Các loại nhà tiêu hộ gia đình đang đợc khuyến khích sử dụng hiện nay tại Việt nam: Cùng với vấn đề ô nhiễm môi trờng đất và nớc bởi phân ngời hiện nay ở cácvùng nông thôn nớc ta là hết
Trang 1ĐặT VấN Đề
Sức khoẻ con ngời gắn liền với mọi biến động lớn nhỏ của môi trờng trongquá trình phát triển, con ngời đã tăng sức ép lên nó ngày một nặng nề, đó là sựphát sinh chất thải, sử dụng tài nguyên, sản xuất năng lợng, khai thác hầm mỏ,chế tạo và sản xuất hàng hoá, giao thông vận tải, trồng trọt chăn nuôi, … nhữngsức ép đó làm tổn hại đến môi trờng nh: ô nhiễm chất thải, phá rừng, cạn kiệt tàinguyên, tăng nồng độ các chất độc hại trong không khí, đất, nớc
Hiện nay, ô nhiễm môi trờng đang là một vấn đề nóng bỏng mang tầm cỡtoàn cầu Sự ô nhiễm môi trờng là mối đe doạ, là nguy cơ cao ảnh hởng trực tiếp
đến sức khoẻ con ngời Một trong những tác nhân gây ô nhiễm môi trờng màthực tế đang diễn ra hàng ngày là ô nhiễm môi trờng đất và nớc bởi phân ngời vàphân gia súc Trên toàn cầu trong vòng 4 năm qua đã có thêm trên 270 triệu ngờikhông có nhà tiêu Trong báo cáo của UNICEF tổng kết rằng, hiện nay vấn đềthiếu nớc sạch và những điều kiện VSMT có ảnh hởng quan trọng tới sức khoẻcủa ngời dân Việt Nam đặc biệt là những ngời ốm yếu
Số liệu từ cuộc điều tra y tế Quốc gia 2001- 2002 cho biết: Trong toànQuốc tỷ lệ hộ gia đình có hố xí riêng là 72,6%, sử dụng chung hố xí là 16,2%,không có hố xí là 11,2% Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu HVS chỉ đạt 21,0%
Có khoảng 12% số hộ sử dụng phân tơi để bón ruộng Phần lớn các gia
đình hiện nay vẫn đang dùng các nhà vệ sinh không đúng quy cách, không đảmbảo yêu cầu đặt ra Số lợng và chất lợng các công trình vệ sinh không đảm bảo đãtạo điều kiện để cho mầm bệnh phát tán gây ô nhiễm đất, nguồn nớc sinh hoạtcủa ngời dân
ở những vùng nông thôn, do phong tục tập quán còn lạc hậu cộng với sựphát triển kinh tế không đồng đều, thói quen cố hữu là tận dụng phân ngời để bónruộng và trồng màu, nên hậu quả là tình trạng vệ sinh cha có nhiều cải thiện Hơnnữa, qua quá trình sử dụng, nhiều công trình vệ sinh đã xuống cấp hoặc h hỏng,dân số phát triển quá nhanh, đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn nênviệc củng cố và xây dựng công trình vệ sinh ở một số địa phơng còn cha đợcquan tâm đúng mức
Chính vì vậy, Thủ Tớng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lợc Quốc gia vềCấp nớc và Vệ sinh nông thôn với mục tiêu đến năm 2010 là: 70% HGĐ và dân
c nông thôn có nhà tiêu HVS, thực hện tốt vệ sinh cá nhân và mục tiêu đến năm
Trang 22020 là mọi ngời dân đều đợc sử dụng nớc sạch và hỗ xí HVS để giữ sạch vệ sinhlàng xã
Huyện Bá thớc, tỉnh Thanh Hoá là một huyện Miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh Thanh Hoá Có địa hình phức tạp, bao gồm đồi núi, giao thông đi lại khókhăn Trình độ dân trí còn hạn chế Vấn đề ô nhiễm đất, nớc bởi phân ngời, phân gia súc càng trở nên bức thiết đối với các cấp Chính quyền cũng nh đối với mọi ngời dân
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu nhận thức, thái
độ, thực hành của ngời dân và một số yếu tố ảnh hởng tới việc quản lý, sử dụng phân ngời tại Bá Thớc, Thanh Hoá năm 2009, với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá nhận thức, thái độ, thực hành về nhà tiêu hợp vệ sinh và quản lý phân của ngời dân tại huyện Bá Thớc.
` 2 Mô tả và nhận xét một số yếu tố ảnh hởng tới việc xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tại huyện Bá Thớc.
Chơng 1 TổNG QUAN 1.1 Các loại nhà tiêu hộ gia đình đang đợc khuyến khích sử dụng hiện nay tại Việt nam:
Cùng với vấn đề ô nhiễm môi trờng đất và nớc bởi phân ngời hiện nay ở cácvùng nông thôn nớc ta là hết sức nghiêm trọng Muốn giải quyết tốt vấn đề này,bên cạnh việc tuyên truyền giáo dục cho nhân dân thay đổi những thói quen,hành vi có hại cho sức khoẻ và môi trờng thì việc cung cấp cho họ biết cách xâydựng, sử dụng và bảo quản các loại nhà tiêu HVS tại gia đình là hết sức cần thiết.Chỉ có quản lý sử dụng tốt nguồn phân mới hạn chế đợc tình trạng ô nhiễm môitrờng, giảm tỷ lệ mắc và tiến tới thanh toán một số bệnh đang tồn tại trong nhiềunăm nh: Tiêu chảy, tả, lỵ, thơng hàn, nhiễm giun, sán, các bệnh về da, … nhằmnâng cao dần tình trạng sức khoẻ của cộng đồng dân c
Trang 3Theo Quyết định 08/2005 QĐ - BYT ngày 11/03/2005 của Bộ Y tế, các loạinhà tiêu hiện đang đợc khuyến khích sử dụng ở Việt nam là: Nhà tiêu hai ngăn ủphân tại chỗ, nhà tiêu chìm khô có ống thông hơi, nhà tiêu thấm dội nớc, nhà tiêu
tự hoại Các loại nhà tiêu này là nhà tiêu HVS nếu đảm bảo các yêu cầu về kỹthuật xây dựng, sử dụng và bảo quản Tuỳ từng địa bàn và điều kiện kinh tế màlựa chọn loại hình nhà tiêu nào cho phù hợp
- Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ:
Là loại nhà tiêu phù hợp cho những vùng sản xuất nông nghiệp, có hai ngăn,một ngăn sử dụng, một ngăn ủ phân, thay đổi nhau khi đầy, có máng dẫn nớc tiểu
ra ngoài tránh ẩm ớt, có nắp đậy hố tiêu để tránh ruồi, muỗi, chuột, vật nuôi chuivào hố phân, có ống thông hơi để tránh mùi hôi khi đang dùng
Ưu điểm của nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ là: Dễ xây dựng, không làm
ô nhiễm nguồn nớc và môi trờng Khi phân đã ủ đúng thời gian và kỹ thuật có thểtrở thành nguồn phân bón khá tốt cho cây trồng, làm tăng màu mỡ đất, nh vậychất thải đợc tái sử dụng lại theo hớng sinh thái
Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ là loại nhà tiêu theo xu hớng sinh thái rất phùhợp cho những vùng sản xuất nông nghiệp và có tập quán dùng phân ngời để bónruộng Một u điểm của nhà tiêu hai ngăn là không phải dùng nớc để dội nh cácloại nhà tiêu dội nớc khác Nếu loại này đợc xây dựng và bảo quản đúng quy
đinh: Kín, Khô, Sạch, ủ phân, thì hạn chế đợc ô nhiễm môi trờng và nguồn nớc,
đồng thời tận dụng đợc nguồn phân trong sản xuất nông nghiệp
- Nhà tiêu chìm khô có ống thông hơi:
Là loại nhà tiêu áp dụng cho những vùng thiếu nớc dội, vùng đất rộng ngời
th-a nh Miền núi, Trung du, nhân dân không có thói quen dùng phân ngời để bónruộng và hoa màu, Loại này cũng có máng dẫn nớc tiểu, ống thông hơi, nắp đậy,khi gần đầy (cách nắp bệ 50 cm) thì đào hố mới và chuyển nắp bệ tiêu, nhà tiêusang hố mới, san lấp hố cũ đi để tránh súc vật đào bới Loại này dễ làm, đơngiản, rẻ tiền, dễ sử dụng
- Nhà tiêu thấm dội nớc:
Loại nhà tiêu này phù hợp ở những vùng có nguồn nớc dồi dào, chất đất dễthấm nớc và không có nguy cơ gây ô nhiễm cho nguồn nớc ngầm, sử dụng ởnhững nơi không có cống nớc thải
Ưu điểm của nhà tiêu thấm dội nớc là:
+ Vệ sinh sạch sẽ, không có mùi hôi thối, không có ruồi, nhặng
Trang 4+ Xử lý đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng ở những nơi không có cống nớc thải+ Dễ sử dụng và bảo quản
Tiêu chuẩn: Kín, có nút nớc và thấm tốt là rất quan trọng, nếu không có đủ
n-ớc dội, sẽ làm rối loạn quy trình sử dụng và gây mất vệ sinh
- Nhà tiêu tự hoại:
Là loại nhà tiêu tốt nhất ở nớc ta hiện nay Phân đợc xử lý theo nguyên tắcngâm ủ và lên men Các mầm bệnh bị tiêu diệt, mùn đợc giữ lại ở đáy bể, nớclắng qua bể và thấm vào đất hoặc vào hệ thống cống thải
Lên men ái khí/ acid Lên men kỵ khí/ kiềm
Chất hữu cơ Acid hữu cơ _ CH4, CO2
Vi khuẩn tạo acid Vi khuẩn tạo kiềm
Nhà tiêu tự hoại có u điểm là không có mùi hôi, thối, không thu hút ruồinhặng, không gây ô nhiễm môi trờng xung quanh, tạo sự dễ chịu cho ngời sửdụng
- Các loại nhà tiêu trên đợc Bộ Y tế quy định là nhà tiêu hợp vệ sinh
về mặt kỹ thuật và đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Cô lập đợc phân ngời, ngăn không cho phân cha đợc xử lý tiếp xúc vớingời, động vật và côn trùng
+ Có khả năng tiêu diệt đợc các tác nhân gây bệnh có trong phân ngời(vi rút, vi khuẩn, đơn bào, trứng giun, sán) và không làm ô nhiễm môi trờng xungquanh
