)
Thế mới hiểu nỗi lòng của những nhà thơ sống li quê Bộn bề với bao
lo toan thường nhật, bao công việc trong cuộc đời vần xoay chóng mặt,nhưng một lúc nào đó đối diện với lòng mình, tình quê bỗng bật ra thànhtiếng lòng thổn thức:
Trang 23Nghĩ về quê hương mình Lắm khi trào nước mắt Như củ khoai lăn lóc Người bỏ làng ra đi Giục em, em ngại về
Sợ xe đò trắc trở
(Quê mình - Dương Kỳ Anh)
Mỗi người viết vững vàng đều phải là một nhân cách văn hóa Họkhông tự mãn một cách lố bịch, nhưng cũng không tự ti khi biết quê hương mình
còn nhiều điều bất cập so với cuộc sống của mọi miền, Dễ bỏ phù vinh không dễ
bỏ quê nghèo, bởi vì: Mang quê hương như viên ngọc trong hồn / Máu thịt dời theo trau chuốt mãi / Tôi hút nhụy trăm vùng quê xa ngái / Vẫn màu hoa râm bụt đỏ bên lòng ( Tâm sự một vùng quê - Nguyễn Sĩ Đại).
Sông có nguồn, cây có cội, người có tổ tiên, quê hương Do vậy,hướng về nguồn cội với tất cả nghĩa tình sâu nặng là một trong những nộidung nổi bật của văn học Hà Tĩnh đương đại Những tác phẩm như vậy sẽcòn có chỗ đứng xứng đáng trong lòng người đọc các thế hệ trên mảnh đấtnày
1.1.3 Các tác giả tiêu biểu thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ đương đại
1.1.3.1 Nhà thơ Duy Thảo
Duy Thảo là nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ của Hà Tĩnh Ông đã đạtrất nhiều giải thưởng: Giải Ca dao Nghệ An - 1963, giải Thơ Nghệ An 1964,giải đặc biệt Thơ chống Mỹ Hà Tĩnh 1968, giải thưởng văn học Nguyễn Du
lần 1- 1990, Cành xanh lá xanh, giải thưởng văn học Nguyễn Du lần 2 - Lối xanh, giải thưởng văn học Nguyễn Du lần 3- Sau mùa lá rụng, giải thưởng văn học Nguyễn Du lần 4 - Mưa ngâu, Lộc vừng, giải thưởng của UB
LHVHNT VN năm 2008 Duy Thảo "Tuy là nhà báo lâu năm, nhưng khác
Trang 24với đồng nghiệp thường tải tài năng ra nhiều lĩnh vực truyện, kịch, phóng
sự, nghị luận còn ông chăm chút dồn hết cho thơ Đến với thơ, ông đi theocon đường truyền thống lấy tình làm gốc, mọi tiếp cận về kỹ thuật thơ ca tân kỳ,hiện đại đối với ông chỉ nằm trong vòng quay thứ hai, thứ ba " [38, 137.] Ôngcùng thế hệ và lối viết có thể xếp chung dòng với Xuân Hoài, Nho Liêm,Phan Duy Đồng , tuy nhiên có sắc thái riêng Thuộc thế hệ nhà thơ chống
Mỹ, trưởng thành từ những năm chống Mỹ nhưng thơ ông trải dài trên suốt
cả thời kỳ xây dựng sau này và cũng chính thời kỳ sau này con đường Thơcủa ông chuyên nghiệp và khẳng định mình hơn Âm hưởng thơ ông bởi vậy
có sự tiếp nối nhưng có những đặc điểm riêng của hai chặng đường, haicách nhìn, hai mối cảm xúc về lịch sử, cũng như những vấn đề trữ tình cánhân
Nhắc đến Duy Thảo là nhắc đến một cốt cách chân thật và một sứclao động cần cù miệt mài theo năm tháng Ông như con ong chăm chỉ miệt
mài trên các trang thơ, quên đi tuổi tác và tháng năm Cho đến Mưa
ngâu-tập thơ thứ năm, ông vẫn như đang còn sung sức Ai đó cho rằng thơ Duy
Thảo viết cồ cộ như con người ông Quả vậy, từ bài thơ đầu khá nổi đưa ông đến với bạn đọc quê nhà, bài thơ Mừng chiến thắng trời quê, đến nay
vẫn một cốt cách ấy, thế nhưng nhiều bài đã đứng được trong lòng đọc giả
Sinh trưởng trong một vùng đất đẹp như tranh họa đồ, có núi giăng tiếp núi, mây trôi kín trời, vùng đất hội hè, hết Chùa Hương đến Chợ Củi, hết chọi
