1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở việt nam

32 433 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 249 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với việc tổ chức thành công hàng loạt những sự kiện quan trọng của đất nước,Việt Nam càng khẳng định được những bước phát triển mạnh mẽ củamình trên tất cả các lĩnh vực, trong đó ph

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sau hơn 1 năm kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thứcthứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ngày 07/11/2006,Việt Nam đã ngày càng đạt được những vị thế lớn trên trường quốc tếvới việc trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo AnLiên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008- 2009 ngày 16/10/2007 Cùng với việc

tổ chức thành công hàng loạt những sự kiện quan trọng của đất nước,Việt Nam càng khẳng định được những bước phát triển mạnh mẽ củamình trên tất cả các lĩnh vực, trong đó phải kể đến sự đóng góp của thịtrường tài chính- bảo hiểm, đặc biệt là thị trường bảo hiểm nhân thọ.Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ra đời và phát triển chođến nay đã được hơn 15 năm, từ chỗ chỉ có Bảo Việt là doanh nghiệpbảo hiểm duy nhất kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, cho đến nay thịtrường bảo hiểm nhân thọ đã phát triển sôi động và hấp dẫn rất nhiềucông ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài vào đầu tư và kinh doanh Từ

đó, đã tạo nên môi trường cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết Để tồntại và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải không ngừngchuyển mình, đổi mới, hoàn thiện và hiện đại hóa công tác khai tháccũng như quản lý, duy trì hợp đồng

ë Việt Nam hoạt động bảo hiểm phát triển khá mạnh trong vàinăm gần đây từ khi chúng ta chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm.Các lĩnh vực, các nghiệp vụ và các sản phẩm bảo hiểm ngày càng được

mở rộng, đời sống nhân dân không ngừng tăng lên Do đó các hợpđồng bảo hiểm nhân thọ được kí kết ngày càng nhiều Tuy vậy, bảohiểm nhân thọ Việt Nam nói chung và nganh bảo hiểm nói riêng vẫnchưa phát triển tương xứng qui mô của nó và cũng chưa có một qui chếpháp lý vững chắc, một hệ thống pháp luật hoàn thiện tạo cơ sở pháp

lý cho toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và cóhiệu quả Với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào việcnghiên cứu về vấn đề bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm đặc biệt là bảohiểm nhân thọ, để có thêm cách nhìn mới và hiểu rõ hơn về bản chất

và những vấn đề cơ bản của hợp đồng bảo hiểm từ đó đề kiến nghị xâydựng luật cũng như áp dụng các qui phạm pháp luật về bảo hiểm một

cách chính xác và hiệu quả tôi đã chọn đề tài “ Tìm hiểu về Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”.

Trang 2

I KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1.1 Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm nhân thọ

Trên thế giới

Bảo hiểm nhân thọ là sự chia sẻ rủi ro giữa một số đông và một vài ngườitrong số họ phải gánh chịu Có thể nói nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi vàolịch sử là năm 1583 ở London và hợp đồng đầu tiên được ký kết với người đượcbảo hiểm là William Gibbons Trong hợp đồng thoả thuận rằng một nhóm ngườigóp tiền và số tiền này sẽ được trả cho người nào trong số họ bị chết trong vòngmột năm Lúc đó ông William Gibbons chỉ phải đóng 32 bảng phí bảo hiểm vàkhi ông chết (trong năm đó), người thừa kế của ông được hưởng số tiền 400bảng

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ra đời đầu tiên vào năm 1583 ở Londonnhưng đến năm 1759 công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên mới ra đời, công ty bảohiểm Philadelphia của Mỹ, tuy nhiên chỉ bán các hợp đồng bảo hiểm cho cáccon chiên trong nhà thờ của họ Tiếp theo là Anh năm 1765, Pháp năm 1787,Đức năm 1828, Nhật Bản năm 1881, Hàn quốc năm 1889, Singapore năm 1909.Năm 1860 bắt đầu xuất hiện mạng lưới đại lý bảo hiểm nhân thọ Theo sốliệu ngân hàng và học viện bảo hiểm nhân thọ của Nhật Bản thì Nhật Bản lànước đứng đầu về tỷ lệ phí bảo hiểm nhân thọ theo đầu người là 1909USD/người (1994)

Năm 1990 phí bảo hiểm nhân thọ của Châu Á chiếm 33,8% tổng số phí bảohiểm nhân thọ trên toàn thế giới Năm 1993, tổng số phí bảo hiểm của các nướcĐông Á là 6,1 tỷ USD, trong đó doanh số bảo hiểm nhân thọlà 45,1 tỷ USDchiếm 73%, doanh số của bảo hiểm phi nhân thọ là 16 tỷ USD chiếm 27%

Tại Việt Nam:

Trước năm 1954, ở miền Bắc những người làm việc cho Pháp đã mua bảohiểm nhân thọ và một số gia đình đã được hưởng quyền lợi từ các hợp đồng bảohiểm này Các hợp đồng bảo hiểm trên đều do các công ty bảo hiểm của Pháptrực tiếp thực hiện