1.2 Tình hình xây dựng, sử dụng và xử lý phân ngời tại hộ gia đình.
Vấn đề vệ sinh môi trờng nông thôn Việt nam là vấn đề lớn của xã hội, dovậy từ năm 1994 chính phủ đã đề ra mục tiêu đến năm 2000 là 60% dân số nôngthôn có các phơng tiện VSMT, tiến đến 100% số hộ gia đình ở nông thôn có nhàtiêu HVS, xóa bỏ phong tục, thói quen xấu là phóng uế bừa bãi, thanh toán việcdùng phân tơi Tuy nhiên, một thực tế đặt ra là việc thực hiện thanh toán sử dụngphân tơi cha thể đợc, cộng đồng nông thôn vẫn cha chịu thực hiện đợc 100% hộgia đình có nhà tiêu riêng, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu vẫn còn thấp
Sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh làm ô nhiễm nguồn nớc, đất và nguycơ gây bệnh cho con ngời Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và
Trang 5ngoài nớc đều cho thấy, nếu nớc ăn uống, sinh hoạt bị ô nhiễm phân ngời và nớcthải sẽ là yếu tố rất nguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng
Vấn đề quản lý phân ngời tại các địa phơng nói chung, vùng nông thôn nóiriêng còn nhiều bất cập, việc sử dụng phân ngời làm phân bón trong nông nghiệp
đã là một tập quán có từ lâu đời ở nông thôn nớc ta, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhàtiêu HVS nhìn chung còn thấp, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể hộ gia đình cha có nhàtiêu Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu trung bình là 70%, nơi thấp nhất là 38,46%,nơi cao nhất là 92,72%
Phong trào xây dựng những công trình vệ sinh đã đợc nhân dân thực hiện
từ những năm 1960 Đó là xây dựng nhà tiêu hai ngăn, nhà tắm, giếng nớc Song
do nhiều yếu tố khách quan gây ra nh: Chiến tranh khốc liệt, thiên tai, lũ lụt tànphá, nền kinh tế thấp kém, qua thời gian các công trình vệ sinh xuống cấp, cùngvới yếu tố chủ quan là nhận thức của cộng đồng về vấn đề vệ sinh môi tr ờngkhông đợc đánh giá đúng mức, các phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại, sựtùy tiện không theo đúng quy định sử dụng và bảo quản nhà tiêu, nên càng gây ônhiễm môi trờng nghiêm trọng
Tình trạng ô nhiễm các chất thải hữu cơ, thiếu nguồn nớc sạch vẫn còn phổbiến Các công trình vệ sinh ở các HGĐ nông thôn vẫn còn thiếu, trung bình ởvùng nông thôn chỉ có 20% hộ gia đình có nhà tiêu HVS
Kết quả từ cuộc Tổng điều tra Dân số 01/04/1999 cho thấy: Trong toàn
quốc tỷ lệ HGĐ sử dụng nguồn nớc hợp vệ sinh là 78,1%; nhà tiêu HVS là17,6% ở hầu hết các tỉnh Miền núi và Trung du Bắc bộ có tỷ lệ hộ gia đình sửdụng nhà tiêu HVS là thấp dới 10%, chỉ duy nhất tỉnh Quảng Ninh có tỷ lệ caohơn mức toàn Quốc là 19,1% so với tỷ lệ chung 17,6%
Theo chiến lợc Quốc gia về Cấp nớc sạch và VSMT nông thôn, hiện nay ởViệt Nam ớc tính khoảng 79% dân số sống ở các vùng nông thôn Khoảng 50%
số hộ ở nông thôn không có nhà tiêu và đa số các hộ này đi vệ sinh ngoài trời, bộphận còn lại sử dụng nhà tiêu của hàng xóm.Trong 50% số hộ có nhà tiêu thìphần lớn là những nhà tiêu một ngăn hoặc nhà tiêu không HVS, phân thờng đợclấy ra để bón ruộng mà không qua xử lý Loại nhà tiêu thông dụng là nhà tiêu haingăn ở cộng đồng dân c nông thôn miền Bắc và cầu tiêu ao ở cộng đồng dân cmiền Nam, mỗi loại khoảng 10% số hộ sử dụng Bộ phận còn lại sử dụng nhàtiêu thấm dội nớc hoặc bể tự hoại Trong tổng số các loại nhà tiêu thì chỉ cókhoảng 20% là hợp vệ sinh
Trang 6Kết quả điều tra 3591 hộ gia đình và đánh giá 700 mẫu xét nghiệm tại:Yên Bái, Hng Yên, Nghệ An, Bình Định, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu và BạcLiêu của tác giả Nguyễn Huy Nga, Trịnh Hữu Vách cho kết quả: Bốn loại NTTH,NT2N, nhà tiêu TDN, nhà tiêu một ngăn tại 7 tỉnh chiếm tỷ lệ khoảng 66,5%,trong đó chỉ có 46% là đạt tiêu chuẩn vệ sinh; tất cả các mẫu đất ở các vùng điềutra đều bị nhiễm phân; trên 60% giếng khoan và giếng khơi ở vùng nông thôn bịnhiễm phân.
Kể cả những đô thị lớn nh: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, phân là
nguồn ô nhiễm lớn của các thành phố hiện nay Qua xét nghiệm cho thấy nhiềunguồn nớc bị ô nhiễm nặng Các con sông lớn của nớc ta hiện nay đều đã và đangngày càng bị ô nhiễm nặng nh sông Hồng, sông Đồng Nai, sông Cầu, sông CửuLong, … nớc giếng ở vùng nông thôn Bắc bộ và nớc bề mặt ở vùng đồng bằngsông Cửu Long đang ngày càng bị ô nhiễm nặng nề do chất thải là phân ngời,nguồn ô nhiễm này có tác hại mạnh mẽ đến sức khoẻ ngời dân do chứa nhiềumầm bệnh nguy hiểm Tuy nhiên, việc quản lý phân ngời hiện nay cha đợc quantâm đúng mức và xử lý cha triệt để
Nghiên cứu của tác giả Trần Chí Liêm năm1999, điều tra 3519 HGĐ tại xã
Đông Hoà, huyện Anh Minh, tỉnh Kiên Giang cho kết quả: Các loại hình cầu tiêu
đang sử dụng HVS chiếm tỷ lệ rất thấp (2,2%), tỷ lệ hộ không có cầu tiêu còncao (41,3%) Số hộ sử dụng nguồn nớc không ổn định còn cao (38,2%), bể chứanớc ma (29,4%), giếng khoan thấp (20,2%), sử dụng nớc ao hồ (12,1%) Việcquản lý vệ sinh phân không tốt dẫn đến làm ô nhiễm nguồn nớc có thể là nguyênnhân gây bệnh truyền nhiễm đờng ruột, nhất là bệnh tiêu chảy, tả, thơng hàn
Báo cáo Ban chỉ đạo vệ sinh môi trờng huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái năm
2001 cho thấy: Kết quả điều tra 13.587 HGĐ của 15 xã huyện Văn Chấn: Số hộkhông có nhà tiêu là 33,4%, tỷ lệ nhà tiêu không HVS là 51,6%, số hộ có nguồnnớc HVS là 58,36%
Điều tra thực trạng các loại nhà tiêu ở các vùng sinh thái tại Nghệ An năm