trâu đến đua thuyền Vùng đất giàu hào khí song cái nghèo đeo đẳng ngànđời nay Tập quán thẫm mĩ nơi này không ưa những hào nhoáng, những phùvân, những hình thức giả tạo Thơ Duy Thảo cũng có cái phong vận ấy, cốtlấy cái tình thực làm điểm tựa mà thể hiện Đứa con quê nghèo khi nói vềnơi chôn rau cắt rốn thật khiêm nhường, dung dị:
Thương mẹ già còng lưng lo chống chọi Nước xiết chân lẩy bẩy chuyến đò đầy Thương em thơ bụng đói mắt thơ ngây
Trang 25Chờ tấm bánh mỏi mòn chưa kịp tới ( Gửi miền Trung)
Và trong cái buổi còn nhiều nhố nhăng, thật giả lẫn lộn, nhiều đua đòithái quá, người đọc tìm thấy đâu đây một hơi gió lành khoan hòa, ấm áp,một nề nếp gia phong:
Câu tục ngữ ôm vào câu thành ngữ Đời cho ta giàu tiền bạc, ngãi vàng
Để lúc vui con biết cười ý tứ
Để lúc buồn con biết khóc đoan trang
( Thơ cho con ngày đi lấy chồng)
Duy Thảo thử thách nhiều trên lối thơ năm chữ, thơ tự do, thơ támchữ, thơ lục bát, tứ tuyệt đâu cũng gặp một cách nói ấy: chân thật, giản dị,không khoa trương, màu mè, không hô to gọi giật ngay cả khi viết chiến
công, viết về Đảng, về lãnh tụ (Gửi trọn niềm tin, Trước ảnh Bác) Mảng
thơ tứ tuyệt ghi dấu một thành công của ông Đặc biệt các bài thơ về hoa lácây cảnh Hàm súc và chân tình Cốt cách thơ của ông hình như hợp với loại
thơ này Bài Thời mộng du với ngôn ngữ thơ tự nhiên, tứ thơ sâu kín, hình
tượng thơ đầy day dứt lòng người:
Bao nhiêu nuối tiếc qua rồi
Ta về xếp kín một thời mộng du Xin làm chiếc lá chiều thu
Để ai lãng đãng sương mù chớm đông
( Thời mộng du)
Thiên nhiên vốn trong sạch và vô tư Người xưa khi tránh đời "đục"hay tìm về với thiên nhiên Duy Thảo khi mệt mỏi cũng tìm về với thiênnhiên để nghỉ ngơi:
Chân mỏi gót trần lên thiền viện Bỗng nhẹ thênh lòng một tiếng chim
( Tiếng chim)
Trang 26Đời không bình yên, nhà thơ tìm về với hoa lá mong nhận được một
sự thủy chung để rồi ngẫm nghĩ sự đời đầy vẻ nghiệm sinh xoáy vào tâm tưngười đọc:
Thủy chung còn lại nhành hoa bưởi Thơm mát góc vườn giữ tuổi xuân
Hay:
Để tâm linh thấm vào tận nỗi đau Lời trăng trối mẹ già lúc vĩnh biệt Nắm nhang thắp nửa chừng không cháy hết Khúc đoạn trường lời cách biệt âm dương
(Nhắn tìm đồng đội)
Ông trải mình ra nhiều mặt của đời sống hằng ngày và có những pháthiện thật đáng trân trọng Ông thể hiện một tâm trạng nước đôi về "cảnh cũngười xưa":
Lối cũ vườn xưa giờ quay lại Đầy cành lấp loáng trái hồng xiêm Mình trồng giờ hóa thành khách lạ
( Qua vườn xưa)
Duy Thảo viết về quê hương, bè bạn, gia đình Nào Tam Soa, CầuNgúc, Suối Tiên, Ngã ba Đồng Lộc tất cả đều được gửi gắm trong nhữngcâu thơ đằm thắm, chân tình Ai đã qua rồi những thăng trầm lên xuống,những được thua, vấp ngã hẳn không thờ ơ lật qua những dòng thơ:
Trang 27Rồi tất cả tan chìm cơn dĩ vãng Những dại khờ, những lọc lõi phù du Xin lượm chút sợi vàng rơm trên gối Khóe mắt nhìn âu yếm những thương yêu
(Lối rẽ)
Duy Thảo là một trong những tác giả đáng ghi nhận của thơ Hà Tĩnhhiện đại, "Sự hiện diện của tác giả trong những chặng đường thơ của quênhà nó chẳng là sấm, là chớp, là trăng, là sao, mà chỉ là những trận "mưangâu" dìu dịu trên miệt quê nghèo Tôi yêu những cơn mưa này" [38, 144]
1.1.3.2 Nhà thơ Xuân Hoài
Xuân Hoài, trước khi làm thơ, ông là một thầy giáo toán học để lại ấntượng đẹp đẽ bao lứa tuổi học trò xứ Nghệ Cuộc đời chảy hiền hòa trong kí
ức tuổi thơ của ông với hình ảnh một dòng sông La mượt mà nhung lụa,những cánh cò trắng trên đồng làng, cây đa hò hẹn những đêm hè Từ bài
