Nhận thức được tầm quan trọng của hợp đồng tư vấn pháp lý, nên học viên đã lựa chọn đề tài: “Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam” để thực hiện luận văn cao học luật của mình, nhằm đáp ứn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MINH TUẤN
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực, ghi rõ nguồn gốc Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học, bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi viết Lời cam đoan này khẳng định nội dung tôi cam đoan
là đúng, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trân trọng!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Mai Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Khoa Luật - Trường đại học quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn thạc sỹ
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tiến sỹ Nguyễn Minh Tuấn đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh bản Luận văn thạc sỹ Luật học, chuyên ngành Dân sự và Tố tụng dân sự
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ và sẻ chia, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập và nghiên cứu!
Ngày 14 tháng 10 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mai Anh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LÝ 5
1.1 Khái quát về hợp đồng dịch vụ 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm 10
1.1.3 Dịch vụ công và dịch vụ tư Error! Bookmark not defined
1.1.4 Dịch vụ pháp lý miễn phí của các nước trên thế giớiError! Bookmark not defined
1.2.1 Khái niệm Error! Bookmark not defined
1.2.2 Đặc điểm Error! Bookmark not defined
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG TƯ VẤN
PHÁP LÝ Error! Bookmark not defined
2.1.1 Bên cung ứng Hợp đồng tư vấn pháp lý Error! Bookmark not defined
2.1.2 Bên thuê tư vấn pháp lý Error! Bookmark not defined
2.1.3 Điều kiện về ý chí tự nguyện của các chủ thể trong Hợp đồng tư vấn
pháp lý Error! Bookmark not defined
2.2.1 Đối tượng Error! Bookmark not defined
Trang 62.2.2 Giá hợp đồng tư vấn pháp lý Error! Bookmark not defined
2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụError! Bookmark not defined
2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ tư vấn pháp lý 50
2.2.5 Hình thức của hợp đồng tư vấn pháp lý Error! Bookmark not defined
2.3.1 Giao kết Error! Bookmark not defined
2.3.2 Thực hiện hợp đồng tư vấn pháp lý Error! Bookmark not defined
2.3.3 Chấm dứt hợp đồng tư vấn pháp lý 60
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN HỢP ĐỒNG TƯ
VẤN PHÁP LÝ Error! Bookmark not defined
3.1.1 Nguyên nhân tranh chấp Error! Bookmark not defined
3.1.2 Những dạng tranh chấp chủ yếu Error! Bookmark not defined.0
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta hiện nay, các quan hệ dân sự, thương mại, lao động … ngày một tăng lên về số lượng, theo đó tính phức tạp của các quan hệ pháp luật nói trên đã nảy sinh các tranh chấp giữa các chủ thể trong quan hệ Như vậy, việc giải quyết các tranh chấp của các quan hệ pháp luật trong xã hội cần phải kịp thời và phù hợp với pháp luật
Vai trò của Luật sư trong xã hội đã thực sự cần thiết và được coi trọng trong việc tư vấn pháp luật và tranh tụng trước tòa án, nhằm bảo vệ lợi ích của thân chủ, đồng thời cũng làm rõ nội dung của pháp luật khi được áp dụng để giải quyết các tranh chấp Mặt khác, nhân dân đã dần nhận thức được vai trò của Luật sư, có thể giúp đỡ được họ thực hiện các phương thức, biện pháp bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của mình trong các quan hệ dân sự, thương mại, lao động Do vậy, nghiên cứu về hợp đồng dân sự nói chung và hơn nữa nghiên cứu về Hợp đồng tư vấn pháp lý nói riêng đã trở nên cần thiết trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Hợp đồng tư vấn pháp lý là một loại hợp đồng được coi là mới nhằm đáp ứng nhu cầu của những chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại, lao động và tranh tụng tại Tòa án nhân dân Vì vậy, việc nghiên cứu Hợp đồng tư vấn pháp lý là thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Nhận thức được tầm quan trọng của hợp đồng tư vấn pháp lý, nên học viên
đã lựa chọn đề tài: “Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam” để thực hiện luận văn
cao học luật của mình, nhằm đáp ứng kịp thời những đòi hỏi về mặt lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu và pha ̣m vi nghiên cƣ́u của đề tài
Về hợp đồng tư vấn pháp lý tính đến thời điểm hiện nay ở nước ta tuy đã có một số những công trình được nghiên cứu dưới dạng khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, thạc sỹ Những công trình phải kể là luận văn thạc sỹ của Nguyễn Quỳnh Anh
với đề tài: “Hợp đồng trong nghề Luật sư”, đề tài này chỉ được nghiên cứu dưới
Trang 92