2001, tác giả Nguyễn Đình Liễn cho kết quả: Tỷ lệ không có nhà tiêu 23%, nhàtiêu HVS 34%, trong số nhà tiêu HVS thì NT2N chiếm 31%, nhà tiêu TDNchiếm 17%, nhà tiêu chìm khô chiếm 9% Nhà tiêu không hợp vệ sinh 43%, tỷ lệ
hộ dùng phân tơi là 7,6%
Điều tra 420 HGĐ ở 30 cụm ngẫu nhiên tại tỉnh Thái Bình năm 1996, tácgiả Lu Hồng Điều cho kết quả: Tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu 95,5%, trong đó nhà tiêu
Trang 7cầu 63,1%, nhà tiêu một ngăn 12,4%, NT2N 8,3%, NTTH 9,3%, nhà tiêu TDN2,1% Tỷ lệ HGĐ sử dụng phân để bón cho cây trồng 79,8%, trong đó tỷ lệkhông ủ phân chiếm 61,2%
Nghiên cứu của Hoàng Văn Miêng (2004) tại xã Việt Hùng, huyện Vũ Th,tỉnh Thái Bình cho kết quả: Tỷ lệ NTTH là 9,2%, nhà tiêu hai ngăn là 1,9%, nhàtiêu HVS là 9,7%, không HVS là 86,7%; số hộ không có nhà tiêu là 2,2%
Các số liệu nghiên cứu của Phạm Thị Minh Tâm (05/2001) tại xã Yên Từ,Yên Mô, Ninh Bình cho kết quả: Tỷ lệ nhà tiêu HVS là 12,7%; không có nhà tiêu
là 9,3%; có 76,3% số hộ sử dụng phân ngời để bón ruộng, trong đó không ủ phân
là 49,3%
Đánh giá vệ sinh nhà tiêu tại huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá củaNguyễn Đình Nhu (1999) cho thấy: Số hộ không có nhà tiêu là 17,8%; số hộ cónhà tiêu 82,2%; trong đó nhà tiêu một ngăn là 50,4%; nhà tiêu TDN là 3,7%; cácloại khác là 32,9%; tỷ lệ nhà tiêu HVS là 7,2%
Đánh giá tình hình vệ sinh môi trờng tại Thừa Thiên - Huế năm 2000, củaNguyễn Thái Hoà và cộng sự, nhận xét rằng do thờng xuyên bị lũ lụt, ngập úngnên tỷ lệ nhà tiêu HVS của Thành phố mới đạt 52,97%, còn ở nông thôn là44,61% Cùng nội dung trên tháng 05/2000, Hoàng Hà T và cộng sự điều tra1.230 hộ dân trong 30 phờng, xã thì thấy số hố xí HVS chỉ chiếm 30%; khôngHVS chiếm 47%; tỷ lệ HGĐ không có hố xí là 22,9%; trong đó miền núi và miềnbiển chiếm gần 16% Phân đợc sử dụng làm phân bón cho sản xuất nông nghiệp,chăn nuôi chiếm hơn 20%, cho thấy thói quen dùng phân tơi vẫn còn đang tồn tại
ở một số vùng nông thôn
Nghiên cứu tại 07 vùng sinh thái ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Huy Nga vàcộng sự (1997), cho thấy: Số HGĐ dùng nhà tiêu cầu 32,3%; nhà tiêu một ngăn11,6%; nhà tiêu đào 25,1%; cầu tiêu ao cá là 11%; NT2N là 9%; nhà tiêu TDN là5,2%; NTTH là 4,9%, tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu HVS là 17,19%
Điều tra năm 1998 tại 10 tỉnh đại diện cho các khu vực của Việt Nam,cũng của tác giả Nguyễn Huy Nga, Trịnh Hữu Vách cho kết quả: Trong tổng số25.873 HGĐ đợc điều tra, tỷ lệ nhà tiêu HVS chung của 10 tỉnh là 8%; khôngHVS là 92%; có 68% HGĐ sử dụng phân ngời trong trồng trọt, nuôi cá, trong sốnày chỉ có 8,4% HGĐ có ủ phân trớc khi sử dụng
Điều tra của Nguyễn Thanh Thuỷ, Nguyễn Anh Dũng tại 294 HGĐ huyệnThanh Miện, tỉnh Hải Dơng 08/2004 cho thấy: 98% HGĐ có nhà tiêu, tỷ lệ gia
Trang 8đình có nhà tiêu HVS đạt 11,9% trên tổng số hộ điều tra, có 80,3% HGĐ sử dụngphân bắc vào mục đích sản xuất, trong đó 80,9% hộ gia đình ủ phân không đủthời gian hoặc không ủ phân trớc khi sử dụng
Khi điều tra khảo sát thực trạng về quản lý, xử lý phân ngời tại 07 vùngsinh thái của Việt Nam (2003), tác giả Nguyễn Huy Nga cho thấy: Thực trạngquản lý và xử lý phân ngời của cộng đồng nông thôn Việt Nam còn trong tìnhtrạng yếu kém, thể hiện 40% số HGĐ trong tổng số hộ điều tra cha có nhà tiêuriêng, trong đó các vùng duyên hải Miền Trung, Tây Nguyên, đồng bằng sôngCửu Long có số hộ không có nhà tiêu riêng tới trên 60%; chỉ có 8% số nhà tiêuHVS trong tổng số nhà tiêu hiện có và 4% nhà tiêu HVS trên tổng số hộ điều tra
Về cấu trúc, kỹ thuật trong tổng số nhà tiêu đợc điều tra thì: Nhà tiêu cầu chiếm32,3%; nhà tiêu đào 25,1%; nhà tiêu một ngăn 11,6%; cầu tiêu ao cá 11,0%;NT2N 9,0%; nhà tiêu TDN 5,2%; NTTH 4,9%; nhà tiêu thùng và loại khác 0,4%
Có tới 68% hộ gia đình tái sử dụng phân với mục đích tăng gia sản xuất
Hiện nay, ở tất cả các nguồn nớc bề mặt đều bị ô nhiễm vi sinh vật gâybệnh từ phân ngời ở các mức độ khác nhau, trừ một số nơi vùng sâu, vùng xa nơikhông có hoặc có ít ngời sinh sống Qua xét nghiệm cho thấy nớc sông Hồng, n-
ớc giếng ngầm nông thôn Bắc bộ và nớc bề mặt ở đồng bằng sông Cửu Long bị ônhiễm nặng do phân ngời
Cầu tiêu ao cá ở đồng bằng sông Cửu Long gây ô nhiễm trầm trọng cho tấtcả các nguồn nớc bề mặt với mật độ từ hàng chục ngàn đến hàng triệu FeacalColiform trong một lít nớc, đó là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh dịch nh:Tiêu chảy, tả, thơng hàn, … thờng xuyên lu hành ở đồng bằng sông Cửu Long
Nghiên cứu của Trịnh Hữu Vách, Vơng Thị Hoà, Nguyễn Hữu Nhân tạihuyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên cho kết quả: Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu là64,2%, trong đó chỉ có 22,4% nhà tiêu HVS và 48,6% HGĐ có nhà tiêu HVS biếtcách sử dụng bảo quản nhà tiêu Hầu hết các hộ gia đình (86,1%) có thói quen sửdụng phân ngời để bón cho cây trồng hoặc nuôi cá, có tới 31,8% số hộ sử dụngphân ủ dới 03 tháng
Kết quả điều tra của Nguyễn Huy Nga, nguyễn Đức Hồng, Lê Thị Tuyếttrên 22.218 HGĐ tại 12 huyện thuộc 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam (2001) cho thấy:Chỉ có 20,1% HGĐ có nhà tiêu HVS; có 69,1% số nhà tiêu không HVS và có10,8% HGĐ không có nhà tiêu Tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS cao nhất là vùngTrung du 25,1%; tiếp đến là vùng Đồng bằng 24,9%; vùng Miền núi 18,4%;
Trang 9vùng Ven biển 15,1% Ngợc lại, số hộ không có nhà tiêu cao nhất là ở vùng Venbiển 19,9%; vùng Miền núi 11,9%; vùng Đồng bằng 4,6%; vùng thấp nhất làTrung du 2,1%.