thơ đầu in trong Hương quê, tập thơ xem như quả ngọt đầu mùa, ông lặng lẽ
thả mật thơm cho đời đến nay đã gần mười lăm tập thơ Ở ông có cái gì dadiết đến nao lòng sự đam mê của người cầm bút
Có thể nói Xuân Hoài là nhà thơ của làng quê, của tình thương Đọcthơ ông, ta bắt gặp một tâm hồn đa cảm trước biến động của cuộc đời Tìnhyêu quê hương làng xóm, bến bãi, nỗi thương cảm những thân phận nổi trôi,
sự trìu mến đối với con trẻ đó là những nguồn đề tài vô tận thổi vào thơông những ý tưởng sâu xa
Vào những năm chiến tranh ác liệt, đất chưa một ngày được bình yên,người chưa một lần được nhàn nhã Tất cả vẫn đang gắng sức mong đợi-mong cho cuộc kháng chiến mau thắng lợi Sức sống của con người ở đâymãnh liệt tồn tại trong đấu tranh:
Trang 28Đêm che bớt ngọn đèn nhà không rạng Đêm Cẩm Bình như đêm mọi nơi
Đạn bom giặc Mĩ như điên loạn
Ở đây ta bút chẳng ai rời
(Đêm Cẩm Bình)
Thơ ông tạo cái độc đáo riêng về cách nghĩ, cách nhìn qua ý thơ layđộng lòng người khi chiêm nghiệm một nữ anh hùng dũng cảm quên cáichết, đếm bom rơi nơi Ngã ba Đồng Lộc:
Mỗi ngọn cờ từ bàn tay em Cắm chỉ đường có hố bom chậm nổ Khi xe qua đã thành vô số
Những lá cờ bay lên chiến công
(Tặng La Thị Tám)
Dù đi đâu về đâu, hình ảnh quê hương luôn luôn thức dậy trong nhàthơ bao kỉ niệm sâu xa, lắng đọng trong nỗi nhớ mỗi tối ông nằm, trong mỗibước ông qua "Xuân Hoài, trước hết là nhà thơ của xứ sở, đất nước và conngười Nghệ Tĩnh - mảnh đất địa linh nhân kiệt - lúc nào cũng khiến nhà thơxúc động Đó là nơi tuyệt vời nhất bởi ta chôn rau cắt rốn ở đó? Hỏi có nơinào êm dịu bằng quê cha đất tổ Hà Tĩnh? Quê hương đã thành vật thiêng,lúc nào cũng làm trái tim Xuân Hoài thổn thức Anh yêu quê bằng thứ tình
yêu máu thịt : Bến quê tủi tủi mừng mừng - Nhìn sang Thiên Nhẫn trời lưng lửng chiều Anh tự hào với quê chung Nam Liên, quê Bác: Bước chân bè bạn năm châu - Đứng gần nhau, xích gần nhau lối này Ông lý sự về thế đứng bước đi của sông Lam, núi Hồng: Nếu không có sông Lam - Núi Hồng buồn biết mấy - Núi Hồng không đứng đấy - Sông Lam trong cũng thừa [38,
133] Nhà thơ đứng trên tầm cao của quá khứ để dõi về tương lai với bao dựđịnh mới lạ:
Trang 29Tầm cao này không thể đo bằng thước Máu, mồ hôi từ hàng trăm năm trước Nên tầm cao vững chãi hôm nay
(Trên đê sông La)
Đa cảm với thiên nhiên, một cây rơm ngày mùa ở làng quê cũng trởthành câu thơ đầy ấn tượng:
Sáng ngày mặt trời lên cao Cây rơm thành cây nắng Trong đêm ánh trăng ngần Cây rơm choàng áo trắng
(Đi thuyền trên hồ Kẻ Gỗ) Bài thơ Những ngôi sao được giải khuyến khích thi thơ báo Văn nghệ
năm 1969 có những câu thơ triết lí gan ruột, tưởng niệm những người con
vô danh hi sinh cho quê hương:
Sao trên trời có những đêm tắt lửa Những ngôi sao Việt Nam đi đánh giặc Vẫn hành quân sáng rực bốn phương trời
Tình người, tình quê gieo vào trong thơ ông bao kỉ niệm êm đẹp, vấn vương:
Mỗi lần đi xa Nhớ sông nhớ bến Lại nhớ mùa hến Dập dềnh thuyền con
(Mùa hến)
Trang 30Ông ao ước một cuộc sống thanh bình người sống thủy chung vớinhau, trái đất vĩnh viễn không còn chiến tranh Nhà thơ cầu nguyện trướcthiên nhiên, trời đất:
Trước cỏ xanh thường giận bớt nghĩ suy Như trước cỏ nơi công viên đồng nội Riêng ở đây cỏ hóa lời kêu gọi:
Đừng để nơi nào thành thảm họa chiến tranh!