dạng nghề Luật sư, được xem như một dịch vụ trong xã hội khi có nhu cầu của khách hàng về tư vấn pháp luật, soạn thảo hợp đồng, lập di chúc Mà không giải quyết cụ thể các yếu tố, khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tư vấn pháp lý Ngoài ra
luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Nga về: “Vai trò của Luật sư trong tranh
tụng” Luận văn này chỉ giải quyết ở diện hẹp vai trò của Luật sư trong tranh tụng,
mà không đề cập đến trình tự giao kết hợp đồng pháp luật trong nghề Luật sư
Như vậy, hợp đồng tư vấn pháp lý trong nghề Luật sư cho đến thời điểm này chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu Học viên đã mạnh
dạn lựa chọn đề tài: “Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam” để thực hiện luận văn
thạc sỹ của mình là phù hợp với nhu cầu cấp thiết của toàn xã hội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích
+ Làm rõ nội dung, hậu quả pháp lý của một số loại hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý thông thường như hợp đồng tư vấn thừa kế, tư vấn mua bán nhà ở thương mại, tư vấn về chuyển quyền sử dụng đất…
+ Tìm những bất cập của một số qui định về hợp đồng dịch vụ trong BLDS
từ đó kiến nghị hướng hoàn thiện pháp luật
- Nhiệm vụ
+ Phân tích, hoàn thiện những vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ
+ Phân tích, đánh giá nội dung qui định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ trong BLDS
+ Tìm và bình luận một số vụ án điển hình liên quan đến hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số loại dich vụ pháp luật thông dụng; chủ thể sử dụng hợp đồng tư vấn pháp lý và bên cung ứng hợp đồng tư vấn pháp lý Nội dung, hình thức của hợp đồng dịch vụ pháp lý Quá trình giao kết, thực hiện và hậu quả pháp lý của hợp đồng dịch vụ pháp lý vô hiệu
Trang 103
- Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp lý theo pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó đối chiếu với thực tiễn áp dụng các quy định đó trong thực tế, đặc biệt trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế Từ đó, đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về trách nhiệm của các chủ thể khi giao dịch, nâng cao nhận thức của các chủ thể trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận
Cơ sở lý luận xuyên suốt đề tài này là vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, những quan điểm chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và quan điểm về việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam nhằm xây dựng một
xã hội dân chủ, văn minh, sống và làm việc theo pháp luật vào việc đánh giá, luận giải các vấn đề thuộc đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cơ sở thực tiễn của đề tài dựa trên các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ giao kết hợp đồng thực tế của các hợp đồng tư vấn pháp lý, để giải quyết tranh chấp có thể phát sinh từ hợp đồng tư vấn pháp lý
- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp tiếp cận, nghiên cứu tài liệu một cách khoa học, nghiên cứu luật thuyết, thu thập thông tin, áp chiếu thực tế, áp chiếu các văn bản, quy định của pháp luật, phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, hệ thống, diễn giải, quy nạp, điều tra xã hội v,v… để đánh giá phân loại
để hoàn thiện những nội dung đã đặt ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc trình bày khái quát về hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý, cùng với việc tiến hành phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về việc
Trang 114
xây dựng hệ thống khái niệm về hợp đồng tư vấn pháp lý, đánh giá thực trạng những điểm bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành về việc giao kết, thực hiện hợp đồng tư vấn pháp lý, qua đó, có thể đưa ra những giải pháp cần thiết, góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp
lý, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia giao dịch,
ký kết hợp đồng tư vấn pháp lý ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng tư vấn pháp lý
Chương 2: Những vấn đề cơ bản của hợp đồng tư vấn pháp lý
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý
Trang 125
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TƢ VẤN PHÁP LÝ
1.1 Khái quát về hợp đồng dịch vụ
1.1.1 Khái niệm
Hợp đồng trong từ điển tiếng Việt là (giao kèo, khế ước hay giấy ký kết) giữa hai hay nhiều đối tác khác nhau trong các mối quan hệ khác nhau trong xã hội, nhằm trao đổi thông tin thiết lập cam kết với nhau để thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định
“Các bộ cổ luật đã từng tồn tại ở Việt Nam (như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) không có quy định riêng về hợp đồng, Nghĩa là, trong các thời kỳ đó, ở Việt Nam chưa có luật riêng về hợp đồng dân sự, mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau” [37, tr.331]