Trong những năm 1970, 1971 ở miền Nam công ty bảo hiểm Hưng Việt đãtriển khai một số loại hình bảo hiểm nhân thọ như: an sinh giáo dục, bảo hiểmtrường sinh (bảo hiểm nhân thọ cả đời), bảo hiểm có thời hạn 5,10 năm hay 20năm Nhưng công ty này hoạt động trong thời gian rất ngắn chỉ 1-2 năm nên hầu

Trang 3

Năm 1987, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đã tổ chức nghiêncứu đề tài: "Lý thuyết về bảo hiểm nhân thọ và sự vận dụng vào thực tế ViệtNam" đã được Bộ Tài chính công nhận là đề tài cấp bộ Qua việc đánh giá cácđiều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, năm 1990 Bộ Tài chính đã cho phépBảo Việt triển khai "bảo hiểm sinh mạng cá nhân - một loại hình ngắn hạn củabảo hiểm nhân thọ " Đến hết năm 1995 đã có trên 500000 người tham gia bảohiểm với tổng số phí trên 10 tỷ VND Qua việc nghiên cứu tác dụng cũng như sựcần thiết phải có một loại hình bảo hiểm mới - bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam,ngày 10/3/1996 Bộ Tài chính đã ký quyết định số 281/TC/TCNH cho phép BảoViệt triển khai hai loại hình bảo hiểm nhân thọ: bảo hiểm nhân thọ có thời hạn5-10 năm và chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi trưởng thành (an sinhgiáo dục).

Ngày 22/6/1996 Bộ Tài chính ký quyết định số 568/TC/QĐ/TCCB thànhlập công ty Bảo hiểm nhân thọ (Bảo Việt nhân thọ) từ đó Bảo Việt nhân thọ tiếnhành các hoạt động nhằm triển khai tốt các loại hình bảo hiểm này một cáchkhẩn trương

Hoạt động bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọngtrong mỗi nền kinh tế Đối với các tổ chức và cá nhân điều này có thể thấy rõqua tác dụng của bảo hiểm nhân thọ

1.2 Những đặc trưng của Bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ có một số đặc trưng sau:

Thứ nhất: có sự phức tạp trong các mối quan hệ giữa người ký, người đượcbảo hiểm và người được hưởng quyền lợi bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ.Các loại bảo hiểm khác ngoài bảo hiểm nhân thọ đều đề phòng các hậu quảcủa một sự cố không lường trước Người ta cũng biết được ai là người đượchưởng quyền lợi của hợp đồng, chẳng hạn là nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp của

sự cố

Đối với bảo hiểm nhân thọ, trong trường hợp tử vong, người được hưởngquyền bảo hiểm không phải là nạn nhân của sự cố Người được bảo hiểm chết,người được hưởng là người có mối quan hệ thân thuộc với người được bảohiểm Người ta thấy rằng điều này đã làm hạn chế đến sự tự do của người đượcbảo hiểm Người được bảo hiểm không phải lúc nào cũng có thể tự do thay đổingười được thừa hưởng vì một số người khác cũng cũng có thể được thừa hưởng

từ người này Trường hợp này có thể xảy ra đối với bảo hiểm trong trường hợpsống nhưng rất hiếm Trong bảo hiểm nhân thọ, các mối quan hệ giữa người ký,người được bảo hiểm và người được hưởng rất phức tạp và mang tính nguyêntắc hơn rất nhiều so với các loại hình bảo hiểm khác

Trang 4

Thứ hai, bảo hiểm nhân thọ có tính đa mục đích Trong khi các loại hìnhbảo hiểm phi nhân thọ có một mục đích là bồi thường cho các hậu quả của một

sự cố tiêu cực, không lường trước thì bảo hiểm nhân thọ lại có nhiều mục đíchkhác nhau: tạo lập một quỹ dự phòng cho tương lai để con cái học tập hay lậpnghiệp, lập ra một quỹ hưu trí cho bản thân khi về già, để lại một khoản tiền chongười thân khi tử vong, dành khoản tiền để chi tiêu cho một mục đích trongtương lai

Thứ ba, trong bảo hiểm con người nói chung và bảo hiểm nhân thọ nóiriêng, hầu hết các trường hợp không áp dụng nguyên tắc bồi thường mà áp dụngnguyên tắc khoán Bởi lẽ:

+ Trong trường hợp tử vong, nhà bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm khingười được bảo hiểm chết Nhưng không thể xác định được số tiền này một cáchhoàn toàn khách quan vì khái niệm giá cả không thể áp dụng cho con ngườiđược Tính mạng của con người là vô giá

+ Một người được hưởng bảo hiểm muốn gia đình hay người thân của anh

ta hưởng một khoản tiền nhất định nào đó tuỳ thuộc vào thu nhập hoàn cảnh giađình của mình Anh ta có quyền ấn định khoản tiền bồi thường vào thời điểm

ký hợp đồng với nhà bảo hiểm Như vậy bảo hiểm trong trường hợp tử vongkhông nhằm vào bồi thường một thiệt hại Hơn nữa, ttrong nhiều loại hình bảohiểm con người, biến cố dẫn đến nghĩa vụ của người bảo hiểm không có bảnchất thiệt hại Do vậy khái niệm thiệt hại không thể sử dụng trong bảo hiểm conngười