(Trước thảm cỏ xanh ở nghĩa địa Pi na nốp)
Tình bạn, tình thầy trò như gọi dậy những kỉ niệm sâu xa đằm thắmtươi nguyên lứa tuổi học trò:
Ôi cái hè lớp mười
Xa lâu càng nhớ rõ Soi trong màu phượng đỏ
Kỉ niệm còn tươi nguyên
(Viết trong mùa hoa phượng)
Tình quân dân, cá nước được thể hiện tinh tế qua hình tượng sóng đôi
"Mẹ - Con" mang âm hưởng dặm vè trong bài thơ Ánh lửa Bên bếp lửa
hồng nồng đượm lời mẹ, tình thương vô bờ bến đã sưởi ấm cho bao chiến sĩdọc đường hành quân nghỉ lại:
Mẹ kiếm trong bếp nồng
Ít than hồng nhóm lửa
Áo quần chăng đầy cửa
Mẹ ngồi hong suốt đêm
Thơ Xuân Hoài giản dị, đằm thắm, sâu lắng, da diết nỗi thương đời,thương người Nhiều nhạc sỹ đã bắt gặp và đồng cảm với tâm hồn, tình cảmcủa ông Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc Âm nhạc đã góp phầnchuyển tải thơ ông đến với số đông công chúng Sau bao nhiêu năm làm thơ,rất nhiều tập thơ ra đời và đã từng được rất nhiều giải thưởng về thơ ở Trungương cũng như ở địa phương, Xuân Hoài đã đem đến cho bạn đọc những
Trang 31nghĩ suy Cuộc đời ông đã trải qua bao niềm vui hạnh phúc để bây giờ đã trở
về với đất mẹ thân thương Từ Hương quê (1971) đến Gửi người xa xứ
(1998), thơ Xuân Hoài đã trải qua một chặng đường phát triển, đa dạngtrong cách nghĩ suy, phong phú trong cách thể hiện, để rồi thơ ông đã neođậu được trong tâm hồn bạn đọc
1.1.3.3 Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú
Trong những năm gần đây, có một cây bút được được người yêu thơđánh giá cao, đó là Nguyễn Ngọc Phú Hai tập thơ được liên tiếp ra đời,
Đám mây màu vảy cá và Giấc mơ lưới Cả hai tập thơ thống nhất như một
chỉnh thể, bộc lộ một cảm quan nghệ thuật sắc bén, một tư duy thơ khá độcđáo, cũng như một giọng thơ riêng rất dễ nhận ra Nhan đề hai tập thơ đã tựnói lên cái mảng đời sống mà anh gắn bó một cách máu thịt Đó là miềnbiển quê anh Sự gắn kết giữa đứa con của miền quê biển với nơi chôn raucắt rốn của mình trong trường hợp này thật đặc biệt Không còn phân biệtchủ thể với khách thể Nó là sự trộn lẫn vào nhau Chất mặn mòi của biển đãtan vào máu, chảy trong huyết quản, làm nên từng tế bào của cơ thể và từng
tế bào thơ, tạo dựng một diện mạo, bồi đắp một thân phận Thơ NguyễnNgọc Phú là sự tự nhận thức bản mệnh của mình Đây là những dòng đầucủa bản tự khai:
Đêm trở dạ bọc tôi vào tã lót
Xé từng mảnh buồm trong chầm chậm màu nâu
Có thể nói biển nuôi dưỡng nguồn thơ của anh, anh gửi gắm vào biểnnhững tình cảm nồng thắm và biển cũng đã đưa lại cho anh nhiều thi hứngmới mẻ, sâu lắng Biển luôn len lỏi vào tâm thức của anh nên khi nhìn mộtthiếu phụ chải tóc, nguồn liên tưởng của anh cũng chảy về phía biển:
Họ chải tóc hay họ chải cát Móng tay họ như những chiếc vảy cá
Gỡ những mắt lưới rối bời
(Thiếu phụ)
Nguyễn Ngọc Phú triền miên những suy tư về biển, cũng là về nguồn cội,
nơi Nấm mồ những người chết biển, phơ phơ bạc cả khói hương (Nẻo về).
Trang 32Trường ca Biển và tôi cũng lấy đề tài về biển, miêu tả cuộc sống dân
chài Hiển hiện trong trường ca những con người miệt biển chân thật, gandạ: ông chài, bà mẹ, người vợ, em bé Viết về những con người này ngòibút tác giả như được cổ vũ bởi một nội lực tiềm tàng, bởi những kỉ niệm trànđầy, nên những hình ảnh người làng biển nào hiện lên cũng sắc nét, cũng
khêu gợi chân thật và đáng yêu Từ Người cha ngồi xoắn lại dây neo, người
mệ đêm đốt cá đầy đống than, rồi Người bà nhặt vỏ bưởi phơi khô quăn mép nắng Họ là hiện thân của biển, một cuộc sống phóng khoáng, sôi động
hào hùng Nhưng nhiều khi cũng thật nao lòng, xót thương Có hạnh phúcnào không trải qua thương đau, bao thế hệ ngã xuống cho làng Chìa sinh nở:
Ta úp mặt vào cát Dâng lên tổ tiên hương khói ông bà Bát nhang cắm vào tro nóng.