Kết quả của Lê Văn Chính khi nghiên cứu thực trạng quản lý phân ngời tạimột số tỉnh phía Bắc (2005) cho kết quả: Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu HVS là7,58% Tuy số HGĐ có nhà tiêu là 91,11% nhng phổ biến là không HVS Tỷ lệnhà tiêu cầu, thùng chiếm 60,86%; nhà tiêu một ngăn 22,89%; NT2N 8,45%;NTTH 3,77%; nhà tiêu chìm 3,51%; nhà tiêu TDN 0,52% Có 87,09% HGĐ sửdụng phân ngời, trong đó chỉ có 17,53% HGĐ ủ phân > 6 tháng
Nghiên cứu của Nguyễn Duy Đang tại tỉnh Thái Bình (2002 - 2005) chothấy: Sau can thiệp tỷ lệ nhà tiêu HVS tăng từ 23,9% lên 48,7%; có 47,0% HGĐ
sử dụng phân ngời để bón cho cây trồng, trong đó 48,8% ủ phân < 3 tháng và14,0% không ủ phân
Một số tỉnh miền núi có tỷ lệ sử dụng nhà vệ sinh thấp nhất trong cả nớc
Tỷ lệ HGĐ có nhà vệ sinh thấp nhất ở các tỉnh nh: Lai Châu (54%), Cao Bằng(54%), Hà Giang (47%), điều đó nó cũng phù hợp với tỷ lệ hộ nghèo ở nhữngvùng này còn cao, mật độ dân số thấp nên ngời dân còn thừa chỗ để đi vệ sinhngoài trời Còn vùng Tây Nguyên cũng tơng tự, cụ thể số HGĐ không có nhà tiêuở: Kon Tum là 40%, Gia Lai là 62%
Tác giả Lê Thị Song Hơng, Đồng Trung Kiên cho thấy: Tại 2 xã Lê Lợi vàQuốc Tuấn, huyện An Dơng, thành phố Hải Phòng, 100% HGĐ đều có nhà tiêu,nhng phần lớn là loại không hợp vệ sinh (70,8%) Số nhà tiêu HVS cũng chỉ có29,2%, trong đó nhà tiêu tự hoại đạt tiêu chuẩn vệ sinh chiếm 16,2%, nhà tiêu 2ngăn 10,8%, nhà tiêu TDN 2,2%
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Thuý tại huyện Phú Lộc, tỉnh ThừaThiên - Huế và huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cho thấy: Tỷ lệ HGĐ có nhàtiêu là 70,5%; loại hợp vệ sinh là 36,8%; nhà tiêu HVS đạt tiêu chuẩn xây dựng
là 30,0%; bảo quản là 29,4%; đạt tiêu chuẩn vệ sinh 29,2%; có 42,4% sử dụngphân bắc, trong đó 51,8% ủ phân < 6 tháng, 5,8% không ủ phân Tỷ lệ hiểu biết
đúng về nhà tiêu HVS là 74,9%
Khi nghiên cứu về mức độ nhiễm Feacal coliforrm trong nớc sinh hoạt ởPhilipin, Moe C.L (1991) cho thấy: Có tới 50,04% số mẫu nớc giếng khơi có số l-ợng Feacal Coliform quá tiêu chuẩn vệ sinh: 101 Vi khuẩn/100ml nớc
Trang 10Ramos - Cormennaza.A - Costillo.A et all, 1994 nghiên cứu thấy nhữngvùng hay bị lũ lụt, nguồn nớc có nguy cơ ô nhiễm bởi các vi khuẩn có nguồn gốc
Mức độ và tình trạng ô nhiễm phân ngời ở Việt Nam chủ yếu do hai yếu tố:
- Tập quán xử lý phân không hợp vệ sinh: Thói quen sử dụng các nhà tiêukhông đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh làm cho phân ngời bị rơi bãi ra ngoài vàsau đó gia súc, gia cầm, vật nuôi, ruồi … mang đi nơi khác, qua đó có thể làm ônhiễm môi trờng sống của các cộng đồng dân c
- Tập quán sử dụng phân ngời để bón ruộng, bón hoa màu, nuôi cá: Ngờidân sử dụng phân tơi bón thẳng vào cây trồng, xả thẳng xuống ao, hồ nuôi cá, cónơi tuy có ủ phân trớc khi sử dụng nhng không tuân thủ đúng qui cách hoặckhông đảm bảo thời gian ủ nên các mầm bệnh cha bị tiêu diệt hoàn toàn
Nhà tiêu HVS ở Việt Nam là loại hà tiêu giải quyết đợc hai mục đích cơ bản:
- Diệt trừ đợc mầm bệnh không để nó phát tán ra ngoài
- Biến chất thải bỏ thành phân bón hữu cơ để tăng cờng màu mỡ cho đất, cung cấp chất dinh dỡng cho cây trồng và an toàn khi dùng, đáp ứng đợc các yêu cầu là không làm nhiễm bẩn đất và nguồn nớc tại nơi xây dựng, không có mùi hôi, thối, không thu hút côn trùng và gia súc, tạo điều kiện để phân, chất thải bị phân huỷ và diệt hết mầm bệnh, thuận tiện khi sử dụng, nhất là đối với trẻ em, đ-
ợc nhân dân chấp nhận và phù hợp với điều kiện của địa phơng
1.3 Tình hình mắc các bệnh tiêu chảy
Trong cơ cấu các loại bệnh tật thì tỷ lệ mắc cao nhất vẫn là các bệnhnhiễm trùng đờng tiêu hoá (Tả, lỵ, thơng hàn, bại liệt, ký sinh trùng), phần lớn đ-
ợc lây lan qua phân ngời
Mầm bệnh từ phân ngời làm ô nhiễm đất, nớc và thực phẩm Quá trìnhquản lý và sử dụng phân cha tốt làm cho số ngời mắc tiêu chảy và bệnh giun, sántăng cao
Trang 11Nớc là môi trờng trung gian truyền bệnh, đặc biệt là các bệnh lây truyềnqua đờng tiêu hoá Năm 1990, WHO thông báo 80% bệnh tật của con ngời; và50% số giờng bệnh trên Thế giới là các bệnh có liên quan đến nớc và 25.000 ngờichết hàng ngày là do các bệnh có liên quan đến nớc Các vụ dịch tả điển hình donớc gây ra tại Ham Buốc (1892) có 18.000 ngời mắc và 8.605 ngời chết Theothống kê của Hoa Kỳ từ 1981- 1990 xảy ra 291 vụ dịch do đờng nớc uống, xử lýnớc ngầm không đầy đủ chiếm 43%, nớc bề mặt bị nhiễm bẩn chiếm 24%( Craun G.F, 1992) Vụ dịch tả 1991 bắt đầu ở Pêru, từ vùng ven biển nhanhchóng lan ra các nớc khác ở vùng Châu Mỹ La Tinh làm 250.000 ngời mắc,2.500 ngời chết Theo Shuval H.I (1993) tại Sanchiago cho thấy 67,5% trờng hợpmắc có liên quan tới việc sử dụng rau sống tới bằng nớc thải không đợc xử lý
Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) đã chỉ rõ: hàng năm tại các nớc
đang phát triển có khoảng 14 triệu trẻ em dới 5 tuổi bị chết, hơn 3 triệu trẻ em bịtàn tật nặng là hậu quả của nớc nhiễm bẩn, vệ sinh kém và ô nhiễm môi trờng.Theo đánh giá của WHO, ở các nớc đang phát triển (kể cả Trung Quốc) cókhoảng 340 triệu trẻ em < 5 tuổi có số lợt tiêu chảy là 1 tỷ lợt/ năm, trung bình 3lợt/ trẻ/ năm Riêng ở Việt Nam, tỷ lệ tiêu chảy ở trẻ em < 5 tuổi chung cho cả n-
ớc là 2,2 lợt/ trẻ/ năm
Theo số liệu của Vụ Y tế Dự phòng: Năm 1997 đã ghi nhận 19.379 trờnghợp mô tả thơng hàn và phó thơng hàn; 50.747 trờng hợp lỵ trực trùng; 41.520 tr-ờng hợp lỵ Amíp; 120.586 trờng hợp có hội chứng lỵ; 730.023 trờng hợp tiêuchảy Năm 1999, số ngời bị tiêu chảy đã vợt quá 1 triệu trờng hợp và đã có hàngtrăm trờng hợp tả xuất hiện ở đồng bằng sông Cửu Long Năm 2000- 2001, các
vụ tiêu chảy cấp đã xảy ra ở các tỉnh Quảng Trị, Sơn La, Nghệ An, Thái Bình,Nam Định, dịch thơng hàn bùng phát ở Lai châu
Năm 2007- 2008 dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm (dịch tả) đã bùng phát ở HàNội, Hà Tây, Thái Bình, Thanh Hoá, Nam Định, …đã làm cho hàng nghìn ngờimắc tiêu chảy, trong đó có trên 100 ngời dơng tính với phẩy khuẩn tả Không cótrờng hợp tử vong
Theo Hoàng Đình Hồi và cs (1993) tại kiến xơng, Thái Bình tỷ lệ này là3,4 lợt/ trẻ/ năm
Nghiên cứu của Nguyễn Thu Yến, Trần Văn Tiến, Nguyễn Phan Lệ Anh
và cs về bệnh tả ở Việt Nam từ 1986 - 2000 cho thấy: Có 29.671 trờng hợp mắctả, 278 ngời đã tử vong, bệnh có xu hớng giảm rõ rệt từ 9,37/100.000 dân năm
Trang 121986 xống thấp nhất năm 1997 (0,01) Bệnh thờng xảy ra ở những nơi có điềukiện vệ sinh thấp kém, tập quán ăn uống lạc hậu, thiếu nguồn nớc sạch Bệnhdiễn ra quanh năm, nhng thờng xuất hiện cao nhất vào tháng 1, 2 thấp nhất tháng
7, 8 Tính chất lây lan liên quan đến địa lý, giao thông, chủ yếu xảy ra ở MiềnTrung và Miền Nam Tác nhân gây bệnh là Vibrio Cholera Eltor týp huyết thanhOgawa Bệnh lây truyền qua thức ăn, hải sản, nớc uống đã bị nhiễm phẩy khuẩntả
Theo điều tra của Phạm Ngọc Đính và cs, trong tháng 5/2004, tại phờngQuỳnh Mai, Lĩnh Nam, Tp Hà Nội đã xảy ra một vụ tiêu chảy cấp, tổng số bệnhnhân mắc là 25, không có tử vong Đã phân lập đợc V Cholera 01 týp huyếtthanh Inaba ở 18/25 bệnh nhân Các chỉ số dịch tễ, căn nguyên vi sinh, đặc điểmsinh học phân tử, cùng với đặc điểm lâm sàng của các trờng hợp bệnh điển hìnhcủa vụ dịch ở Hà Nội tháng 5/2004 về cơ bản giống với đặc điểm tơng ứng củacác vụ dịch tả trớc đó ở Thái Bình (2000), Bắc Ninh (2002), Hải Phòng và QuảngNam (2003)
Nguyễn Đình Sơn, Nguyễn Thái Hoà, Dơng Quang Minh khi nghiên cứuhồi cứu các vụ dịch tả tại Thừa Thiên Huế cho thấy: Bệnh tả xảy ra trên diện rộngnăm 1992 chiếm 83% số xã, năm 2003 chiếm 50% số xã Bệnh nhân chủ yếu tậptrung tại Tp Huế, các huyện Phú Vang, Phú Lộc Dịch xảy ra quanh năm và th-ờng vùng nổ vào tháng 5, 6, 7, 8, 9, có khi muộn vào tháng 10, 11, 12 Dịch xảy
ra ít nhất là 5 tuần, kéo dài nhất là 24 tuần
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Yến, Huỳnh Thu Thuỷ, Lê Hoàng Kim
và cs về yếu tố nguy cơ kéo dài tiêu chảy của trẻ em < 5 tuổi tại huyện Cái Bè,tỉnh Tiền Giang: Đề tài đợc thực hiện theo phơng pháp nghiên cứu thuần tập tơnglai ở cộng đồng nhằm xác định tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ chết do tiêu chảy và tiêu chảykéo dài (tiêu chảy > 14 tuần), xác định nguy cơ làm kéo dài thời gian tiêu chảycủa trẻ em < 5 tuổi thuộc đồng bằng sông Cửu Long, 1.279 trẻ em đợc chọn ngẫunhiên theo phơng pháp điều tra 30 cụm Trẻ đợc theo dõi 2 lần/1 tuần, theo dõiliên tục trong vòng 2 năm
Kết quả:
Tỷ lệ mới mắc tiêu chảy chung là 40,5 lợt tiêu chảy/100 trẻ/năm Trẻ <6tháng tuổi có tỷ lệ mới mắc tiêu chảy cao nhất (99 lợt tiêu chảy/100 trẻ/năm),tiếp đến là trẻ 6 - 12 tháng tuổi (84 lợt tiêu chảy/100 trẻ/năm) Sau 24 tháng tuổi
tỷ lệ mới mắc tiêu chảy giảm đi rõ rệt Thời gian bị tiêu chảy, phần lớn là tiêu
Trang 13chảy ngắn từ 1 - 4 ngày chiếm 66%, trên 14 ngày rất ít gặp chỉ chiếm 0,5% Cáctrờng hợp mới mắc phát hiện đợc nhiều hơn trong các tháng mùa ma (7, 8, 9, 10).