Nhìn chung, bảo hiểm con người dẫn đến các khoản trợ cấp khoán mà sốtiền được ấn định trước và tách biệt với khái niệm bồi thường Đó là:

Nguyên tắc khoán được áp dụng trong hầu hết các loại hình bảo hiểm conngười Loại trừ trường hợp hoàn trả các khoản chi phí y tế, bị bệnh hoặc tai nạn,bảo hiểm ở đây mang tính chất bồi thường vì nhà bảo hiểm bồi thường chongười được bảo hiểm giá của sự chăm sóc thuộc trách nhiệm của anh ta

Thứ tư, trong bảo hiểm nhân thọ không có sự thế quyền

Cùng một lúc, khách hàng có thể tham gia nhiều loại hình bảo hiểm conngười và nếu có xảy ra sự cố nào đó thuộc phạm vi bảo hiểm của nhiều hợpđồng thì họ được nhận tất cả các khoản bồi thường từ các hợp đồng khác nhau.Người được hưởng quyền lợi từ bảo hiểm con người có thể đồng thời nhận đượccác khoản bồi thường từ các hợp đồng mà họ tham gia và khoản bồi thường củangười gây ra thiệt hại Trong trường hợp này, không có sự khiếu nại của nhà bảohiểm (nhà bảo hiểm bồi thường cho các hợp đồng do người bị tai nạn tham gia)

Trang 5

Duy nhất trong bảo hiểm nhân thọ cho phép đảm bảo cùng một lúc hai sự

cố đối lập nhau là "tử vong và sống"

Thứ năm, trong bảo hiểm nhân thọ không áp dụng nguyên tắc đóng góp.Nguyên tắc này chỉ áp dụng trong bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm, bảohiểm thiệt hại Theo nguyên tắc đóng góp thì công ty bảo hiểm khi đã đền bùcho người được bảo hiểm có quyền gọi các công ty bảo hiểm khác chia sẻ tổnthất trong trường hợp:

+ Có hai hợp đồng bồi thường có hiệu lực trở lên

+ Các hợp đồng đều bảo hiểm cho các quyền lợi chung

+ Các hợp đồng đều bảo hiểm cho các rủi ro chung

Nhưng bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm con người nên người thamgia bảo hiểm có quyền nhận quyền lợi của mọi hợp đồng mà họ tham gia Hơnnữa, con người là vô giá nên không áp dụng nguyên tắc này

Như vậy, nếu bảo hiểm nhân thọ có những điểm tương đồng với các loạihình bảo hiểm con người thì nó lại có những khác biệt với các loại hình bảohiểm phi nhân thọ khác

1.3 Vai trò của bảo hiểm nhân thọ.

Đối với người tham gia bảo hiểm:

Bảo hiểm nhân thọ đã góp phần ổn định cuộc sống của dân cư, bảo vệ chocác cá nhân và gia đình họ chống lại sự bất ổn định về tài chính gây ra bởi cácbất hạnh như: tử vong, thương tật, đau ốm, mất giảm thu nhập hoặc người trụcột trong gia đình qua đời để lại một gánh nặng nghĩa vụ chưa kịp hoàn thành( trách nhiệm nuôi dưỡng người thân, bảo đảm học hành cho con cái, các khoảnvay thế chấp ) Nói cách khác bảo hiểm nhân thọ là sự chia sẻ các tổn thất giữanhững người tham gia bảo hiểm nhằm thay thế sự bất ổn bằng sự ổn định về tàichính trong các trường hợp có sự cố bảo hiểm xảy ra Trường hợp rủi ro khôngxảy ra, người tham gia bảo hiểm vẫn được hưởng các quyền lợi từ số phí đãđóng

Bảo hiểm nhân thọ cũng góp phần nâng cao sức khoẻ cho nhân dân thôngqua việc kiểm tra sức khoẻ miễn phí tại các trung tâm y tế do công ty bảo hiểmchỉ định trước khi ký kết hợp đồng Mặt khác, khi người được bảo hiểm gặp rủi

ro như ốm đau, phẫu thuật tàn tật công ty bảo hiểm cũng chi trả một số tiền để

họ phục hồi sức khoẻ nhanh chóng Ở Pháp năm 1995, chi phí chăm sóc y tế và

Trang 6

thuốc men đạt 862 tỷ F (12,4 tỷ USD) trong đó các công ty bảo hiểm tham giathanh toán 31%.