Hồn quê trong thơ Nguyễn Ngọc Phú là hồn của biển Nhưng cái tâmđiểm ấy, cảm xúc trong anh cứ như vòng sóng loang ra, lan xa, động thấuđến muôn mặt của cuộc sống Nó thoắt tan, thoắt tụ Hồn quê trong thơ anh
còn là hình ảnh Mùa đông với những cây cối đứng xo mình, những vì sao mất hút trong trời lạnh, và:
Cây trái ngoài vườn thâm thẫm tím Sao chim không biết để bay về Trẻ con đốt khói đồng hun chuột Cánh diều mặc cạn dưới vòm tre
Bài thơ Về quê của anh như nói hộ nhiều người:
Về quê ta thành khách lạ Gặp ai cũng muốn hỏi chào
Tổ tiên xanh rì mộ cỏ Còi xe vướng vít làm sao Ước chi thành cây lúa nếp Trổ bông mẹ đỡ rầu lòng.
Trang 33Nói cách khác, bên cạnh những bài thơ ấm nồng vị biển, NguyễnNgọc Phú còn có những bài viết về cuộc sống đời thường cựa quậy trongtâm hồn hoặc những gì được cất giữ trong kí ức của mình Đó là những
khoảnh khắc Chuyển mùa, một niềm Giao cảm, một Hợp âm lắng nghe được trong phút giây thả hồn mình phiêu diêu, một Mùa màng được đánh
thức bởi linh giác mơ hồ Nguyễn Ngọc Phú thuộc số ít người ở đây có ýthức cao về cách tân nghệ thuật biểu hiện Anh có viết lục bát hoặc một sốthể thơ quen thuộc khác, nhưng có lẽ sở trường quen thuộc hơn cả vẫn là thơ
tự do Hình như chỉ thể thơ này mới giúp anh nói được những gì cần nói.Làm thơ, Nguyễn Ngọc Phú không câu nệ vào sự việc, không dụng công cấu
tứ Thơ anh có những liên tưởng lạ lùng, bất ngờ, gây hứng thú cho độc giả.Chẳng hạn:
Giữa đêm giật mình thăm thẳm Giếng khơi đánh thủng vòm trời
(Giếng)
Chiếc thuyền nan úp mặt vào ngơ ngác Như vỏ cau khô mới tiếc một thời trầu Những bông hoa chết lả về đêm
Hương còn váng vất Nhập bướm vẽ vòng Đăm đăm con mắt
(Ngẫu hứng vô vi)
Đây là một trong rất nhiều biểu hiện cho thấy tiềm năng sáng tạo cònrất dồi dào ở nhà thơ - người con của biển này
1.1.3.4 Nhà thơ Tùng Bách
Đọc thơ Tùng Bách người đọc luôn thoải mái, dễ chịu vì đa phần các
bài ngắn, giản dị và vui Thơ ông không những ngắn mà còn có tứ, một điều
Trang 34mà nhiều thi sĩ rất đề cao Bài thơ nào cũng gợi cho độc giả một ấn tượng để
mà suy cảm, ghi nhớ:
Thôi nào! Để cụ Nguyễn yên Đừng giả với sử chi phiền lòng nhau Truyện Kiều được viết ở đâu?
Ở ngay trong cõi bể dâu đời này!