Nghiên cứu của Lê Thị Luân, Đặng Đức Anh về tình hình bệnh tiêu chảy
do Vi rút Rota ở trẻ em < 5 tuổi vào 5 Bệnh viện cho thấy, trong tổng số 2.455mẫu bệnh phẩm phân thu thập từ trẻ em < 5 tuổi nhập viện do tiêu chảy cấp năm
2002 đợc xác định nguyên nhân do Vi rút Rota dơng tính bằng phản ứng miễndịch men (EIA- Enzyme Immuno Assay) Vi rút Rota xuất hiện quanh năm, tậptrung nhiều vào các tháng 1, 2, 3, 4 và 7 Tuổi mắc bệnh thờng gặp từ 3 - 5 thángtuổi Tỷ lệ nhiễm Vi rút Rota của trẻ em bị tiêu chảy cấp vào viện năm 2002 là42,62%
Nghiên cứu của Lê Huy Chính, thuộc Trờng Đại học Y Hà Nội về bệnhtiêu chảy do vi rút Rota nhóm A ở trẻ em < 5 tuổi sống tại Hà Nội Nghiên cứu đ-
ợc tiến hành từ tháng 3/2001 đến tháng 4/2002 trên 884 trẻ < 5 tuổi, gồm 627 trẻ
bị tiêu chảy và 257 trẻ không bị tiêu chảy sống tại Hà Nội Kết quả cho thấy:45% trẻ bị tiêu chảy và 3,5% trẻ không bị tiêu chảy nhiễm vi rút trong phân.Trong nhóm trẻ bị tiêu chảy, các nhóm trẻ từ 13 - 24 tháng tuổi nhiễm vi rút với
tỷ lệ cao nhất và tỷ lệ nhiễm ở trẻ nam cao hơn ở trẻ nữ, mùa thu đông cao hơnmùa xuân hè Nhiễm vi rút Rota gây tiêu chảy đặc trng bằng tiêu chảy phân toànnớc, nôn, sốt và mất nớc
Đào Ngọc Phong, Khamida Somanouk, Lê Kim Oanh, Đào Thị Minh An
và cs (2004), nghiên cứu trên 2.255 gia đình bà mẹ có con < 5 tuổi và trẻ < 5 tuổitại 3 tỉnh đồng bằng sông Hồng, kết quả cho thấy: 18% số hộ không có hố xí,82% số hộ có hố xí nhng hầu hết là cha hợp vệ sinh, sử dụng nớc không đảm bảo
vệ sinh là yếu tố nguy cơ ảnh hởng tới sức khoẻ, 63,5% không có nớc sạch Tỷ lệtrẻ mắc tiêu chảy trong 2 tuần là 01%, ớc lợng cả năm là 26,07%
Nghiên cứu của Trần Chí Liêm (1999), tại xã Đông Hoà, huyện Anh Minh,tỉnh Kiên Giang cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh thơng hàn từ năm 1993 đến năm 1997
đều ở mức cao: 563,8/100.000 dân năm 1993; 694,8/100.000 dân năm 1997 Tỷ
lệ mắc tiêu chảy cũng còn cao: 1.085,2/100.000 dân năm 1993 Trong số cácbệnh đờng ruột đáng chú ý là bệnh thơng hàn và tiêu chảy, hai bệnh này cha thấy
có xu hớng giảm và có thể nguy cơ gây thành dịch
Trong bảng đánh giá toàn cầu về vệ sinh và cấp nớc năm 2000 do WHO vàUNICEF phân phối: khoảng 1/4 trong số 4,8 tỷ ngời ở các nớc đang phát triểnkhông tiếp cận đợc nguồn nớc sạch, khoảng 1/2 trong số đó không tiếp cận đợc
Trang 14các dịch vụ vệ sinh cải tiến Mỗi năm trên thế giới có khoảng 4 tỷ ca ỉa chảy,trong đó có khoảng 2,2 triệu trờng hợp tử vong, hầu hết là trẻ < 5 tuổi Dùng nớc
an toàn, cải thiện điều kiện vệ sinh có thể làm giảm từ 1/4 - 1/3 trờng hợp mắcbệnh ỉa chảy
1.4 ảnh hởng từ thực trạng sử dụng và bảo quản nhà tiêu tại hộ gia
đình tới sức khoẻ của ngời dân
Sử dụng nhà tiêu không HVS làm ô nhiễm đất, nớc và gây bệnh cho conngời Khi nguồn nớc bị ô nhiễm sẽ trở thành yếu tố cực kỳ nguy hiểm ảnh hởngtrực tiếp đến sức khoẻ con ngời vì nớc là môi trờng trung gian truyền bệnh, đặcbiệt là bệnh tiêu chảy và giun, sán Các mầm bệnh từ phân thông qua môi trờngtrung gian nh nớc, đất, thực phẩm bị ô nhiễm, xâm nhập vào cơ thể thông qua ănuống, sinh hoạt và hậu quả là làm cho con ngời bị mắc bệnh
Theo nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Liên, phân ngời chứa rất nhiều vikhuẩn, trong 1 gam phân có thể chứa tới 11 tỷ phẩy khuẩn tả Tính trung bình (cả ngời lớn và trẻ em) một ngày một ngời thải ra 150g phân Ước tính mỗi ngày
ở nớc ta có khoảng hơn 12.000 tấn phân ngời đợc thải ra, đây chính là áp lực lớn,nguồn gây ô nhiễm lớn cho môi trờng sống, đặc biệt là khu vực nông thôn
Trong cơ cấu bệnh tật thì tỷ lệ mắc cao nhất vẫn là các bênh nhiễm trùng
đờng tiêu hoá (tả, lỵ, thơng hàn, ký sinh trùng), phần lớn lây lan từ nguồn phânngời khi sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh Mầm bệnh từ đó gây ô nhiễm đất,nớc và thực phẩm Tình trạng quản lý và sử dụng phân cha tốt gây ra hậu quả là
số ngời mắc tiêu chảy và bệnh giun, sán tăng cao
Các đờng lây truyền trung gian nh đất, nớc, ruồi, nhặng đa mầm bệnh từphân ngời thông qua tay, chân, miệng vào con ngời, hậu quả là con ngời sẽ mắcbệnh
Qũi Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) đã chỉ rõ: hàng năm tại các nớc
đang phát triển có khoảng 14 triệu trẻ em < 5 tuổi bị chết, hơn 3 triệu trẻ em bịtàn tật nặng là hậu quả của nhiễm bẩn nớc, vệ sinh kém và ô nhiễm môi trờng
Nớc là môi trờng trung gian truyền bệnh, đặc biệt là nhóm các bệnh phânmiệng và gây ra các vụ dịch lớn Năm 1990, WHO thông báo 80% bệnh tật củacon ngời là các bệnh có liên quan đến nớc, 25.000 ngời chết hàng ngày là cácbệnh có liên quan đến nớc
Đánh giá tình trạng vệ sinh và chất lợng nguồn nớc ăn uống sinh hoạt tại 3xã huyện Kiến Xơng, tỉnh Thái Bình của Trần Thị Khuyên và cs (2003) cho thấy:
Trang 15Tất cả các nguồn nớc nghiên cứu nh: (nớc ma, nớc giếng khơi, nớc giếngkhoan, nớc ao) đều không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu Feacal Coliform
(0 VK / 100ml) Thấp nhất là nớc giếng khoan 7 1 VK / 100ml, nớc ma
19 4 VK / 100ml, nớc giếng khơi 143 22 VK / 100ml, nớc bề mặt là
221 57 VK/ 100ml, 100% mẫu nớc ao đều có Feacal Coliform, điều đó chứng
tỏ nguồn nớc đã bị nhiễm phân
Khoảng 80% nguyên nhân gây ra bệnh tật là do phân ngời và nớc thải làm
ô nhiễm môi trờng Mỗi năm trên thế giới có khoảng 4 triệu trẻ em chết vì bệnhtiêu chảy, 2 tỷ ngời đang có nguy cơ nhiễm, hơn 1 tỷ ngời nhiễm giun, 60 ngànngời chết do giun đũa, 10 ngàn ngời chết do giun tóc, 65 ngàn ngời chết do giunmóc