Đối với nền kinh tế xã hội:

Bảo hiểm nhân thọ ra đời cũng là một nhân tố thúc đẩy nền kinh tế pháttriển Nó có một số tác dụng sau:

+ Bảo hiểm nhân thọ góp phần tăng tích luỹ, tiết kiệm cho ngân sách.Trong thời kỳ bao cấp, hàng năm ngân sách phải chi ra một khối lượng vốn khálớn để bồi thường cho các cá nhân, công ty gặp rủi ro (trợ cấp thôi việc, trợ cấp

ốm đau ) dưới hình thức trợ cấp Đây là điều bất hợp lý gây cho ngân sách luôn

bị thiếu hụt (bội chi), làm hạn chế việc phát triển kinh tế và các mặt khác của đờisống xã hội Ngày nay, mỗi cá nhân mua bảo hiểm nhân thọ là một cách tự bảo

vệ mình, chủ động đối phó với rủi ro, đồng thời còn tạo ra một khoản tiết kiệm

Sự giúp đỡ của ngân sách hay của các tổ chức sử dụng lao động chỉ còn mang ýnghĩa động viên chứ không có vai trò quyết định căn bản như trước kia nữa Cácquỹ dự phòng cho các trường hợp rủi ro có thể sử dụng vào các mục đích khác

Bảo hiểm nhân thọ góp phần thu hút vốn để phát triển kinh tế Việt Namđang thực hiện quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Một trongnhững yếu tố đảm bảo thắng lợi mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội đã đề ra làvấn đề tạo vốn đầu tư Nghị quyết đại hội Đảng VII đã khẳng định nguồn vốntrong nước là chủ yếu, nguồn vốn nước ngoài là quan trọng Nhưng không có gìtốt hơn là tự lực, tự cường bởi lẽ khi đón nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài thìchúng ta phải trả lãi suất và ít nhiều mất tự chủ về kinh tế Chẳng hạn trong cáccông ty liên doanh, khi các ông chủ nước ngoài góp trên 50% vốn, họ chi phốihầu như toàn bộ hoạt động của công ty, người Việt Nam chỉ là hình thức bênngoài, trên thực tế không có quyền hành gì

Bảo hiểm nhân thọ là một giải pháp huy động nguồn vốn dài hạn để đầu tưcho giáo dục từ việc tiết kiệm thường xuyên, có kỷ luật của mỗi gia đình Đâycũng là giải pháp đúng đắn góp phần xây dựng mục tiêu công bằng xã hội Vì dựtrù cho tương lai giáo dục đối với con em mình cũng nên coi là trách nhiệm củamỗi gia đình Xét trên giác độ vi mô tham gia bảo hiểm nhân thọ vẫn sẽ đảm bảođược quỹ giáo dục cho con cái ngay cả khi người trụ cột gia đình không mayqua đời

Bảo hiểm nhân thọ còn góp phần rất lớn vào giải quyết việc làm cho xã hội.Bảo hiểm là ngành có mạng lưới đại lý rộng khắp trong và ngoài nước Bảohiểm nhân thọ là ngành thu hút nhiều lao động hơn cả vì nó cần có một mạnglưới nhân viên khai thác bảo hiểm, máy vi tính, tài chính, kế toán rất lớn Vì

Trang 7

vậy, việc phát triển bảo hiểm nhân thọ sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho thịtrường lao động.

Mặc dù điều kiện sống hiện nay ngày càng được nâng cao nhưng những rủi

ro bất ngờ luôn rình rập xung quanh chúng ta và có thể xảy ra bất cứ lúc nào.Tham gia bảo hiểm nhân thọ là cách tự bảo vệ của mỗi cá nhân, mỗi gia đìnhchống lại sự bất ổn về tài chính nếu rủi ro xảy ra Như vậy, bảo hiểm nhân thọgóp phần làm giảm người bần cùng, nghèo khổ cho những bất hạnh trong cuộcsống đem lại Hơn nữa chúng ta phải lo cho tương lai của mình sau khi về hưu

Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ đã góp phần giải quyết gánh nặng tráchnhiệm của xã hội đối với người lao động về hưu, tuổi cao

1.4 Các loại hình bảo hiểm nhân thọ

Ở các nước trên thế giới, hầu hết các công ty bảo hiểm nhân thọ đang bán 4loại hình sản phẩm bảo hiểm nhân thọ chính:

- Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn

- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời

- Bảo hiểm trợ cấp hưu trí

- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

a Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn:

Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, đúng như tên gọi của nó nhà bảo hiểmnhận bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm trong một thời gian nhất địnhgọi là thời hạn bảo hiểm Số tiền bảo hiểm chỉ được thanh toán trong trường hợpngười được bảo hiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm Nếu người được bảohiểm sống qua thời hạn bảo hiểm sẽ không được thanh toán bất cứ khoản gì Độdài của thời hạn bảo hiểm rất khác nhau Tuy nhiên, ngày nay thời hạn bảo hiểmcủa các sản phẩm bảo hiểm sinh mạng có thời hạn có khi dưới một năm

b Bảo hiểm nhân thọ trọn đời:

Đây là loại hình có thời hạn bảo hiểm dài hạn và số tiền bảo hiểm chỉ đượctrả khi người được bảo hiểm chết hay sống đến 99 tuổi tuỳ thuộc vào sự kiệnnào đến trước Bảo hiểm nhân thọ trọn đời kết hợp yếu tố tiết kiệm với bảohiểm Trong khi bảo hiểm sinh mạng có thời hạn chỉ bao gồm yếu tố rủi ro vàkhông trả thêm bất cứ quyền lợi nào