(Nơi Nguyễn viết Kiều)
Thơ Tùng Bách như nhà thơ Trúc Thông đã nhận xét: “Hóm mànghiêm, nghiêm mà hóm, đùa mà thật, thật mà đùa” [38, 209] Ông đã ápdụng thủ pháp ấy của nghệ thuật dân gian vào những trang thơ của mình:
Trẻ con Làng Lòi nỏ đứa mô có cha Làng không cha có mà làng Gióng Rứa đã chộ đứa mô thành Phù Đổng Phù Đổng thế nào rồi cũng Thiên Vương
Trang 35như bao đứa trẻ khác: Tuấn tú khôi ngô/ Biết giúp mẹ quét nhà, nhặt rau, rửa đọi
Thơ Tùng Bách gợi cảm ở những thi tứ giàu chất hài nhưng cũngkhông kém chất trữ tình, trữ tình ngay trong cái "hài", ấy mới là cái riêng
của nhà thơ Bài Chuyện dọc cánh rừng nhà thơ dặn dò người em di dân vào
Tây Nguyên tập làm quen với nắng, gió, khí hậu, làm quen với phong thổ,sản vật, với tập quán và với con người buổi đầu còn lạ lẫm, khi đã thànhquen thì tất cả đều thấm đượm một tình yêu sâu đậm - tình người Ngồ ngộ,pha chút trào lộng nhưng thật dễ thương khi tác giả dặn dò người em đang ởtuổi thanh niên ấy, vì:
Em sẽ quen với tiếng đàn môi Tiếng Tơ rưng, điệu đinh năm dịu ngọt
Em ơi đừng quên cài khuy áo Cũng lắm lúc thành giông thành bão Gió cũng lành cũng dữ cũng buồn vui
Thơ ông "Giản dị, ngọt ngào thế đấy, nhưng một phương diện kháckhông thể không nhận thấy khi ông nói về cái sự đời, nhận thức của một tráitim yêu thương nhưng cũng từng trải Trong cuộc đời suy ngẫm của ông,Tùng Bách thấy có những ràng buộc, những nghịch lý mà người đời đôi khingộ nhận sinh ra bi- hài kịch" [38, 212] Nhà thơ sống một cuộc đời giản dịtrung thực nhưng cái nhìn lại không kém phần sâu sắc Ông là người sốngxuề xòa nhưng đòi hỏi cao ở nghệ thuật Ông tâm sự: "Mươi năm lại nay,thơ ta cũng xuất hiện nhiều cái mới, nhưng cũng xin mở ngoặc: Mới thì cónhưng chưa lạ Và những cái được coi là lạ thì lại quá xa rời với người đọc!Cái "tôi" được thể hiện khá nhiều ở cây bút trẻ, nhưng xem ra còn lạc lõng,chưa toát lên và hòa nhập vào được cái ta Ngắn hay dài, vần hay không vầnkhông quan trọng Nhưng người đọc phải hiểu, phải cảm được tác giả đangnói gì? Muốn gì? Tôi chúa ghét loại thơ hỏa mù Đành rằng thơ là ý ngoài
Trang 36lời, nhưng ngoài xa quá đến mức ngoài vùng huy động của sự liên tưởng thìkhông thể gọi là thơ" [38, 217]…
1.2 Bùi Quang Thanh - một gương mặt tiêu biểu của thơ ca xứ Nghệ đương đại
1.2.1 Con đường đến với thơ của Bùi Quang Thanh
Nhà thơ Bùi Quang Thanh sinh năm 1950 tại xóm Kim Tĩnh, CẩmTiến, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thốngcách mạng Ông nội là một trong những lãnh đạo xuất sắc của phong trào
Xô - viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931 Bố của ông và các chú đều là nhữngngười tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Mẹ là một người phụ
nữ hiền hậu, đảm đang, lo lắng công việc gia đình thay chồng để chồngtham gia kháng chiến Khi Bùi Quang Thanh đang học dở trường cấp ba thì
đế quốc Mỹ đang ném bom phá hoại miền Bắc Theo tiếng gọi thiêng liêngcủa Tổ quốc, ông bỏ dở việc học và xung phong đi bộ đội Năm 1971, nhàthơ cùng đơn vị của mình vào chiến trường Tây Nguyên Ông nguyên là línhtiểu đoàn xe 827, sư đoàn 10 quân giải phóng Tây Nguyên 1971 – 1974.Trong các chiến dịch đánh lớn của quân ta vào mùa khô 1972, Bùi QuangThanh bị thương và được chuyển ra Bắc chữa trị và tiếp tục được đi học về
kĩ thuật sửa chữa ô tô của ngành giao thông vận tải Đất nước thống nhất,Bùi Quang Thanh tiếp tục công việc trong ngành giao thông nhưng nghiệpthơ vẫn theo ông và trong thời gian này ông đi học đại học báo chí Họcxong, Bùi Quang Thanh chuyển sang làm Chánh văn phòng Hội Văn học
nghệ thuật Hà Tĩnh, phóng viên kiêm biên tập viên của Tạp chí Hồng Lĩnh Năm 2003, ông được chuyển sang báo Bảo vệ pháp luật của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và được giao nhiệm vụ Trưởng cơ quan đại diện của tờ báonày ở khu vực miền Trung Tây Nguyên Năm 2011, Bùi Quang Thanh nghỉ
hưu Hiện nay, ông công tác tại Tạp chí Kiểm sát của Viện kiểm sát nhân
dân tối cao
Trang 37Từ nhỏ, Bùi Quang Thanh đã được nghe mẹ ông, một người phụ nữ
thuộc rất nhiều thơ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, đặc biệt là ca dao,
dân ca xứ Nghệ Bà có giọng ngâm thơ rất ấm Bùi Quang Thanh được nghe