Năm 1991 Pháp lệnh hợp đồng ra đời, về mặt khách quan hợp đồng dân sự là một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau Về mặt chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định Hợp đồng dân sự được định
nghĩa: “Hợp đồng dân sự là thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng” [21, Điều 1]
Theo pháp lệnh này thì hợp đồng dân sự bao gồm cả hợp đồng dịch vụ bó hẹp, chỉ
nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng của một bên, là sự thừa nhận, yêu cầu
của Nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó
Tại BLDS năm 1995, kế thừa và phát triển pháp luật, cụ thể hóa Hiến pháp
1992 định nghĩa về Hợp đồng dân sự nói chung: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
Trang 136
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự”
[31 Điều 394] Qua đó, cũng tách định nghĩa riêng về: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa
mãn giữa các bên, theo đó bên làm dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch
vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên làm dịch vụ” [31, Điều 521]
Như vậy, BLDS năm 1995 là một bước tiến hơn hẳn của pháp luật về Hợp đồng dịch vụ, theo đó thì BLDS đã qui định về Hợp đồng dịch vụ cụ thể từ điều 521 đến điều 529 về đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong Hợp đồng dịch vụ
Ngày 14/6/2005, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua BLDS mới thay thế BLDS 1995, quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong các mối quan hệ gia đình, xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay Trong đó chế định về hợp đồng dân sự đã được khẳng định với 205 điều trên tổng số 777 điều luật (từ Điều 388 đến điều 593) đó là chưa kể đến 45 điều quy định về các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (từ điều 693 đến điều 732), chứng tỏ chế định hợp đồng dân sự nói chung thông dụng
trong BLDS đóng vai trò rất quan trọng: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các
bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [31, Điều 388]
Điểm quan trọng trong BLDS năm 2005 là xây dựng chế định hợp đồng thành nền tảng cho pháp luật về hợp đồng nói chung, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm Trong trường hợp pháp luật chuyên ngành về hợp đồng cụ thể có quy định riêng, thì ưu tiên áp dụng các quy định riêng đó Vì vậy, phạm vi áp dụng các quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS được mở rộng, áp dụng chung cho các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, thương mại
Theo quan điểm của học viên hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến thoả thuâ ̣n để cùng làm phát sinh các quyền và nghĩa vu ̣ dân sự nhất đi ̣nh Viê ̣c trao đổi ý chí này của các bên là tự nguyê ̣n và tự do nhưng vẫn phải theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Theo đó, các bên sẽ chuyển giao tài sản hay thực hiê ̣n mô ̣t công viê ̣c cho bên kia theo thoả thuâ ̣n trong
Trang 147
hơ ̣p đồng ; hoă ̣c thoả thuâ ̣n giữa các bên về sự thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ đó
BLDS năm 2005 cũng phân biệt rõ hợp đồng dân sự khác với giao dịch dân
sự như: “Giao dịch dân sự là hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [32, điều 121] Còn “Hợp đồng dân sự
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [32, điều 388]
Trong trường hợp pháp luâ ̣t không quy đi ̣nh , hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói , bằng văn bản hoă ̣c bằng hành vi cu ̣ thể Còn đối với những
nhất đi ̣nh thì các bên phải tuân theo hình thức đó
Hiê ̣n nay, có rất nhiều loại hợp đồng dân sự thông du ̣ng, có thể kể đến như
hơ ̣p đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tă ̣ng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng di ̣ch vu ̣ Xã hội ngày càng phát triển , đi cùng với đó là các dịch vụ ra đời , VD: dịch vụ sửa tài sản , dịch vụ pháp lý , dịch vụ quảng cáo Khi thực hiê ̣n dịch vụ, người thuê di ̣ch vu ̣ và người thực hiê ̣n di ̣ch vu ̣ sẽ thoả thuâ ̣n với nhau về các đi ều kiện cung ứng dịch vụ , điều này phần nào giải thích ta ̣i sao họp đồng dịch vụ lại ra đời
Hợp đồng dịch vụ được qui định từ Điều 518 đến Điều 526 BLDS năm
thành trên cơ sở tự do thể hiện ý chí thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật cho phép giữa bên cung ứng di ̣ch vu ̣ với bên thuê di ̣ch vu ̣ nhằm làm phát sinh ràng buô ̣c pháp lý như bên cung ứng di ̣ch vu ̣ phải thực hiê ̣n mô ̣t công viê ̣c mang tính
đồng dịch vụ vì lợi ích của người thứ ba ), bên thuê di ̣ch vu ̣ có nghĩa vu ̣ tiếp nhâ ̣n kết quả công viê ̣c , trả tiền dịch vụ…
Theo quan điểm của học viên hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể (Bên thuê dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ) về việc xác lập, thay đổi, chấm