Trang 8

c Bảo hiểm cấp hưu trí:

Là loại hình mà phí bảo hiểm được đóng ngay một lần hay định kỳ Sau đó,công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả trợ cấp định kỳ cho người được bảo hiểm từkhi người được baỏ hiểm về hưu cho đến chết

Người ta thường kết hợp dạng bảo hiểm trợ cấp hưu trí với bảo hiểm hưutrí Khi về hưu, người được bảo hiểm nhận số tiền bảo hiểm của hợp đồng bảohiểm hưu trí và mua ngay hợp đồng trợ cấp hưu trí để đảm bảo cuộc sống khi vềhưu cho đến khi chết

d Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp:

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp đảm bảo rằng số tiền bảo hiểm đượctrả mà không quan tâm đến việc người được bảo hiểm có bị chết trong thời hạnbảo hiểm hay không với điều kiện người được bảo hiểm phải đóng phí theo quyđịnh Mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp đều quy định ngày hết hạn bảohiểm Vào ngày đó, công ty bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm cho người được bảohiểm nếu anh ta còn sống Nếu người được bảo hiểm chết trước khi hết hạn hợpđồng thì số tiền bảo hiểm sẽ được trả cho ngươì được hưởng lợi vào ngày ngườiđược bảo hiểm bị chết

Như vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp trả số tiền bảo hiểm ấn định

dù người được bảo hiểm vẫn còn sống đến ngày đáo hạn của hợp đồng hoặc chếttrước khi hết hạn hợp đồng Phí bảo hiểm cũng không đổi trong suốt thời hạnhợp đồng Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thể hiện rõ sự kết hợp giữa bảo hiểm vàtiết kiệm

Dựa trên 4 sản phẩm cơ bản này, các Công ty bảo hiểm nhân thọ khác nhauthiết kế ra các sản phẩm đặc thù riêng của mình.Chẳng hạn:

II HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

1 Khái niệm Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm là một văn bản pháp lý quan trọng quy định quyền vànghĩa vụ của DNBH và người tham gia bảo hiểm theo thỏa thuận của các bên cóliên quan

Theo Điều 12, khoản 1,2 Luật KDBH quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo

Trang 9

hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm”.

Như vậy HĐBH là văn bản thỏa thuận.Trong đó doanh nghiệp BH sẽ nhậnđược phí bảo hiểm để thiết lập quỹ tài chính và chịu trách nhiệm chi trả và bồithường bảo hiểm; người tham gia bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm về kí kết và nộpphí bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm phải có đủ tư cách pháp lý khi tham giabảo hiểm Sự kiện bảo hiểm là các sự kiện khách quan do các bên thỏa thuậnhoặc do các bên quy định Các HĐBH có thể được kí kết giữa người tham giabảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm hoặc được kí kết gián tiếpthông qua các đại

lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm

2 Các loại HĐBH

Có thể căn cứ theo nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại HĐBH Songdưới đây là cách phân loại phổ biến nhất Cụ thể:

Hợp đồng bảo hiểm con người.

Hợp đồng bảo hiểm tài sản.

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

Mỗi loại hợp đồng trên có đối tượng bảo hiểm và kỹ thuật nghiệp vụ bảohiểm khác nhau Việc chia ra làm 3 loại hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ nóitrên nhằm có biện pháp quản lý phù hợp

2.1 Hợp đồng bảo hiểm con người.

Hợp đồng bảo hiểm con người là những hợp đồng mà đối tượng bảo hiểm

là sinh mạng, sức khoẻ, khả năng lao động của con người

- Đặc điểm:

+ Đối tượng bảo hiểm là sinh mạng, sức khoẻ của con người nên không thểxác định được giá trị của đối tượng bảo hiểm Do đó số tiền bảo hiểm do các bênthoả thuận trước trong hợp đồng

+ Hợp đồng bảo hiểm con người được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện.+ Trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm con người không áp dụng nguyên tắcthế quyền (chuyển yêu cầu bồi hoàn) nghĩa là bên bảo hiểm sau khi trả tiền bảo

Trang 10

hiểm cho người được bảo hiểm thì không có quyền yêu cầu đối với người thứba.

Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bênđược bảo hiểm hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ Nếu bên được bảohiểm chết thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm.Hợp đồng bảo hiểm con người được phân làm hai loại là bảo hiểm nhân thọ

và bảo hiểm con người khác

a Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

Là loại hình bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ của con người.Đây là một hình thức kết hợp tiết kiệm với bảo hiểm Tính chất tiết kiệm thểhiện ở chỗ người tham gia bảo hiểm chắc chắn nhận được tiền bảo hiểm vào thờiđiểm kết thúc hợp đồng Ngoài ra nếu công ty bảo hiểm đầu tư có lãi thì ngườitham gia bảo hiểm sẽ được chia lãi từ kết quả đầu tư

Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chotrường hợp chết của người được bảo hiểm không phải là người sở hữu đơn bảohiểm khi được người đó đồng ý bằng văn bản Doanh nghiệp bảo hiểm bị cấm

ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho trường hợp chết của trẻ em dưới 16 tuổi trừtrường hợp cha mẹ người bảo trợ hợp pháp đồng ý bằng văn bản

Hiện nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có 5 doanh nghiệp bảo hiểmnhân thọ cùng hoạt động và cạnh tranh: đó là Bảo Việt, Bảo Minh - CMG (liêndoanh), Peudeutial, Chinfon - Munulife và AIG (100% vốn nước ngoài) với cácloại hình bảo hiểm nhân thọ như: bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm 10 năm;bảo hiểm trẻ em; bảo hiểm niên kim nhân thọ; bảo hiểm nhân thọ trọn đời

b Hợp đồng bảo hiểm con người khác.

Gồm có ba nhóm:

- Hợp đồng bảo hiểm tai nạn hoặc sinh mạng con người nói chung

- Hợp đồng bảo hiểm tai nạn hoặc sinh mạng một số đối tượng đặc biệt Vídụ: học sinh, hành khách tham gia giao thông trên các phương tiện giao thông,thuyền viên của các tàu thuyền đánh cá,

- Hợp đồng bảo hiểm khách du lịch

Trang 11

Người tham gia bảo hiểm chỉ trở thành người được bảo hiểm khi người đó

có tên trong giấy chứng nhận bảo hiểm do bên bảo hiểm cấp và được hưởngquyền lợi bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

2.2 Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Hợp đồng bảo hiểm tài sản là những hợp đồng mà có đối tượng bảo hiểm làtài sản

Phổ biến các hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm tự nguyện vìtrước hết nó gắn với quyền lợi của người tham gia bảo hiểm Tuỳ nhu cầu bảohiểm mà người tham gia bảo hiểm chủ động chọn những rủi ro cần bảo hiểm chotài sản của mình cũng như mức phí bảo hiểm cần nộp cho bên bảo hiểm để được

đền bù khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Điều 583 Bộ Luật dân sự qui định: trong trường hợp quyền sở hữu đối với tài sản bảo hiểm được chuyển cho người khác, thì chủ sở hữu mới đương nhiên thay thế chủ sở hữu cũ trong hợp đồng bảo hiểm, kể từ thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản Chủ sở hữu cũ là bên mua bảo hiểm phải báo cho chủ sở hữu mới về việc tài sản đã được bảo hiểm, báo kịp thời cho bên bảo hiểm về việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản, nếu là bảo hiểm tự nguyện thì chủ sở hữu mới có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng.

Các hình thức bảo hiểm chủ yếu đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản gồm có:

- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển

- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam

- Bảo hiểm thân máy bay

- Bảo hiểm tàu, thuyền

- Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới

- Bảo hiểm công trình xây dựng

- Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt

- Bảo hiểm trộm, cướp

- Bảo hiểm cây trồng, vật nuôi,

Tính đến hết tháng 4/2000 hoạt động kinh doanh bảo hiểm tài sản trên thịtrường bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng cao Trong đó các nghiệp vụ bảo hiểmhàng xuất nhập khẩu tăng mạnh, còn nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe mô tô, bảo

Trang 12

hiểm thân tàu lại giảm Tình hình thị trường bảo hiểm thân tàu trên thế giới cũngcho thấy các nhà bảo hiểm thân tàu đang gặp khó khăn về tài chính, với những

số liệu kinh doanh bất lợi vì tỉ lệ tổn thất ngày càng tăng cao trong khi phí bảohiểm lại có xu hướng giảm Các chủ tàu thích được ký hợp đồng bảo hiểm dàihạn đầy lợi lộc với những nhà khai thác bảo hiểm khờ dại

Hợp đồng bảo hiểm tài sản mang tính chất là hợp đồng bồi thường Nguyêntắc chung được áp dụng cho các loại hợp đồng bảo hiểm tài sản là số tiền bồithường mà bên bảo hiểm trả không vượt quá giá trị tài sản được bảo hiểm tạithời điểm và nơi xảy ra tai nạn

2.3 Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là hợp đồng mà đối tượng bảo hiểm

là trách nhiệm dân sự mà người có trách nhiệm phải bồi thường cho người bịthiệt hại

Trong trường hợp bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho người thứ ba theo thoảthuận hoặc theo qui định của pháp luật, thì bên bảo hiểm phải bồi thường chobên mua bảo hiểm hoặc trả trựct iếp cho người thứ ba theo yêu cầu của bên muabảo hiểm số thiệt hại do bên mua bảo hiểm gây ra cho người thứ ba theo mứcbảo hiểm đã thoả thuận hoặc theo qui định của pháp luật (Điều 584 khoản 1 BộLuật dân sự)

Đặc điểm của bảo hiểm trách nhiệm dân sự là mang tính trừu tượng, kháchẳn các đối tượng là tài sản và con người Bên bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm phầntrách nhiệm dân sự nên chỉ phải bồi thường những thiệt hại thuộc trách nhiệmcủa bên tham gia bảo hiểm chứ không phải bồi thường thiệt hại của chính ngườitham gia bảo hiểm cũng như không chịu trách nhiệm về hình sự

Hiện nay ở Việt Nam có các loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự phổ biếnnhư:

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu, thuyền

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự hàng không

- Bảo hiểm trách nhiệm của quĩ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiềngửi có kì hạn

3 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm

Trang 13

-Doanh nghiệp bảo hiểm: là tổ chức hoặc cá nhân có đầy đủ tư cách phápnhân được nhà nước cho phép tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đượcthu phí để lập ra quỹ bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi thường hay chi trả chobên được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.