Thống kê của Nguyễn Ngọc ấn, trong 10 năm (1994 - 2003) ở các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long, dịch lớn đã xảy ra ở một số tỉnh nh: Kiên Giang,
Đồng Tháp (1993), Sóc Trăng (1994) Đến năm 1999, số mắc bệnh thơng hànvẫn còn cao: Tại Sóc Trăng 205,75/ 100.000 dân; An Giang 96,37/ 100.000 dân;tại Đồng Tháp mắc cao nhất vào năm 1995 có 7.833 trờng hợp với tỷ lệ mắc543,75/ 100.000 dân; thấp nhất là năm 2003 với tỷ lệ 42,91/ 100.000 dân, tuynhiên Đồng Tháp vẫn còn là một trong những tỉnh có số mắc thơng hàn cao trongkhu vực và cao hơn hẳn so với Miền Bắc 14,60/ 100.000 dân
Nghiên cứu của Vũ Bình Phơng, Lơng Xuân Hiến và Lê Thị Tuyết tại 2 xãthuộc huyện Đông Hng, tỉnh Thái Bình (2001) cho thấy: Tỷ lệ nhiễm giun trongnhóm học sinh của gia đình sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh chiếm 96,0%,cao hơn so với nhóm học sinh trong gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là87,5%
Nguyễn Võ Hinh, Bùi Thị Lộc và cs (2002) xét nghiệm 3.286 mẫu phân tại
6 xã đại diện cho 3 vùng ở Thừa Thiên - Huế ghi nhận: Tỷ lệ nhiễm giun đờngruột chung là 53,16%, nhiễm giun đũa 38,47%, nhiễm giun tóc 14,2%, nhiễmgiun móc 11,59% Vùng đồng bằng ven biển tỷ lệ nhiễm giun đũa 50%, nhiễmgiun tóc 33,06%, cao hơn miền núi nhng ở miền núi tỷ lệ nhiễm giun móc là25,54% cao hơn đồng bằng 12,46%
Nguyễn Thị Việt Hoà, Hoàng Thị Kim (2002) cùng cs khi tiến hànhnghiên cứu tình hình ô nhiễm đất và bụi do trứng các loại giun truyền qua đất tạixã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Tp Hà Nội cho thấy: Tỷ lệ ô nhiễm giun ở đất là84,0% (mùa ma); 78,0% (mùa khô) Số trứng Ascaris trung bình trong 1g đất và
Trang 16bụi tơng ứng 2,4 - 3,4 và 1,0 Số trứng Trichuris trung bình trong 1g đất và bụi
t-ơng ứng là 1,0 - 1,2 và 32,1% Tỷ lệ trứng Trichuris giai đoạn nhiễm còn sống ở
đất là 45,1 - 45,8% và ở bụi là 41,5 - 42,1% Nghiên cứu này chứng tỏ đất và bụi
ở hầu hết các vị trí xét nghiệm bị ô nhiễm cao với trứng Ascaris hoặc trứngTrichuris cả mùa ma và mùa khô, tình trạng ô nhiễm trứng giun xảy ra quanhnăm
Trong hầu hết các bệnh lây truyền của loài ngời thì ngời là vật chủ chính.Phân ngời là nguồn chứa các loại mầm bệnh truyền nhiễm đờng ruột nh: tả, lỵ,thơng hàn, giun, sán, … đến các vi rút đờng ruột Chúng có thể sống nhiều ngàytrong đất, nớc, thậm chí nhiều tháng nh trứng giun, sán, để rồi từ đất, nớc thảilàm ô nhiễm cây trồng, nhất là các loại rau, củ ăn sống Đờng lây lan các mầmbệnh từ phân sang ngời qua tay bẩn, nớc, ruồi, thực phẩm bị ô nhiễm, dụng cụphế thải, đất Về mặt dịch tễ học, mầm bệnh của các bệnh truyền nhiễm đờngruột sẽ lại từ phân, nớc, rác, đất, thực phẩm, … xâm nhập vào con ngời hìnhthành chu kỳ dịch
Để phòng chống các bệnh truyền nhiễm đờng tiêu hoá, chúng ta cần cắt
đứt chu kỳ dịch tễ của các mầm bệnh bằng các công trình nhà tiêu hợp vệ sinh,song song với việc thực hiện các hành vi có lợi cho sức khoẻ là những giải pháp
có hiệu quả nhất nhằm tiêu diệt các mầm bệnh, không cho chúng phát tán ra môitrờng đất, nớc và ngoại cảnh
Do đó, quản lý phân ngời tốt nhất là sử dụng nhà tiêu hợp vệ sịnh
1.5 Một số nghiên cứu nhận thức, thái độ, thực hành của ngời dân về nhà tiêu hợp vệ sinh và quản lý phân ngời.
Nghiên cứu Knowledge Attitude Pratice (KAP): Là nghiên cứu về kiếnthức, thái độ, thực hành của đối tợng, nhằm đánh giá mức độ hiểu biết, hành viứng xử, thực hành và lòng tin của cộng đồng từ đó đa ra những can thiệp để chămsóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng Để thu đợc những thông tin đó ngời ta có thể
sử dụng các kỹ thuật thu thập khác nhau nh: Phỏng vấn, quan sát, thảo luậnnhóm, …
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Nhiên về KAP của ngời dân về vệsinh môi trờng - sức khoẻ cho thấy: Hiểu biết của ngời dân về nhà tiêu hợp vệsinh còn thấp, chỉ có 18% số ngời đợc hỏi biết NT2N, nhà tiêu tự hoại, nhà tiêuTDN là hợp vệ sinh Tỷ lệ ngời dân biết các bệnh có liên quan đến phân, nớc là <
Trang 1765%, biết cách phòng bệnh là < 52% Hiểu biết về các bệnh gây ra do phân còn ởmức thấp: Biết về bệnh tiêu chảy < 42%, bệnh giun, sán < 50%, bệnh phụ khoa <21% Tỷ lệ số ngời có thái độ đúng về cải tạo môi trờng, thực hành các biện phápnhằm cải tạo môi trờng còn thấp, tuy vậy nhu cầu hiểu biết về môi trờng - sứckhoẻ lại khá cao là 94%
Nghiên cứu thực trạng hiểu biết của ngời dân về VSMT nớc và nhà tiêuHVS tại 3 huyện tỉnh Kiên Giang (1997), tác giả Trần Chí Liêm, Phạm Xuân Đàcho thấy: Hiểu biết của ngời dân tại An Biên về nhà tiêu HVS còn rất thấp(33,1%) Tỷ lệ này là 50,9% ở Hòn Đất và 61% ở Tân Hiệp Số hộ có kiến thức
về nhà tiêu HVS còn rất thấp: An Biên 10,7%; Hòn Đất 13,5%; Tân Hiệp 46,2%
Tác giả Lê Văn Đông nghiên cứu trên 585 hộ gia đình thuộc 3 ấp của xãPhú Thuận B, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp cho kết quả: Hiểu biết đúng củangời dân về nhà tiêu HVS còn rất thấp (2,90%), có 30,42% số ngời đợc hỏikhông biết gì về nhà tiêu HVS, 25,16% không biết loại nguồn nớc nào là sạch
Nghiên cứu thực trạng quản lý phân ngời và KAP của ngời dân 3 huyện:
Đức Thọ (Hà Tĩnh), Phù Ninh (Phú Thọ), Ba Bể (Bắc Cạn) về VSMT, tác giả LêVăn Chính cho thấy: Loại nhà tiêu mà ngời dân cho là HVS chiếm tỷ lệ cao nhất