mẹ ru mình, ru em và đã thẩm thấu những ca từ đó Sau này đi học, ôngđược tiếp xúc thơ của các nhà thơ cách mạng Ông thuộc nhiều thơ của cácnhà thơ thời bấy giờ như: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận những cuộc chia li của bạn bè trang lứa cùng lên đường làm nhiệm vụ,những cuộc chia lìa làng xóm, những hi sinh mất mát đã tác động mạnh lênđến cảm xúc của ông Từ nhỏ, Bùi Quang Thanh đã có năng khiếu về thơvăn, được các thầy khen ngợi là có triển vọng Trong những ngày đang đihọc, vào năm Bác Hồ mất, cách mạng Việt Nam chúng ta gặp khó khăn,thanh niên hướng ra mặt trận Theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông lên đường đichiến đấu Ở chiến trường 5 năm, bom đạn đã “buông tha” cho ông Chính
vì vậy hàng trăm bài thơ được ra đời trong thời gian này Trong đó, nổi bật
là: Đêm sông Mây, Tình mơ, Nỗi nhớ này cháu phải viết thành thơ Thời
này, ông và ông Phan Quốc Thái – một sĩ quan cùng đơn vị - có in chung
một tập thơ “Hoa núi” Mỗi người 25 bài thơ được viết trên giấy pơluya, sau
đó gửi qua đường bưu điện ra cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội nhưng giữa
khắc nghiệt chiến tranh, tập thơ đã bị thất lạc
Sau khi ra khỏi quân đội, Bùi Quang Thanh được học nghề cơ khí ô
tô Trong quá trình học nghề này ông dành cho thơ rất nhiều thời gian, côngsức Môi trường của ngành giao thông thời kì bao cấp khó khăn và hạn chế
về báo chí, tuyên truyền nên ông không có điều kiện tiếp xúc Chính vì vậy
mà hàng chục năm vừa làm việc vừa viết thơ mà không biết gửi vào đâu.Đến khi chia tách tỉnh thì các biên tập viên Ban văn nghệ Đài phát thanhtruyền hình Hà Tĩnh phát hiện ra thơ ông và công bố trên đài Cùng thời
gian, thơ Bùi Quang Thanh liên tiếp được đăng trên Tạp chí Hồng Lĩnh Một
năm sau, ông được kết nạp vào Hội Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh Môitrường mới với tỉnh mới, các anh em văn nghệ sĩ về gặp nhau hầu hết đềutrẻ, đầy nhiệt huyết Họ quấn quýt và viết nhiều Bùi Quang Thanh là người
Trang 38có nhiều tác phẩm được in ấn và đọng lại sâu trong lòng độc giả Từ những
tác phẩm đó, tập thơ Một thời sao lãng quên ra đời Tập thơ chỉ 27 bài thơ
nhưng lúc đó đã có tiếng vang, được bạn bè gần xa đánh giá tốt Từ đó, ôngđược mời về Hội Văn nghệ công tác, chuyên ngành thơ Môi trường ấythuận lợi cho việc giao lưu, sáng tác…
1.2.2 Món " nợ" ân tình đối với quê hương xứ sở và hành trình sáng tạo của Bùi Quang Thanh
Bùi Quang Thanh sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Tĩnh - mảnh
đất có bề dày văn hóa, lịch sử Đó chính là sự tiếp thêm ý chí cho bản thânông và người dân ở đây dồn hết cuộc sống, tâm hồn cho sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Mỗi người có một sứ mệnh, khả năng để cống hiến choquê hương của mình Khát khao viết trỗi dậy trong tâm hồn Bùi QuangThanh Không chỉ có thơ, ông còn viết truyện, kí, làm ảnh ca ngợi cuộcsống, truyền thống tốt đẹp của quê hương Món "nợ" ân tình đối với quêhương xứ sở Bùi Quang Thanh muốn tạo nên một thi hiệu – “thương hiệu”của một người con Hồng Lam để trả món "nợ" ân tình đối với quê hương xứ
sở Niềm đam mê lịch sử và văn hóa truyền thống quê hương như một độnglực tạo nên sự thăng hoa và ý thức khám phá trong Bùi Quang Thanh Ông
viết trường ca Huyền thoại núi Hồng, Lay thức,… với cách nhìn, cách liên
tưởng độc đáo (Kinh Dương Vương, nàng Diệu Thiện, hạt lúa, củ khoai tímruột, áo tơi nón lá) Đó là sự giao thoa lịch sử, quá khứ, hiện tại Quêhương trong thơ Bùi Quang Thanh hiện chân thực, cảm động, không tô vẽ,
không nói quá Nhà thơ yêu quê, viết về quê mà xót xa cõi lòng: May vẫn còn sim để đến mùa / Em gái chăn bò gửi khách xa / May vẫn còn mua cho
hạ đến / Qua đèo còn thấy lá chen hoa (Qua đèo Ngang)
Có thể thấy hành trình sáng tạo của Bùi Quang Thanh, từ tập đầu Một thời sao lãng quên, đến Hạt đắng, Đò dọc sông đêm, Ngọn gió dòng sông,
và đến tập gần nhất là Mật ong vàng lũng núi, Đấy là cả một quá trình
sáng tạo với biết bao nhiêu nỗ lực, lao tâm khổ tứ, tìm tòi, khám phá, cónhững thành công và chưa thành công…
Trang 39Thành công của Bùi Quang Thanh thể hiện qua các giải thưởng mà ôngđược nhận: Giải thưởng Tạp chí Văn nghệ quân đội cuộc thi thơ 1998 – 1999
(Giao thừa thiên niên kỉ) cho bài thơ Lời hương khói; Giải thưởng Văn chương
Hà Tĩnh 170 năm cho Trường ca Huyền thoại núi Hồng; Giải thưởng văn học Nguyễn Du lần thứ hai (1995 – 2000) cho tập thơ Hạt Đắng; Giải văn học Nguyễn Du lần thứ ba (2001 – 2005) cho tập thơ Đò dọc sông đêm….