- Nguời tham gia bảo hiểm: Là tổ chức hoặc cá nhân kí kết HĐBH vớidoanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm Theo nguyên tắc quyền lợi có thểđược bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm phải là nguời có quyền lợi hợp phápkhi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro và bị tổn thất Ngoài trách nhiệm đóng phíbảo hiểm, nguời tham gia bảo hiểm còn có trách nhiệm khai báo chính xác rủi rokhi kí kết HĐBH đồng thời phải nhanh chóng khai báo thiệt hại khi có sự kiênbảo hiểm xảy ra

- Người được bảo hiểm: Là tổ chức cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự

và tính mạng hoặc tình trạng sức khỏe được bảo hiểm theo HĐBH

- Người thụ hưởng: là tổ chức hoặc cá nhân được người tham gia bảo hiểmchỉ định trong HĐBH sẽ nhận được sự trợ giúp và bồi thường từ doanh nghiệpbảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

4 Sự kiện bảo hiểm.

Bên bảo hiểm chỉ phải thực hiện hợp đồng bảo hiểm tức là thực hiện tráchnhiệm bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm

Sự kiện bảo hiểm có thể hiểu là những rủi ro gây ra tổn thất thiệt hại cho đốitượng được bảo hiểm đã được các bên kí kết hợp đồng bảo hiểm thoả thuận

Điều 575 Luật dân sự định nghĩa: Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan

do các bên thoả thuận hoặc pháp luật qui định mà khi có sự kiện đó xảy ra thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm.

5 Đối tượng bảo hiểm.

Khái niệm: đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là những thực thể có thể bịrủi ro xâm hại (con người, tài sản) hoặc là trách nhiệm pháp lý do rủi ro mà phátsinh nghĩa vụ dân sự về đền bù vật chất (trách nhiệm dân sự)

Chính vì sự an toàn hay bảo toàn cho đối tượng này mà các bên kí kết hợpđồng bảo hiểm

Điều 573 Bộ Luật dân sự qui định: đối tượng của bảo hiểm bao gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác theo qui định của pháp luật.

Trang 14

6 Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm và phí bảo hiểm.

- Số tiền bảo hiểm(STBH): là khỏan tiền được xác định trong HĐBH thểhiện giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm Điều đó có nghĩa làtrong bất cứ trường hợp nào thì STBT hay số tiền chi trả cao nhất của doanhnghiệp bảo hiểm cũng chỉ bằng STBH

- Giá trị bảo hiểm(GTBH): được hiểu là giá trị của đối tượng được bảohiểm Khái niệm GTBH không được sử dụng trong BHTNDS cũng như trongBHCN mà chỉ được đánh giá trong BHTS

Như vậy GTBH chính là giá trị của tài sản được bảo hiểm và lấy nó làmcăn cứ để xác định STBH và phí bảo hiểm

- Phí bảo hiểm: là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho bên bảohiểm (Điều 576 Bộ luật dân sự)

Người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ phải đóng phí bảo hiểm cho bên bảohiểm nhằm xây dựng thành quĩ bảo hiểm Mức phí bảo hiểm do hai bên thoảthuận song cũng có thể do bên bảo hiểm qui định trước

Trong bảo hiểm con người, mức phí bảo hiểm do Bộ Tài chính qui địnhtheo mỗi loại hình bảo hiểm con người, được ghi trong biểu phí, người mua bảohiểm có thể lựa chọn mức phí phù hợp với mình Theo qui định của pháp luậthiện hành về chế độ bảo hiểm tài sản thì phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giátrị bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm nhân với tỷ lệ phí bảo hiểm Tỷ lệ phí bảohiểm là tỷ lệ % do bên bảo hiểm đề ra trên cơ sở tính toán xác suất của nhữngrủi ro tổn thất xảy ra hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất nhằm thu đủ phí để bồithường và có lãi

Mức phí bảo hiểm luôn tỉ lệ thuận với mức độ rủi ro và trách nhiệm của bảohiểm

Điều 576 Bộ luật dân sự cũng qui định

Thời hạn đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận hoặc theo qui định của pháp luật Phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặc theo định kỳ Trong trường hợp bên mua bảo hiểm chậm đóng phí theo định kỳ thì bên bảo hiểm ấn định một thời hạn để bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm Nếu hết hạn đó mà bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm thì hợp đồng chấm dứt.

7 Bồi thường.

Trang 15

Bồi thường là việc bên bảo hiểm trả một khoản tiền cho người được bảohiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra gây thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm.

Trong hợp đồng bảo hiểm, số tiền bồi thường được xác định trên cơ sở thiệthại thực tế nhưng không bao giờ vượt quá số tiền bảo hiểm Đặc biệt trong bảohiểm trách nhiệm dân sự, số tiền bồi thường, ngoài việc dựa trên hai căn cứ trên,còn phụ thuộc vào mức độ lỗi của bên được bảo hiểm trong vụ tai nạn

Khi tính toán số tiền bồi thường, phải xác định đúng giá trị thiệt hại thực tế.Thiệt hại xảy ra có thể là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ vàcũng có thể là cả hai

- Thiệt hại về tài sản:

Đó là sự thiệt hại về vật chất nên có thể tính được giá trị thiệt hại thànhtiền Thiệt hại được xác định là toàn bộ thiệt hại về tài sản đó bao gồm: tài sản bịmất, bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tàisản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại vào thời điểmgây ra thiệt hại

- Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ:

Tính mạng, sức khoẻ của con người không thể tính toán thiệt hại cụ thểthành tiền được Vì vậy việc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ có ýnghĩa là đền bù phần nào thiệt hại vật chất, tạo điều kiện cho người bị thiệt hạihay gia đình họ khắc phục khó khăn do tai nạn gây nên Xác định thiệt hại vềtính mạng, sức khoẻ bao gồm những khoản chi phí về nạn nhân và những khoảnthu nhập bị mất hoặc giảm sút

8 Thời hạn bảo hiểm.

Là thời gian HĐBH có hiệu lực, kể từ khi kí kết HĐBH và có bằng chứngdoanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đãđóng phí bảo hiểm(trừ trường hợp đã thỏa thuận khác trong HĐBH) cho tới khikết thúc trách nhiêmk bảo hiểm

Thời hạn bảo hiểm của các hợp đồng phi nhân thọ thường là 1 năm Đối vớimột số hợp đồng , có thể thời hạn là kể từ lúc bắt đầu một chuyến hành trình chotới khi kết thúc chuyến hành trình đó( bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu hoặcbảo hiểm du lịch) Trong BHNT, thời hạn hợp đồng dài hơn, thường là 5-10 nămhoặc suốt cuộc đời, tùy theo sự thỏa thuận của hai bên

9 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm.

Trang 16

Tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng bảohiểm đã thoả thuận xác định các quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng gọi

là nội dung của hợp đồng bảo hiểm

9.1 Quyền và nghĩa vụ của bên bảo hiểm.

a Quyền:

- Bên bảo hiểm có quyền thu phí bảo hiểm đối với người mua bảo hiểmtheo mức hai bên đã thoả thuận hoặc theo biểu phí mà pháp luật qui định đối vớihợp đồng bảo hiểm bắt buộc

- Bên bảo hiểm có quyền yêu cầu người mua bảo hiểm phải cung cấp chobên bảo hiểm đầy đủ các thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm trừ cácthông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết Các thông tin này có ý nghĩarất quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của bên bảo hiểm như rủi ro xảy

ra có phải là sự kiện bảo hiểm không, mức thiệt hại bao nhiêu,

- Trong trường hợp bên được bảo hiểm có lỗi không thực hiện các biệnpháp phòng ngừa thiệt hại ghi trong hợp đồng, bên bảo hiểm có quyền đơnphương đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc không trả tiền bảo hiểm khi thiệt hạixảy ra do các biện pháp phòng ngừa đã không được thực hiện (Điều 578 khoản 2

Bộ luật dân sự)

- Trong trường hợp người thứ ba có lỗi mà gây thiệt hại cho bên được bảohiểm và bên bảo hiểm đã trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm thì bên bảohiểm có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình phải trả (Điều

581 khoản 1 Bộ luật dân sự)

b Nghĩa vụ:

Bên bảo hiểm khi nhận được tin báo về rủi ro xảy ra đối với đối tượng bảohiểm có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp cần thiết để xác định nguyên nhân vàmức độ thiệt hại Nếu thiệt hại xảy ra thuộc trách nhiệm bảo hiểm, bên bảo hiểmphải bồi thường cho người được bảo hiểm Bên bảo hiểm có nghĩa vụ tiến hànhgiám định tổn thất và lập biên bản giám định Nghĩa vụ này nhằm đảm bảoquyền lợi cho người được bảo hiểm vì khi người được bảo hiểm khiếu nại đòibồi thường thì phải có cả biên bản giám định tổn thất đồng thời đó cũng là vìquyền lợi của bên bảo hiểm để xác định được mức bồi thường chính xác

Đối với một số hợp đồng bảo hiểm như bảo hiểm tai nạn con người vấn đềgiám định tổn thất có thể không đặt ra Chỉ cần bên được bảo hiểm cung cấp đầy

Ngày đăng: 26/02/2016, 12:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w