là NTTH 49,05%; NT2N 45,73% Nhà tiêu TDN và nhà tiêu chìm khô có ốngthông hơi đợc ít ngời biết là HVS (2,84% và 1,90%) Có 32,46% đối tợng nghiêncứu biết là sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh sẽ làm ô nhiễm môi trờng Có71,68% đối tợng nghiên cứu biết là sử dụng nhà tiêu không HVS có thể mắc bệnhtiêu chảy Chỉ có 10,66% đối tợng nghiên cứu biết việc sử dụng nhà tiêu HVS cóthể phòng đợc các bênh lây truyền qua đờng tiêu hoá, nhiễm giun Có 98,22%
đối tợng nghiên cứu đồng ý với quan điểm là sử dụng nhà tiêu HVS là cần thiết;
có 83,87% số hộ gia đình cha có nhà tiêu hoặc đang sử dụng nhà tiêu không HVS
có dự kiến sẽ xây mới hoặc cải tạo lại thành nhà tiêu HVS Nhà tiêu 2 ngăn làloại nhà tiêu đợc nhiều ngời dự kiến sẽ xây dựng (62,24%) Tỷ lệ HGĐ sử dụngnhà tiêu HVS là 7,58% Tuy số HGĐ có nhà tiêu là 91,11% nhng phổ biến là nhàtiêu không HVS Nhà tiêu cầu, thùng 60,86%; nhà tiêu một ngăn 22,89%; NT2N8,45%; NTTH 3,77%; nhà tiêu chìm và nhà tiêu TDN 3,51% và 0,52% Có87,09% HGĐ sử dụng phân ngời, trong đó chỉ có 17,53% HGĐ ủ phân > 6 tháng
Tác giả Trần Thị Minh Tâm nghiên cứu về KAP của ngời dân về vệ sinh
n-ớc sinh hoạt và nhà tiêu tại quận Thanh Xuân, Hà Nội và huyện Châu Giang, tỉnhHng Yên (1998) cho kết quả: Các loại nhà tiêu mà ngời dân biết đợc là: NTTH,
Trang 18nhà tiêu TDN, NT2N chiếm tỷ lệ dao động từ 13,5% - 100%, tuy nhiên vẫn có7,5% số ngời đợc hỏi trả lời nhà tiêu một ngăn là loại nhà tiêu HVS
Có > 80% số ngời tự đánh giá đợc nhà tiêu đang sử dụng HVS Có > 82% HGĐkhông có nhà tiêu hoặc có nhà tiêu không HVS, có ý định làm nhà tiêu hoặc cảitạo lại cho HVS
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiên, Ngô Toàn Định, Nguyễn DuyLuật (1996) tại Thanh Miện, Hải Dơng cho thấy: Theo ý kiến ngời dân các loạinhà tiêu HVS là: NT2N 86,3%; nhà tiêu một ngăn, nhà tiêu cầu 11,5%; nhà tiêuTDN 10,1%; NTTH 60,4%; nhà tiêu bán tự hoại 10,6%; các loại nhà tiêu khác0,3% Hiểu biết về các bệnh lây truyền do nhà tiêu không HVS: Tiêu chảy62,9%; thơng hàn 3,5%; tả 6,7%; lỵ 7,6%; ngộ độc thức ăn 1,2%; bệnh mắt hột15,6%; giun, sán 55,9%; lao phổi 1,2%; đau bụng 5,5%; viêm gan 0,95%; bệnhkhác 10,7%; không biết 5,6% Có 94,1% ngời dân cho là sử dụng nhà tiêu khôngHVS có thể lan truyền bệnh
Tác giả Nguyễn Thanh Thuỷ, Nguyễn Anh Dũng nghiên cứu thực trạng sửdụng nhà tiêu của các HGĐ tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dơng cho kết quả:
Có 98% HGĐ có nhà tiêu nhng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất thấp, chỉ có11,9% trên tổng số hộ điều tra và 12,2% trên tổng số hộ có nhà tiêu Có 80,3% sốHGĐ tái sử dụng phân bắc vào mục đích sản xuất, trong đó 80,9% HGĐ ủ phânkhông đủ thời gian hoặc không ủ phân trớc khi sử dụng Tỷ lệ ngời đợc hỏi cókiến thức về sử dụng nhà tiêu HVS đợc đánh giá chung là đạt và chiếm 53,4%
Tỷ lệ đối tợng nghiên cứu có thái độ tốt về sự cần thiết của việc xây dựng nhàtiêu HVS, ủ phân trớc khi sử dụng và kiểm tra vệ sinh nhà tiêu đạt 94,6% Trong
số hộ gia đình cha có nhà tiêu HVS có 71,7% HGĐ muốn có NT2N sinh thái,28,3% muốn có nhà tiêu tự hoại
Trang 19Chơng 2
đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 2.1 Địa bàn và đối tợng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành tại 04 xã của huyện Bá Thớc, tỉnh Thanh Hoá
Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu:
- Huyện Bá Thớc, tỉnh Thanh Hoá có 23 xã, trong đó có 14 xã vùng sâu,vùng xa (vùng đặc biệt khó khăn - vùng 135), địa hình đồi, núi, hẹp và dốc Tạothành các thung lũng xen kẽ các dãy núi Phía Tây giáp huyện Quan Hoá, tỉnhThanh Hoá với dãy núi Pù Luông (có độ cao 1.447m so với mặt nớc biển) thuộckhu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông Phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình Phía Đông giáphuyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá Phía Nam giáp huyện Lang Chánh và huyệnQuan Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Địa hình nghiêng dần từ Tây- Bắc xuống Đông - Nam Núi và đồi chiếm >80% diện tích tự nhiên của huyện
Dòng sông Mã chảy từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam chia huyện thành 2vùng tả và hữu Giao thông có khá nhiều khó khăn đặc biệt là mùa ma, lũ, vìxuống các xã đều là đờng đất, đá sỏi Có quốc lộ 217, 15A chạy qua huyện
Trang 20Huyện có những vùng có tiềm năng về du lịch nh: Du lịch sinh thái (khubảo tồn thiên nhiên Pù Luông), thác Muốn …, song cha đợc khai thác đúng.
- Diện tích tự nhiên của huyện là: 77.752,1ha, dân số 104.194 ngời Đếnnay 100% số xã có điện lới quốc gia (trong đó còn 4 xã điện lới mới về tới trungtâm xã) Có 22/23 xã có Bu điện Văn hoá xã (trừ Thị Trấn) Tỷ lệ hộ nghèo còncao chiếm 47,8%, hiện nay 100% xã có trạm y tế, có 8/23 xã đạt chuẩn quốc gia
về y tế xã Nguồn nớc dùng chủ yếu của ngời dân là giếng khơi và nớc máng lần
2.1.2 Đối tợng nghiên cứu
- Chủ hộ y tế hoặc đại diện chủ hộ từ 18 tuổi trở lên
- Nhà tiêu các hộ gia đình
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành trong 5 tháng (từ tháng 01 đến tháng 05 năm2009)
2.2 Phơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Là nghiên cứu dịch tễ học mô tả với điều tra cắt ngang có phân tích
2.2.2 Phơng pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Cách chọn mẫu
áp dụng chọn mẫu nhiều giai đoạn:
* Giai đoạn1: Chọn vùng, chia số xã trong huyện làm 2 vùng dựa trên sự phân
chia về điều kiện kinh tế - xã hội theo chơng trình 135 của Chính phủ:
Gồm: 14 xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa Gọi là “Vùng cao”
09 xã vùng thấp Gọi là “Vùng thấp”
* Giai đoạn 2: Chọn xã - Theo phơng pháp chọn mẫu chùm.