Bùi Quang Thanh đến với thơ như một mối lương duyên, như mộtnghĩa cử trả món nợ ân tình cho quê hương xứ sở Thơ ông là nỗi lòng thôithúc, là cảm xúc dâng trào bật ra từ con tim, từ tiềm thức Thơ viết về người
lính, đi theo nhịp đập chung của thơ ca cách mạng Đó là thơ của thời sử thi.
Nhưng sau chiến tranh, ông không thể viết theo lối mòn đã cũ bởi thời thếđổi thay Bùi Quang Thanh tự mày mò sáng tạo theo cách riêng Ông tâmsự: "Tôi coi văn thơ là cuộc sống, không có sự tách biệt với đời Văn thơ tựxuất hiện trong tôi, là tinh hoa cha mẹ tôi và trời đất cho tôi, được bồi dưỡng
và chắp cánh quá trình trưởng thành, học hành, đúc kết Tôi coi tác phẩmvăn học là tài sản lớn lao và quý giá nhất của cuộc đời, vì vậy tôi kính dângđời, mong được sự nâng niu, gìn giữ Tôi nghĩ mình không có khả năng sángtạo dồi dào và ít có điều kiện tốt để viết, điều này thật buồn cho những nhàvăn Tất bật vì cuộc sống, vì phận sự, tôi không biết mình viết thơ vào lúcnào Vậy mà Nàng Thơ vẫn không từ bỏ tôi, bạn đọc vẫn không xa lánh tôi
Đó là hạnh phúc lớn Đó cũng là trách nhiệm lớn" [38, 125]
Trang 40Chương 2 CẢM HỨNG SÁNG TẠO VÀ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
TRONG THƠ BÙI QUANG THANH 2.1 Cảm hứng sáng tạo trong thơ Bùi Quang Thanh
2.1.1 Cảm hứng về quê hương, đất nước
Cảm hứng là yếu tố quan trọng hàng đầu, mang tính tiên quyết đối vớisáng tạo của người nghệ sĩ Không có cảm hứng, không thể sáng tạo Cảmhứng (Pathos - khái niệm xuất phát đầu tiên từ người Hy Lạp) chỉ trạng tháitình cảm nồng nàn, mãnh liệt của con người khi đứng trước một hiện tượngnào đó của đời sống, nếu là nghệ sĩ, trạng thái tình cảm ấy có thể tạo nênnhững thăng hoa trong cảm xúc - tâm hồn – trí tuệ, quá trình sáng tạo bắtđầu…
Cảm hứng về quê hương đất nước là một nguồn cảm hứng lớn đối vớinhiều văn, nhà thơ, trong đó có Bùi Quang Thanh Vừa là nhà thơ, nhà báo,nhà nhiếp ảnh nên ông đi nhiều, tiếp xúc, trải nghiệm nhiều nên mạch cảmhứng cứ tuôn trào lên trang giấy Quê hương đất nước được ông thể hiện ởnhiều trạng thái, nhiều cung bậc tình cảm khác nhau Đó là cảm hứng cất lên
từ tiếng gàu – một vật dùng để dùng múc nước giếng nơi thôn quê – được
nhắc đi nhắc lại trong bài thơ “Tiếng gàu” Qua đó, tác giả thể hiện sự vất
vả, khó khăn vì thời tiết khắc nghiệt của người dân nơi thôn xóm:
Tiếng gàu vẹt đáy giếng thơi Nắng thư thể đất và trời ghét nhau Gió hoang nung rạn mặt gàu Búp sen vừa nhú nghẽn màu bùn đen.
(Tiếng gàu)
Quê hương đất nước trong ông còn là hình ảnh đèo Ngang:
Nhìn xuống đèo Ngang vẫn cảnh chiều Xóm làng rải rác mái tranh xiêu