Mỗi đơn vị xã là một chùm Lập danh sách các xã theo từng vùng Từ danhsách các xã của huyện Bá Thớc, mỗi vùng chọn ngẫu nhiên 02 xã Nh vậy tổng
số xã điều tra là 04 xã
* Giai đoạn 3: Chọn đối tợng nghiên cứu
- Đối tợng phỏng vấn là các chủ hộ y tế hoặc ngời đại diện chủ hộ từ 18tuổi trở lên, là ngời sống chung một nhà, sử dụng chung bếp, các công trình vệsinh nh nhà tiêu, nguồn nớc, nhà tắm, có khả năng cung cấp các thông tin cho
điều tra viên
Trang 21- Đối tợng quan sát là các nhà tiêu hộ gia đình
Nếu hộ nào vắng mặt cả gia đình thì đến lại 2 lần nữa, nếu không gặp thi
bỏ qua đi đến gia đình khác, số hộ bỏ không quá 5%
Trong đó: n: Cỡ mẫu cho nghiên cứu
Z: Độ tin cậy lấy ở ngỡng xác suất a = 0,05 (Z = 1,96)
p: Tỷ lệ ớc lợng nhà tiêu HVS, ớc tính p = 0,12
e: Hệ số tơng đối đợc lấy là 0,3
q = 1 - p (q = 0,88)
Từ các dữ kiện trên ta tính đợc cỡ mẫu n = 313
Vì sử dụng kỹ thuật chon mẫu chùm, do vậy cỡ mẫu đợc nhân gấp 2 lần Tức là
626 Để thuận tiện cho việc nghiên cứu ta làm tròn thành 800
Cỡ mẫu nghiên cứu là 800 hộ gia đình
Do vậy, số hộ gia đình phải điều tra tại mỗi xã là 200 hộ
- Cỡ mẫu điều tra nhận thức, thái độ, thực hành về nhà tiêu hợp vệ sinh vàquản lý phân của ngời dân, áp dụng công thức sau:
pq
n = Z 2(1 - a/2) x
Trang 22(ep)2
Trong đó: n: Cỡ mẫu cho nghiên cứu
Z: Độ tin cậy lấy ở ngỡng xác suất a = 0,05 (Z = 1,96)
p: Tỷ lệ ớc lợng ngời dân nhận thức đúng về nhà tiêu HVS, ớc tính p =0,35
Cỡ mẫu nghiên cứu là 800 chủ hộ gia đình
Do vậy, số chủ hộ gia đình để phỏng vấn tại mỗi xã là 200 chủ hộ
2.2.2.3 Phơng pháp thu thập thông tin
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các kỹ thuật sau:
- Quan sát mô tả để đánh gía tình trạng nhà tiêu HVS theo tiêu chuẩn của
Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 08/ 2005/ QĐ-BYT ngày 11/ 03/ 2005 để xác
Điều tra thử bộ câu hỏi sau đó sửa chữa lại cho phù hợp trớc khi triển khai
điều tra tại cộng đồng
Trớc khi phỏng vấn, điều tra viên phải giải thích rõ mục đích, ý nghĩa vàtầm quan trọng của cuộc điều tra với ngời dân để họ hiểu và cùng cộng tác, có
nh vậy mới đảm bảo tính chân thực của số liệu
Có giám sát quá trình điều tra một cách khoa học, chặt chẽ
2.2.2.4 Phơng tiện nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các phơng tiện sau để điều tra,phân tích và đánh gia kết quả:
Trang 23- Phiếu điều tra về nhận thức, thái độ, thực hành của ngời dân về nhà tiêuhợp vệ sinh và quản lý phân ngời (Phụ lục …) Bộ phiếu này đã đợc xin ý kiếnsửa chữa của ………
- Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu theo:
(Quyết định số 08/ 2005/ QĐ - BYT ngày 11/ 03/ 2005 của Bộ trởng Bộ Y tế) Nhà tiêu quy định trong tiêu chuẩn này bao gồm: Nhà tiêu 2 ngăn ủ phân tại chỗ,nhà tiêu chìm khô có ống thông hơi, nhà tiêu thấm dội nớc, nhà tiêu tự hoại dùngcho hộ gia đình Các loại nhà tiêu này đợc Bộ Y tế quy định là nhà tiêu HVS vềmặt kỹ thuật và đảm bảo các yêu cầu:
- Cô lập đợc phân ngời, ngăn không cho phân cha đợc xử lý tiếp xúc vớingời, động vật và côn trùng
- Có khả năng tiêu diệt đợc các tác nhân gây bệnh có trong phân nh:
Vi rút, vi khuẩn, đơn bào, trứng giun, sán và không làm ô nhiễm môi trờng xungquanh
Quy định cụ thể về xây dựng, sử dụng, bảo quản các loại nhà tiêu hợp
vệ sinh nh sau:
* Nhà tiêu 2 ngăn ủ phân tại chỗ
- Quy định về xây dựng: gồm 6 chỉ tiêu:
Tờng ngăn chứa phân kín, không bị rò rỉ, thấm nớc
Cửa lấy mùn phân phải đợc trát kín bằng vật liệu không thấm nớc
Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nớc tiểu phải nhẵn, không đọng nớc tiểu
Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu hoặc cho vào dụng cụ chứa đựng có nắp đậy
Không có mùi hôi, thối
Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu
Không sử dụng đồng thời 2 ngăn
Có đủ chất độn và bỏ chất độn vào lỗ tiêu sau mỗi lần đi tiêu
Trang 24 Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nớc (nếu có) và dụng cụ chứa nớctiểu
Không lấy phân trong ngăn ủ ra trớc 6 tháng
Lỗ tiêu ngăn đang sử dụng luôn đợc đậy kín, ngăn ủ đợc trát kín
** Nhà tiêu chìm khô có ống thông hơi
- Quy định về xây dựng: gồm 7 chỉ tiêu:
Không xây dựng ở nơi thờng bị ngập, úng
Cách nguồn nớc ăn, uống, sinh hoạt từ 10 m trở lên
Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu
Có đủ chất độn và bỏ chất độn vào lỗ tiêu sau mỗi lần đi tiêu
Không có mùi hôi, thối
Không có ruồi, nhặng hoặc côn trùng trong nhà tiêu
Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nớc tiểu
Lỗ tiêu thờng xuyên đợc đậy kín
*** Nhà tiêu thấm dội nớc
- Quy định về xây dựng: gồm 7 chỉ tiêu
Không xây dựng ở nơi thờng bị ngập, úng
Cách nguồn nớc ăn, uống, sinh hoạt từ 10 m trở lên
Bể chứa phân không bị lún, sụt, thành bể cao hơn mặt đất ít nhất 20 cm
Nắp bể chứa phân đợc trát kín, không bị rạn nứt
Mặt sàn nhà tiêu nhẵn, phẳng, không đọng nớc
Bể xí có nút nớc
Nớc từ bể chứa phân hoặc đờng dẫn phân không thấm, tràn ra mặt đất
- Quy định về sử dựng và bảo quản: gồm 7 chỉ tiêu
Có đủ nớc dội, dụng cụ chứa nớc dội không có bọ gậy
Không có mùi hôi, thối
Trang 25 Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy, rác
Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứagiấy bẩn có nắp đậy
Không có ruồi, nhặng hoặc côn trùng trong nhà tiêu
- Quy định về sử dụng và bảo quản: gồm 8 chỉ tiêu
Có đủ nớc dội, dụng cụ chứa nớc dội không có bọ gậy
Không có mùi hôi, thối
Nớc từ bể xử lý chảy vào cống hoặc hố thấm, không chảy tự do ra xungquanh
Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy, rác
Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứagiấy bẩn có nắp đậy
Không có ruồi, nhặng hoặc côn trùng trong nhà tiêu
Bệ xí sạch, không dính hoặc đọng phân
Nhà tiêu đợc che chắn kín, ngăn đợc nớc ma
Trong tất cả các loại nhà tiêu HVS trên, phải đạt tất cả các chỉ tiêu về xâydựng và bảo quản đối với từng loại nhà tiêu, thì mới đợc đánh giá là nhà tiêuHVS đạt tiêu chuẩn về vệ sinh Nếu chỉ đạt các chỉ tiêu về xây dựng, hoặc về sửdụng, bảo quản thì chỉ đợc đánh giá là nhà tiêu loại HVS đạt tiêu chuẩn xây dựnghoặc tiêu chuẩn sử dụng, bảo quản
- Quyết định số 170/ 2005/ QĐ - TTg ngày 08/ 07/ 2005 của Thủ tớng chínhphủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 để đánhgiá tình hình kinh tế hộ gia đình
Mức thu nhập bình quân đầu ngời / tháng đợc tính bằng công thức:
Trang 26Thu nhập của HGĐ trong 12 tháng
Thu nhập bình quân đầu ngời/ tháng =
Tổng số ngời trong HGĐ x 12 tháng (Tổng thu nhập của HGĐ trong 12 tháng gồm: Thóc, ngô, khoai, sắn, lợn, gà,trâu, bò, tiền lơng và các khoản thu nhập khác nếu có, tất cả quy đổi ra Việt Nam
đồng)
+ Đối với khu vực nông thôn:
Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/ ngời/ tháng(2.400.000 đồng/ ngời/ năm) trở xuống là hộ nghèo
+ Đối với khu vực thành thị:
Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/ ngời/ tháng(3.120.000 đồng/ ngời/ năm) trở xuống là hộ nghèo
Từ đó chúng tôi áp dụng để phân loại tình hình kinh tế HGĐ nh sau:
+ Mức đủ ăn tơng đơng thu nhập bình quân đầu ngời là 200.000 đồng(nông thôn) hoặc 260.000 đồng (thành thị)/ ngời/ tháng
+ Mức khá giả tơng đơng thu nhập bình quân đầu ngời là > 200.000 đồng(nông thôn) hoặc > 260.000 đồng (thành thị)/ ngời/ tháng
+ Mức thiếu ăn 2 tháng/ năm là mức thu nhập 200.000 đồng/ ngời/tháng chỉ đủ trong 10 tháng của năm (tức là thiếu đi 2 tháng của mức đủ ăn)
+ Mức thiếu ăn > 2 tháng/ năm là mức thu nhập 200.000 đồng/ ngời/ thángkhông đủ trong 10 tháng của năm (tức là thiếu đi > 2 tháng của mức đủ ăn)
- Tài liệu “ Nhà tiêu cho nông thôn việt Nam” của Bộ Y tế (2003), để đánhgiá thời gian ủ phân đúng kỹ thuật phải là 6 tháng
2.2.2.5 Nội dung nghiên cứu
- Các thông tin về xã hội của đối tợng nghiên cứu: